tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31367988
Tiểu thuyết
07.01.2020
Khái Hưng
Tiêu sơn tráng sĩ


CHƯƠNG 46: KÉN RỄ


Trương công vừa khoan thai bước vừa ngẩm nghĩ đến việc biến sắp xảy ra


trong nhà mình.


ông buồn rầu tự nhủ: "nhà ta là một nhà thế phiệt đời đời khoa giáp xuất thân,


không thể nào lại chịu để cho kẻ kia làm nhơ nhuốc được?... Thà giết chết con gái


đi còn hơn?"


Dần dần ông cũng nguôi cơn giận: "Ư, chẳng lẽ nó theo học đạo thánh hiền,


mà lại bậy bạ được?... Ư, cho dẫu thằng kia có định tâm gởi thư trêu ghẹo con ta


nữa, những con ta đã thuận đâu?... Phải để ta tra xét đã. . . Những hạng công tử sính


thơ, gặp nguồn cảm hứng thì họ viết ra những câu tình tứ đó thôi, vị tất đã để tặng


ai... Ta chẳng thấy có thầy khóa viết thơ gởi lên trời ve vãn con Ngọc hoàng đấy


Kiến Xuyên hầu bật cười lên tiếng?


- "ồ? Tuổi trẻ?... Ngày xưa, chính ta đây thấy gái đẹp, ta chẳng ngâm vịnh là


gì? Chẳng những ngâm vịnh, ta lại còn trêu ghẹo nữa kìa..."


Hầu vui vẻ nghĩ tiếp:


- "Vả lại Phạm Thái cũng là một danh sĩ đời nay. Trí thức ấy, học vấn ấy, thực


xứng đáng với tài mạo con ta. . . Được, để ta xem. . . "


Hầu bước vào trong nhà thì vừa gặp Trương phu nhân tiễn chân một bà khách


ra công.


Một lát sau, chờ phu nhân trở lại. Trương công cười hỏi:


- Có điều gì vui mừng mà bà hí hửng thế?


Phu nhân cười hỏi lại:


- Đố ông biết việc gì?


- Việc của bà thì tôi còn biết sao được?


Trương phu nhân ghé vào tai chồng thì thầm:


- ông Phủ Trịnh nhờ mối đến hỏi con Quỳnh Như ChO CậU Trinh Nhị.


Trương Công thở dài không nói gì.


- Sao? ông không ưng chăng? ông phải biết ông phủ Trịnh giàu nhất phủ


Kiến Xương...


Trương công cười gằn, ngắt lời:


- Thì nhà ta đã nghèo đói đâu mà cần bám vào nhà giàu, mà phải thông gia với


nhà giàu?


- vẫn biết thế, vẫn biết mình chẳng cần nương nhờ ai, nhưng con Quỳnh Như


sau này thế nào cũng yên thân đỡ phải vất vả làm lụng.


Trương công gắt:


- Làm gì bà vội vồ lấy người ta thế? Thì hãy để xem thằng Trịnh Nhị học hành


ra sao đã nào.


- Điều đó thì ông chả phải lo. Khoa mới rồi giá đừng xảy ra việc mưu phá


trường thi thì nay nó đã ông cống rồi...


- Sao bà biết? Ý chừng bà mối bảo thế.


- Sao tôi chả biết? Dễ ông tưởng gả con lại không kén chắc. Tôi cho ngưòi dò


la, chẳng những biết sức học của Trịnh Nhị, mà lại còn biết tính nết cậu ấy nữa


kia.


Trương công cắt đoạn câu truyện:


- Được, rồi biết.


Sáng hôm sau Trương công truyền làm một bữa tiệc thực long trọng rồi cho


mời Trịnh Nhị đến dự.


Nhận được thiệp mời Trịnh Nhị hí hửng, vào khoe mẹ (Trịnh phu nhân vừa Ở


phủ về được mấy hôm để lo việc hỏi vợ cho con).


- Bẩm thân mẫu, việc xong rồi, Trương tướng công gửi thiệp mời con đến dự


tiệc


Trịnh phu nhân vui mừng:


- Thế à? Nhưng con chắc đâu là xong?


- Sao lại không chắc. Con sang đấy sẽ giở hết tài ra, thì thế nào Trương tướng


công cũng phải phục mà bằng lòng gả Quỳnh Như cho con.


- Nhưng con cũng nên cẩn thận, mẹ nghe nói Kiến Xuyên hầu học rộng tài


cao, mà Quỳnh Như vào thơ lỗi lạc. Không khéo bị cha con họ lấn át thì nhục đấy.


Trịnh Nhị mỉm cười:


- Thân mẫu quá lo xa làm gì thế? Cứ một cái gia tài nhà ta cũng đủ xứng đáng


với cái tài mạc của Quỳnh Như rồi. Vả lại tài nàng là tài của một người con gái


địch sao nổi tài cao, trí rộng của bậc nam nhi như con.


Chàng chắp tay chào mẹ rồi sửa soạn trang sức cực kỳ lịch sự: Tấm khăn


nhiễu tam giang mới quấn rất khéo làm lộ hẳn cái trán cao, chiếc áo gấm lam thêu


kim tuyến thướt tha chấm gót, cái quần lụa ngả mày hồng phớt trùm gần kín đôi


hài thêu. Trước khi ra đi, Trịnh Nhị không quên đánh qua một lượt phấn gạo rồi


đem các bài thơ cổ đã học thuộc lòng ra đọc một lượt.


