tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31050268
Tiểu thuyết
10.12.2019
Khái Hưng
Tiêu sơn tráng sĩ


CHƯƠNG 33: KIẾN XUYÊN HẦU


Kiến Xuyên hầu băn khoăn sốt ruột đã một tháng ròng. Nhưng hôm ấy hầu


càng băn khoăn sốt ruột hơn, đến nỗi hầu lo rằng đã xảy ra tai nạn cho vợ chồng


và con gái đi chơi vãn cảnh chùa. âu đó cũng là sự liên lạc của lulung tâm hồn


cùng một huyết thống, hay nói theo cổ nhân, có tâm linh báo cho ta biết mọi sự


can hệ đến những người thân yêu Ở nơi xa vắng.


Hầu lấy bộ Đường thi ra đọc cho quên nỗi buồn vơ vẩn, nhưng không sao bình


tĩnh mà hiểu được cái hay của những bài thơ cổ.


Đọc được vài trang, hầu lại xếp sách vào ngăn tủ, đứng dậy ra vườn cảnh


ngắm hoa.


Sau dẫy lan can xây theo hình chữ thọ triện, những bông hoa phù dung kép và


đơn về chiều đã ngả màu thắm lại, từ màu hồng phớt cho đến màu đỏ xẩm. Trong


lòng phiền muộn, hầu nhìn màu hoa như có nhuốm máu đào. Dưới dàn thiên lý lá


xanh già rủ qua những mắt cáo của phên nứa, mấy hàng chậu sứ men lam và hàng


thống Bát Tràng màu đen, đặt trên những bộ đôn cùng một kiểu. Trong chậu, trông


thống trồng các thứ cây uốn thành hình con giống: nào cây dành dành, uốn kiểu


"lão bạng sinh câư', cây đơn kiểu "phượng hoàng vu phi", nào cây nẻ, kiểu "hạc


qui quá hải", cây sanh kiểu "hạc lập kê quần". Những cây cảnh ấy cùng hòn núi


giả bày trong cái bể cạn lớn đều do chính tay hầu đã sửa nắn và xếp nên. Vì thế,


nên ngày hai buổi, sáng chiều, hầu ra ngắm nghía không bao giờ chán mắt, mỗi lúc


lại tìm ra cái đẹp thanh thú, mới mẻ của nó. Nhưng hôm nay hầu chẳng buồn ngắm


tới vật gì hết, đi trong vườn cảnh mà trí để cả Ở đâu đâu.


Sang đầu giờ Dậu có tin báo thuyền phu nhân và tiểu thư đã về. Rồi lại tiếp


luôn có tên người nhà về bẩm với hầu rằng thuyền phu nhân cùng hai chiếc thuyền


nữa đã đậu Ở bến. Hầu giật mình kinh hoảng hỏi dồn:


- Với hai chiếc thuyền nữa? Trên thuyền ấy có những ai?


Chỉ một lát sau, tiến khóc đã ầm ĩ từ cổng đưa vào. Rồi Long CƠ vận đại tang


đến trước mặt hầu xụp xuống lạy và nức nở:


- Trình cụ lớn, quan lớn con thất lộc rồi.


Kiến Xuyên hầu mặt tái dần, phải vịn vào cột dàn hoa cho khỏi ngã. Nhưng


trấn tĩnh ngay được và ôn tồn hỏi Long Cơ:


- Chồng con... thất lộc?


- Dạ.


Hầu thở dài, tháo mục kính ra lau:


- Thảo nào một tháng nay thấy sốt ruột quá.


Rồi hầu vào buồng đóng cửa cài then, lên giường ngủ để không ai biết rằng


mình khóc con và khỏi trông thấy gia quyến kêu gào than vãn.


Sáng hôm sau hầu vừa thức giấc, tiếng kinh kệ đã lọt vào tai. Hầu bước ra nhà


ngoài: Trước cái linh cữu phủ vải trắng, một nhà sư trẻ tuổi, ngồi gõ mõ tụng


niệm, Hầu hỏi người nhà:


- Sư ông nghe giọng thanh nhã, chắc không phải người Ở vùng này.


Người nhà đáp:


- Bẩm cụ lớn, sư ông theo linh cữu trấn thủ từ Lạng Sơn về hôm qua.


Kiến Xuyên hầu ngồi xuống tràng kỷ nghe nhà sư tụng niệm.


ít lâu nay hầu rất chăm xem kinh phật và hiểu thấu triết lý cao siêu của một


đạo giáo đã an ủi lòng chán nản của nhà chí sĩ sống vào giữa lúc giao thời.


Hầu thường đi ngao du, tìm đến thăm những nơi danh lam thắng cảnh, rồi Ở


đó, nếu gặp những nhà sư chân tu, cùng họ đàm đạo về ý nghĩa kinh phật.


Một lẽ nữa khiến hầu yêu Phật giáo: Hầu muốn ngấm ngầm, lặng lẽ phản đối


nhà Tây Sơn. Từ ngày vua Nguyễn Huệ xuống sắc chỉ bắt phá hết các chùa nhỏ Ở


các làng, chỉ để lại mỗi hạt một vài ngôi có tiếng, thì hầuBỗng thấy hầu càng yêu


đạo Phật lắm, yêu một đạo giáo hình như đã bị nhà Tây Sơn ruồn ghét.


Phạm Thái cúng Phật xong đứng dậy chắp tay chào Kiến xsuyên, vì chàng đã


biết hầu đợi từ nãy. Kiến Xuyên đáp lễ, rồi mời chàng ngồi.


Nghe một lão quan hỏi đến việc tu hành, đến các kinh bản một cách chu đáo


rành mạch, Phạm Thái lấy làm lo sợ, vì bấy lâu ẩn nấp dưới bóng từ bi, chàng đã


kịp có thì giờ khảo cứu đến sách phật đâu. Chẵng qua, chàng chỉ học thuộc mấy


câu kinh kệ nhì nhằng để ê a che mắt thế gian, cùng là sửa sang cái điệu bộ hiền


lành kính cẩn để ra vẻ một nhà chân tu mà thôi.


