tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31367975
Tiểu thuyết
23.12.2019
Khái Hưng
Tiêu sơn tráng sĩ


CHƯƠNG 37: CẢNH ĐIÊU TÀN


Hai trấn Sơn Nam Hạ, Sơn Nam Thượng, Phạm Thái đi qua đều yên tĩnh. Ở


đó tuy bọn Lê thần cũng bất phục và ngấm ngầm phản đối triều đình Tây Sơn,


nhưng không lập thành đảng , thành hội như Ở hai trấn Hải Dương và Kinh Bắc.


Vì thế, sự canh phòng đỡ nghiêm ngặt và Ở các bến đò, sự hỏi tín bài cũng không


đến nỗi ráo riết như trên miền Bắc: quý hồ những người qua os6ng đưa trình là đủ


rồi, viên tuần giang không mấy khi bắt cạp chỉ cùng là hỏi vặn lai lịch cặn kẽ.


Nhưng bắt đầu từ sông Hồng Hà thì sự qua lại đã khó khăn và Phạm Thái đã


phải phòng bị cẩn thận. Tuy kẻ xuất gia được miễn tín bài, Phạm Thái cũng cố tìm


lánh những đãi lộ và không qua Bấc Thành. Chàng đi ngược mãi lên bến đò Trèm


mới thuê thuyền sang ngang.


Dòng dã bốn hôm đường trường, Phạm Thái về tới hạt Từ Sơn. Chàng toan đi


thẳng đến chùa Tiêu Sơn, vì chàng nóng lòng muốn gặp mặt Quang Ngọc ngay.


Nhưng khi xuống ngựa vào một cái quán nhỏ bên đường uống bát nước trè nóng


giải khát, chàng được nghe bà hàng thuật câu truyện "ma hiện hồn tại chùa Tiêu


Sơn, nên sợ hãi không dám tiến nữa.


Chàng cố giữ nét mặt thản nhiên. Một người bộ hành nhai trầu bỏm bẻm vừa


hỏi người kể truyện:


- Thế bây giờ lính còn canh giữ chùa ấy không?


- Không. . . Nhưng ý chừng ông Ở vùng Nam mới lên, hay ông. . .


Bà hàng toan nói đùa: "Hay ông là thám tử của triều đình" - thời ấy, nhất Ở hạt


Kinh Bắc, bọn thám tử của nhà Tây Sơn đông nhan nhản - nhưng ngừng ngay lại,


lo lắng nhìn mọi người.


- Không, tôi Ở Thăng Long mới tới.


Phạm Thái vờ phá lên cười, hỏi:


- Ngày nay làm gì còn Thăng Long?


Bấy giờ người hỏi chuyện mới kịp để ý đến nhà sư:


- ấy tôi quen mồm rồi đấy, vả gọi là Bắc thành tôi cứ e lẫn với thành Kinh


Bắc. Sư ông người vùng này?


- Không, tôi người vùng Nam.


Người đàn bà bán hàng nhanh nhẩu và muốn nói hết những điều mình biết, tuy


đã đinh ninh rằng nhất định giữ gìn mồm miệng:


- Bạch sư ông, sư ông tu hành Ở Nam thì sao không cứ Ở Nam, lên đây làm gì?


Ở đây các nhà sư bị bắt bớ, đòi hỏi khổ sở lắm... RÕ đã xuất gia tu hành mà chẳng


được an thân


- Đòi hỏi Ở đâu? Mà đòi hỏi vê việc gì vậy, bà hàng?


- ấy chỉ câu truyện ma chùa Tiêu Sơn mà lôi thôi thế đấy. Quan phủ ngài


không tin có ma, ngài nhất định cho rằng những con ma ấy chính là các nhà sư tu


Ở chùa Tiêu Sơn. Nam vô a di đà Phật? Vì ngài thấy từ ngày có ma hiện hồn thì sư


cụ, sư ông chùa Tiêu Sơn biến mất...


Phạm Thái hoảng hốt:


- Biến mất?


- Vâng, bạch sư ông, biến mất. Mà nam vo a di đà Phật, chùa Tiêu Sơn làm gì


nên tội nên vạ.


Bà hàng ngừng lại, đưa mắt nhớn nhác nhìn quanh. Người Bắc thành mỉm


cươl:


- Bà cứ kể, chúng tôi đây không phải thám tử, thám tiếc gì đâu.


Bà hàng còn ngần ngừ, nhưng cái tính bép xép hay nói những điều mình biết


bao giờ cũng thắng nổi lòng lo sợ.


- Bạch sư ông, chẳng hay chùa Tiêu Sơn đã làm nên tội vạ gì, mà bị quan quân


đem binh lính về triệt hạ. Lũy tre bị chặt nhẵn nhụi, tường thời bị phá, hào thời bị


lấp Đến những cây tháp đựng xương các sư tổ cũng bị phá đổ. Người ta đồn rằng


quan phủ làm thế để trừ tiệt giống ma quỷ, yêu quái. Nhưng trừ ma tà thì sao


không đón thầy bùa, thầy phù thủy, mà lại phá chùa như thế, phải không bạch sư


ông? CÓ nhẽ phép vua phép nước cũng linh thiêng lắm, sư ông ạ, từ hôm phá


phách như thế, giống yêu quái bỏ đi hẳn. Không dám bén mảng tới chùa nữa.


Bà hàng hạ giọng se sẽ nói tiếp:


- Mà người ta lại đồn rằng chùa Tiêu Sơn là sào huyệt của một đảng cướp ghê


gớm lắm.


Phạm Thái phá lên cười?


- Nam vô a di đà Phật?


- Vâng, tôi thấy bác cai Đán cũng nói thế. Hình nhưnhững cây Tháp trong


chùa toàn là tháp giả để chúa vàng bạc, châu báu cướp được trong dân gian.


Nhưng điều ấy tôi không tin. Kỳ dâng sao năm ngoái, tôi về Tiêu Sơn lễ Phật có


gặp sư cụ Phổ Tịnh. Lạy trời lạy tổ, ngài phúc đức, hiền lành lắm. Khi nào ngài


lại


Phạm Thái ngắt lời:


- Vậy bây giờ ngài Ở đâu? Chắc ngài sợ hãi đi trốn tránh, đi lánh nạn.


Phạm Thái không giữ nổi một tiếng thở dài. Người Bắc thành quay lại hỏi


chàng:


- Hẳn thiền sư có biết sư cụ chùa Tiêu Sơn?


Phạm Thái hơi luống cuống:


- Không... bần tăng... biết tiếng... mà thôi... Nhưng rồi ra sao, bà hàng?