Xong rồi, chàng thong dong nhẹ bước tới biệt thự Kiến Xuyên hầu.


Đến cổng, chàng gặp một người y phục nhã nhặn vái chào và lễ phép nói:


- Tướng công tôi mời công tử vào chơi.


Trịnh Nhị trừng mắt nhìn rồi vái chào lại và hỏi:


- Thưa... Thưa ngài, dám xin ngài cho lãn sinh này được biết quý tính cao


danh để lãm sinh được hầu truyện.


Phạm Thái vẫn lễ phép đáp:


- Thưa công tử chúng tôi họ Phạm tên Văn Lý, được Trương tướng công tìm


đến dạy các cậu các cô con quan cố hiệp trấn Lạng Sơn.


Trịnh Nhị có vẻ kiêu hãnh:


- à? Thầy đồ. Vậy mời thầy đi, lãn sinh xin theo.


Phạm Thái cố nén lòng căm tức, ôn tồn nói:


- Thưa lãn tiên sinh, chúng tôi lấy làm...


Trịnh Nhị chau mày, ngắt lời:


- Thầy đồ mà không biết hai chữ lãn sinh ư? Tôi nhún mình mà tự xưng là lãn


sinh, chứ có phải tên hiệu tôi là Lãn sinh đâu.


Phạm Thái vờ giật mình, xin lỗi:


- Chết chửa, chúng tôi vô tình xúc phạm tới công tử, xin công tử đại xá cho.


Vốn chúng tôi có biết tiếng cụ Lãn ông Nguyễn Hữu Huân, nên tưởng công tử


cũng lấy mỹ tự Lãn sinh. Vậy xin công tử cho chúng tôi rõ quý hiệu, để chúng tôi


được hầu chuyện.


Trịnh Nhị tỏ vẻ khinh bỉ, vờ không nghe rỏ, rảo bước đi vào trong nhà, đến


trước mặt Trương công và Trương phu nhân, lễ phép chắp tay vái:


- Vãn sinh Trịnh Nhị xin cúi đầu lạy trình.


Trương phu nhân vội đứng dậy niềm nở mời chào:


- Mời công tử ngồi chơi.


Rồi phu nhân lảng vào buồng bên để mình Trương công tiếp hai chàng thiếu


men.


Quỳnh Như thấy mẹ vào, liền hỏi:


- Bẩm mẫu thân ai vừa đến chơi, con coi như người gặp Ở chùa Non Nước


ngày nào.


Trương phu nhân cười mắng yêu con:


- Mày nấp nhìn trộm người ta đấy à? Ngày nay chúng mày đáo để quá. Thời


thầy mày làm rể, tao nghe nói đến tên ấy đã đi trốn biệt.


Quỳnh Như tái mặt suýt ngất đi: "Thì ra cái người đọc thơ cũ nhận là thơ của


mình, cái cậu ấm dốc ấy, chính là vị hôn phu của ta đó?"


- Con sao thế?


- Bẩm thân mẫu, con hơi váng đầu. Nhưng không sao?


- Vậy con đi nằm nghỉ.


- Bẩm được, thân mẫu để mặc con.


Rồi nàng tìm vào ngồi trong xó tối bưng mặt khóc thút thít. Nàng vụt nghĩ đến


mấy câu thơ trong bài "Cầm tháo" của Phạm Thái:


Im ỉm sầu trưởng chín khúc,


Mượn tiêu cầm đỡ lúc tương tư,


Cầm sao thấy điệu ngẩn ngơ,


Sầu ai luống khách thơ thâm cùng.


Nàng lau nước mắt rồi lẩm bẩm nói một mình.


"Hay chàng biết rằng ta sắp về tay người khác... Không, không thể nào thế


được, thà ta tự tử cho hết kiếp, chứ bắt ta lấy con người dốt nát, đần độn ấy thì ta


nhất định không nghe".


Nàng lại nghĩ "Can chi phải khóc lóc, buồn bã. RÕ ta cũng trẻ con? Với lại đã


có gì gọi là chắc chắn? "


Rồi nàng gượng đi trang điểm, vì nàng sợ nhỡ thân phu vào trông thấy dung


nhan tiều tuy mà hiểu thấu lòng nàng chăng. Đoạn nàng đứng bến cửa buồng nấp


sau bức rèm, ghé mắt nhòm ra nhà ngoài.


Lúc bấy giờ vừa bắt đầu vào tiệc. Trương công nâng chén nói:


- Ngày xuân không gì thú bằng uống rượn ngâm thơ. Lão gia nghĩ thế nên có


buổi chén xoàng này mời hai thiếu niên thi sĩ đến chơi cùng nhau xướng họa cho


lão được quên trong chốc lát cái tuổi già nua yếu đuối.


Trịnh Nhị nghĩ thầm: "Rõ Trương tướng công khéo bày vẽ giở giọng văn hoa.


Thì cứ nói phăng là thử tài chú rể này có xong không. Tài tướng công thì là một


mớ tài cổ, ta không lo lắm. Vã dầu ta có kém thì con rể kém bố vợ, lý ấy là


thường. Đến như cái anh đồ đạc kia, chẳng qua là một anh hủ nho, có hai chữ lãn


sinh còn không thủng nghĩa, nói gì làm thơ phú?"


