tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31312412
Lý luận phê bình văn học
30.12.2019
Hải Đường
Ký ức ám ảnh


Đọc Trường ca Chiến tranh trên gương mặt đàn bà của Phạm Hồ Thu. NXB Văn học, 2019


Những người đàn bà đi qua chiến tranh nay đã ở tuổi bà. Chiến tranh, nếu tính từ những năm 60 của thế kỷ trước, khi tuyển thanh niên xung phong đợt đầu vào năm 1965, đến nay đã hơn nửa thế kỷ rồi. Vậy mà đọc tập trường ca Chiến tranh trên gương mặt đàn bà của nhà thơ Phạm Hồ Thu vẫn vang vọng đâu đây tiếng bom, tiếng mìn phá đá mở đường. Và con đường Trường Sơn, con đường chiến lược vẫn hiện lên uy nghi, lẫm liệt với khói bom, rừng già, vực sâu, mây núi, lá nguỵ trang reo, mái tóc dài của nữ thanh niên xung phong rười rượi buổi hoàng hôn đỏ.


Ám ảnh. Sống lại một miền kí ức. Kí ức Trường Sơn. Kí ức chiến tranh. Kí ức làng quê. Đó là tâm trạng của tôi khi đọc tập sách này, một trường ca không dài về số trang nhưng lại mang chiều dài của lịch sử. Những kỉ niệm tưởng đâu ngủ quên trong một binh trạm, một cung đường, một cánh rừng nào đó, bỗng thức dậy cồn cào, mãnh liệt. Những nữ thanh niên xung phong, những cô gái của châu thổ sông Hồng vừa bước ra từ bùn quê lấm láp, từ điệu chèo văn, giờ trở thành những người lính mở đường “Chọc thủng Trường Sơn/Nối Đông trường Sơn sang Tây Trường Sơn”. Hành trang của các chị, các anh không chỉ có súng, cuốc, choòng, xẻng mà còn có: “Ống coóng ruốc pha thuốc tê phù sốt rét/ Chưa gặp địch đã có thể chết vì kiệt sức”. Nhưng kí ức như một vệt sáng xuyên ngày xuyên đêm, xuyên năm xuyên tháng là Gương-mặt- đàn-bà nơi hòn tên mũi đạn. Những kí ức bén bùng như lửa, nặng đầy yêu thương và nước mắt: Những con đường rung bom tọa độ; những cung đường sốt rét; bầy tiên nữ ra mặt đường; chiếc hôn vội giữa đại ngàn hoang dại; xe chở thương binh chở cả quan tài; có trung đội chuyên đào huyệt; bầu vú em trắng ngần bị viên 20 li xé toác… Gian khổ, hi sinh nhưng những nàng tiên nữ của Trường Sơn vẫn đứng lên làm cọc tiêu dẫn đường, vẫn đứng trên cao điểm đếm loạt bom chưa nổ. Thật là một bức tranh lẫm liệt của đức hi sinh và lòng quả cảm vì khát vọng hòa bình, độc lập, tự do. Nếu không phải là người trong cuộc- nữ phóng viên mặt trận- Phạm Hồ Thu khó có thể khắc họa được những hình ảnh như những nét chạm khắc ấn tượng về bức tượng đài lịch sử Trường Sơn, mà trung tâm là những người đàn bà vô cùng đáng yêu, đáng kính. Bấy lâu có quan niệm nữ nhi thường viết thơ tình đắm đuối. Với trường ca này Phạm Hồ Thu đã xác định một “căn cước công dân đích thực” khi nói đến một vấn đề lớn là lòng yêu Tổ quốc, lẽ sống - những vấn đề “phái mày râu” thường quan tâm và có thế mạnh hơn. Đây cũng là cái làm nên sự khác biệt so với nhiều cây bút nữ khác.