- Bạch sư ông, tôi cũng chỉ biết có thể. Sư ông muốn biết rõ thêm thì xin lại


điếm xem giấy yết thị.


- Điếm Ở đâu thế?


- Cách đây một thôi ngắn. Bắt đầu từ đấy cho tới sông Cầu, cứ một quãng lãi


có điếm canh.


Người Bắc thành nghe nói vội vàng trả tiền trầu nước, rồi đứng dậy rủ Phạm


Thái:


- Hay ta cùng đến xem đi?


Phạm Thái ngần ngại. Bà hàng cũng gạt:


- Sư ông chẳng nên lại làm gì. Tôi thấy nhiều nhà sư bị đưa đến phủ tra hỏi rầy


rà lắm.


Bà ta chép miệng nói tiếp:


- Vua với quan trên biết đấy là đâu, chẳng qua họ cứ bày vẽ ra để hạch sách...


chứ đời thủa nào lại đi bắt bớ kẻ tu hành như thế.


Người Bắc thành cũng bão Phạm Thái:


- Bà ta nói thế mà phải? Ngay, gian chưa biết đâu, hãy bị tra hỏi lôi thôi đã.


Mà tra hỏi với tra tấn thường hay đi liền nhau, sư ông nên giữ gìn thì vẫn hơn.


Chàng ta lấy làm tự phụ rằng tìm được một ý hay vuốt ria cười ha hả ra dáng


thích chí lắm:


- Vậy sư ông ngồi đây một lát nhé?


- Vâng, cũng được. Ngựa của bần tăng, tôn ông cứ lấy mà dùng.


- Ngựa của thiền sư đấy à? Ồ? Thế thì càng hay lắm.


Chàng nhẩy phắt lên yên, ra roi phóng nước đại. Bà hàng nhìn Phạm Thái hỏi:


- Sư ông quen biết ông ta?


- Không.


- Vậy sao ông lại cho người ta mượn ngựa? Nhỡ người ta không trở lại thì


sao? Thời loạn lạc trộm cướp như rươi, sao sư ông quá tin người thế?


- Kẻ tu hành không dám ngờ ai hết.


Thực ra Phạm Thái liếc mắt ngắm nghía người bộ hành, biết chàng ta là bực


phong lưu công tử, y phục chải chuốt và chững chạc, cái khăn nhiễu tam giang, cái


áo lương La-cả, cái quần vóc trắng ngà làm tôn hẳn vẻ mặt tuấn tú và giáng điệu


đài các của một văn nhân lanh lợi chốn cố đô.


vả Phạm Thái cho rằng con ngựa kia chàng đã dùng được việc rồi thì dẫu


người ta có lấy mất cũng chẳng hề gì. Cưỡi nó có lẽ một thiền sư càng làm cho


người ta ngờ vực.


Cái ý nghĩ ngờ vực khiến chàng hơi chột dạ. Chàng thì thầm: "Ư, mà nhỡ nó


dùng ngựa của mình đi báo phủ..." Chàng toan rời hàng nước rẽ vào một làng gần


đó trốn tránh thì đã nghe tiếng ngựa phi. Chàng thò cổ ra nhìn, lo lắng. Nhưng


người Bắc thành đã kìm cương, cười nói:


- Con ngựa của thiền sư tốt quá. Ý chừng thiền sư cũng thích chơi ngựa.


- Nam vô a di đà Phật? Bần tăng có thích một thứ gì đâu. Con ngựa ấy nguyên


một ngưòi Ở xẽ Thanh Nê đã bố thí cho kẻ tu hành.


Người kia vuốt ve con ngựa.


- Tốt lắm. Con ngựa này thiệt giống ngựa Lạng Sơn: chân nhỏ, bờm dầy, ức


nở. Thực là ngựa trận, một ngày chạy trăm dậm không biết mỏi.


Phạm Thái hỏi tới bản chỉ thị, thì người kia thò tay vào bọc rút ra một tờ giấy


rộng và cuộn tròn, đầy những dấu ấn kiềm đỏ chói:


- Đây, thiền sư đọc.


Phạm Thái đỡ lấy xem thì đó là một tờ yết thị bằng chữ nôm như sau này:


"Chùa Tiêu Sơn là một nơi sào huyệt của một đảng cướp lớn. Quan trên đã


khám phá ra đươc. Hiện nay tên đầu đảng cướp là Phạm Thái đội đạo hiệu Phổ


T nh thiền sư cùng tên tướng của nó là Lê Báo đội hiệu Phổ Mịch còn lẩn lút trốn


tránh. Hai tên ấy, dân vùng Tiêu Sơn nhiều người biết mặt. Vậy yết thị cho ai nấy


rõ. Kẻ nào tàng nặc hai tên ấy tức có đồng phạm. Kẻ nào biết hai tên ấy Ở đâu mà


không báo quan ngay để chúng trốn thoát bị phạt ba mươi trượng. Còn kẻ nào bắt


đươc hai tên ấy đem nộp, dù sống dù chết, đươc triều đình thưởng tiền từ một


nghìn quan trở lên, mà triều đình lại còn ban phẩm hàm cho nữa.


Nay yết thị


Từ Sơn phủ phân tri


Niên hiệu Cảnh Thịnh năm thứsáu


Tháng mười ngày. . . "


Dưới có bản tranh phác họa diện mạo hai nhà sư. Nét bút vụng về và bức vẽ


không giống làm cho Phạm Thái phải bật cười.


Người Bắc thành cũng cười, hỏi:


- Thiền sư đọc xong rồi?


- Vâng, nhưng sao tiên sinh lại dám bóc tờ yết thị?


- ấy, tôi thấy trong điếm chẳng có một ai, liền bóc lấy cho chóng việc, chứ


chép thì bao giờ xong, nhất tờ yết thị lại viết bằng chữ nôm.


Mắt người ấy vẫn không rời con ngựa.


- Đẹp thực?


- Ngài thích?


- Còn phải hỏi?


- Vậy bần tăng để lại hầu ngài đấy.


Người kia vui vẻ đáp:


- Thực nhé? Thôi thế này. Sáng hôm nay tôi cũng cười ngựa sang đây. Khi


đến quán Yên Viên, nó giở chứng không chị phi nữa, ra roi thế nào cũng làm


thinh Tôi tức mình để lại cho người lái buôn ngựa, lấy có bốn mươi quan. Vậy


bốn mươi quan ấy tôi xin nộp thiền sư.


Phạm Thái đáp :


- Bao nhiêu cũng được.


