tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31322815
28.12.2019
Nhiều tác giả
Con Nghê


Nghê (hay ngao) là một động vật thần thoại trong văn hóa Việt Nam, là biến thể từ sư tử và chó dữ, thường được dùng làm linh vật trước cổng đình chùa, đền miếu Việt Nam.


Nghê là linh vật bản địa hóa Kỳ Lân do người Việt sáng tạo ra, khác hẳn với kỳ lân hay sư tử. Nghê là hóa thân của con chó, người bạn thân thiết với người dân Việt Nam. Nếu con chó là vật canh giữ của cải, nhà cửa cho người dân, thì nghê là con vật canh giữ về mặt tinh thần, chống lại các thứ tà ma, ác quỷ.


Trong đời sống của người dân Việt cổ, hai con thú được coi như những người bạn thân thiết, gần gũi và quan trọng nhất là con trâu và con chó. Trâu để cày ruộng, giúp sản xuất lúa gạo, chó để giữ nhà, phòng kẻ gian, phòng thú dữ. Chó đã có mặt rất nhiều trong các câu ca dao, thành ngữ. Chó là người bạn với người đàn ông trong các cuộc đi săn, là người đày tớ trung thành trong việc giữ nhà. Trong đời sống tinh thần, ông cha xưa cần một linh vật để trấn yểm, chống lại các thế lực hắc ám như tà ma ác quỷ. Chó đá được dựng lên là vì thế. Từ hình ảnh một con vật có thật (chó), qua sáng tạo và sự thổi hồn nó trở thành một con vật thiêng mà gần gũi: Ngao đá - Nghê đá...


Nghê không chỉ xuất hiện trong các làng quê Bắc Bộ mà còn hiện diện trong các kiến trúc cung đình ở Huế. Trước cửa Hiển Nhơn và trước Miếu Môn Thế Tổ Miếu trong Hoàng Thành Huế có hai đôi nghê đá đứng chầu. Khác với hình tượng các con nghê ở đồng bằng Bắc Bộ, hai đôi nghê ở Huế đã được “cung đình hóa” với các chi tiết chạm trổ cầu kỳ, tạo thành các chòm lông xoắn ở đầu, mang tai và đuôi, xen kẽ các đao lửa ở 4 chân và sống lưng.


Ở làng quê miền Bắc Việt Nam, trước cổng làng bao giờ cũng có một con Nghê đá lớn để bảo vệ cả làng, trước cổng đình bao giờ cũng có Ngao đá, và trước cổng mỗi nhà thường có chó đá nhỏ bé ngồi trước canh giữ cho gia chủ. Những con chó đá này có đẳng cấp, thân phận khác nhau ở sự thay đổi về hình dáng bên ngoài. Chó đá nhà quan quyền quý đeo chuông lục lạc, trang trí hoa văn, thắt dải yếm. Chó đá nhà bình dân thấp nhỏ, trước ngực không đeo chuông mà có một lỗ vuông làm chốt cái cửa, thân mình đẽo gọt đơn giản. Chó đá cao khoảng từ 0,25m tới 1m, bao giờ cũng trong tư thế ngồi trầm tư canh giữ. (Truyện cổ cũng thường nhắc đến chó đá)


Nghê cổ đuôi xòe, làng gốm sứ Thanh Hải, Việt Nam


Trước cổng lăng mộ đền thờ điện thờ ở các đình chùa, đền miếu, chó đá được chạm khắc trang trí với những chi tiết đường bệ, oai vệ nhưng rất gần gũi. Lâu dần nó trở thành vật linh nên được gọi là con nghê.


Hiện vật hình con nghê


Con nghê đá tại Đền Đinh Tiên Hoàng, Hoa Lư, Ninh Bình


Các cổ vật có hình con nghê của Bảo tàng Guimet (Paris)


1. Chân đèn có tượng Nghê, với ký hiệu cho biết được chế tạo vào năm 1637 tại Bát Tràng.


2. Đĩa vẽ hình Nghê, được sản xuất cho thị trường Trung Đông và những nước theo Hồi giáo.


Các hiện vật hình con nghê của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà Nội)


1. Đỉnh có nắp, men trắng xám rạn. Triều Lê Trung Hưng, tháng 4 năm Vĩnh Hựu 2 (1736). Đỉnh có nắp hình vòm, chỏm là tượng Nghê vờn ngọc, xung quanh trổ thủng bát quái, gờ miệng phẳng, thân phình, 3 chân thú chạm nổi hổ phù, 2 quai hình rồng. Trang trí nổi các băng văn dây lá lật, hồi văn chữ T, lá đề và rồng trong mây. Minh văn khắc dưới đế. Vĩnh Hựu vạn vạn niên chi nhị, tứ nguyệt nhật cung tác). Men rạn trắng xám.