Đời chàng là đời hoạt động của một tráng sĩ, mà tu đối với chàng chỉ có nghĩa


là tập luyện tính tình cho khẳng khái, chí khí cho cứng cáp, gân cốt cho mạnh mẽ.


Nát bàn của chàng là trả được thù cho cha, cho vua, cho các bạn đồng chí bị giết.


CÓ một lúc nào tâm trí chàng được thư thái mà xem tới sự tích Phật tổ, mà tìm


hiểu cái nghĩa vu khoát của những chữ: "hư vô, tĩnh tọa".


Nay gặp Kiến Xuyên hầu mà chàng đóan chắc là một người hiểu tinh tường


đạo Phật, nếu chàng không tìm cách giấu cái dốt của mình đi, e chẳng khỏi bị hầu


khinh bỉ. Điều ấy chàng không muốn có, từ khi vụi nẩy một ý tưởng rất kỳ dị trong


tâm trí chàng.


Chàng liền xoay câu truyện từ chỗ đạo giáo ra chỗ văn thơ. Chàng đã được


Thanh Xuyên cho hay tính tình và tư tưởng của cha. Chàng biết rằng Kiến Xuyên


rất chuộng Đường thi và thích thú ngắm hoa vịnh nguyệt. Chàng liền hỏi:


- Bẩm cụ lớn, bần tăng thường được quan trấn đọc cho nghe thi văn của cụ


lớn Thực là lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu.


Kiến Xuyên quên bẵng ngay sự đau đớn, vui cười bảo Phạm Thái:


- Sư ông tính, về trí sĩ như tôi đây thì ngoài cầm, kỳ, thi, tửu ra, còn có cái thú


gì nữa? Nhưng nghe chừng sư ông cũng con nhà nho giáo thì phải.


Phạm Thái biết thế nào Kiến Xuyên cũng hỏi đến gia sự nên đã xếp sẵn câu


truyện từ trước .


- Dạ dám bẩm cụ lớn, nhà bần tăng quả đời đời theo nho giáo. Gặp thời loạn


lạc cha mẹ lại sa sút, nên cho bần tăng xuất gia ăn mày cửa Phật ngay khi mới lên


mười tuổi. Nhờ ơn sư tổ dạy bảo bần tăng cũng biết ít nhiều chữ nghĩa.


Kiến Xuyên mỉm cười, gật gù ngâm nga:


"Vút bút nghiên theo việc đao cung, "


Rồi nói tiếp:


- Tôi chẳng biết sư ông vốn có giòng hào kiệt không, nhưng gặp thời loạn mà


quẳng bút nghiên theo kinh kệ thì hơi tầm thường. Nhưng mỗi người có một


nghiệp riêng theo như kinh Phật, phải không sư ông?


Phạm Thái kính cẩn, vờ khúm núm sợ hãi:


- Dạ, nghiệp của bần tăng là gõ mõ, thắp hương, tụng kinh niệm Phật.


- Còn nghiệp của lão phu là làm thơ, phải không?


Kiến Xuyên cười đau đớn nói tiếp:


- Sư ông là bạn đồng chí của con trai lão phu thì hẳn sư ông cũng biết tài văn


võ của nó đến bậc nào. Lão phu chỉ tiếc giữa việc lớn...


Kiến Xuyên hầu ngừng lại, gọi người nhà pha nước, rồi nói lảng ngay sang


việc khác hình như câu truyện tâm sự không tiện đem ra bàn với một người chưa


quen thân.


Về phần Phạm Thái, chàng cũng rất thận trọng lời nói, giữ gìn ý tứ, vì chàng


biết tâm địa Kiến Xuyên hầu ra sao, chẳng rõ hầu còn trung thành với nhà Lê hay


hầu đã đổi bụng, theo Tây Sơn như nhiều vị quan già khác. Cứ lời Thanh Xuyên


thì đã hai, ba lần Nguyễn Huệ triệu hầu ra tham chính, nhưng hầu lấy nê già yếu


xin Ở nhà dưỡng lão.


CÓ một điều Phạm Thái hơi lấy làm lạ, là Kiến Xuyên hầu có mỗi một con


trai. Nay người con ấy qua đời một cách đột ngột, sao hầu không tỏ lòng thống


khổ, và nét mặt lại giữ được thản nhiên như thế. Há phải hầu không thương con?


Hay hầu đã có cháu nối giõi tông đường rồi, nên hầu không lo ngại nữa. Phạm


Thái muốn dò ý ông qua già, liền hỏi:


- bẩm cụ lớn, quan trấn thủ Thanh Xuyên hầu thực là một người lỗi lạc, thất


lộc đi thì nhân dân thiệt mất một vị minh quan, triều đình thiệt mất một bực lương


tướng Ở chốn biên thuỳ.


Hầu cười nhạt đáp:


- Trời này làm gì có minh quan, lương tướng? Vả gần bốn mươi chết là vừa


lắm rồi. Sống giai như lão phu chỉ thêm nhục.


Phạm Thái nghe câu trả lời, trong lòng hớn hở mừng thầm, nhưng còn vờ


không hiểu:


- Bẩm cụ lớn, bần tăng thiết tưởng nhà cụ lớn phú quý tột bực, có điều chi mà


cụ lớn phải buồn rầu, phẩn uất. Quan trấn thủ không may qua đời, thì mấy cậu


cháu giai kia sau này làm gì không nối được nghiệp nhà mà quan cao, chức trọng.


Kiến Xuyên vẫn cười nhạt:


- Hừ? nghiệp nhà hừ? hừ quan cao, chức trọng thì làm gì?


Rồi hầu nhìn thẳng vào mặt Phạm Thái:


- CÓ lẽ đi tu như sư ông cũng hay.