Đã có những trường ca viết về chiến tranh, viết về trường Sơn huyền thoại. Nhưng viết riêng về những nữ thanh niên xung phong mở đường Trường Sơn thì đây là trường ca đầu tiên. Thủ thỉ kể chuyện với những người cùng mắc võng, ngủ hầm một thưở. Lắng lòng với những “cổ tích” làng quê, những năm Thị Màu, Anh Nô, Thị Kính cũng rời chiếu chèo ra mặt trận. Bùi ngùi nhớ về những người mẹ đồng chiêm Hà Nam, Nam Định, Thái Bình… đêm đêm đếm từng chiếc lá rơi cho vơi nỗi nhớ, người con ngoài mặt trận chỉ khát khao “con trở về trước hết là ôm mẹ”. Da diết nhớ thương những mối tình chôn chặt đáy lòng, những nữ chiến binh không thể yêu ai khác, ngoài anh – người đã gọi bước chân các chị, các em ra mặt trận.


Kí ức sẽ chẳng là gì nếu không muốn làm một việc hết sức bình thường và lương thiện rằng: Hãy đừng bao giờ quên quá khứ. Đừng bao giờ quên những người đàn bà ra mặt trận! Thông điệp mà nhà thơ gửi đến không đọc thấy trong một tuyên ngôn to tát, thậm chí trong câu, trong chữ, mà nó lấp lánh, xuyên thấm phía sau mỗi dòng thơ, mỗi trang thơ. Những câu chuyện, những chi tiết, những cảm nhận tinh tế, đọc mà ứa nước mắt, bởi đâu đó, lúc nào đó ta dễ vô tình đi qua, bỏ qua. Trong tập sách, tác giả nhiều lần dùng ngôn ngữ phản tư, nêu những câu hỏi, như một day dứt, một nỗi xa xót, và câu trả lời dành cho người đọc: Ai còn nhớ chăng? Có nơi đâu như dải đất này? Đất nước sẽ thế nào nếu không có dãy Trường Sơn? Anh ở đâu rồi-người tình duy nhất của em?... Lòng không khỏi vân vi nhưng khi bom thù trút xuống, thì các chị lại sẵn sàng ra nơi lửa đạn ngút trời, bởi sự sống con đường cao hơn hết thảy. “Chiến trường cần quân/Chiến trường cần đạn/Chiến trường cần những đoàn xe lăn bánh/Chúng tôi quên chúng tôi cho sự sống con đường”. Khi những người dũng sĩ quên mình thì không ai được phép quên họ!


Có một câu hỏi mà sau chiến tranh “phía bên kia” đã mất nhiều công sức để tìm câu trả lời: Vì sao Việt Nam thắng Mỹ? Lời đáp của chính các học giả từng là người lính ngoài mặt trận: Việt Nam đã chiến thắng bằng đường lối chiến tranh nhân dân, bằng sức mạnh văn hóa. Đọc Chiến tranh trên gương mặt đàn bà, tôi có thêm những minh chứng xác thực cho điều này. Những người con gái đồng chiêm vào Trường Sơn họ mang theo cả văn hóa làng quê ra trận. Còn ở làng quê cũng thiếu vắng một phần vẻ đẹp, tâm hồn thiếu nữ. Mạch trữ tình truyền thống của trường ca xuyên suốt năm chương, nhưng đậm đà nhất là ở chương hai “Khúc từ biệt mái đình”. Một khung cảnh làng quê thuần hậu, sống động trong buổi chia li: “Hội hè chưa tan/Chiến tranh đã tới/người người đi vội/ Bỏ mặc trúc xinh đứng ở đầu đình”. Văn hóa làng quê như một dòng chảy âm thầm trong mạch sống, trong tâm hồn những cô gái, chàng trai là sức mạnh tinh thần quý giá đã biến thành sức mạnh vật chất to lớn trước những cuộc đọ sức, trước những thử thách nghiệt ngã của văn hóa Việt. Làm sao có thể quên, trước khi trận đánh mở màn, các chị da diết nhớ về mẹ, về chàng trai chưa lời hẹn ước, về mảnh trăng treo đầu lũy tre, về bến sông quê nước đỏ như son, về điệu hát chèo luyến láy, về những cánh đồng “rơm rạ cũng cô đơn”…