2. Nậm rượu, men nhiều màu. Triều Mạc – Lê Trung Hưng, thế kỷ 16 – 17. Nậm có cổ cao hình trụ, miệng đứng, thân chia 6 múi nổi hình cánh hoa, chạm nổi hình Nghê và hoa, viền đế tô nâu. Men trắng ngà và xanh rêu.


3. Tượng Nghê, men trắng ngà và xanh rêu. Triều Lê Trung Hưng, thế kỷ 17. Tượng Nghê trên bệ chữ nhật, tư thế ngồi chầu, 2 chân trước chống, 2 chân sau khuỵu gập lại, đầu ngẩng, cổ đeo chuỗi nhạc nổi. Xung quanh thân và chân chạm mây. Ðế chữ nhật chạm mây, hoa sen và hồi văn. Men trắng ngà và xanh rêu.


4. Hũ có nắp, men rạn và lam. Triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long (1802–1819). Nắp hũ hình vòm có chỏm là tượng Nghê vờn ngọc, vẽ mây xung quanh. Hũ có gờ miệng uốn, cổ ngắn, vai phình, thân cao, đế rộng. Vai đắp nổi 4 đầu sư tử ngậm vòng tròn. Vẽ lam đề tài phong cảnh sơn thuỷ, nhà cửa, cây lá, người đội ô, người chèo thuyền. Minh văn viết bằng men lam dưới đế. "Gia Long niên chế" (Chế tạo trong niên hiệu Gia Long).


5. Hũ có nắp, men nâu trắng và lam. Triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long (1802–1819). Nắp có chỏm hình Nghê vờn ngọc, vẽ hoa lá men lam. Hũ có gờ miệng phẳng, cổ ngắn, vai phình, đáy lõm. Trên vai đắp nổi 4 đầu sư tử ngậm vòng. Xung quanh thân vẽ lam tiêu – tượng, mã – liễu, tùng – lộc. Minh văn viết 4 chữ. "Gia Long niên tạo" (Chế tạo trong niên hiệu Gia Long). Men nâu, trắng và lam.


6. Đài thờ có nắp, men rạn, ngà. Triều Lê Trung Hưng, thế kỷ 18. Đài thờ có 2 phần, miệng hình ô van, nắp trang trí nổi núm hình Nghê, băng lá lật, mai – trúc – cúc – tùng, chữ "vạn", hổ phù. Men rạn ngà.


7. Tượng Nghê, bằng sành. Triều Lê-Nguyễn, thế kỷ 18 – 19. Nghê đứng trên bệ chữ nhật, quanh thân chạm nổi văn mây. Màu đỏ nâu.


8. Tượng Nghê, bằng sành. Triều Lê-Nguyễn, thế kỷ 18 – 19. Nghê quỳ trên bệ chữ nhật, đuôi xoắn, thân chạm nổi văn mây. Màu đỏ nâu.


wikipedia


Nghê thuần Việt đi suốt chiều dài lịch sử


Theo nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế, hình tượng nghê xuất hiện từ khá sớm và đi suốt chiều dài lịch sử Việt, trong đó, hai không gian mà nghê xuất hiện rất nhiều là đình và chùa.


Nghê bằng gỗ ở đền vua Lê Thánh Tông (Thanh Hóa) - thế kỷ 17 (Ảnh: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam)


Con nghê là một trong những linh vật phổ biến trong văn hoá truyền thống Việt Nam. Hình tượng này xuất hiện khá sớm trong lịch sử mỹ thuật và điêu khắc cổ Việt Nam.


Tuy nhiên, theo bà Đoàn Thu Hương (Phó Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm), hiện nay, khi triển khai công văn số 2662/BVHTTDL-MTNATL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (việc di dời các biểu tượng, sản phẩm, linh vật không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam), nhiều đơn vị, địa phương vẫn tỏ ra “rối” khi nhận diện linh vật này.


Phóng viên Vietnam+ đã có cuộc trao đổi với nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế (Đại học Mỹ thuật Việt Nam) về danh xưng, hình tướng cũng như ý nghĩa biểu tượng… của con nghê.


Sự thay đổi qua các thời kỳ


- Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, hình tượng con nghê xuất hiện từ khi nào, thưa nhà nghiên cứu?


Nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế: Bên cạnh hệ thống tứ linh (long, ly, quy, phượng), nghê là một trong những linh vật phổ biến trong không gian tín ngưỡng của người Việt. Nó xuất hiện từ khá sớm và đi suốt chiều dài lịch sử từ dân gian đến cung đình, trong đó, hai không gian mà nghê xuất hiện rất nhiều là đình và chùa.


Một trong những bằng chứng quan trọng cho thấy sự xuất hiện của nghê là văn bia “Minh tịnh tự bi văn” thời Lý (tìm thấy ở nghè thôn Tế Độ, xã Hoằng Phúc, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa).


- Vậy, trong lịch sử, tạo hình của con nghê có đặc điểm gì nổi bật?


Nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế: Nghê là con vật mang tính hư cấu và chính sự hư cấu này tạo nên bản sắc Việt cho nghê. Nó thể hiện sự sáng tạo của những người nghệ nhân Việt.


Trong tâm thức của người Việt, con nghê có hình dạng cơ bản là con chó. Hay nói khác đi, con nghê chính là con chó biến điệu ra.


Tuy nhiên, cũng như các linh vật khác, tạo hình nghê có sự biến hóa và thay đổi qua các thời kỳ lịch sử. Bên cạnh đó, do nhu cầu thiêng hóa, nghê có nhiều dạng thức khác nhau như: sư tử nghê, long nghê, kỳ lân nghê, khuyển nghê.


Sư tử nghê gắn bó mật thiết với Phật giáo (thường cõng tòa sen), xuất hiện nhiều trong mỹ thuật Lý-Trần. Sư tử nghê thân thường mập và ngắn.


Long nghê được tạo hình theo kiểu: đầu rồng, miệng lớn, râu dài, bắp chân có chớp lửa. Dạng thức này phổ biến ở thời Lê Trung Hưng, chủ yếu xuất hiện trên bờ mái các công trình kiến trúc với danh xưng là “con kìm.”


Kỳ lân nghê thời Lê Trung Hưng thường đứng chầu bên hương án, cửa khám với một số đặc điểm tạo hình như: mình vẩy, lưng có sừng…


Ở thời Nguyễn, kỳ lân nghê đầu không có sừng, xuất hiện nhiều ở những nơi tôn nghiêm như điện Thái Hòa (kinh thành Huế)…


Khuyển nghê mang đặc tính chó nhiều nhất, mình không có vảy, đầu không có sừng, dáng hình mập, thường đội bảng văn hay cối cửa, thành bậc.


Chỉ hiệu về cõi thiêng


- Với nhiều dạng tạo hình và xuất hiện ở nhiều nơi như vậy, nghê có ý nghĩa biểu tượng gì, thưa ông?


Nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế: Con nghê xuất hiện rất nhiều nhưng vai trò là vật trấn yểm (như nhiều người vẫn lầm tưởng hiện nay) thì hầu như không rõ. Nó là một chỉ hiệu về cõi thiêng nhiều hơn là chức năng trấn yểm.


Văn hóa của Việt Nam không bắt con nghê diễn những vai trấn yểm, dọa nạt. Nó có hai chức năng cơ bản: lời chào đón với sắc thái hoan hỉ hoặc tạo ra sự thương cảm ở các đền miếu. Tới thời Nguyễn, nghê có thêm một ý nghĩa nữa là con vật soi xét, phân biệt ngay-gian, tà-chính. Bởi thế, dân gian thường bảo “nghê chầu, phượng múa.”


Nói rộng ra, không chỉ nghê mà các linh vật khác của Việt Nam như sư tử đá, con sấu… đều không mang sắc thái dọa nạt hay có chức năng trấn yểm.


Điều đó thể hiện quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa của Việt Nam.


- Đây có phải là đặc điểm lớn nhất phân biệt linh vật Việt với sư tử đá Trung Quốc nói riêng hay các linh vật ngoại lai khác nói chung, thưa anh?


Nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế: Hiện nay, một bộ phận công chúng đang bị lầm lẫn về văn hóa. Để có sự nhận diện, phân biệt rõ ràng linh vật thuần Việt với linh vật ngoại lai, chúng ta cần xuất phát từ “gốc” văn hóa.


Văn hóa Trung Quốc có nhu cầu về danh vọng. Bởi vậy, sư tử đá Trung Quốc thường được tạo hình theo kiểu sư tử bố ở trên và sư tử con ở dưới (theo ý nghĩa Thái sư và Thiếu sư. Thái sư và Thiếu sư là hai chức quan lớn trong triều đình). Sử dụng những con sư tử này, người ta mong muốn, hướng tới sự hiển đạt, thành công trên con đường danh vọng cho con cái, hậu duệ.