Nhà sư nhún nhường:


- Bẩm cụ lớn cũng là một sự bất đắc d~ Bần tăng vẫn biết "vô quân, thần, phụ,


Kiến Xuyên hầu ngắt lời:


- Quân thần nào có ra quân thần? Còn phụ tử... ĐÓ sư ông coi: có hợp thì có


tan, phải rời bỏ người mình yêu.


Hầu nghẹn ngào không nói được dút câu, tiếng khóc nỉ non Ở buồng bên đưa


ra càng làm cho hầu đau đớn. Hầu nâng chén nước, yên lặng mời nhà sư, rồi uống


một hơi cạn như muốn nuốt hết sự thống khổ xuống can tràng.


 


CHƯƠNG 34: LONG CƠ


Xong việc tang ma của bạn đồng chí, Phạm Thái đã toan xin phép Kiến Xuyên


hầu để trở lại nhà, vì chàng đương sốt ruột về công việc đảng Tiêu Sơn, mà bấy


lâu chàng không nhận được tin tức.


Bỗng xảy ra một việc đau lòng.


Sáng sớm hôm ấy chàng ra viếng mộ bạn một lần cuối cùng.


Xa xa chàng đã trông thấy từ mồ bốc lên một làn khói biếc lẫn trong sương


buổi sáng thu. Chàng nghĩ thầm: 'Mình tưởng vào giờ này thì chưa ai ra viếng mộ,


thế mà trước mình đã có người đến rồi".


Chàng định quay về, nhưng đăm đăm nhìn quanh mồ, chàng vẫn không thấy


bóng một ai: "Có lẽ ngưòi đến viếng đã đi rồi? Nhưng người ấy là ai? Chẳng lẽ


Long CƠ lại ra sớm thế?"


Phạm Thái liền tiến đến gần. Chàng thoáng nghe tiếng rên khừ khừ se sẽ.


Bỗng chàng giật mình. Cách mộ độ hai ngũ, dưới một cành dương liễu, chàng thấy


treo lủng lẳng, lắc lư cái xác một người đàn bà vận tang phục. Dưới chân một


đống gạch đổ ngổn ngang. Chàng hiểu ngay là người kia vừa tự ải.


Vội vàng chàng trèo thẳng lên cây cởi cái giây lưng người kia cùng để thắt cổ.


Thân người đàn bà rơi phịch xuống đất. Phạm Thái nhìn lại thì là Long Cơ. Chàng


liền hô hoán gọi những người qua đường, và nhờ một người về bẩm với Kiến


Xuyên hầu cùng phu nhân.


Ai nấy đang xúm nhau lại gọi hồn Long CƠ lai tỉnh, thì gia quyến Kiến Xuyên


hầu vừa đến. Trương phu nhân khóc oà:


- Trời ơi? Mất con, lại mất luôn cả dâu. Gặp tình cảnh này thì già sống sao


được, trời hỡi trời?


Quỳnh Như đặt tay lên Long CƠ bảo mẹ:


- Bẩm mẫu thân, chưa thất vọng đâu, còn thoi thóp, mà chân tay chưa lạnh.


Ngàng liền vừa lay mạnh vừa gọi. Quả một lát sau, Long CƠ thở ra một hơi


thật dài, rồi duỗi thẳng chân tay, một lúc nữa, cặp mắt nàng đã động đậy, lim dim.


Kiến Xuyên hầu sung sướng bảo Phạm Thái:


- Sư ông đã đưa giúp linh cữu con lão từ Lạng Sơn về đây, nay sư ông lại cứu


sống được con dâu lão, ơn ấy không bao giờ lão quên.


Quỳnh Như đưa mắt nhìn Phạm Thái thấy chàng có vẽ lẫm liệt oai phong của


một bậc hiệp sĩ. Nàng tự nhủ thầm: "Ta quyết người này không phải là sư?"


Phạm Thái cũng liếc trộm Quỳnh Như, ngẫm nghĩ "Sao một tuyệt thế giai


nhân như kia lại không Ở trong đảng Tiêu Sơn?"


Giữa lúc ấy Long CƠ mắt trân trân nhìn thẳng, ngơ ngác không biết mình


dương Ở cõi dương hay cõi âm. Rồi nàng lại nhắm nghiền mắt lại, miệng ú Ớ nói


mê, tâm thần thiêm thiếp.


Trương phu nhân hỏi thầm Phổ Chiêu:


- Bạch sư ông, liệu có việc gì không?


- Dám bẩm phu nhân, bần tăng chắc rằng không hề gì?


Sư ông xin phu nhân truyền bọn thị tỳ đem võng đưa Long CƠ về nhà.


Hôm sau Long CƠ tỉnh hẳn, rồi nhờ về thuốc thang chữa chạy tẩm bổ nên chỉ


trong vòng ba bốn buổi lại lành mạnh như thường.


Nhưng suốt ngày ấy sang ngày khác nàng chỉ khóc không chịu ăn thứ gì,


khăng khăng đòi tuẫn tiết theo chồng. Kiến Xuyên hầu phải giảng giải mãi nàng


mới vâng lời, tạm nguôi phiền muộn và bỏ hẳn được cái chí quyên sinh.


Từ đó bất kỳ mưa nắng, ngày ngày nàng ra mộ chồng nằm phủ phục kể lể tình


xưa. Kiến Xuyên thấy vậy đem lòng thương xót và chuẩn lời nàng xin, truyền gọi


thợ đến làm ngay một ngôi nghĩa lư bên mả, để nàng một mình ra đó thủ tiết cùng


chồng.


Cách ít lâu, Quỳnh Như đến thăm chị dâu thấy trên vách trắng có đề hai bài


thơ, nét chữ tươi như hoa đào, già giặn như cành mai cỗi. Nàng đứng đọc nhẩm:


Cuồn cuộn xe mây hp duổi dong,


Dễmà theo hỏi chốn hành tông,


Khêu sầu chín khúc chùng giây sắt,


Diễn thảm năm canh quạnh giọt đồng,


Niên đảo mơ màng hồi thú cổ


Sinh tiêu nghe lắng tiếng thiền chung,


Huyền thương ví chẳng thù hồng phấn,


Chi hếp trần hoàn trả chưa xong!


