tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31324419
Tiểu thuyết
07.12.2019
Constant Virgil Gheorghiu
Cơ may thứ hai


TẬP SÁCH NÓI VỀ SỰ HẮT HỦI


Sau khi Marie chết, Pillat bỏ hẳn việc đi lại các Đại sứ quán để lo vụ di dân. Anh cũng ngừng hẳn việc đến các văn phòng từ thiện. Anh không nghĩ đến một dự kiến nào nữa hết cho tương lai.


Anh ở lì trong phòng ở tầng lầu sáu trong khách sạn của ông Dufout, ở một mình, cửa sổ phòng đóng kín. Thỉnh thoảng anh xuống mua bánh mì nhưng anh không nhìn ai, cũng không nói chuyện với ai hết.


Một bữa kia, Aurel Popesco đến khách sạn. Hắn ta ngồi trong một chiếc xe Cadillac màu đen. Ông Dufout đứng tiếp hắn. Aurel Popesco hỏi ông Dufout về Pillat.


- Ngài đến thật là may mắn, thật là chí lý. - Ông Dufout nói - Sau tai biến ông Pillat đắm chìm trong một trạng thái suy nhược... Thật là may mắn vì Ngài đến. Ông Pillat giam mình trong phòng suốt ngày, không ăn uống, không nói chuyện với ai cả. Ngài muốn lên không ạ?


Aurel Popesco đã biết Marie tự vận.


- Tôi sẽ mang Pillat đi cùng với tôi. - Aurel Popesco nói - Pierre Pillat được bổ đến làm việc tại một nhiệm sở lớn bên cạnh Bộ tư lệnh quân lực Đại Tây Dương. Anh ta là một phần tử ưu tú, chọn lọc. Tôi được đặc trách đến tìm anh ta.


Aurel Popesco lên phòng trọ của Pierre Pillat. Xuyên qua tấm màn cửa, mấy cô con gái ông Dufout nhìn chiếc xe Cadillac đen bóng để trước khách sạn.


- Dậy đi bạn. - Aurel Popesco hét tướng lên khi vào phòng Pillat. - Tôi mang đến cho bạn một tin vui kỳ diệu. Bạn đã trở thành một nhân vật quan trọng rồi đấy. Tôi đã xin được cho bạn vào làm việc ở Bộ tư lệnh quân lực Đại Tây Dương. Bạn sẽ đi với tôi. Chúng ta phải có mặt ở Đức tối nay. Ôi, nếu bạn biết được bạn đã trở thành một người quan trọng như thế nào?


- Hãy nói với tôi bất cứ chuyện gì nhưng xin đừng nói tôi là một người quan trọng. Tôi biết tôi là cái gì, tôi biết giá trị của tôi. Kể từ khi bị lưu đày, mọi người đánh giá tôi bằng centimét, bằng kilô so với sức nặng của tôi. Người ta lấy dấu tay tôi.


- Bây giờ, hoàn cảnh đã đổi khác. - Aurel Popesco nói - Vả lại hoàn cảnh phải thay đổi chứ. Hãy đứng lên và chuẩn bị đi với tôi. Aurel Popesco giải thích cho Pillat biết là các nước phương Tây đã tổ chức một cuộc chiến đấu chống lại người Xô Viết.


- Người ta kêu gọi hết thảy các phần tử ưu tú đang tị nạn ở phía bên này bức màn sắt. Bạn là một trong những phần tử đó. - Aurel nói - Bạn vừa được bổ làm cố vấn Bộ tư lệnh quân lực Đại Tây Dương. Người ta sẽ giao cho bạn một công tác đầu tiên tối quan trọng. Bạn sẽ được trả lương xứng đáng. Bạn không cần phải di dân nữa. Bây giờ, bạn là một người quan trọng.


Aurel Popesco buộc Pillat đứng lên. Hắn giúp anh chuẩn bị hành lý và khiêng giùm xuống. Ông Dufout giúp họ. Ông đưa họ ra tận chiếc xe Cadillac bóng lộn. Gia đình Dufout bắt tay Pierre, họ cười thân mật với anh và vẫy tay chào từ biệt khi xe nổ máy.


- Bạn không phấn khởi à? - Aurel Popesco hỏi - Thật là một biến cố phi thường.


Pillat nhìn con đường. Anh không nghĩ đến gì hết. Anh cứ để Aurel mang đi, chở đi giống như lúc sau này anh vẫn để làm thế Anh không phản ứng nữa. Anh trở nên thụ động đối với tất cả những gì có thể xảy đến với anh, thụ động như một tù nhân.


- Tối nay chúng ta sẽ tiếp xúc với các vị lãnh đạo. - Popesco giải thích - Ba vị đại tướng đợi anh ở Heidelberg. Họ đợi bạn, bạn ấy, Pierre Pillat à. Bạn phải giải quyết một bài toán phi thường, một vấn đề phi thường. Bạn có một người bạn học cũ, đó là Boris Bodnariuk. Nếu bạn gặp anh ta, bạn có nhận ra anh ta không?