- Thế thì còn gì bằng. Vậy xin thiền sư cùng đi Yên viên chơi. Rồi sáng mai ta


cùng về Thăng Long... Ta cùng đi Bắc thành một thể thiền sư tính sao?


Phạm Thái vui mừng nhận lời ngay, vì chàng đương chưa biết đi đâu.


CHƯƠNG 38: QUÁN BẠCH PHƯỢNG


Đã mấy hôm nay trong khắp các phố Bắc thành bày ra một cảnh rất náo nhiệt.


Vì kỳ thi tuyển cống sinh sắp sửa bắt đầu nên hàng nghìn sĩ tử Bắc Hà vác lều


chiếu từ các trấn xa gần kéo nhau về, lăm le tên chiếm bảng vàng rồng mây gặp


hội.


Ở các cửa ô, từng bọn thí sinh áo lương khăn nhiễu, đầu đội nón sơn, chân dận


dép da trâu, xúm xít đọc tờ chiếu chỉ dán trên thành tường. TỜ chiếu ấy viết bằng


chữ nôm như sau này:


Sự kén chọn nhân tài rất có quan hệ đến sự thịnh hưng của một nước.


Từ khi Trẫm lên nối ngôi trời trị dân, không một lúc nào Trẫm sao nhãng điều


ấy Trẫm mong mỏi tìm bậc hiền sĩgiúp nước như người làm ruộng mong mỏi trởi


mưa giữa thời hạn hán.


~ thế theo gương Tiên đế, nay Trẫm mở kỳ thi cống sĩ để các sĩ tử trong nước


có dịp cùng nhau thi thố tài năng.


Trẫm lại nghĩ một nơi đế đô không đủ chỗ cho sĩ tử khắp nước đến hội họp.


Vả những kẻ ngoài Bắc hà phải lặn lội vào hnh đô, e đường xá xa xôi, nhất là đối


với những ngưòi nghèo khó, phải lo kiếm tiền lộ phí để đi thi.


Bởi những lẽ trên, Trâm đặt kỳ thi công sĩ Ở ba nơi, một là hnh đô, một là


Quy Nhơn, một là Bắc thành. Như thế người hạt nào đươc thi Ở hạt nấy, thực là


giản tiện. Rồi kẻ nào đậu cống sĩ sang năm vào Kinh đô dự kỳ thi bác sĩ.


Ở trường thi Bắc thành việc kén chọn nhân tài, Trẫm giao cho đại tự đồ


Nguyễn Văn Danh cùng với Thị Trung Ngự Sử Ngô Thì Nhậm đươc tuỳ nghi.


Khâm thử


Niên hiệu Cảnh Thịnh năm thứ sáu.


Bên cạnh tờ chiếu chỉ lại có một tờ yết thị cũng bằng chữ nôm của hội đồng


chấm thi như dưới:


Thừa lệnh Hoàng đé, quan chánh chủ khảo yết thị cho các thi sinh biết rằng:


CÓ ba kỳ thi:


Kỳ đệ nhất: một bài giải nghĩa cùng bàn luận một câu tục ngữ hay ca dao viết


bằng chữ nôm.


Kỳ đễ nhị: một bài luận Nam sử cũng bằng chữ nôm.


Kỳ đễ tam: một bài thơ chữ nôm, hoặc chữ Hán, một bàiphú chữ nôm hoặc


chữ Hán.


Đúng giờ Dần, các th í sinh đã phải có mặt Ở trường th i, ai nấy phải mang


theo lều chiếu cùng là bút mực giấy vở.


Kẻ nào gian trá sẽ bị tội nặng.


Nay yết thị


Quan chánh chủ khảo:


Ngô Thi Trung Nhự sử đại thần


Ở cửa Ô Ưu-nghĩa, khi đọc xong tờ chiếu chỉ và tờ yết thị, một bọn học trò đủ


các tuổi, từ mười tám đến ngoài năm mươi, đưa mắt nhìn nhau tỏ vẻ hoặc kinh


ngạc, hoặc chế riễu. Một người đã đứng tuổi nói:


- Năm xưa, đức Tiến đế mở khoa thi. Tôi phải lặn lội vào tận Phú Xuân, thế


mà tôi còn bỏ không thi, nữa là năm nay Ở ngay Bắc thành.


Một thầy khoá đùa bỡn hỏi:


- Sao vậy?


- Tôi học đạo thánh hiền, dầy công đèn sách, nấu sử sôi kinh, lại thèm làm


những bài nôm na mách qué hay sao?


Dút lời dông đồ vút giấy bút xuống đất, giận dữ quay đi thẳng, khiến mọi


người phá lên cười.


Rồi họ xôn xao bàn tán. Kẻ phàn nàn chưa họ Nam Sử, kẻ lo ngại quên mặt


chữ Nôm. Lại có kẻ hỏi:


- Không biết làm phú nôm thì làm sao?


Một người đáp :


- Khó gì? lại hàng sách mua lấy một quyển phú nôm, văn sách nôm của cụ Le


Quý Đôn mà xem. Nhân tiện học lại chữ nôm một thể.


Một người nữa mỉa mai:


- Thi với cử? Chán ngắt? Văn nôm thì là phải nặng mùi, tờ yết thị dán Ở cưa Ô


Ưu Nghĩa, phố hàng Mắm thực là đắc nghi.


Một thí sinh có tuổi vừa nhìn trước nhìn sau, vừa bảo người kia:


- Liệu giữ mồm miệng?


Rồi, từng tốp kéo đi các ngả.


Một bọn năm người rủ nhau ra chơi đền Ngọc Sơn. Nhưng vừa qua cầu Sầm


Công và rẽ sang phố hàng Bạc, các thầy khoá gặp một thiếu nữ gương mặt sáng


sủa đứng Ở hè phố dương mắt nhìn và mủm mỉm cười tình. Một người trong bọn


bảo anh em:


- Nghe nói con gái, Bắc thành ghê gớm lắm kia đấy? Chớ có trêu vào. Nên


lảng xa ra là thượng sách.


Nhưng người thiếu nữ nào có để cho các thầy lảng xa? Nàng tiến đến gần hỏi:


- Thưa các thầy, em coi như các thầy đương đi tìm nhà trọ?


- CÓ thế Chừng cô là chủ hàng cơm?


- Thưa các thầy không. Em người Kinh Bắc, nhân gặp kỳ thi, về đây bán hàng


trầu nước .


Một thí sinh trẻ tuổi đã bạo, phá lên cười ha hả:


- Chừng để kén chồng, để tuyển phu?