Không thấ ai trả lời, Trương công nói tiếp:


- Thế nào? Hai công tử nghĩ sao?


Trịnh Nhị mỉm cười vì chàng không hiểu sao Trương công lại gọi thầy đồ kia


là công tử. Nhưng Phạm Thái đã đứng dậy chắp tay lễ phép nói:


- Bẩm tướng công, vãn sinh học vấn được mấy nả, mà dám múa dìu qua mắt


thợ, đánh trống qua cửa nhà sấm...


Trịnh Nhị tiếp:


- Sao mà ông đồ giỏi phương ngôn, tục ngữ thế?


Phạm Thái vờ không nghe rõ câu chế riễu, nói luông:


- Nhưng tướng công đã dạy đến, văn sinh đâu dám từ nan.


Tướng công cười:


- Phạm công tử nhún mình lắm? Văn tài của công tử, lão gia còn lạ gì?


Trịnh Nhị giật mình: "Chết chưa, thằng này dễ thường đã xướng hoạ với


Trương công nhiều lần rồi chăng?"


- Trịnh công tử nghĩ sao?


Trịnh Nhị cũng đứng dậy trả lời:


- Dạ, xi tướng công cứ đề ra cho.


Trương công nâng rượn mời, rồi nói:


- Còn phải tìm đầu đề Ở đâu nữa? Ta đương vui chén với nhau, chi bằng lấ


ngay đề "Ngày xuân uống rượn," mà vịnh một bài Đường luật thất ngôn bát cú.


Phạm Thái còn đương tìm vần thì Trịnh Nhị đã mỉm cười, nói:


- Dám bẩm tướng công, làm bằng hán tự có được không?


- Cũng được.


- Vậy, vãn sinh xin đọc:


Cẩm giang xuân sắc hội thi ngâm,


Ngọc lũy phù vân biến cổ câm. . .


Phạm Thái thản nhiên đọc luôn:


Bắc cực triều đình chung bất cải,


Tây sơn khấu đạo mai tương xâm.


Rồi nói tiếp:


- Bẩm tướng công, không ngờ, Đỗ, Trịnh lưỡng thi gia, lời văn lại giống nhau


đến thế? Mà lại hợp lắm? Nhất là hai câu dưới.


Trịnh Nhị cãi:


- Bẫm tướng công, anh đồ này dám hỗn xược trước mặt tướng công. Bắc


chước cổ nhân là một sự thường chứ? Không đọc Lý Bạch, ĐỖ Phủ, một thi sĩ đời


nay chỉ viết nên những câu vô vị.


- vâng, công tử dạy rất phải. Đã là văn nhân thì ai không đọc, không thuộc


Đường thi. Chẳng nói ai, chứ như bỉ nho đây, giá không thuộc Đường thi, nối điệu


sao được với công tử.


Trương công sợ hai người sinh ra to chuyện, liền nói chữa cho Trịnh Nhị:


- Lão gia coi ra hai công tử cùng đọc rộng, nhớ nhiều. Bài thơ ấy thực lão gia


chưa xem qua, thế mà hai công tử đều biết, đủ rõ học vấn hai công tử suýt soát


nhau. Thôi tranh biện làm gì vô ích, xin hai công tử cạn chén rồi mỗi người làm


một bài thơ nôm chơi.


Trịnh Nhị nhìn Phạm Thái cười nhạt:


- Vậy mời tiên sinh vịnh trước cho, lãn sinh xin hoạ theo.


Phạm Thái ngả đầu, ung dung đáp:


- Xin lĩnh ý.


Rồi quay lại Trương công, chàng chắp tay vái:


- Bẩm tướng công cho phép.


Trương công vui vẽ:


- Xin công tử cho nghe những lời châu ngọc.


Phạm Thái liền đọc:


Ngày Xuân Uống Rươu.


Hơi xuân hây hẩy động rèm dương,


Thổi hợn lăn tăn nước rươu vàng.


Rạng rỡ tiên hoa khoe tử sắc,


Nồng nàn thánh tửu tỏa mê hương.


Đầu xanh trước gió lao đao chuyể hn,


Tóc bạc sau mây lỏa tỏa vương,


Có rươu có thơ xuân có mãi,


Một năm ba vạn sáu thiều quang.


Kiến Xuyên hầu vỗ đùi khen:


- Hay? Hay lắm? Có rượn có thơ xuân có mãi. Một năm ba vạn sáu thiều


quang? Hay? Đúng lắm. Công tử làm lão gia trẻ hẳn lại.


Hầu cất tiếng cười vang, cặp mắt nheo, mặt hây hây đỏ. Rồi hầu thưởng Phạm


Thái một chén rượn đầy, Phạm Thái tạ ơn, uống một hơi cạn.


Trịnh Nhị tức uất người, nhưng cũng gượng mời Phạm Thái một chén rượn


nữa, Phạm Thái mỉm cười nói kháy:


- Thưa công tử, tài làm thơ ngu để chẳng bằng ai, nhưng tài uống rượn thì ít


người bì kịp. Công tử ban thưởng, một chén, chứ đến mười chén, ngu đệ cũng


không từ chối?


Chừng để kéo dài thời giờ ra, Trịnh Nhị vịn ngay lấy câu ấy, đứng dậy nói:


- Dám bẩm tướng công, Phậm công tử đã dạy thế, vãn sinh xin phép tướng


công mừng Phạm công tử đủ mười chén rượn nữa.