Pillat gật đầu ý nói “Có”.


Bodnariuk là nhân vật quan trọng nhất của Rumani. Cùng với Thống soái các nước Slaves phía Nam, y đứng ra tổ chức liên minh các quốc gia vùng sông Danube. Y là Bộ trưởng Quốc phòng. Thời gian gần đây người ta không biết gì nữa về y hết. Cách đây vài hôm, tại Đức người Mỹ bắt giữ một người xem ra giống hệt Boris Bodnariuk. Việc nhận ra gốc gác, lý lịch hắn ta thì chắc chắn rồi nhưng người Mỹ muốn được thuyết phục, biết chắc đó đúng là Bodnariuk. Nếu thật sự người đó đúng là Bodnariuk thì y có một tầm quan trọng ghê gớm về mặt chính trị. Những giả thuyết phi lý nhất, vô nghĩa nhất đều có thể đặt ra. Hoặc là Bodnariuk bị buộc phải trốn đi vì đã có những rạn nứt, những chia rẽ, những mâu thuẫn chính trị giữa các quốc gia Xô Viết. Trong trường hợp này, người Mỹ có thể lợi dụng những mâu thuẫn, những bất đồng đó. Hoặc là ngược lại Bodnariuk đến vì nhiệm vụ. Trong trường hợp này, nhiệm vụ của y chắc phải có một tầm quan trọng phi thường. Một Bộ trưởng Quốc phòng được đưa sang phương Tây như là một nhân viên thường. Người Mỹ đang ở trong tình trạng kích động sôi nổi chưa từng thấy. Nếu đúng là Bodnariuk thì chính trị thế giới sẽ thay đổi cục diện. Bạn chính là người có thể nói rõ là nhân vật bị bắt giữ có đúng thật là Bodnariuk không? Mọi chuyện đều tùy thuộc vào điều này. Bạn sẽ nhìn hắn ta, nói chuyện với hắn và bạn sẽ nói: “Đúng là hắn” hoặc “Không phải là hắn”. Thái độ mới của người Mỹ đối với người Xô Viết tùy thuộc vào sự nhận diện này, một sự nhận diện mà nếu không có bạn thì sẽ không thể có được. Đấy, đó là lý do tại sao tôi đến tìm bạn tại Paris. Bạn sẽ ở lại Đức. Bạn sẽ là cố vấn thường trực về những vấn đề chính trị bên cạnh Bộ tư lệnh. Đó là một chức vụ phi thường cùng một chức vụ như tôi. Bạn đã gặp Boris Bodnariuk lần cuối vào khi nào?


- Vài ngày trước khi trốn khỏi Rumani. - Pillat nói.


Aurel Popesco nắm lấy vai anh.


- Bạn là người chúng tôi đang cần, người của thời cuộc.


Aurel Popesco vẫn nói. Thỉnh thoảng Pillat nghe vài câu nhưng anh không chú ý gì cả.


- Nếu người Mỹ có dấu tay của Boris Bodnariuk thì họ sẽ nhận diện được y ngay lập tức. Nhưng họ không có dấu tay và người bị bắt giữ không muốn nói. Nếu chúng ta biết được lý lịch hắn ta, hắn sẽ được đưa qua Mỹ và tại đây, hắn sẽ nói. Có những loại huyết thanh làm cho hắn nói tất cả. Bạn có tưởng tượng nổi những điều ghê gớm mà tên Bodnanuk này sẽ kể lại không? Sự có mặt của y trên vùng đất Đại Tây Dương có một tầm quan trọng vĩ đại nhưng lúc này người ta đặt hoàn toàn hy vọng vào bạn. Chính bạn là người phải nói cho chúng tôi đó đúng là y hay không. Pierre nghĩ đến Marie khi đến Đức. Nước Đức là nơi họ đã cùng đi bộ với nhau, xắc mang trên lưng. Họ đã từng đói khát từng bị hành hạ, đã từng thất vọng.


Nhiều thành phố và làng mạc đổ nát. Pillat nhìn chúng như trong mơ. Khi đến Neckar và cầu Heidelberg, Pillat nói:


- Hãy ngừng lại.


- Gì vậy bạn? - Aurel Popesco hỏi - Bạn khó chịu à?


Hắn dừng xe trên cầu. Lúc này là buổi tối. Pillat bước xuống. Anh đến gần lan can cầu, nhìn xuống nước, nhìn lối đi đọc theo bờ sông Neckar và nhìn cái ghế dài ở cuối lối đi.


- Chính ở chỗ này tôi đã xin việc làm. - Pillat nói - Bây giờ cầu đã làm xong. Nếu hồi đó người ta cho tôi vào làm thì hôm nay có lẽ khác rồi. Doina, đứa con bé bỏng của tôi, có lẽ không chết, có thể mọi chuyện sẽ khác hẳn nếu người ta để tôi làm việc tại chiếc cầu này; nhưng tôi đã không được phép cư trú và họ không muốn nhận tôi.