- Thưa không ạ, em chỉ bán hàng để kiếm ăn. Em nghèo lắm, thuê một gian


xép Ở ỉru quán kia. Chủ tửu quán bảo hễ em đón được năm người khách trọ thì họ


cho em Ở nhờ không lấy tiền thuê. Vì thế em gặp năm thầy em mừng quá. Vậy xin


năm thầy thương em nghèo mà đến đấy Ở trọ giùm.


- Đấy là đâu?


- Thưa năm thầy, quán Bạch Phượng Ở phố Cầu Gỗ.


Năm người đưa mắt nhìn nhau. Rồi người trẻ tuổi nói:


- Được, cô cứ về trước đi Lát nữa chúng tôi đến.


- Tiện đường, em xin đưa các thầy về một thể.


- Nhưng lều, chiếu, tráp, nải, chúng tôi gửi cả đàng kia.


- Các thầy không ngại, để Ở đâu rồi em xin đến lấy sau.


Chẳng đừng được, năm thầy khoá phải theo cô kia rẽ sang phố hàng Đào rồi


đến phố Cầu Gỗ.


Tửu quán Bạch Phượng dựng ngay cạnh cái lạch nhỏ thông liền hồ Hoàn


Kiếm với cái hồ nhỏ hàng Bạc. Trên lạch cái cầu hỗ bắt ngang, (vì thế mà người ta


đặt tên là Cầu gỗ). ĐÓ là một nếp nhà gạch khá rộng, có gác, tuy gác ấy thấp và


không có cửa sổ trông ra phía đường, chỉ giống như cái mái chồng của một kiểu


nhà hai mái, dốc sây thành bậc.


Tửu quán ấy nguyên trước là nhà một người buôn lợn, khá giàu. Một hôm vợ


lẽ chủ nhân đứng cửa ngắm phố. Bỗng hai viên vệ binh qua đó thấy nàng có chút


nhan sắc, bèn thả lời trêu ghẹo. CÔ vợ lẽ vốn người quê trấn Hải Dương mới theo


chồng đến Ở Bắc thành, nên chưa rõ oai oác các ông vệ binh xứ Nghệ. Nàng giở


hết giọng chua ngoa tục bẩn ra đáp lại lời ngọt ngào của hai thầy vệ. Người chồng


nghe tiếng ầm ĩ Ở cửa chạy ra, thấy hai ông lính thì giật mình kinh hãi, nhưng đã


quá muộn rồi. Chiều hôm ấy, gần một trăm vệ binh kéo đến nhà người buôn lợn


phá phách, bắt hết lợn làm thịt. May mà vợ chồng con cái chủ nhà biết trước đã đi


trốn tránh. Rồi sau họ dọn luôn đi Ở nơi khác.


Nhưng nào bọn vệ binh đã thôi đâu. Chiều chiều họ còn kéo nhau đi lượn qua


cái nhà bỏ hoang để thị uy. Kẻ cười khoái chí, kẻ thét bô bô:


- Đã biết tay chúng ông chưa?


Một người khác lại tiếp:


- Phải biết? Ai bảo trêu vào lính nà vua? Trêu vào lính quan tổng trấn?


Hôm đầu cũng có người láng giềng thương tình ra xin các thầy vệ cho gia đình


bác buôn lợn. Nhưng người khéo hứng việc ấy bị một quả đấm nên thân. Từ đó


không ai dám hé môi nói nữa lời, mặc cho nếp nhà kia bị khóa trái không người ở.


Vì ai dại mà đến thuê một cái nhà nguy hiểm như thế, nhất là khắp phố Cầu gỗ đều


đã nghe rõ lời dọa nạt của các ông mãnh, lính hầu quan tổng trấn:


"Đứa nào có giỏi cứ đến đây mà ở?"


Hai tháng ròng, nhà người buôn lợn vẫn đóng cửa im ỉm. Bỗng một hôm có


người khách lạ đến thuê. Hai bên hàng phố khúc khích cười khi nghe người ấy hỏi


thăm xem chủ nhà Ở đâu. HỌ thi nhau thuật lại những truyện chẳng lành đã xảy ra,


rồi khuyên người kia chớ nên trêu vào lính quan trấn thủ. Nhưng người khách lạ


không tỏ vẻ mặt cảm động mảy may, hỏi đi hỏi lại chổ Ở của chủ nhà để đến thuê,


và nói nếu chủ nhà bán rẻ thì mua dút.


Thấy vậy một người láng gi^ng nguyên có họ với bác buôn lợn mừng rỡ, đứng


ra nhận bán cho người khác lạ lấy nghìn quan tiền, rồi làm văn tự liền lấy chữ ký


của chủ nhà. Người khách chừng là một tay đại phú, vì trả ngay một lúc năm mươi


nén bạc, mà cũng chẳng cần phải có hộ trưởng ký nhận cùng áp triện.


Ngay mấy hôm sau nhà ngưòi buôn lợn đã trở nên một hàng cơm, ngoài cửa


treo một giải cờ dài nhuộm đỏ có viết bốn chữ lớn "Bạch Phượng tửu quán '.


Từ hôm khánh thành tửu quán, suốt phố người nào cũng ngó tới cái hà ghê


gớm kia, mà bọn lính quan tổng trấn đã ra lệnh không cho ai được phép ở. Ngó tới


để xem cuộc xung đột dữ dội đến bậc nào.


Quả nhiên cách đlo vài ngày, năm người vệ binh đi qua phố Cầu gỗ. Thấy cái


nhà bị cấm đã nghiễm nhiên trở nên một tửu quán, họ thì thầm bảo nhau:


- Thằng cha nào mà già gan thế?


- Ta thử vào xem sao.


Năm cậu vệ vừa bước chân qua ngưỡng cửa thì chủ quán Ở trong nhà đã bước


vội ra chắp tay lễ phép chào, rồi vồn vã hỏi:


- Thưa các thầy, có phải các thầy là vệ binh trong dinh quan tổng trấn không?


Một ngưòi lính xừng xộ đáp:


- Phải, anh muốn nói vệ binh của quan tổng trấn điều gì?


Chủ quán lại vái dài một cái nữa, rồi mừng rỡ cuống quít:


- ồ, thế thì may cho chúng tôi quá, chúng tôi đương sắp sửa vào trong dinh


mời các thầy ra chứng kiến cho bữa tiệc khánh thành tửu quán, thì các thầy lại quá


bộ đến thăm. Thực là hân hạnh cho chúng tôi quá. Chúng tôi chẳng nói giấu gì các


thầy, trước kia chúng tôi là vệ binh trong hai năm Ở dinh quan trấn thử Lạng Sơn.


Chỗ đồng nghiệp...