Trương công sợ Phạm Thái quá say, liền nói gạt:


- Rượn uống dần ít một mới ngon. Vả hai công tử phải tỉnh mà làm thơ, chứ


say li bì thì còn sao trông rõ cảnh mà ngâm với vịnh?


Phạm Thái đáp :


- Xin tướng công cứ cho phép vãn sinh nhận mười chén rượn mời của Trịnh


công tử.


Rồi chàng quay ra bảo Trịnh Nhị:


- Bỉ nho xin uống thật thong thả, để công tử có đủ thời giờ gọt dũa bài thơ họa


cho được toàn bích.


Trương công nói:


- Phạm công tử cũng nên đọc lại bài tho một lượt để Trịnh công tử nhớ kỹ lấy


vạn


Phạm Thái vâng lời cao giọng ngâm, vì chàng biết thế nào Quỳnh Như cũng


nấp đâu đó để nghe. Ngâm xong, chàng ngồi yên, nhấp chén đẻ Trịnh Nhị được


bình tĩnh mà nghĩ thơ.


Nhưng khi chén thứ mười đã cạn. Trịnh Nhị vẫn loay hoay chưa tìm được vần.


Chàng đánh trống lãng nói với Kiến Xuyên hầu:


- Bẩm tướng công, cổ nhân dạy: "Xuất đối dị đối đối nan", quả không sai. Đối


một câu đốim mà cổ nhân còn cho là khó hơn ra một câu đối, huống nữa lại hoạ


một bài thơ. Kể họa bậy, họa bạ, thế nào xong thôi thì cũng dễ, nhưng họa được


một bài nghiêm chỉnh cả từ lẫn ý, mà lại mốn có phần xuất sắc hơn bài xướng đề


thì thực là khó khăn quá.


Trương công muốn giữ thể diện cho chàng mốt chút, gật gù nói:


- Phải lắm, công tử nói phải lắm Vậy công tử bất tất phải họa, cứ làm ngay


một bài thơ khác, hoặc ngũ ngôn, thất ngôn, tứ tuyệt, hoặc cổ phong hay Đường


luật bát cú cũng được.


Giữa lúc ấy một đứa thị tỳ ra, dâng lên Trương công một tờ hoa tiên mà nói


răng:


- Dám bẩm tướng công, có người mạn phép tướng công họa giúp Trịnh công


tử một bài.


Trương công chau mày lẩm nhẩm đọc, rồi cười bảo hai người:


- Lời thơ còn non nớt quá?


Phạm Thái xin được ngâm. Kiến Xuyên hầu liền đưa cho chàng bài thơ hoạ


mà hầu thừa biết là tác phẩm của con gái yêu. Phạm Thái đọc thực to cốt để trêu


tức Trịnh Nhị.


Ngày Xuân Uống Rượu


(Hoạ nguyên Vận)


Rực rỡ trời xuân ánh thái dương,


Xuyên qua chén rươu nhuốm màu vàng.


Hoa xuân hn đáo thầm phong nhụy,


Men rươu nồng nàn ngát tỏa hương.


Má phấơn say xuân hây ửng đỏ,


Thơ tình thiế uu rươu rối vản vương,


Tìm vần trong rươu vần không thấy,


Chỉ thấy xuân đầy vẻ diệm quang.


- Trời ơi? Hay? Hay quá, hay lấn át hẳn bài xướng? Hay không tìm được lài mà


khen ngợi nữa.


Trương công chữa thẹn cho Trịnh Nhị:


- Công tử khéo chế riễu quá. Thực Trịnh công tử nói không sai, họa vẫn khó


hơn xướng. Đấy, hai công tử coi, trong bài họa vần nào cũng dùng ép cả: "Vấn


vương" nghe sao được? Còn hai chữ "diệm quang" thực chẳng thoát tý nào.


Phạm Thái đã chếnh choáng hơi men, đứng dậy cải:


- Bẩm tướng công chê bài họa thì vãn sinh không phục. bài ấy hay, hay lắm.


Câu phá mạnh mẽ biết bao, câu thừa tự nhiên lạ lùng. Hai câu thục tuy không đặc


sắc, nhưng cũng chẳng dở. Hai câu luận thì âu yếm quá. Tuy hơi... chua chát chút


đỉnh Còn hai câu kết, trời ơi? Hai câu kết đến Lý Bạch cũng vị tất đã có hai câu


kết ấy. Mà xin tướng công nhận cho điều này: Trong mỗi vế, chữ "rượn" đều đối


với chữ "xuân", thực hơp với đầu đề "Ngày xuân uống rượn".


Trịnh Nhị tái mặt đi, xừng xộ mắng Phạm Thái:


- Thầy đồ vô lễ quá? Làm gì mà tướng công không nhận ra được, lại phải nhờ


đến thứ thầy. Còn như thầy khen bài thơ họa hay, thì điều ấy chẳng lạ. NÓ cũng na


ná như bài thơ của thầy nghĩa là rất tầm thường.


Phạm Thái cười khinh bỉ không thèm đáp rồi thì thầm ngâm lại bài thơ. Đoạn


chàng rót đầy một chén rượn mà mời rằng:


- vản sinh, xin phép tướng công, tự thưởng một chén rượn, vì đã có diểm phúc


được nghe một bài thơ hay.