Pillat nhìn cái ghế trên đó anh đã để Marie ngồi lại và từ chiếc ghế này mấy tên cảnh sát đã bắt cô đi.


- Chỗ này, tại chỗ này Marie đã lãnh chịu sự tủi nhục đầu tiên. - Pillat nói.


- Ba ngài đại tướng đang đợi chúng ta. - Aurel Popesco trả lời - Chúng ta nên đi nhanh.


- Khi tôi đến nước Đức, tôi đã muốn làm việc ở chiếc cầu này.


- Cầu mới được làm xong. - Aurel Popesco trả lời - Đây là một chiếc cầu đẹp. Hãy nhanh lên, người ta đang đợi chúng ta.


- Một cây cầu tuyệt đẹp. - Anh nói - Tuyệt đẹp, thật tuyệt vời.


Họ xuống xe trước một biệt thự mới, trụ sở của Bộ tư lệnh Đại Tây Dương bộ phận thông tin. Nhiều viên sĩ quan Mỹ đợi họ. Pillat là người họ đang cần và họ đã mời anh đến từ cả nghìn cây số.


Họ nhìn anh với vẻ thán phục.


II


- Đây là biệt thự tôi đang ở. - Aurel Popesco nói. Do tầm quan trọng của nhiệm vụ tôi đang giữ nên văn phòng làm việc đặt tại nhà tôi. Như thế sẽ thận trọng và kín đáo hơn.


Vài viên sĩ quan Mỹ ngồi đợi ở phòng khách. Họ mời Pillat uống rượu Whisky. Trong phòng có nhiều ghế sang trọng, nhiều nệm dày và êm, nhiều bức tranh có giá trị.


Mọi người nhìn Pillat. Người ta ra lệnh đưa Bodnariuk từ nhà giam đến và bây giờ mọi người đợi hắn. Aurel Popesco thay trang phục và lại ngồi gần Pillat.


- Bạn sẽ có một cuộc sống như thế này. - Y nói - Một cố vấn của Bộ tư lệnh Hoa Kỳ được hưởng nhà ở, nghĩa là một biệt thự lộng lẫy và mọi thứ tiện nghi, lợi lộc khác: xe hơi, tiền lương trả bằng Mỹ kim, nhiều khoản thuế, thật là một chức vụ phi thường. Tôi rất hài lòng vì bạn được bổ nhiệm chức vụ đó. Nếu bạn muốn bạn có thể định cư tại Hoa Kỳ bất cứ lúc nào. Đối với nhân viên Bộ tư lệnh, không có một trở ngại nào trong việc di trú hết. Anh sẽ trở thành công dân Mỹ ngày nào anh thích.


Aurel Popesco được gọi qua văn phòng bên cạnh. Hắn trở về vẻ sợ hãi. Hắn nói vài tiếng gì đó với mấy sĩ quan cấp trên. Mấy người Mỹ buồn bã. Họ lấy mũ và ra đi. Pillat ngồi lại một mình.


- Boris Bodnariuk đã chạy trốn cách đây nửa giờ. - Popesco nói.


Hắn run rẩy, mặt hắn thay đổi, có thể nói đó là một con người khác.


- Anh hãy ở lại đây, ở lại nhà tôi. Trong khi chờ đợi người ta cấp nhà và anh chuyển đến đó, thì anh là khách của tôi. Tôi không thể tin được là tên kia đã trốn. Không một tù nhân nào có thể trốn thoát khỏi nhà tù của người Mỹ nhưng tên tù này đã thoát được. Đây là một chứng cớ cho thấy tên đó đúng là Bodnariuk. Chỉ có Boris Bodnariuk mới có thể hoàn thành một việc làm táo bạo như vậy. Chắc chắn là y có những tên đồng lõa, những tên đồng lõa quan trọng, nhưng chắc chắn y sẽ bị bắt lại. Y không thể đi xa trong nửa tiếng đồng hồ. Người Mỹ sẽ bắt y lại. Họ sẽ đưa y đến đây để bạn nhận diện y.


Aurel Popesco mặc một áo “ba đờ xuy” xám.


- Hãy ngủ đi. - Hắn nói - Tôi đi lại trung tâm. Nếu trong thời gian đó, chúng tôi bắt được hắn, chúng tôi sẽ phải làm phiền anh, hắn phải được nhận diện ngay.


Pierre Pillat không bị quấy rầy đêm đó. Người Mỹ đã không bắt lại được Boris Bodnariuk.


III


Một tuần đã trôi qua. Aurel Popesco vắng mặt cả ngày lẫn đêm. Hắn làm việc nhiều.


- Bodnariuk đã thoát khỏi chúng ta. - Hắn nói.


Hắn mệt mỏi. Từ khi Bodnariuk trốn thoát, hắn chỉ ngủ vài giờ trong một đêm.