Gió thu hiu hắt, khóm phương tùng,


Thổi rụng hàng châu ngoẹn mà hồng,


CỎ biếc chẳng treo hiền SỞ trướng,


Trúc vàng thù điểom giọt Ngu cung,


Họa kề cổ trủng đeo tình nặng,


Trăng rạng cô lư sáng tiết trong.


Dệt gấm Thanh nê, câu nhất tiếu,


Thêu nền Thúy ái chữa tam tòng.


Đọc xong, Quỳnh Như nhìn giòng chữ lạc khoản hỏi:


- Này chị, Phổ Chiêu thiền sư là ai vậy?


Long CƠ đáp:


- Là nhà sư trẻ tuổi tiễn tống linh cữu tôn huynh về đây bữa nọ.


Quỳnh Như mủm mỉm cười:


- Chị xin thơ người ta đấy à?


Long CƠ lo lắng nhìn em chồng:


- Không, thưa cô, hôm qua Phổ Chiêu đến quỳ bên mộ khấn khứa. Thấy tôi ra,


nhà sư đứng dậy nói lại từ biệt linh hồn bạn một lần cuối cùng để mai đi Kinh Bắc.


Rồi Phổ Chiêu xin đề tặng một bài thơ kỷ niệm. Tôi bảo người nhà lấy giấy bút,


nhưng nhà sư không viết vào giấy, mà lại viết ngay bên vách luôn một lúc hai bài


thơ nôm ấy.


Quỳnh Như vẫn mủm mỉm cười đọc đi đọc lại mãi hai bài thơ. Nàng lẩm bẩm


nói một mình:


- Đã biết mà, có sai đâu. Người này không phải là sư.


Long CƠ kinh ngạc:


- Clô bảo gì?


- Tôi bảo Phổ Chiêu không phải là sư, hay ít ra cũng không phải là một nhà


chân tu. Là một nhà thi sĩ thì còn có lý.


Long CƠ chau mày ngẫm nghĩ


- Sao cô ngờ vực oan cho kẻ tu hành như thế? Trong đám thiền tăng cũng có


người giỏi văn thi chứ.


Quỳnh Như cười:


- Giỏi văn thi đến đâu đi nữa, một nhà sư chân tu cũng không có những lời


tình tứ như hai câu: "Gió thu hiu hắt khóm phương tùng, thổi rụng hàng châu


ngoẹn má hồng". Sao mà chữ "ngoẹn" nó lẳng lơ thế, chị có thấy không? Nhưng


hay chữ thì hay thật?


Quỳnh Như vốn là con nuông của Kiến Xuyên hầu. H^u thương yêu nàng hơn


cả con trai và cho nàng còn thông minh hơn anh nàng nhiều, tuy anh nàng đã đậu


tới tiến sĩ. Hôm ấy nàng đem câu truyện bí mật thuật với cha: nào khi gặp lần thứ


nhất Ở trên thuyền, nhà sư dùng cách bút đàmbảo cho nàng hay rằng Thanh Xuyên


bị kẻ thù đầu độc, nào cử chỉ ngôn ngữ của một nhà sư giống cử chỉ, ngôn ngữ


một võ sĩ. Nàng nói tiếp:


- Nhất là lúc nãy con ra nghĩa lư thăm chị trấn thủ con, được đọc hai bài thơ


của sư ông đề trên vách thì con không còn ngờ vực gì nữa. Chắc chắn là nhà sư kia


là một tay quốc sự phạm ẩn thân trong bộ áo cà sa.


Rồi nàng đọc lại hai bài thơ cho cha nghe. Kiến Xuyến hầu ngẫm nghĩ nói:


- Ư, hay chữ? Nhưng có điều gì tỏ ra rằng hai bài thơ kia của một quốc sự


phạm đâu?


Bỗng Hầu mỉm cười nhìn con gái yêu. Hầu vẫn khen thầm nhà sư có vẻ mặt


tuấn tú của bậc văn nhân và tấm thân tráng kiện của hàng dõng tướng. Nay nghe


lời, hầu lại biết nhà sư có tài ngâm vịnh siêu thế nữa. Tự nhiên hầu lại nghĩ đến


việc nhân duyên của con gái, nếu quả thật kẻ có văn tài kia chỉ đội lốt nhà sư để


lánh nạn.


Thấy cha nhìn mình một cách tò mò, Quỳnh Như đỏ bừng mặt khép nép thưa:


- Dám bẩm phụ thân, con trình phụ thân điều ấy chỉ vì con sợ rằng nếu không


đề phòng trước, biết đâu người kia lại không gieo họa cho nhà ta. Vâng, biết đâu


người ta không có chân trong một đảng phản nghịch nào đó.


Con nghe phụ thân nói Ở hạt Kinh Bắc có nhiều đảng Lê thần đương ngấm


ngầm phản đối triều đình. Thế mà nhà sư lại là người hạt Kinh Bắc, nên con e ngại


lắm.


Kiến Xuyên hầu gật gù suy nghĩ


- Được, để cha xem.


 


CHƯƠNG 35: THỬ TÀI


Ngày chiều hôm ấy, Khiến Xuyên hầu truyền làm một bữa tiệc thật long trọng


rồi cho mời Phạm Thái đến dự.


Thấy đầy một mâm lớn sơn hào, hải vị, lại thêm một chóc rượn đặt trên cái giá


sơn son thiếp vàng, Phạm Thái kính cẩn chắp tay từ tạ:


- Bẩm tướng công, bần tăng đã xuất gia tu hành đâu dám nghĩ đến ăn mặn.