Ngôn ngữ cử chỉ của Phạm Thái làm cho Kiến Xuyên hầu càng thấy rõ tình


yêu của chàng đối với Quỳnh Như và càng mong ước cho hai người nên vợ, nên


chồng. Hầu lại ngảnh nhìn Trịnh Nhị nghĩ thầm:


"Tài nữ mà sánh đôi với thằng ngu dợn thì thực ngọc quý để ngâu vầỷ .


Nhưng Trịnh Nhị đã đứng dậy nói:


- Văn sinh xin đọc, có đọan nào kém, nhờ tướng công phủ chính cho.


Rồi chàng cất tiến ngâm ồm ồm:


Ngày Xuân Uống Rượu


Ngày xuân uống rươu ngâm thơ tiên,


Xuân thắm rươu nồng tỏa hơi men,


Liễuyếu trước thềm tha thước lã,


Đào thơ bên cửa thắm màu sen,


Đưa thoi chim én bay vùn vụt,


Xòe cánh bướm vàng lượn chập chờn,


Nhấp chén toan đề bài vịnh cảnh,


Nhưng còn mãi ngắm buổi xuân thiên.


Chàng vừa đọc dút bài, bỗng có tiếng cười thé Ở buồng bên vọng lại. Trương


công cố thản nhiên, gật gù khen lớn để Trịnh Nhị không nghe thấy tiếng cười chế


nhạo:


- Hay? Hay? Tuy vần không được chính lắm? Nhung khuyết điểm nhỏ nhặt ấy


kể chi?


Phạm Thái cũng khen mát:


- Bẩm vâng, hay thực mà không thất niêm một câu nào.


Trịnh Nhị tưởng hai người khen thành thực đã vội tự phụ:


- Dám bẩm tướng công, văn sinh quả không hay làm thơ nôm. CÓ thì giờ rãnh,


văn sinh chỉ tập làm thơ chữ Hán. Rồi vãn sinh xin đem trình Tướng công tập thơ


của văn sinh, để tướng công nhàn lãm.


- Phải đấy? Bây giờ thì mời hai công tử uống rượn đã, mà xin uống thực say


cho.


 


CHƯƠNG 47: NÓI CHUYỆN VĂN CHƯƠNG


Phạm Thái đang ngồi mở quyển Hán để ra câu đối cho học trò nhỏ thì Kiến


Xuyên hầu bước tới ôn tồn hỏi:


- Hôm qua công tử uống rượn say thế mà hôm nay cũng dạy sớm được?


Phạm Thái vội vàng đứng lên chắp tay vái dài:


- Bẩm tướng công, hôm qua vãn sinh quá chén, có lầm lỡ điều gì, xin tướng


công tha tội cho.


Kiến Xuyên hầu vuốt râu cười ha hả:


- Đã uống thì phải say, say thì phải bỏ sự giữ lễ đi, như thế mới thú chứ.


Hầu lại cười rồi đột ngột hỏi:


- Công tử đã đọc thơ Mộc Lan chưa, nhỉ?


Phạm Thái hơi chột dạ, đứng ngẫm nghĩ tìm hiểu. Thì Kiến Xuyên hầu đã nói


tiếp:


- Giá thời nay, người mình cũng viết theo đẻ ấy thì tất đã đổi lại. Chẳng hạn


nói nàng Mộc Lan cải nam trang đi đánh giặc. Khi thắng trận về triều, gặp một


ông trạng nguyên trẻ tuổi, liền phải lòng, rồi bỏ cả chiến bào mà mặc áo xiêm, rồi


cùng trạng nguyên kết hôn. Viết như thế mới có hậu, phải không công tử?


- Dạ.


Phạm Thái sợ mướt mồ hôi, chân tay run lặp cập, chàng nghĩ thầm: "Thôi,


chắc Trương công đọc qua truyện "Sơ kính tân trang" của ta rồi. Ta đã dặn Quỳnh


Như giữ kín không cho ai xem qua, sao nàng vô ý đến thế để Trương công vớ


được Thế này thì còn gì là thể diện, còn gì là danh dự ta nữa?"


Nhưng chàng cũng đánh bạo đáp lại:


- Dám bẩm tướng công, tướng công dạy thế, thực là chu đáo. Nhưng kể bài


thơ cổ cũng có nhiều câu khảng khái.


- Thì vẫn khảng khái, hùng dũng. Nhưng thời nay làm gì có hạng người khảng


khái, hùng dũng, phải không, công tử? Một bài thơ đầy ý tưởng uỷ mị mới tả được


những tâm tình uỷ mị.


Rồi hầu cao giọng ngâm:


Vua ban vàng bạc Mộc Lan từ,


Liền cấtLan lên chức thượng thơ,


Nhưng Lan chẳng th ích làm quan thượng. . .


Thấy Kiến Xuyên hầu ngừng lại, Phạm Thái liền bạo dạn hỏi:


- Dám bẩm tướng công, tướng công dịch?


- Phải, lão gia cũng vừa ngẫu nhiên nghĩ mà dịch liều một đoạn ra quốc âm,


nhưng được có ba câu đã thấy cạn giòng... Kể nhà vua cũng nông nổi quá. Mới


đem vàng, bạc, cùng chức thượng thư ra thử bụng tráng sĩ thì đã biết đâu rằng


tráng sĩ chỉ thích được một con lạc đà để phi về quê thăm nhà? Sao không đem


một công chứa diểm lệ ra, xem tráng sĩ có coi công chúa quý hơn con lạc đà


không.