Rồi trong khi mấy người lính còn ngơ ngác nhìn nhau chưa biết xử trí ra sao,


thì chủ quán đã cất tiếng gọi:


- Em Hai?


CÓ tiếng dạ trong trẻo, rồi một người con gái rất xinh xắn, nhanh nhẹn, y phục


gọn ghẽ, từ nhà trong chạy vội ra.


- Thưa anh, anh bảo gì em?


Mấy cậu vệ trố mắt nhìn, tấm tắc khen thầm.


- CÓ các thầy cai Ở trong dinh quan tổng trấn ra chơi, vậy em sắp rượn mời các


thầy xơi


Dút lời, chủ quán chạy xuống bếp bảo làm nhắm, để một mình cô em gái đứng


tiếp chuyện với các cậu vệ. Giữ thể diện với một cô thiếu nữ cực kỳ xinh đẹp, các


cậu cảm tạ và nhất định từ chối không nhận lời dự tiệc một cách quá đường đột.


Nhưng các cậu làm thân ngay với chủ quán, người đã được diệm phúc có một cô


em gái rất dễ thương. Và chẳng bao lâu, hết thẩy bọn vệ binh trong dinh quan tổng


trấn, từ đội, cai cho đến lính, không còn ai thèm nhớ đến câu chuyện phá phách và


thù oán nữa.


Thế là Bạch Phượng tửu quán bắt đầu vào thời kỳ thịnh đạt ngay. Nay gặp kỳ


thi cống sĩ, khách trọ đến càng đông, đông như trong động Hương Tích gặp ngày


chảy hội vậy.


CHƯƠNG 39: CÔ HÀNG TRẦU NƯỚC


- Thưa năm thầy đến nơi rồi.


Một ông trẻ tuổi nhất và láu lỉnh nhất trong bọn, mỉm một nụ cười tình đáp lại:


- Thưa cô em, chúng tôi cũng biết là đến nơi rồi, vì chúng tôi đã trông thấy lá


cờ đỏ "Bạch Phượng tửu quán" đương phe phất đón chào chúng tôi kia.


Người thiếu nữ quay lại vẻ mặt rất ngây thơ?


- Ồ? Thầy cũng biết chữ?


Cả năm thầy khoá cùng cất tiếng cười ha hả:


- CÔ em ngộ nghĩnh tệ? Đi thi cống sĩ mà lại không biết chử?


- Ồ nhỉ? Nhưng em cứ tưởng là thi chữ nôm kia chứ?


- Cả chữ Hán nữa.


- Cả chữ Hán nữa? Thì ra Nôm Hán toàn tài?


Mọi người lại phá lên cười. Một thí sinh thì thầm bảo bạn:


- Con bé hay hay nhỉ?


Con bé hay hay đã đưa các thầy vào hàng và cất tiếng gọi:


- ông quán ơi, có khác trọ.


Tức thì chạy ra một ngưòi cao lớn, lực lưỡng, vận quần áo nâu, chân đi giầy


da trâu, đầu mọc lởm chởm chít chéo cái khăn lụa màu hoa tiên. Người ấy hớn hở:


- Kính chào chư hiền. Xin mời chư hiền vào nghỉ trong nhà. Quán chúng tôi


được tiếp chư hiền thực là hân hạnh, hân hạnh cho quán chúng tôi lắm.


Thiếu nữ bảo chủ quán:


- Tôi đón hộ ông đủ số năm ngài khách trọ rồi đấy. Vậy tiền thuê cửa hàng


trầu nước, ông liệu châm chước cho.


Nhưng không để ý đến thiếu nữ, chủ quán cuống quít, săn sóc chung quanh


năm người khách quý vì cứ liếc trông diện mạo sáng sủa và y phục chững chạc,


chủ quán cũng đoán biết rằng bọn kia là con nhà thế phiệt:


- Thưa chư tôn ông, chư tôn ông chừng người Kinh Bắc?


Thật ra, chủ quán rất thông minh, thoạt nghe mấ mẩu truyện của năm thầy


khóa đã biết các thầy vùng bể, như vờ hỏi chệch đi, làm ra mình ngớ ngẩn thực thà


không lưu tâm đến một việc gì hết. Ở thời loạn, Ở thời vua tôi không thực bụng


yêu nhau, thì sự ngờ nghệch ngây thơ là một nết rất tốt, vì ít ra nó cũng tránh cho


mình được sự ngờ vực của bọn thám tử. Phải, biết đâu trong năm thầy lại không có


một thầy là thân nhân của quan tổng trấn VÕ Văn Dũng. Khắp Bắc thành còn nao


núng về câu truyện xử tử một người học trò, vì người ấy trong lúc ngà ngà hơi


men đã đọc cho bạn nghe bài thơ cảm khoái, có giọng mỉa mai bọn tôi triều đình


Tây Sơn là một bầy con nít, năm cha, ba mẹ. Việc ấy chắc chủ quán chưa quên,


nên nay gặp mấy ông khóa trẻ tuổi kia, chàng giả vờ đóng vai đần độn. Nhưng một


người trong bọn nghe câu hỏi thẳng thắn trả lời ngay:


- Không, chúng tôi sinh trưởng Ở vùng Sơn Nam hạ cả. Tôi người Xuân


Trường.


- Thưa chư tôn, có ai người phủ Kiến Xương không?


- Có, tôi,


Người vưà trả lời tức là thầy trẻ tuổi đã có chiều muốn lơi lả với cô hàng trầu


nươc .


- Vậy chắc tôn ông có biết tiếng quan Thanh Xuyên hầu?


Chủ quán hơi cuống:


- À? Tôi biết tiếng. . . vì ngài là trấn thủ Lạng Sơn.


Rồi lảng sang chuyện khác, chàng cất tiếng gọi:


- BỚ tửu bảo?


Mấy thầy khóa khúc khích bấm nhau, thì thầm:


- Chà? Lão quán này có lẽ là một tay văn sĩ chăng? Gọi người hầu rượn là tửu


bảo, tửu biếc cẩn thận.


Nghê gọi, một người trẻ tuổi chạy ra. Gương mặt chàng sáng sủa, điệu bộ


chàng nhanh nhẹn, khiến ai thoạt trông cũng thấy chàng khác bọn hầu hạ trong các


tửu quán xưa nay:


- Dạ, bác truyền con làm việc gì?


- Anh đi sắp rượn ngay hầu năm ông cống xơi nhé.


Một người khách cười:


- Chúng tôi đã thi đâu mà ông đã vội tôn chúng tôi lên cống sĩ, bác sĩ?


- Thưa chư tôn, chư tôn đã thi thế nào cũng đậu. Trước sau có khác gì?