Kiến Xuyên cười khà:


- Bày vẽ? Vã ăn chay quanh năm, nếm thử một bữa cơm mặn chũng chẳng tội



- Dám bẩm tướng công, bần tăng giới tửu đã quen...


- Giới tửu thì thật đáng tiếc, nhất sư ông lại có tài ngâm vịnh phi thường.


Phạm Thái nhún nhường:


- Bẩm tướng công, bần tăng chỉ học có kinh phật.


- Dù thế nào mặc lòng, sư ông cũng chẳng nên bỏ dỗi bữa tiệc tiễn hành của


lão gia. Nhân hôm nọ sư ông ngỏ lời muốn về Kinh Bắc, nên hôm nay lão gia mới


có chén rượn nhạt để trước là cảm tạ sư ông đã hộ tống linh cữu con trai lão gia,


lại cứu con dâu lão thoát chết, sau là để tiển biệt một người bạn thiếu niên.


Phạm Thái kính cẩn:


- Bẩm tướng công, chúng tôi đâu dám.


Kiến Xuyên hầu bỗng cười phá lên hỏi:


- Sư ông hẳn thuộc sự tích Phật tổ?


Phạm Thái giật mình, vì tưởng Kiến Xuyên hầu đoán biết cái lực lượng phật


học của mình. Nhưng Kiến Xuyên nói tiếp luôn:


- Hẳn sư ông đã đọc truyện người tiều phu bắn được một con lợn rừng, nhân


có Phật tổ qua đường liền rước ngài về nhà khoản đãi. Ngài tuy đau yếu phải kiêng


thịt,- vì nếu không kiêng thì tất phải nguy đến tính mệnh - nhưng ngài không nỡ


làm đỗi bữa tiệc của người tiều phu, bèn nhận lời đến dự. Cũng vì bữa tiệc lợn


rừng ấy mà Phật tổ tịch Nát bàn. Vậy sao bữa tiệc của lão gia thết sư ông lại ế


được, phải không sư ông? Dù sư ông có vì ăn mặn mà chịu thiệt không được lên


Nát bàn đi nữa thiết tưởng sư ông cũng chẳng nên từ chối.


Phạm Thái mỉm cười xin nhận lời. Rồi chủ khách vào tiệc.


Lúc mới uống dăm chén rượn, Phạm Thái còn giữ được tự nhiên, chuyện trò ôn


tồn vui vẻ. Nhưng khi đã quá số vài chục chén rồi, thì chàng quên hẳn rằng mình


đương ngồi đối diện với một lão quan. Thấy chàng li bì chẳng nói chẳng rằng mà


nốc rượn như nốc nước vối, Kiến Xuyên hầu nói đùa:


- Trông sư ông như ông Di Lặc.


Di Lặc đương để ý đến cái rèm che cửa buồng gian bên và nghĩ thầm: "Không


gió mà chánh rèm động đậy thì hẳn có người đứng trong ghé mắt nhòm ra. Người


ấy là ai? Hà tất ta còn phải hỏi".


Vì thế Di Lặc tỉnh hẳn: Men rượn chỉ đủ làm cho chàng hết "li" (cái đức tính


của chàng khi quá chén, và trở nên một người nói chuyện rất có duyện).


Thấy nhà sư đãng trí, luôn luôn đưa mắt về phía cửa buồng bên, Kiến Xuyên


hầu hỏi:


- Sư ông nhìn gì vậy?


Phạm Thái luống cuống. May sao Ở ngay vách bức bàn gần đấy có treo tờ


tranh lớn vẽ một người tố nữ. Chàng liền vịn ngay vào đó để chữa thẹn:


- Dám bẩm tướng công, xin tướng công tha lỗi bần tăng mải ngắm bức tranh;


tinh thần nét bút, càng nhìn càng tươi. Dám bẩm tướng công ai là tác giả bức danh


họa này?


Trương công cười:


- Sư ông quá khen. Tôi coi nét vẽ còn non nớt lắm, mà còn non nớt cũng phải,


vì họa sĩ chỉ là một người con gái mười sáu tuổi.


Phạm Thái kinh ngạc hỏi lại:


- Bẩm tướng công, vậy ra...


Thấy chàng ngập ngừng, Kiến Xuyên đỡ lời:


- Phải, tranh ấy chính tay tiện nữ Quỳnh Như phát họa.


Phạm Thái khen, có lẽ cốt để Quỳnh Như đứng sau bức rèm nghe rõ:


- Đại tài kỳ nữ?


Trương công lại cười:


- Sư ông quá tán tụng. Nhưng lão gia nghe đồn sư ông có tài thất bộ thành thi,


vậy sư ông đề một bài thơ Đường luật vịnh người mỹ nữ trong tranh xem nào.


Phạm Thái chắp tay lễ phép:


- Bẩm tướng công, bần tăng đâu dám múa rìu qua mắt thợ. Nhưng tướng công


đã truyền bần tăng cũng xin đánh bạo vâng lời, có kém chỗ nào, xin tướng công


phủ chính cho. Vả bức tranh còn thừa nhiều khoảng trắng quá. Bài thơ của bần


tăng có dở đi nữa cũng được cái công dụng giúp cho bức tranh đỡ trống trải.


- Thi sĩ nhúng nhường quá?


Hầu liền gọi người nhà lấy bút mực.


Phạm Thái ngồi ngắm kỹ bức tranh và ngẫm nghĩ một lát rồi quả quyết đứng


dậy viết một mạch xong tám câu thơ chữ Hán sau này:


Thanh xuân toả liễu lãnh tiêu phòng,


Cẩm trục đình châm ngại điểê m trang.


Thanh rạng đỗ liên phi bất lục,


Đạm bi tạn cúc thái sơ hoàng.


Tình si dị tố liêm biên nguyệt,


Mộng xúc tằng liêu trưởng đỉnh sương.