Phạm Thái cố lấy giọng tự nhiên đáp lại:


- Bẩm tướng công, thử như thế cũng vô hiệu, vì tráng sĩ chỉ là một thiếu nữ cải


nam trang.


- Đành thế, nhưng nhà vua vẫn tưởng Mộc Lan là một nam nhi có dũng cảm.


Đến đây, Kiến Xuyên hầu phá lên cười, nói tiếp:


- Kể ra thời nay bọn nam nhi còn thua Mộc Lan nhiều?


Hầu vờ lỡ lời xin lỗi, rồi lại nói:


- Lão già naỳ rõ lẩm cẩm quá. Đương câu truyện van chương lại nói liên miên


đến việc thì thế... À lâu nay công tử có làm được bài thơ nào hay đọc cho lão gia


nghe với.


Phạm Thái chưa kịp trả lời, hầu đã khéo nói lảng, hình như cốt để chàng quên


câu truyện Mộc Lan đi:


- Hay đại khái như bài thơ của Trịnh công tử hôm qua.


Cả hai cùng cười, Phạm Thái tưởng Kiến Xuyên hầu lên nhà trên đã mừng.


Nhưng hầu chỉ ra đứng Ở hiên một lát, rồi lại quay vào hỏi Phạm Thái:


- Công tữ hẳn đã đọc truyện Thôi Oanh Oanh?


- Bẩm tướng công, vãn sinh mới được đọc bộ Tây Sương ký.


- Cũng được? Tuồng Tây Sương ký còn có phần đặc sắc hơn tiểu thuyết Thôi


Oanh Oanh. Vậy công tử cho biết ý kiến về áng văn ấy.


Lần thứ hai Phạm Thái kinh hãi, nhưng cố giữ nét mặt thản nhiên:


- Bẩm, văn chương rất hay.


Tướng công như không nghe rõ câu khên ngợi của Phạm Thái nói luôn:


- Bao giờ cũng vậy, loạn thường từ trong nhà loạn ra. Trương quân Thụy


không phải là Thôi phu nhân thì gặp sao được Thôi Oanh Oanh. Đã không gặp mặt


Thôi Oanh Oanh thi thơ từ xướng họa với nhau sao được? Giá Trương quân Thụy


biết tự trọng mà lẳng lặng bỏ ra đi, thì đâu đến nỗi xuác phạm tới danh tự nhà họ


Thôi.


Thấy bọn trò nhỏ đã tề tựu lên học, Trương công mỉm cười gật chào Phạm


Thái, rồi thong thả bước xuống thềm nói tiếp:


- bỏ ra đi, rồi tùy ý, muốn đi hẳn không quay về nữa cũng được, hay muốn


nhờ mối lái hỏi Thôi Oanh Oanh làm vợ cũng được.


Sáng sớm hôm sau, Phạm Thái cáo biết Kiến Xuyên hầu, xin phép về quê


thăm nhà. Hầu đã thừa biết chàng chẳng còn họ hàng thân thích nào nữa. Song hầu


không đả động gì đến điều ấy, cốt để chàng đi ngay.


Hầu vẫn yêu mến chàng và bằng lòng gả Quỳnh Như cho chàng, nhưng hầu


muống tránh hẳn sự hiềm nghi.


Chàng vừa đi được một lát thì mụ mối nhà họ Trịnh đã sang nói chuyện về


việc hôn nhân của Trịnh Nhị.


Trương công và Trương phu nhân hỏi ý kiến nhau. Nghe chồng ngỏ lời muốn


gả Quỳnh Như cho Phạm Văn Lý. Trương phu nhân dẫy nẫy, nhất định không


bằng lòng nhận một anh sư phá giới làm rẻ.


Kiến Xuyên hầu biết Phạm Thái là con Trạch Trung hầu, nhưng không muống


tiết lộ tung tích của chàng ra với một ai, vì hầu đã rõ chàng đương bị triều định


truy nã. Hầu chỉ mỉm cười bảo phu nhân:


- Bà không ưng Phạm Văn Lý làm rể thì thôi. Nhưng tôi xin bà đừng vội hấp


tấp gả hoài gả hủy cho một gã vô học.


Về các việc, mà nhất là việc hôn nhân trong một gia đình, bao giờ ý muốn của


bà cũng lấn át ý muốn của ông. Dẫu ngày xưa hay ngày nay cũng thế thôi.


CHƯƠNG 48: KHÓC TRƯƠNG QUỲNH NHƯ


Những nếp nhà lơp cói lẵng lẽ dưới sự sầu thảm vừa xảy ra: Cái chết của


Trương Quỳnh Như.


Giữa hôm ăn hỏi linh đình, nàng đã nhờ chiếc giây lưng nhiễu đưa hồn về nơi


cực lạc


Trên thửa vườn cao, song song hai ngôi mộ chưa xây. ĐÓ là nơi yên giấc trăm


năm của Thanh Xuyên hầu và Trương Quỳnh Như vậy.


Trời đã gần tối mịt. Đường làng vắng ngắt kể vãng lai. Bỗng một ky sĩ phi


ngựa tới, ghi cương Ở bên cây liễu cạnh mồ, rồi nhảy vội xuống, nằm vật ra đất


khóc thảm thiết.