Trong chiến tranh có những mối tình thật đẹp, đẹp như thơ, đẹp như huyền thoại. Và chính điều này cũng góp vào chiến thắng, làm cho chiến thắng trọn vẹn hơn, nhân văn hơn. Người chiến sĩ ra đi mang theo mối tình của riêng mình, có thể là một ao ước giản dị: vào chiến trường để tìm anh, như trong câu ca dao xưa “Đời người được mấy giấc mơ/Chàng mơ chính chiến em mơ bóng chàng”. Có thể là trong bom đạn mù trời “anh” của riêng mình bất ngờ xuất hiện. Họ yêu nhau “làn môi thắm dâng lời âu yếm” và một đám cưới trong chiến hào giữa hai mùa chiến dịch. Tình yêu, cuộc hò hẹn thật dài, chờ nhé đến ngày chiến thắng. Sức mạnh tình yêu là dâng hiến, đợi chờ: “Chiếc hôn vội giữa đại ngàn hoang dại/Dâng trong tôi nhịp sống không ngờ/Sẽ không thể nào quên vòng tay em bé bỏng dại khờ/Em cho tôi niềm tin: Phải sống”.


Rồi chiến tranh đi qua. Rồi tình yêu kết trái. Những nữ thanh niên xung phong năm xưa “trở lại mái đình”. Một cuộc chiến mới trong thời hậu chiến. Những người em mãi mãi không lấy chồng vì ngoài người mình yêu trong chiến tranh đã hi sinh, giờ không thể nào quên, “có những trái tim yêu chỉ yêu được một lần”! Có người đã nương bóng cửa chùa để “đợi anh về”, để được sống trọn vẹn với tình yêu. Giờ là lúc có những người mẹ đêm đêm lặng nghe sinh linh bé nhỏ quẫy đạp trong lòng mà thầm lo lắng, liệu đứa con sinh ra có đủ đầy những ngón tay, ngón chân nhỏ xíu, bởi mẹ đã từng lặn lội trong những khu rừng địch rải chất độc da cam/điôxin lá cây héo rũ. Mẹ dằn lòng: “Để nghe mưa thở bên thềm/Để nghe sông chảy ấm êm nỗi người”


“Chiến tranh dù đã xa rồi…” là câu kết của trường ca. Một cái kết mở. Gấp tập sách lại, một nỗi buồn se thắt. Nhưng tôi nghĩ, đó là một nỗi buồn lay thức, nỗi buồn nâng bước chân đứng dậy và đi tới, tin cậy và mong chờ!


 


Hà Nội 12-2019


Hải Đường


nhandan.com.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Giá trị văn học của Nam Phong tạp chí - Nguyễn Hữu Sơn 22.02.2020
Trần Ngọc – Người kể chuyện tình bằng thơ - Triệu Xuân 19.02.2020
Bên dòng quá khứ của nhà thơ Trần Ngọc - Triệu Xuân 19.02.2020
Nhân đọc “Bóng chữ”, bàn về chữ và nghĩa trong thơ - Trần Mạnh Hảo 17.02.2020
Thơ: Ta hay Tây, hướng nội hay hướng ngoại? - Trần Mạnh Hảo 15.02.2020
Hồn nhiên - Tinh tế - Bản năng trong thơ Thanh Tùng - Nguyễn Vũ Tiềm 15.02.2020
Tản mạn với Nguyễn Tường Giang- Thời gian có phải trong vô tận - Hoàng Kim Oanh 14.02.2020
Điềm đạm Việt Nam & những kiến trúc thơ Lệ Thu - Hồ Thể Hà 13.02.2020
Thi sĩ Nguyễn Thúy Quỳnh: Giữa hai phía phù sinh - Lê Thiếu Nhơn 07.02.2020
Hồn Thư pháp - Nguyễn Vũ Tiềm 06.02.2020
xem thêm »