Tranh Khúc cưỡng hêu sầu mỗi bận,


Oanh ca nhật vĩnh các tiêu hương.


Đề xong thơ, Phạm Thái lại ngồi vào tiệc rượn ngâm lại một lượt rồi hỏi Kiến


Xuyên hầu:


- Bẩm tướng công, bần tăng chữ nghĩa còn kém...


Nhưng Kiến Xuyên ngắt lời:


- Thiên tài? Thiên tài? thực là Lý B ạch tái thế.


Hầu lại gần bức tranh dương mục kính đọc đi đọc lại mãi. Bỗng hầu kêu:


- Trời ơi? dễ thường sư ông... Phải rồi, Oanh, tranh, tình, thanh, xuân... Gỉoi


thực, giỏi thực? Đại tài, đại tài?


Rồi đọc đảo ngược bài thơ chữ thành một bài thơ nôm, lời văn chải chuốt và


tự nhiên:


Hương tiêu gát vắng nhặt ca oanh,


Bận mối sầu khêu gượng khúc tranh,


Sương đỉnh tường gieo tường dục mộng,


Nguyệt bên rèm tỏ sễsi tình,


Vàng thưa thớt, cúc tan hơi đạm,


Lụcphấtphơ, sen đọ rạnh thanh,


Trang điể hm ngại chăm dừng trục gấm,


Phòng tiêu lạnh lẽo khóa xuân xanh.


Hầu quay vào tiệc rót chén rượn đầu, mời Phạm Thái mà rằng:


- Xin tặng thi hào một chén rượn.


Phạm Thái giơ hai tay kính cẩn đỡ lấy, vái đáp:


- Tướng công ban thưởng, bần tăng xin bái l~nh xin chúc tướng công thiên tuế.


- Nhưng ngày tôi hỏi: sao sư ông không để ba chữ "hồi văn cách" để người


đọc hiểu ngay.


Phạm Thái khiêm nhượng:


- Dám bẩm tướng công, có lẽ ngẫu nhiên mà được thế. Nhưng bần tăng cũng


xin vâng theo tôn ý.


Rồi chàng đứng dậy cầm bút đề vào bên bài thơ ba chữ "hồi văn cách" thực


nhỏ


Kiến Xuyên hầu bảo chàng đọc lại một lượt. Chàng vâng lời cất giọng sang


sảng bình văn. Đến câu "nguyệt bên rèm tỏ dễ si tình" thì không biết ngẫu nhiên


hay định ý, chàng đăm đăm nhìn cái rèm rung động che cửa buồng bên.


Phạm Thái bình xong, Kiến Xuyên hầu lại rót một chén rượn đầy nữa:


- Đây là mừng riêng nhà bình văn tốt giọng.


Thực ra Phạm Thái đã cố sửa sang cho giọng mình lên bổng xuống trầm, có


nhịp nhàng tình tứ. Không một lần nào sư ông đọc kệ hay bằng thế.


Phạm Thái vội đỡ chén nói:


- Chết? Tướng công quá yêu, làm bần tăng tự thẹn, vì tài mọn của bần tăng


không được xứng đáng với tấm lòng lân tài của tướng công.


Kiến Xuyên cười phá lên:


- Hay? Sư ông không nhắc đến chữ lân tài, thì suýt nữa lão gia quên bẳng rằng


sư ông là một bậc đãi tài.


Phạm Thái cho câu nói có ý riễu, lặng thinh cúi mặt, nhưng Trương công nói


tiếp ngay:


- Phải, tôi hỏi, sao thiền sư không ra tiến thân để trị dân giúp nước?


Rồi muốn dò ý Phạm Thái, Trương công nhìn thẳng vào mắt chàng, trù trừ


nol:


- Hay là thế này... lão gia tiến cử... thiền sư lên triều đình.


Phạm Thái lạnh lùng:


- Xin đa tạ tướng công, bần tăng đã xuất gia tu hành, đâu còn dám mơ màng


quan cao, chức trọng. Vả miếng đỉnh chung thời này...


Phạm Thái tuy say, nhưng còn đủ tỉnh để giữ gìn lời nói, nên ngừng ngay


được Kiến Xuyên hỏi dồn:


- Miếng đỉnh chung sao kia, thiền sư? Thiền sư nói miếng đỉnh chung thời này


là có ý gì?


Phạm Thái kính cẩn:


- Xin tướng công đại xá cho, chúng tôi say, có khi nói mà không biết nói gì.


Kiến Xuyên lại cười to:


- Còn gì sướng bằng lúc say mềm nói chuyện mà không biết mình nói gì. Vậy


xin mời thiền sư cùng lão gia uống cho thật say mềm đã rồi hãy nói chuyện.


Dút lời, hầu giốc cạn nậm rượn vào chén mình rồi mở chóe, thân cầm gáo và


phễu triết đầy nậm, dù Phạm Thái đứng lên xin để chàng làm giúp, hầu cũng


không nghe:


- Tráng sĩ cứ để mặc lão gia.


Phạm Thái giật mình nhìn Trương công:


- Thôi tướng công say rồi. CÓ tráng sĩ nào ngồi hầu rượn tướng công đâu?


Kiến Xuyên đầu lắc lư, tay run lẩy bẩy đặt nậm xuống bàn.


- Ờ mà có lẽ lão gia say thực. Lão gia nhìn thiền sư ra hẳn một tráng sĩ, nét


mặt đầy dõng cảm, chí khí.


Men rượn mỗi lúc một làm cho truyện thêm hăng hái. Đến nhá nhem tối, khi


chóe rượn đã cạn quá nửa, thì không còn ai tưởng đến giữ gìn nữa, bao lời tâm


quyết về thời thế đem giốc hết ra mâm rượn.


Rồi ánh sáng mấy ngọn sáp le lói chiếu vào hai cái đầu gục lên hai góc bàn,


một cái bạc phơ và một cái tóc đen mới mọc lởm chởm.