Người ấy là Phạm Thái, cựu quân sư của Nguyễn Đoàn, phó đảng trưởng kiêm


chức quân sư của đảng Tiêu Sơn. Người ấy đã bao phen xông pha trong rừng


gươm dáo, nay chỉ còn là một kẻ tầm thường không còn một chút nghĩ lực để phấn


đấu


Vì người ấy yêu.


Nằm khóc một hồi lâu, Phạm Thái ngồi dậy lau nước mắt, mở đẫy lấy hương


và sáp ra thắp.


Rồi quỳ bên mồ đọc bài điếu văn sau này:


Nương tử ơi! Chướng căn ấy bởi vì đâu? Oan thác bởi vì đâu? Cho đến nỗi


xuân tàn hoa nụ, thu lầu trăng rằm!


lại có điều đau đớn thế! Nhà huyền ví có năm có bảy, mà riêng một mình nàng


đeo phận bạc, thì lửa nguội, nước voi còn có lẽ. Thương hại thay! Hoa có một


cành, tuyết có một quãng, nguyệt có một vầng, mây có một đoá. Thân hiếm hoi


chừng ấy, nỡ nào lấy đôi mươi năm làm một hếp, mà ngơm ngớm chốn non Bồng


nước Nhươc, đính gì không đoái đến cõi phù sinh.


Ví dù hếp mà tiên thù với tục, sao xưa ha vâng mệnh xuống trần chi? Nay đã


nguyện thân này cho vẹn hếp thì cũng trọn ba vạn sáu ngày ~ờ~ cho đủ lệ: nọ


xuân huyên, ha phu tử góp với trần gian không chút bận, rồi sẽ rong chơi chín


suối cớ gì riêng bỗng vội vàng chi?


ôi! Chữ mệnh hẹp hòi, chữ duyện suồng sẽ, những như thân gia ấy, tình cảnh


ấy ngươc xuôi ha cũng ngậm ngùi cho. Huống ta cùng nương tử, tuy chẳng thân


ha thích nọ, những tình duyên là chừng ấy, cũng là một chút cương thường: dẫu


rằng kẻ đây người đấy, song an ái bấy lâu nay, đã biết bao nhiêu tâm sự!


Ta hăm hở chí trai hồ thỉ, bởi đợi tình cho nấn ná nhân duyên: mình long


đong thân gái liễu bồ, vì giận quá ngang tàng tính mệnh.


Cho đến nỗi hoa rơi lá rụng, ngọc nát châu chìm; chua xót cũng vì đâu?


Nay qua nắm cỏ xanh, tưởng người phận bạc, xủi xụt hai hàng tình lệ, giải


bầy một bức khốc vãn; đốt xuống tuyền đài, tỏ cùng nương tử.


Đọc xong, Phạm Thái vừa khóc, vừa châm lửa đốt bài điếu văn.


Rồi chàng lên ngựa đi.


CHƯƠNG 49: TRÊN ĐƯỜNG THIÊN LÝ


Một hôm trời đông đã về chiều. Trên con đường thiên lý, một thiếu niên tráng


sĩ buông lỏng cương thong thả cho ngựa đi về phía Nam.


Vẻ mặt chàng buồn rầu, chán nản. Y phục chàng đầy bụi và bùn.


Đến phố phủ Lý Nhận, chàng dừng ngựa trước cửa một tửu quán, vào đó nghỉ


trọ một đêm để mai đi Nam Thành sớm.


Chàng đương ngồi nhắm rượn, đăm đăm suy nghĩ đến những sự biến cố của


một đời vô định thì Ở ngoài đường có tiếng ngựa hí.


Rồi theo đêm tối, theo luồng gió lạnh và hạt mưa phùn, một trang thiếu niên


tuấn tú quăng mạnh mình vào trong quán:


- Sắp rượn mau, bớ chủ quán? Ta vừa đói vừa rét đây?


- Dạ?


nghe giọng nói trong trẻo của khách mới đến người ngồi uống rượn phải


ngửng đầu trông lên, chừng sung sướng cười bảo tửu quán:


- Lấy chén, lấy đũa bát để công tử cùng ngồi uống rượn với ta cho vui.


Rồi chàng quay ra lể phép nói với người kia:


- Thưa công tử, công tử cho phép tôi được hầu công tử đêm nay.


Một cái mỉm cười đi theo liền với chữ "đệm" có biết bao nhiêu nghĩa, khiến


người mới đến hiểu ngay. Chàng lại gần thì thầm:


- Hiền huynh?


Người kia cũng thì thầm đáp lại:


- Hiền hữu.


Thì ra ngẫu nhiên Quang Ngọc và Nhị nương gặp nhau Ở tửu quán bên đường.


Cơm rượn xong, chủ quán thấy hai người thân mật với nhau liền hỏi:


- Thưa hai công tử ngủ riêng giường hay cùng chung một giường?


Nhị nương phá lên cười, đưa mắt liếc Quang Ngọc, rồi đáp:


- Ta không quen ngủ chung với ai bao giờ. Nhưng bác quán cứ đi ngủ trước,


để chúng ta bàn luận văn chương, nghe?


- Dạ.


Đêm đã khuya, hai người còn thì thầm nói chuyện. Nhị nương thuật với


Quang Ngọc công việc điều tra của nàng về tung tích Phạm Thái: nào chàng mê


man say đắm Quỳnh Như, náo Quỳnh Như tự vận vì chàng. Quang Ngọc lộ vẽ


căm tức trên nét mặt. Chàng hỏi:


- Vậy bây giờ Phạm Thái Ở đâu?