CÔ hàng trầu nước quay lại nhìn các thí sinh và mỉm cười rất có duyên:


- Xin mời chư vị hãy lại xơi chén nước chè nóng cho ấm bụng đã.


Một thầy khóa gật, cười tình đáp lại:


- Phải đấy, chư tôn huynh ạ. Chúng ta chẳng nên để cô hàng mong đợi. Phải


không, ông quán?


Chủ quán cười nịnh:


- vâng. Nghe đâu cô hàng cũng là một nữ thi sĩ Ở vùng Kinh Bắc mới tới kia


đấy CÓ thể hầu chuyện văn thơ chư tôn được.


CÔ hàng chau mày:


- ông cứ chế riễu làm gì thế? Chúng tôi cữ nhi nan hóa dám đâu học thói múa


dìu qua mắt thợ.


Khách văn nhân đưa mắt nhìn nhau, có ý gờm gờm, thì cô hàng lại nói tiếp:


- Thưa chư quý vị, ban nãy chư quý vị nói gửi lều chiếu cùng hành lý Ở đâu để


em xin đi lấy về.


- Thôi chả dám phiền cô.


Chủ quán đứng lên đỡ lời:


- Để tôi sai người đi ngay. Xin chư tôn cho vài chữ. Vậy Ở đâu ạ?


Một thí sinh đáp:


- Ở nhà ông cử Lan, phố... à cửa Ô Ưu Nghĩa.


CÔ hàng thấy ông đồ tránh cái tên phố hàng Mắm thì quay đi mủm mỉm cười.


Còn chủ quán vô tình nói luôn:


- à, ông cử Lan Ở phố hàng Mắm, tôi biết. Vậy xin tôn ông cho cánh thiếp, tôi


bảo người nhà đi ngay.


Trong khi các thầy khoá ngồi Ở phản hàng nước viết thiếp, thì chủ quán mang


đến một quyển sổ lớn mà rằng:


- Chúng tôi có một điều muốn thưa cùng chư tôn. ít lâu nay vì có quân gian


phi lẩn quất trong thành làm điều phi pháp, nên đối với việc tuần phòng, quan tổng


trấn rất nghiêm nhặt. Ngài có ra lệnh rằng các tửu quán đều phải có một bạ nhật ký


để khách viễn phương đến trọ khai tên, tuổi, quê quán vào đấy... Chúng tôi cũng


biết làm như thế là phạm đến danh dự của chư tôn, nhưng chư tôn cũng lượng xét


cho, nếu chúng tôi không tuân thượng lệnh thì tất phải tội với triều đình...


Thấy chủ quán nói năng lễ phép, một người vội ngắt lời:


- CÓ gì mà phạm tới danh dự chúng tôi được. Giữ trật từ Ở một nơi đô hội rộng


rãi, đông đúc như Bắc thành thì cố nhiên phải cẩn mật.


Vừa nói vừa đỡ lấy quyển bạ để viết. Tên tuổi năm người là:


Nguyễn Thanh, hai mươi ba tuổi, Nguyễn Ban, hai mươi mốt tuổi, hai anh em,


người làng Hành Thiện, phủ Xuân Trường; ĐỖ Đắc Thắng hai mươi hai tuổi, ĐỖ


đắc Tiến, hai mươi tuổi, cũng hai anh em, người làng La Ngạn, phủ Nghĩa Hưng.


Còn người thứ năm là Trịnh Nhị, hai mươi mốt tuổi, người xã Thanh Nê, phủ Kiến


Xương.


Xong việc sổ sách, chủ quán xin thiếp đi lấy hành lý, rồi kính cẩn vái chào, để


năm nhà văn ngồi lại mà lả lơi trêu gẹo cô hàng trầu nước. Trịnh Nhị con nhà giàu


sang, vốn đã thạo khoa tán gái, nhập cuộc ngay bằng một câu khoe khoang với cô


hàng :


- Cụ lớn tôi cứ bắt tôi phải đưa vài ba tên tiểu đồng đi cắp tráp, xách điếu theo


hầu, nhưng tôi ưa giản dị, nên chỉ đem có một đưá vác liều chiếu. Vả đi đến đâu là


nhà Ở đấy, phải không cô hàng?


CÔ hàng mỉm cười:


- Vâng tôn ông dạy rất phải.


Trịnh Nhị thích chí cười hé hé, nói tiếp:


- Lúc đã vừa ý thì lọ là phải có kẻ hầu, người hạ, thêm bận chân?


- Vậy anh người nhà của tôn ông ý chừng Ở đằng cửa Ô Ưu Nghĩa?


- Phải, nó nhận được thiếp của tôi thế nào cũng theo bác chủ quán, mang hành


lý lại đây Đằng ấy là chỗ bà con. Nhưng tôi đã nói, đối với nam nhi, đối với thi


nhân mặc khách như anh em chúng tôi, thì mình Ở đâu là nhà mình đó, phải khống


quý nương? Như gian hàng nhỏ của cô nương đây tuy hẹp, nhưng lúc chúng tôi


thích thì tức là lâu đài nguy nga của chúng tôi đó. Vì khách làng văn như chúng


tôi, sự nguy nga không Ở cửa cao, nhà rộng, mà chỉ Ở một chén rượn nồng, một


câu thơ hay, một lời nói có duyên, một bông hoa thơm hé nở.


Vừa nói chàng vừa liếc cô hàng một cách rất tình tứ, khiến bốn người bạn phải


lấy làm khó chịu, vì họ chỉ sợ sẽ mắc lỡm với cô hàng có cặp mắt long lanh, sắc


sảo và cái miệng luôn luôn nở một nụ cười bí mật.


Quả họ đoán không sai: cô hàng rót năm chén nước chè mạn sen thơm ngát


đặt trong cái khay khảm, rồi bưng lại sập mà nói rằng:


- Chả mấy khi tệ điếm lại được chu hiền chiếu minh, thực đại hạnh, đại hạnh.


Nay nhân hàng vừa mở, vậy tiện nữ xinh Trịnh công tử ra ân ban cho một đôi câu


đối treo cửa.


Trịnh Nhị vui sướng:


- Sao quý nương biết tên tôi, mà lại gọi tôi là công tử?


- Dạ, ban nãy tiện nữ có trộm nhìn cánh thiếp của công tử.


Nguyễn Thanh vốn biết sức học kém cỏi của Trịnh Nhị và sợ lỡ chàng giở hết


cái dốt của chàng ra, thì thực cả bọn bị xấy lây với cô hàng, nên đỡ lời ngay:


- Làm câu đối là một việc rất tầm thường quý nương chẳng cần phiền đến tài


cao của Trịnh đại huynh xin để tôi cáng đáng.