- Người ta báo cho chúng tôi là hắn vừa đi qua vùng Xô Viết tại Đức. Chúng tôi không còn dịp may nào nữa để bắt được hắn. Tất cả những gì chúng tôi có thể làm được, đó là nhận diện hắn qua hình ảnh mô tả. Người Mỹ muốn anh viết một báo cáo chi tiết với diện mạo của Bodnariuk.


Pillat viết báo cáo. Anh đã viết chi tiết dáng vẻ bên ngoài, cũng như tính tình của người bạn học cũ của anh.


- Bạn không biết Boris Bodnariuk cân nặng bao nhiêu à?


- Aurel Popesco hỏi - Người Mỹ quan tâm nhiều đến điều đó. Người ta không thể nhận diện một người nếu không biết người đó cân nặng bao nhiêu dù biết phỏng chừng.


- Tôi chưa bao giờ hỏi số cân của những người tôi gặp.


- Từ ngày làm việc với người Mỹ, tôi biết cách lượng giá ngay tức khắc số cân nặng của mỗi người đứng trước tôi. Điều này hết sức quan trọng. Quan trọng hơn cả màu mắt. Anh không biết tầm vóc hắn à? Có thể anh còn nhớ số cân và vóc dáng hắn từ hồi anh còn học với hắn chăng? Nếu chúng tôi biết được hồi mười bốn tuổi hắn cân nặng bao nhiêu và số đo bề cao, vòng eo, vòng ngực... bao nhiêu thì chúng tôi có thể suy ra số cân và tầm vóc hiện nay của hắn. Chẳng hạn như, phỏng theo ảnh chụp hay hình tả, chúng ta biết kích tấc cổ áo và giày của hắn.


Đây là một điều tối quan trọng nếu muốn nhận diện ai đó.


Bản mô tả của Pillat về Bodnanuk làm người Mỹ thất vọng vì nó thiếu các dữ kiện, các dẫn chứng cụ thể. Người ta thấy trong bản mô tả đó nhiều thiếu sót không thể chấp nhận được đối với một người đã từng biết Bodnariuk như Pillat.


Pillat đã không cung cấp một tin tức nào rõ ràng về Bodnariuk cả. Không có gì cả về vóc dáng hắn, về số cân nặng của hắn, về vòng đầu, vòng cổ, về kích tấc giày hắn, về vòng eo hắn.


Bản mô tả có tính văn chương, có giá trị văn chương chứ không có tính khoa học. Người Mỹ bắt đầu nghi ngờ là chưa chắc Pillat đã thật sự quen biết Boris Bodnariuk. Họ trách cứ Aurel Popesco về những thiếu sót này. Thái độ của Aurel Popesco đối với Pillat thay đổi, trở nên lạnh nhạt, xa cách.


Một bữa kia, Pillat từ nghĩa trang Heidelberg trở về nhà sau khi đặt thật nhiều hoa lên mộ Doina Australia. Anh đến đó mỗi ngày và ngồi lại rất lâu trên mộ đứa con gái bé nhỏ của anh.


- Tôi phải đi. - Aurel Popesco nói - Bộ tư lệnh gởi tôi đi vì nhiệm vụ thông tin tuyên truyền ở Israel. Tôi phải tiếp tục với những người Rumani gốc Do Thái có lẽ tôi sẽ tổ chức ở đó một trung tâm tranh đấu chống Xô Viết. Ngoài ra, tôi còn phải viết một bản báo cáo chi tiết về quốc gia mới. Người Mỹ chọn tôi vì họ muốn có một báo cáo khách quan. Tôi không... Tôi quan sát và kể lại mọi sự việc đúng như chúng hiện có. Đấy là tất cả những gì người Mỹ muốn biết: các sự việc tồn tại như thế nào trong thực tế. Họ đã đầu tư bao nhiêu tiền bạc để thành lập quốc gia Israel vì thế họ có quyền đòi hỏi và biết rõ những gì xảy ra ở đó. Đây là một nhiệm vụ tối quan trọng. Tôi sẽ gặp lại bà Salomon và trung úy Varlaam. Cả hai đều muốn rời khỏi Palestine. Họ không thích ở đấy. Tôi sẽ giúp họ nếu có thể.


Đặc biệt là giúp Varlaam. Trong khi tôi vắng nhà, cứ ở lại đây. Tôi lo vụ giấy tờ cho anh. Việc bổ nhiệm của anh sẽ không chậm trễ đâu, hiện nay đơn của anh đang nằm ở Washington.


Chính Zaig Burian thay thế tôi.


Pierre Pillat biết anh chàng người Arnénie có tên là Zaig Burian. Đó là một thương gia to béo và giàu có ở Rumani sang tị nạn tại Đức.