- Thưa hiền huynh, hai năm nay hắn đi biệt tích, chỉ lẻn về Thanh Nê có hai


lần: một lần đọc bài khốc vãn, một lần để nghêu ngao hát bài triệu linh bên mồ


người mệnh b ạc .


Quang Ngọc cười chua chát:


- Không ngờ Phạm Thái mà trẻ con được đến thế nhỉ?


- Vâng, Phạm Thái cũng trẻ con như văn thờ của hắn.


Nhị nương mở khăn gói lấy đưa cho Quang Ngọc một tập giấy và nói tiếp:


- Đây, tác phẩm của anh chàng mê gái: mà ngu hữu đã sưu tầm được, tuy hãy


còn khiếm khuyết nhiều.


Quang Ngọc đọc sơ một lượt, rồi buồn rầu, giận dữ ném tập thơ xuống


giường. Nhị nương thở dài, hỏi:


- Hiền hữu định sao?


Quang Ngọc hỏi lại:


- Định cái gì?


- Việc đảng.


Quang Ngọc ngồi yên lặng giờ lâu, ngẫm nghĩ


- Vận chưa gặp? Khó lòng quá?


Rồi chàng báo cho Nhị nương biết rằng Trịnh Trực đã bị hành hình Ở Kinh


Bắc, Đình Phùng bị bắt giải về Phú Xuân. Tửu quán Bạch Phượng cũng đã đóng


cửa, vì các bạn đồng chí tan tác cả, để nơi hội họp kia phỏng có ích gì?


- Còn Lê Báo?


- Lê Báo vẫn nương náu Ở chùa Yên Tử trấn Hải Dương. Bây giờ hắn thành


thực mộ đạo Phật như một nhà chân tu vậy.


- Thế chúng ta?


- Chúng ta chờ đợi dịp để hành động. Hành động là phận sự của chúng ta.


Không hành động, thì đời chúng ta không còn có nghĩa gì nữa phải không hiền


hữu?


Nhị nương mỉm cười :


- Thưa hiền hữu phải lắm.


Quang Ngọc như mê man nói luôn:


- Hành động? Hành động?


Nhị nương nhìn chàng, buông một tiếng thở dài não nuột.


Sáng hôm sau hai người từ biệt nhau: Nhị nương ngược Bắc thành, Quang


Ngọc xuôi Nam thành hẹn một ngày kia sẽ hội ngộ.


Nhị nương kìm cương ngựa, hỏi với một câu:


- Nhỡ không hội ngộ?


- Cũng chẳng sao? Vì linh hồn chúng ta bao giờ cũng Ở bên nhau. Một người


trong bọn ta làm một việc trái vơói bổn phận, đã tưởng nghe rõ tiếng thống trách


của bạn đã tưởng nhìn thấy cặp mắt nghiêm nghị của bạn. Mà khi ta có việc đáng


thi hành ngay, ta đã tưởng trông thấy cái gật biểu đồng tình của bạn rồi. Vậy thì


chúng ta có Ở xa nhau đâu? Tình bằng hữu của chúng ta đã thành một sự thiêng


liêng.


Nhị nương chắp tay vái.


- Vâng, tình bằng hữu của đôi ta? ...


Rồi nàng rẽ cương quay đi.


Qua quãng đường gần một khuỷ sông Đáy, nàng văng vẳng nghe có ai hát


nghêu ngao. Kìm cương ngựa nhìn kỹ, nàng thấy ngồi dưới gốc đê bên bờ sông,


một anh chàng câu cá, đầu đội nón tre đan, vai khoác áo lá.


Cho ngựa thong thả bước tới gần, nàng dừng lại ngắm nghía: người câu cá đưa


hồ rượn lên miệng một hơi rồi ngâm:


Sống Ở dương gian đánh chén nhà,


Chết về âm phủ cấp kè kè,


Diêm vươngphán hỏi rằng: chi đó?


Be!


Nhị nương đoán chắc là Phạm Thái, nhưng vẫn yên lặng ngồi trên mình ngựa


để chờ xem anh chàng chán đời kia còn làm những trò gì nữa.


Thì Phạm Thái lại cất giọng ngâm:


Đưa lời cho tới cung mây,


Sau này xin gửi cho dây với cùng,


Túi thơ hồng trách ai se mối,


Đến nửa chừng bỗng mới dãn ra,


Căm thay một ả trăng già,


Trêu người chỉ mãi chẳng tha thế này.


Nhị nương giật cương ra roi phi thẳng.


Nghe tiếng động, người câu cá quay lại, cười lớn:


- Mời khách qua đường hãy dừng vó ngựa uống với ta một hớp rượn? Ha ha?


Chí lớn trong thiên hạ không đựng đầy một hồ rượn.


Nghĩ một lát, chàng lại nói:


- Ha ha? Chí lớn trong thiên hạ không đựng đầy hai con mắt mỹ nhân.


Hết.


Nguồn: Tiêu sơn tráng sĩ . Tiểu thuyết lịch sử của Khái Hưng. In lần đầu năm 1934, các NXB tái bản nhiều lần.


www.trieuxuan.info


 



 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 19.02.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 19.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
Dòng đời - Nguyễn Trung 06.02.2020
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 06.02.2020
Cõi mê - Triệu Xuân 30.01.2020
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 30.01.2020
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 15.01.2020
xem thêm »