 


CHƯƠNG 36: RƯỢU TIỄN CHƯA TÀN


Nửa đêm Phạm Thái thức giấc, thấy mình nằm ngay Ở sập rượu. Mâm và các


thức đã cất hết cả rồi, chỉ còn trơ cây sáp cháy trên cái đài làm theo hình hoa sen


và lá sen.


Phạm Thái ngồi vỗ trán nghĩ mãi mới nhớ ra rằng buổi chiều có ngồi uống


rượu với Kiến Xuyến hầu. Chàng cũng chỉ nhớ thế thôi, còn mọi sự xảy ra trong


bữa tiệc, chàng quên hết.


Bỗng chàng nhác trông thấy bức tranh treo trên vách cạnh bàn, liền cầm đài


sáp ghé gần lại xem. Đọc bại vịnh mỹ nữ, chàng vụt nhớ đến truyện đề thi và hơn


nữa, đến bức rèm rung động trước cửa buồng bên. Ngẫu nhiên, chàng quay lại


nhìn: Cánh cửa buồng đóng chặt, mà hai cành rèm the màu xanh đã mắc lên đôi


móc bạc.


Phạm Thái mỉm cười, chống tay vào cầm ngồi mơ màng tưởng tới những


truyện Liêu Trai đầy tiên cô và yêu quái. Chàng đăm đăm nhìn về phía buồng


ngâm lại bài thơ nôm, và ao ước hão huyền rằng đến câu "Nguyệt bên rèm tỏ dễ si


tình , thì tự nhiên cánh cửa buồng sẽ mở tung ra để đón mời chàng vào.


Tiếng gà gáy nửa đêm làm chàng giật mình. Chàng sợ mướt mồ hôi, đưa tay


lên vẩn vơ xoa đầu. Lúc bấy giờ chàng mới kịp nhớ ra rằng mình là sư, và hơn nữa


là đảng viện, một đảng Lê thần.


Chàng lấy làm tự thẹn và tự giật mình: "Chẳng lẽ nào mình lại thế được." Rồi


dần dần, trí chàng trở nên sáng suốt. Chàng cố ôn lại những lời bàn với Kiến


Xuyên hầu trong bữa tiệc. Chàng nghĩ thầm: "Chẳng biết mình có vô ý để tiết lộ


những điêu bí mật của đảng không?


Chàng lo lắng và hối hận vô cùng. Nhác thấy một tờ giấy hoa tiên màu xanh lá


mạ, gấp trong gối xếp và để thò ra một nửa, hình như cốt để chàng lưu ý đến.


Chàng rút ra xem, thì đó là một bài thơ thất ngôn bát cú. Liền ghé vào ánh sáng


cây sáp, lẩm nhẩm đọc:


Véo von bên liễu liế cng hoàng oanh,


Khuyên khắc đừng quên chí chiếa n tranh.


Giữa lúc nước nhà đang hoạn nạn,


phải khi tráng sĩ vướng tơ tình?


Sông trơi đất Bắc in giòng đỏ,


Núi đứng trời Nam nhuộm vẻ thanh.


Khúc khải hoàn ca rồi mạnh mẽ,


Phòng tiêu đầm ấm rạng ngày xanh.


Phạm Thái sung sướng mỉm cười:


- Bài thơ họa không có lạc khoản, nhưng còn ai vào đây nữa? Kín đáo và tình


tứ, mà lẫm liệt biết bao, tuy viết vội, nên lời thơ không được chuốt.


Chàng tưởng tượng ra một cảnh lặng lẽ, khi mâm rượn bưng đi rồi, Trương


Quỳnh Như từ khuê phòng rón rén bước ra.


Bức vẽ dần dần hoạt động. Phạm Thái mơ màng thấy một thiếu nữ mặt trắng


như ngà, giơ bàn tay xinh xắn vén cánh rèm the ngó nhìn quanh phòng một lượt.


Rồi hai bàn chân nhỏ nhắn trong đôi hài con phượng nhẹ nhàng khoan thai đặt trên


nền gạch Bát tràng to bản, một bước một ngừng vì sợ chàng nghe tiếng động giật


mình thức dậy.


Thiếu nữ lại gần sập ngắm chàng say mềm nằm gục đầu vào gối xếp, rồi thong


thả bước lên sập, đứng đọc bài thơ đề trên tranh, vừa mỉm cười, Phạm Thái như


còn ngửi thấy mùi hương phảng phất trong phòng và nghĩ thầm vơ vẩn: "Biết đâu


cô Quỳnh Như không lay mình dậy, như vì mình say quá, không hay '.


Chàng lắc đầu nghĩ tiếp: "Không, chắc không thể thế được?"


Giấc mơ tỉnh của Phạm Thái vẫn đi. Chàng thấy Quỳnh Như quay về phòng


khuê lấy bút mực để họa bài thơ của chàng, rồi lại như lần trước, rón rén bước ra


nhà ngoài khẽ đặt tờ giấy hoa tiên vào trong gối xếp.


Một tiếng gà gáy làm tan giấc mộng. Chàng cầm bài thơ đọc lại một lượt:


"Nàng khuyên ta nên đi Kinh Bắc để dấn thân vào nơi nguy hiểm: Sông trôi đất


Bắc in dòng đỏ. Sao nàng biết ta... biết chí lớn của ta? Thôi, chỉ vì trong khi ta quá


chén, ta thốt hết tâm sự ra với Kiến Xuyên hầu. Nàng đứng nấp sau bức rèm đã


nghe rõ câu chuyện.


Chàng sung sướng thì thầm:


- Thực ta đoán không sai, nàng quả là một bực cân quắc anh hùng. Nàng


khuyên ta làm việc lớn, rong ruổi bước đường gió bụi, chờ lúc hát khúc khải hoàn


trở về Nàng ước hẹn cùng ta. âu yếm biết bao?... Phòng tiêu đầm ấm rạng ngày


xanh .