- Zaig Burian sẽ bảo đảm mối liên lạc giữa Bộ tư lệnh và bạn. Nếu bạn cần gì, bạn chỉ cần nói với ông ta. Ông ta sẽ báo tin cho bạn ngay khi bạn được bổ nhiệm. Trong khi đó bạn sẽ làm việc với ông ta. Tôi sẽ vắng mặt hai hoặc ba tháng. Chúng ta sẽ liên lạc với nhau bằng thư từ. Trong khi chờ đợi tôi trở lại, bạn nên nghỉ ngơi và vui chơi kỹ vào. Bạn cần phải giải trí.


Sau bao nhiêu đau khổ như thế, bạn cần phải nghỉ ngơi thật sự. Hy vọng bạn sẽ được nghỉ ngơi.


Sau khi Aurel Popesco đi rồi, Pillat lại rơi vào tình trạng suy nhược như hồi ở Paris, chỉ khác là bây giờ anh ở kín trong một biệt thự sang trọng, thanh lịch trên bờ sông Neckar thay vì ở trong phòng khách sạn của ông Dufout. Người duy nhất anh ta gặp là Zaig Burian. Ông này mang cho anh nhiều tờ báo bằng tiếng Rumani, yêu cầu anh dịch những tin tức quan trọng.


Một vài lần khác, ông ta hỏi anh một thông tin gì đó liên quan đến một nhân vật chính trị mà người Mỹ quan tâm.


Zaig Burian là một ông già dễ mến và lịch sự. Mỗi lần đến, ông đều điện thoại báo trước cho Pillat biết.


Điện thoại reo, Pillat biết rõ đó là Zaig Burian. “Vừa mới đây chúng tôi bắt được một tên rất nguy hiểm. Đó là một người Rumani. Hắn có một câu chuyện rất phức tạp. Tôi sẽ đưa hắn đến để anh xem và nói chuyện với hắn. Anh sẽ cho chúng tôi biết cảm tưởng của anh. Tôi sẽ đến chỗ anh nội trong nửa giờ nữa”.


Pillat ngồi đợi trong văn phòng có ghế nệm sang trọng.


Tại đây, anh đã gặp mấy vị đại tướng Mỹ lần đầu tiên. Nửa tiếng đồng hồ sau đó, Zaig Burian xuất hiện.


- Người Nga gởi đến vùng đất Đại Tây Dương mọi loại gián điệp. - Burian nói - Thời gian gần đây, họ sử dụng cả thợ thuyền và nông dân. Mấy người này đóng vai những tên ngờ nghệch, ngu ngốc, tỏ vẻ không hiểu gì cả, không biết một thứ tiếng nào, tóm lại, chúng đóng vai những tên đần độn. Đấy là những tên nguy hiểm nhất. Người Mỹ bảo chúng ta phải đề phòng và chúng ta phải kiểm soát từng tên một thuộc loại gián điệp Xô Viết mới này. Tên tôi đưa đến là loại thứ điển hình của loại gián điệp mới này. Hắn nói là hắn chỉ biết nói tiếng Rumani, hắn không quan tâm đến chính trị, hắn chỉ là một nông dân bình thường. Mưu mẹo cổ điển. Rồi anh sẽ thấy.


Burian mở cửa phòng khách và kêu tên tù vào. Anh lính gác đứng lại phía ngoài.


Ngay lúc đó, một người nhỏ thó, già nua, gầy ốm, quần áo rách rưới, áo vét Canada, giày nhà binh Đức, áo sơ mi Mỹ xuất hiện trong phòng khách. Đúng là hình ảnh của một kẻ tàn phế, suy nhược. Chỉ có đôi mắt là có vẻ sống động. Đó là Ion Kostaky. Ngay bước chân đầu tiên, ông sợ sệt đặt trên nệm phòng khách, Pillat đã chạy ù lại phía ông, hai tay dang rộng, miệng la lớn:


- Bố!


Anh những muốn nói thêm gì nữa nhưng anh chỉ kêu được: “Bố? Bố!” Anh muốn ôm chặt Kostaky trong cánh tay mình. Anh muốn siết ông đến ngạt thở vì niềm vui của anh quá lớn. Muốn kể cho ông nghe ngay một lèo nào cuộc chạy trốn khỏi làng Piatra của vợ chồng anh, nào vụ nhà của họ bị cháy, nào những vụ nông dân bị Serghei Severin truy nã, anh muốn kể hết, hết tất cả những tủi nhục của anh, của vợ anh... Anh muốn kể cho ông nghe cuộc viễn du sang phương Tây của họ, nhưng đôi mắt của Kostaky đã không cho phép anh đến gần. Ông có đôi mắt to, sáng rực, ấm áp nhưng không tỏ vẻ thân thiện, không muốn cho ai đến gần. Đôi mắt muốn cấm giữ, muốn cản anh lại ở một khoảng xa, giống như còi báo động. Mắt của Ion Kostaky giống như mắt của loài chim rừng, giống như mắt mấy con nai cái, ngơ ngác nhìn anh nhưng sẵn sàng trốn chạy. Mắt của ông ta giống như mắt của những con chó bị đánh đập lâu ngày nay lại gần anh, nhưng sẵn sàng trốn chạy ra xa. Pierre Pillat vẫn giữ hai cánh tay dang ra nhưng không ôm hôn Ion Kostaky.