Ở hai cái cột có treo sẳn đôi liễn con phượng chưa viết chữ. CÔ hàng bắc ghế


lấy xuống mà nói rằng:


- Thưa chư tôn, ban nãy Trịnh công tử đã làm xong một vế rồi, chỉ còn một vế


nữa thôi.


Trịnh Nhị hoảng hốt:


- Xong một vế? Tôi làm xong một vế rồi?


- Vâng, vế ấy tiến nữ đã ghi vào mảnh giấy, đây xin trình chư tôn.


ĐỖ Đắc Thắng đỡ lấy tờ giấy hao tiên của cô hàng trong có hàng chữ thật tốt:


"Một chén rươu nồng, một câu thơ hay, một lời nói có duyên, một bông hoa


thơm hé nở ".


Nghe bạn đọc, Trịnh Nhị vỗ tay cười, tự phụ:


- Vế câu đối của tôi.


- Vâng, của công tử. Cho hay các văn nhân thi sĩ có đại tài vẫn thế, làm văn


làm thơ mà không biết rằng mình làm văn, làm thơ.


Năm người cùng lo lắng, ngẫm nghĩ CÔ hàng lại nói tiếp:


- Thưa chư tôn, kể về câu đối ấy mà treo Ở trà điếm của tiện nữ thì cũng xứng


đáng Nhưng tiện nữ xin phép Trịnh công tử đổi hai chữ cho được đúng hơn vì ban


nãy, chẳng qua công tử buột miệng mà nói thàng văn, chứ công tử có kịp suy nghĩ


tới tiến nữ đâu.


Nói đến đây, cô hàng đưa một cái liếc mắt rất kín đáo.


- Đổi hai chữ nào, quý nương?


- Thưa công tử, hai chữ "rượn nồng" ra hai chữ "trà đượm".


Rồi nàng lại đọc:


"Một chén trà đượm, một câu thơ hay, một lời nói có duyên, một bông hoa


thơm hé nở ".


Cả năm ông cống sĩ tương lai cùng tấm tắc khen:


- Hay? Hay lắm? "Một chén trà đượm, một câu thơ hay, một lời nói có duyên,


một bông hoa hé nở ', câu ấy thực đáng treo Ở cửa hàng trầu nước của một cô nữ


văn sĩ


CÔ hàng bẽn lẽn cuối đầu. Nhưng cô hiểu rằng không nên làm cho các thầy


khóa thất vọng. CÔ bèn nói té tát để chữa thẹn cho các thầy:


- Thưa chư tôn, trong thơ, đối chọi là một sự tầm thường, những bậc tài lỗi lạc


không thèm để ý tới. Trịnh công tử cho một vế như thế cũng đủ nghĩa lắm rồi. Đủ


nghĩa thì thôi, còn tìm một vế nữa làm gì. Vậy xin Trịnh công tử hạ cố cho tiện nữ


được ngắm tài của Vương hi Chi tiên sinh đời nay.


Nghe cô hàng nói, các thầy mướt mồ hôi, Khóa Nguyễn Thanh lại phải đảm


nhận việc viết liễn, vì chàng biết rằng chữ Trịnh Nhị xấu như gà bới. Vả bốn ông


khóa nghe đâu đều ỷ vào lưng Trịnh Nhị mà chơi bời phung phí, nên phải luôn


chống đỡ, che chở cho chàng.


viết xong vế câu đối với giòng lạc khoản "Trịnh Nhị, Thanh Nê mặc khác


đề , Nguyễn Thanh chừng biết cô hàng là gái chẳng vừa, liền bấm bạn bè cáo lui


vào trong quán nghỉ ngơi.


CÔ hàng khúc khích cười, treo đôi liễn lên cột lẩm bẩm nói:


- Một bên đã có chữ. Còn một bên... hãy để đấy.


CHƯƠNG 40: CHỦ QUÁN


Đêm hôm ấy, khi các khác trọ đều đã yên giấc, khi trống, mõ và chiêng, kiểng


Ở trong thành đã điểm canh ba, chủ quán mới nghĩ đến đi ngủ. Chàng ôm sổ sách


lên gác, một từng thấp đến nỗi một người tầm thước có thể đứng giơ tay lên với


chạm mái được.


Vẫn tưỡng chàng đem sổ sách lên để tính toán các món chi tiêu trong một


ngày. Nhưng không, chàng vứt bề bộn hết cả giấy má trên mặt một cái rương lớn,


bên cạnh cây đèn dầu lạc, ngọn cháy lù mù, rồi cúi xuống một góc phòng khẽ lật


ván lên kéo ra một tờ giấy lớn bồi vải và cuộn tròn. Chẳng biết nghĩ sao chàng lại


đậy ván lại, rồi rón rén bước xuống nhà.


Trong các buồng, khách trọ đông ních, tiếng ngáy đủ giọng cao thấp.


Chủ quán soát lại một lượt, từ phòng khách đặc biết dành riêng cho các thí


sinh giàu có, sang trọng, trong số đó có bọn Trịnh Nhị, cho chí những phòng trống


trải Ở nhà ngang, nơi trọ của các chú lái gồng gánh thúng mẹt. Chàng lẩm bẩm:


- Được lắm? Ngủ yên cả rồi.


Chàng liền trở lên gác ngoài, đóng cửa cài then cẩn mật, rồi lại lật ván lấy tờ


giấy lớn bồi vải ban nãy, mở rộng ra: đó là bức bản đồ Bắc thành, và các phố, các


cửa ô, các ao chuôm. Chàng di ngón tay trỏ xuống cửa tây, rồi đưa đi theo con


đường nhỏ qua mấy thửa ruộng tới đền thờ đức Tản Viên dựng trên gò Nùng Sơn.


Ngẫm nghĩ một lát, chàng lại lắc đầu, đưa ngón tay trỏ đi từ trại binh thẳng


đường qua VÕ miếu xuống cửa Nam Văn miếu. Chàng mỉm cười dừng lại đó rồi đi


ngang sang phía đông tới trường thi. Cặp môi chàng mỉm một nụ cười đắc thắng:


- Chỉ năm trăm cũng đũ chán?


CÓ tiếng gõ cửa khe khẽ, kín đáo. Chủ quán vội cuộn bản đồ lại cất vào chỗ


cũ, rồi lên giường nằm im thin thít. Lại có tiếng gõ, hai tiếng đi liền nhau, kế tiếp


ba tiếng nữa. Chủ quán mỉm cười sung sướng dậy mở cửa gác hỏi sẽ:


- Ai?