Một bức tranh khác kế tiếp hiện ra: Bức tranh náo động vẽ một bãi chiến


trường: Cả một thời kỳ theo Nguyễn Đoàn, thời kỳ đầy nguy hiểm, gian lao.


Chàng cười con ngựa tía phi trong đám dáo, gươm, tên, đạn, coi cái chết nhẹ như


chiếc lông hồng. Cái chí nguyện bình sinh của chàng là được da ngựa bọc thây


chôn trên cồn cát trắng. Ngẫu nhiên, chàng ngâm khẽ mấy câu thơ trong truyện


Trinh phụ của bà Thị Điểm.


Chàng trẻ tuổi vố hn giòng hào hệt,


Xếp bút nghiên theo việc đao cung.


Thành liền mong tiến bệ rồng,


Thước gươm thề quyết chẳng dong giặc trời.


Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,


Giao Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.


Dã nhà đeo bức ch iếựn bào. . .


Phạm Thái cười chua chát, ngừng lại "mình làm gì có chiến bào chỉ có tấm áo


cà sa. Còn nhà thì chẳng còn nhà đâu mà dã, họa chăng dã cô Quỳnh Như...


Nhưng chẳng hay cô có... đưa chàng lòng dằng dặc buồn không?"


Chàng ngẫm nghĩ một lát rồi quả quyết đứng dậy, dáng bộ hùng dũng. "Phải


đi, phải đi ngay?"


Tiếng gà gáy ran nghe như tiếng giục quân.


Quên hẳn rằng mình đương Ở đâu, Phạm Thái cất tiếng ca dõng dạc:


Bóng cờ tiế nng trống xa xa.


Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.


Nghiên mực và quản bút vẫn cón để trên một tủ trè. Chàng tìm giấy không


thấy, liền xé nửa mảnh hoa tiên không có chữ và viết mấyu câu sau này:


"Xin hnh chào tướng công cùngphu nhân.


~ có việc khẩn cấp phải hấp tấp ra đi, nên không hp bái biệt, xin tướng công


cùng phu nhân tha tội.


Phổ Chiêu thiền sư bái bút. "


Chàng đã toan thêm một câu chào cô Quỳnh Như và nàng Long Cơ, nhưng


nghĩ kỹ thấy không tiện, chàng lại thôi.


Ra sân chàng ngửa mặt nhìn trời: Trời đầy sao lấp lánh, nên chàng trông cũng


rõ lối đi Chàng sung sướng nghĩ đến anh em đồng chí nhất là Trần Quang ngọc,


Lê Báo, Nhị nương mà chàng xa cách đã bao lâu, không biết tin tức ra sao. Chàng


coi như vừa thoát được tai nạn gớm ghê hơn cả những tai nạn trong rừng gươm


dáo? "Trời ơi, mình mà chìm đắm vào bể tình, thì bao giờ báo đền được ơn vua, trả


thù cho nhà, cho đảng?"


Đến cổng, chàng đã tưởng cổng đóng, và phải trèo qua để vượt ra ngoài.


Nhưng lạ thay, cánh cửa hé mởi. Chàng vừa ra khỏi, quay đầu nhìn lại thì chẳng


hiểu ai đã đóng sập lại rồi, hình như để bảo cho chàng hay rằng đừng do dự nữa.


Chàng còn bỡ ngỡ chưa biết tiến về phương nào. Bỗng bên bờ tre trong bóng


tối có tiếng lạt sạt. Chàng định thần trố mắt nhìn kỹ, thấy một con ngựa, thắng yên


cương đứng ngoạm lá tre. Giữa lúc ấy, một người Ở trong nếp nhà tranh bên đường


chạy ra hỏi:


- CÓ phải sư ông Phổ Chiêu đó không?


Phạm Thái kinh ngạc hỏi lại:


- Ai biết bần tăng thế?


- Chúng tôi chờ thiền sư Ở đây từ giờ Hợi, để dâng thiền sư con ngựa này, với


cái roi này.


người lạ mặt vừa nói vừa đưa cho Phạm Thái một cái tay nải nâu:


- Xin mời thiền sư khoác khăn gói vào vai, lên ngựa đi ngay cho, kẻo trời sắp


sáng rồi. Thiền sư không cần sang đò, cứ rẻo bờ sông bên này đi chừng tờ mờ sáng


thì ra tới đại lộ.


Phạm Thái càng kinh ngạc:


- Nhưng tôn ông là ai?


- Thiền sư không cần hỏi điều ấy. Mời thiền sư lên ngựa ngay đi cho.


Phạm Thái theo lời, khoác tay nải, nhảy phắt lên yên, nói:


- Đa tạ tôn ông, tôn ông đã muốn giữ bí mật không cho bần tăng rõ tung tích


thì bần tăng cũng chẳng biết làm thế nào, chỉ xin cầu Phật tổ phù hộ cho tôn ông


mà thôi.


Dứt lời, chàng ra roi, Vẳng theo sau lưng câu dặn với:


- Không cần phải trả lại ngựa. Các thứ nhu dụng đã có đủ cả trong gói.


Phạm Thái rẽ ngựa qua cánh đồng khô vừa gặt hái xong, còn lởm chởm những


chân rạ, và theo ven bờ sông, trông phía Tây Nam thẳng tiến. Nắn tay nải, thấy có


nhiều vật rắn và nặng, chàng đoán chắc đó là những nén bạc.


(còn tiếp)


Nguồn: Tiêu sơn tráng sĩ. Tiểu thuyết lịch sử của Khái Hưng. In lần đầu năm 1934, các NXB tái bản nhiều lần.


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 15.01.2020
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 15.01.2020
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 10.01.2020
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 10.01.2020
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.01.2020
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 07.01.2020
Bắc cung Hoàng hậu - Nguyễn Vũ Tiềm 05.01.2020
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 05.01.2020
Trả giá - Triệu Xuân 02.01.2020
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 02.01.2020
xem thêm »