Ion Kostaky đứng gần cửa sổ. ông nhìn Pillat như thể ông thấy anh qua màn sương của một giấc mộng, ông nhìn quanh, nhìn bàn ghế, nệm trải sàn nhà...


- Pierre. - Ông kêu.


- Bố.


Họ chìa tay cho nhau.


- Marie? - Kostaky hỏi - Marie đâu con?


Đôi mắt to đỏ ngầu vì sốt của ông tìm quanh anh, tìm giữa những chiếc ghế bành, giữa những bức tranh, với vẻ sợ hãi của mắt nai bị đuổi chạy. Rồi tay ông rời khỏi tay Pillat. Mắt ông không tìm Marie nữa. Kostaky đã hiểu.


Ông chỉ còn Pillat mà thôi. Và đôi mắt ông giờ đây, như hai đèn chiếu đầy tuyệt vọng, tập trung nhìn chằm chặp vào Pierre Pillat.


Bàn tay phải đầy vết chai cứng của Ion Kostaky lại siết chặt tay Pillat, siết chặt với hết sức lực của mình. Ông đã cảm thấy có một nỗi tuyệt vọng vô biên khi đưa mắt kiếm tìm Marie và giờ đây ông biết rõ là việc tìm kiếm cô chỉ là vô ích.


Và càng biết rõ việc tìm kiếm Marie chỉ là vô ích ông lại càng bám lấy Pierre Pillat.


- Tôi đi đây. - Burian nói - Xin chúc mừng biến cố may mắn này. Tôi để các ông lại một mình. Tôi sẽ điện thoại lại.


Burian đi khỏi, để lại đằng sau hắn ta một khoảng trống.


- Chuyện đó đến lâu chưa? - Ion Kostaky hỏi.


Ông lau nước mắt với cử chỉ chậm chạp. Không có một giọt nước mắt nào, chỉ có nỗi đau. Nỗi đau khổ lớn hơn nước mắt, ông không chờ câu trả lời.


- Có thể Ileana còn sống, ít nhất, bà ấy... - Ông nói. Rồi ông làm dấu thánh giá - Chúa đã muốn như thế. Đó là ý Chúa.


Ông không nói đến Marie nữa. Marie hiện diện trong tâm trí họ nhưng họ giữ im lặng.


- Bố từ Canada trở về. - Kostaky nói - Bố đã làm việc gần hai năm ở Canada.


Mặt Kostaky xạm nâu vì lạnh. Đôi giày to tổ bố của ông rách nát. Ông đã mang chúng từ khi đi khỏi nước Đức, sau đó mang chúng đi Canada và giờ đây về lại với chúng. Đôi giày chỉ còn dính một cách thảm hại vào chân ông. Kostaky có một quần kaki rách. Đó là chiếc quần nhà binh Anh. Pillat nhìn cái áo vét Canada, áo sơ mi Mỹ. Anh nhìn mắt Ion Kostaky. Chỉ có đôi mắt còn y nguyên như hồi anh bỏ nhà ra đi, nhưng đôi mắt ấy đỏ ngầu vì sốt, đôi mắt hãi hùng.


- Không thể ở lại Canada con ạ. - Ion Kostaky nói - Bố phải trở về. Thật là phi lý, vô nghĩa nếu bố phải chết ở đấy, chết trong tuyết lạnh, trong sa mạc ngoại bang. Không có lý do nào cả. Bố phải trở về.


- Ngồi xuống đi bố. - Pillat nói. Kostaky ngồi xuống. Đúng là một con người hết thời, một người bị rút hết sự sống như vắt hết nước ở một máy ép trái cây vậy, ông chỉ còn da bọc xương, xanh xao, có nhiều triệu chứng ho lao và đau dạ dày. Răng rụng nhiều. Tất cả răng phía trước đều rụng hết. Pillat rót một ly rượu Whisky cho Kostaky và một ly khác cho mình.


- Bố thích một ly nước. - Kostaky nói.


Rồi cả hai im lặng, thật lâu. Họ nhìn nhau, nhìn qua cửa sổ có thể nhìn thấy ở phía đối diện, chiếc cầu trên sông Nerkar và chiếc ghế dài trên đó Marie đã ngồi. Pillat cắn môi để khỏi phải nói đến những gì đã xảy ra. Anh không muốn kể lại với Kostaky tất cả những gì đã xảy đến với vợ chồng anh.


Điều này quá đau khổ đối với anh.


Chúng ta sẽ nói chuyện sau. - Ion Kostaky nói - Tốt hơn nên nói sau.


IV


Ion Kostaky được xóa tên khỏi danh sách các người bị tình nghi. Bây giờ ông ở với Pillat trong ngôi biệt thự của Aurel Popesco.