Bên cạnh đó, sư tử đá Trung Quốc còn được sử dụng với mục đích trấn yểm, canh gác lăng mộ, đền đài… Bởi thế, nó thường được tạo hình theo kiểu dữ tợn, đe dọa với vẻ gân guốc, mắt trợn, răng nanh sắc nhọn…


Trong khi đó, truyền thống văn hóa của người Việt không như vậy. Với người Việt, sư tử cũng là linh vật nhưng nó có những điểm khác biệt lớn so với sư tử Trung Quốc.


Sư tử Việt thường được tạo hình theo: trên trán thường có chữ “vương,” mình mập, thân mình phủ kín loại vân xoáy (hay còn gọi là hình thức lôi văn), miệng ngậm ngọc…


Hiện nay, Việt Nam đang có khoảng trống về giáo dục những giá trị văn hóa truyền thống nói chung và về các mẫu linh vật thuần Việt nói riêng. Sự gắn kết giữa các nhà khoa học với các nhà sản xuất thủ công mỹ nghệ hầu như là không có.


Việc chế tác và sử dụng các mẫu linh vật ngoại lai (như sư tử đá theo tạo hình Trung Quốc) trong thời gian qua một phần cũng là do sự thiếu hiểu biết.


Hỏa lò hình nghê bằng đất nung-thế kỷ 19 (hiện vật sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) (Ảnh: A.N/Vietnam+)


- Hiện nay, có ý kiến cho rằng, khi di dời linh vật ngoại lai khỏi các di tích, thì nên đưa các linh vật thuần Việt vào thay thế ở những vị trí đó. Quan điểm của anh về vấn đề này như thế nào?


Nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế: Quan điểm của tôi là có những cái bỏ đi rồi thì không thể thay thế được bằng cái khác bởi vị trí đó trong di tích vốn không có.


Chủ trương di dời linh vật không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam, các biểu tượng, sản phẩm vốn không có trong hồ sơ xếp hạng di tích là một việc rất đúng đắn, trả lại không gian tín ngưỡng vốn có của di tích.


Còn việc đưa các linh vật Việt vào di tích thì cần sự nghiên cứu cụ thể xem linh vật đó có phù hợp với di tích hay không, chứ không phải cứ linh vật thuần Việt là đưa vào tùy tiện.


- Trân trọng cảm ơn anh!


Lần đầu tiên, "bộ sưu tập" 60 hiện vật liên quan đến hai linh vật thuần Việt (sư tử, nghê) có niên đại từ thời Lý, Trần, Hậu Lê đến thời Nguyễn đang được giới thiệu tại triển lãm chuyên đề “Hình tượng sư tử và nghê trong nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam” (diễn ra từ ngày 7-17/11/2014 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, số 66 Nguyễn Thái Học, Hà Nội)


Trước đó, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã có công văn số 352/MTNATL (ngày 19/8) về việc giới thiệu các mẫu linh vật của Việt Nam tới Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh/thành, Thanh tra văn hóa.


Kèm theo công văn là tập tư liệu hình ảnh một số mẫu tượng linh vật hiện được sử dụng tại các di tích và được lưu giữ tại một số bảo tàng. Theo đó, con sấu, sư tử đá, con nghê là các linh vật phổ biến trong văn hoá truyền thống Việt Nam.


14/11/2014


vietnamplus.vn


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyễn Tài, nhà tình báo lỗi lạc, trung kiên, từng bị bôi nhọ... - Tư liệu sưu tầm 23.02.2020
Mekong đang chết, Việt Nam “chọn” gì? - Tư liệu sưu tầm 19.02.2020
18 địa danh ở Sài Gòn bị xóa sổ! - Đỗ Duy Ngọc 17.02.2020
Fidel Castro kịch liệt lên án Trung Quốc tại La Habana ngày 21/02/1979 - FIDEL Alejandro Castro Ruz 17.02.2020
Một tài năng lớn, một tuổi trẻ Anh hùng bị tha hóa – Hay là Bi kịch Nguyễn Đình Thi - Trần Mạnh Hảo 15.02.2020
Nghề Dệt ở Bảy Hiền - Nhiều tác giả 13.02.2020
Chuyến tàu Thống Nhất đầu tiên: Nối dài nỗi nhớ Hà Nội - Sài Gòn - Tư liệu 13.02.2020
Thị Nghè: Rạch, cầu, chợ đều đi vào lịch sử - Tư liệu 13.02.2020
Đồng Tâm: Vì sao? Vì sao? Vì sao? - Hoàng Xuân Phú 12.02.2020
"Messi" của toán học 7 lần đến Việt Nam - Tư liệu sưu tầm 12.02.2020
xem thêm »