- Ngu muội.


- Trời ơi? Hiền muội? thế nào, công việc?


Một thiếu nữ bước vội vào phòng. Đóng cửa cài then xong, nàng đáp:


- Hy vọng.


Thiếu nữa là cô hàng trầu nước buổi sáng, và chính là Nhị nương. Còn chủ


quán tức là trần Quang Ngọc.


Trần Quang Ngọc và mấy người đồng đảng bị vây Ở trong hầm chùa Tiêu Sơn.


Tuy viên phân phủ chưa tìm ra được cái hầm bí mật ấy, nhưng cũng đoán chắc


rằng bọn nghịch chỉ lẩn quất đâu đây mà thôi. Vì thế, y ra lệnh cho quân lính ngày


đêm phải vây bọc thực cẩn mật lấy các ngách, các lối quanh chùa.


Nhờ mưu Nhị nương giả làm ma, bọn quân khiếp sợ. Nhưng ngay đêm hôm


nàng đem lương thực vào hầm, nhân quân canh đướng náo động tâm hồn. Quang


Ngọc cùng các bạn đồng chí trốn thoát ra ngoài. Vì chàng cho rằng mưu kia tuy


lừa được bọn lính ngu dốt, mê tín, nhưng trái lại sẽ giúp cho sự dò xét của viên


phân phủ nhiều lắm.


Quả thực, sáng hôm sau phân phủ Nguyễn Túc được tin báo có ma hiện hồn Ở


sân sau chùa Tiêu Sơn, bèn tức tốc cười ngựa đến nơi xem xét. Theo lời phác tả


của tên lính canh, Túc đi quanh hai, ba vòng ngôi mộ, mà tên kia cho rằng con ma


biến vào đó. Bọn nha lại theo phân phủ bàn nên tìm thầy phù thuỷ cao tay để lên


đàn trừ tà Nhưng Túc chỉ mỉm cười đứng ngẫm nghĩ rồi thong thả bảo quân lính


đi lấy cuốc, thuổng đào ngôi mộ...


Vì thế mà sự bí mật bị khám phá vì viên phân phủ đoán chắc rằng Phổ T nh


thiền sư, chủ cái hầm kia tức chỉ là Phạm Thái.


Nửa tháng sau, Quang Ngọc đã trở nên chủ nhân quán Bạch Phượng rồi chàng


đem tiền - vì thế lực kim tiền bao giờ cũng mạnh - chạy cho Lê Báo được trụ trì


chùa Liên Phái. Còn Trịnh Trực thì nhân chưa ai được tung tích, Quang Ngọc lưu


lại Kinh Bắc để tìm kiếm thêm đảng viên trong vùng ấy sau này có dịp tốt, chàng


sẽ quay về hạt Từ Sơn lập lại đảng.


Chính giữa lúc Quang Ngọc đương miên man đến các cách lập lại đảng, có lẽ


to gấp mấy lần trước, thì nghe có tiếng gõ cửa rồi thấy Nhị nương bước vào phòng


báo cho chàng biết rằng việc đảgn rất hy vọng, chàng hỏi lại:


- Hiền muội có hy vọng, là hy vọng về phương diện nào, về phương diện võ


hay văn?


Nhị nương mỉm cười :


- Về cả hai phương diện.


Vẻ mặt Quang Ngọc vẫn thản nhiên:


- Nói qua cho ngu huynh nghe nào.


- Mưu kế rất giản dị. Hôm bắt đầu kỳ để nhất, các thí sinh sẽ rấy loạn phá


trường thi.


- Chắc?


- Chắc. Không kể hơn trăm đảng viên Ở các trấn về dự thí, ngu muội đã dụ


được vài trăm thầy khóa nữa rồi.


- Cả năm chú ban sáng?


- Chính. Hôm ra xem đầu bài chữ nôm, bọn họ sẽ la hét ầm lên rằng nhất định


không làm bài nôm na mách qué... Thế là hàng nghìn người a dua theo rồi ùa nhau


phá trường thi bắt giữ các khảo quan lại. Tất nhiên quan tổng trấn cho quân lính ra


đàn áp Bọn quân lính ấy đã là quân lính ta.


- Của ta?


- Vâng, của ta. Nghĩa là viên quân cơ đã phát thệ theo...


- Theo đảng ta?


- Không... theo ngu muội.


Quang Ngọc trân trân nhìn mm , rồi mỉm một nụ cười kính phục:


- Nhưng phải giữ bí mật lắm đấy? Hiền muội nên nhớ việc phá Từ Sơn.


- Việc này mà bại lộ thì chỉ một mình ngu muội chịu tội, vì những người làm


việc dưới lệnh ngu muội chỉ biết có ngu muội.


Quang Ngọc ngước mắt ngắm Nhị nương, thấy cặp mắt nàng long lanh sắc sảo


lạ lùng:


- Vẫn biết thế, vẫn biết rằng chúng ta đã đổi hẳn chiến lược, chia nhau ra ai


làm việc nấy, chỉ riêng chịu trách nhiệm đối với đảng. Nhưng mất một viên


thượng tướng như hiền muội, thì thực đảng cũng đến siêu.


- Hiền huynh cứ dạy quá lời làm gì thế.


- Lúc hiền muội vào ngu huynh đương xem lại bản đồ Bắc thành.


- Bản đồ của Vẽ Tăng họa?


- Phải, đây, hiền muội thử xem lại...


Quang Ngọc toan lấy bản đồ thì Nhị nương gạt đi mà rằng:


- Không cần ngu muội nhắm mắt cũng đi được khắp nội thành ngoại ô.


Dút lời, nàng đứng dậy nói:


- Thôi, mời hiền huynh đi nghỉ, chẳng khuya rồi.


Quang Ngọc giữ lại:


- à, một tin mừng. Quỹ tháng này tăng nhiều lắm. Riêng tửu quán đã thu được


gần nghìn quan.


- Thế à? Một tin mừng nữa.


- Tin gì?


Nhị nương ghé lại gần nói thầm:


- Phạm Thái hiện Ở Bắc thành.


Quang Ngọc vui mừng:


- Ở đâu?


- Ngu muội chưa gặp. Nhưng mai xin đi tìm.


(còn tiếp)


Nguồn: Tiêu sơn tráng sĩ. Tiểu thuyết lịch sử của Khái Hưng. In lần đầu năm 1934, các NXB tái bản nhiều lần.


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 19.02.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 19.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
Dòng đời - Nguyễn Trung 06.02.2020
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 06.02.2020
Cõi mê - Triệu Xuân 30.01.2020
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 30.01.2020
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 15.01.2020
xem thêm »