- Sắp tới con sẽ được bổ làm nhân viên ở Bộ tư lệnh quân sự Đại Tây Dương. - Pillat nói - Chúng ta sẽ có một ngôi nhà và bố ở tạm đấy. Bố sẽ chăm lo sức khỏe. Sau đó, chúng ta sẽ tính xem phải làm gì? Cái chính là chúng ta đã tìm được một nơi trú ẩn thuận tiện và có thể nghỉ chân tạm.


Kostaky lắng nghe, Pillat biết ông đang nghĩ đến Marie và anh không nói nữa.


Khi Burian đến, anh nhìn thấy họ ngồi đối diện nhau trong phòng khách và đang nhìn ra cửa sổ. Ion Kostaky lên phòng ông. Burian tỏ vẻ không hài lòng.


- Washington trả giấy tờ của anh lại cho chúng tôi. Đây là lần thứ hai người ta trả lại cho chúng tôi. Việc bổ nhiệm anh vào làm ở Bộ tư lệnh bị từ chối mặc dù Aurel Popesco đã can thiệp mạnh để anh được nhận.


- Người ta từ chối việc bổ nhiệm tôi à? - Pillat hỏi.


- Anh không có một quá khứ chính trị trong sạch. - Burian nói - Rất nhiều lần người Mỹ đòi hỏi giấy tờ và thông tin. Tôi đã gửi cho họ. Bây giờ thì câu trả lời của họ đã rõ ràng, họ từ chối không bổ nhiệm anh vì quá khứ chính trị của anh đáng nghi ngờ.


- Tôi chưa bao giờ làm chính trị. - Pillat nói.


- Cho đến khi Rumani bị người Nga chiếm đóng nghĩa là cho đến ngày Chiến thắng, người Anh gọi như thế. Anh là luật sư.


- Đúng thế. - Pillat nói - Ngay khi họ đến, người Nga đã loại tôi ra khỏi đoàn thể Pháp quan.


- Lúc đó anh đi khỏi làng Piatra là nơi nguyên quán của vợ anh.


- Đúng thế. - Pillat nói - ở làng Piatra tôi trở thành dân cày ruộng như bố vợ tôi, Ion Kostaky, tôi không còn phương tiện sinh sống nào khác.


- Tại Piatra, anh đã cố xin được gia nhập Đảng Cộng sản.


Zaig Burian nói.


- Đúng. - Pillat nói - Tôi đã cố gắng xin gia nhập Đảng Cộng sản để có thể sống, có thể sống sót nhưng tôi đã thất bại.


- Trong số nhiều toan tính của anh, như chính anh đã khai trong bản báo cáo, người ta thấy có đơn của anh xin gia nhập Đảng Cộng sản Rumani. - Burian nói.


- Đúng. Tôi đã xin gia nhập Đảng Cộng sản. - Pillat nói.


- Chính vì lý do đó mà người Mỹ từ chối không bổ nhiệm anh. - Zaig Burian nói - Anh đã gia nhập Đảng Cộng sản Rumani. Luật pháp người Mỹ không khoan nhượng trong lĩnh vực này. Bất cứ người nào đã gia nhập Đảng Cộng sản, dù chỉ trong một giờ, đều không thể được bổ dụng làm ở một công sở và nếu như người đó lại là người ngoại quốc, người Mỹ từ chối luôn cả việc cho họ vào nước Mỹ.


Pillat suy nghĩ một lúc. Nếu đúng là luật pháp của người Mỹ thì việc từ chối không bổ nhiệm ấy là hợp lý. Anh không còn gì để hỏi nữa. Không còn gì để nói nữa. Anh lại phải tự xoay xở lấy một mình. Anh chỉ ân hận là đã chấp nhận rời khỏi nước Pháp.


- Một điều nghiêm trọng hơn nữa, đó là trường hợp bố vợ anh, Ion Kostaky. Anh có biết là người ta vừa mới chuyển ông qua lại danh sách những người bị tình nghi không?


- Bố Kostaky trong hàng ngũ những kẻ bị tình nghi à? - Pillat hỏi - Bố Kostaky bị nghi ngờ? Không thể được. Điều này vượt quá giới hạn của một trò đùa, một sự lố bịch.


- Ion Kostaky đã rời bỏ Canada. - Burian nói - Canada là một nước dân chủ. Tại sao bố vợ anh không thích ứng với một nước dân chủ? Đó là vấn đề người Mỹ thắc mắc. Tôi đã đọc bản báo cáo của Ion Kostaky: “Lao động ở Canada rất vô nhân đạo: người ta xây dựng những đường rày xe lửa ở một vùng giá tuyết, tiền lương được trả cao nhưng đời sống quá đắt đỏ nên không còn lại gì cả. Nên những người thợ muốn ăn mỗi ngày thì họ phải mắc nợ căng tin...”


Ngay cả cho rằng những người thợ đó bị bóc lột, bị khai thác, thế nhưng người Mỹ vẫn không thể hiểu nỗi tại sao một người lại rời bỏ một chế độ dân chủ bởi vì hắn rơi trúng vào một ông chủ bóc lột hắn. Họ đưa ra nhiều giả thuyết khác Đối với họ, một người rời bỏ một nước dân chủ là một người đáng bị nghi ngờ. Đó là một con người không thể chấp nhận chế độ dân chủ.


- Chúng tôi sẽ thử xin di dân lại như lúc đầu. Có lẽ xin đến Venézuela.


- Một việc khác nữa. - Burian nói - Hãy đi di dân càng nhanh càng tốt. Cuộc xung đột bắt đầu lớn dần ở Trung Đông. Hiện nay là cuộc chiến tranh Triều Tiên. Cuộc chiến tranh ở Trung Hoa sắp tiếp diễn. Một tuần lễ sau khi Trung Hoa tham chiến, cuộc xung đột Âu châu sẽ bùng nổ.


- Từ năm 1945, hòa bình được ký kết nhưng chiến tranh vẫn không ngừng tiếp diễn. - Pillat nói.


- Nếu chiến tranh bùng nổ ở Âu châu thì anh và ông đây sẽ bị bắt giữ ngay. - Burian nói - Anh với tư cách là đảng viên của Đảng Cộng sản Rumani. Và bố vợ anh, Ion Kostaky, vì đã rời bỏ một nước dân chủ không có lý do chính đáng. Tôi thành thật nói với anh điều đó. Tôi đã viết thư cho Aurel Popesco nói là anh đang lâm nguy. Danh sách những người phải bị giam giữ đã được thiết lập và tôi không thể loại anh và ông ra khỏi. Ông và anh, cả hai người đều có tên trong danh sách những người sắp bị giam.


Im lặng.


- Với tư cách bạn bè, tôi có thể giúp anh đi di dân. Burian nói - Tôi có nhiều quan hệ. Bây giờ, người trí thức cũng có thể di dân. Anh không bao giờ có thể vào nước Mỹ nhưng trên quả đất này còn nhiều nước khác. Tôi có thể giúp anh. Đối với Kostaky thì chịu, không thể làm được gì cả. Không ai có thể làm gì được cho ông ta nữa cả. Ông ta phải ở lại nước Đức. Đối với ông ta, mọi cửa di dân đều hoàn toàn đóng kín. Ông ấy phải đợi ở đây và chờ các biến cố. Ông ấy được xếp vào loại người cặn bã, vô dụng.


- Loại nào?


- Loại vô dụng, thừa thãi. - Burian lặp lại - Loại tàn phế vô dụng. Anh không thấy là ông ấy không còn một chiếc răng nào cả à?


- Và chính vì thế mà bố Kostaky là một kẻ vô dụng, cặn bã à? Bố tôi đã quá đau khổ.


- Không phải tôi nói điều đó đâu. Đó là cách gọi chính thức của người Mỹ. Chúng tôi có khoảng một triệu người bị bệnh nan y, tàn tật hoặc già yếu. Đấy là những đồ rác rưởi. Họ không thể có tên trong bất cứ danh sách di dân nào hết, trong bất cứ danh sách nào trên thế giới. Họ là cặn bã, là đồ thừa thải, là rác rưởi. Người ta chính thức gọi họ như thế đấy. Anh đã thấy căn cước của Kostaky chưa? Đó là căn cước của một tên rác rưởi, cặn bã, thừa thãi. Tiếng đó đã được viết vào căn cước Tôi biết rõ là nếu phải viết lên trán một ai đó mấy chữ: cặn bã, đồ vô dụng, là điều rất đau khổ nhưng người Mỹ không phải là những linh mục hay mục sư. Người ta không thể đòi hỏi, yêu cầu họ phải cư xử như những linh mục. Những người như thế là những bọt sắt có tính người, những thành phần mà người ta không thể rút tỉa gì nữa hết. Anh đã thấy rõ Kostaky. Đó là bố vợ anh, tôi biết nhưng anh phải nhìn nhận đó là người thừa thãi, cặn bã, vô dụng.


- Xin cảm ơn Ngài. - Pillat nói - Tôi chỉ ân hận là phải trải qua bao nhiêu chặng đường để đến đó, để nhận cái gọi là cặn bã, là đồ thừa trên trán, giống như súc vật có thịt bị ươn, thối không tiêu thụ được. Xin cảm ơn Ngài.


- Hãy coi chừng. - Burian nói - Mỗi đêm có thể có một cái gì đó xảy ra, và lúc đó anh sẽ bị bắt giữ. Đây không phải là một trò đùa. Tất cả mọi người có quá khứ ở chính trị không trong sạch sẽ bị bắt. Ông và anh cả hai người đều có tên trong danh sách. Anh và Kostaky, hãy quyết định đi ngay khi còn thời gian. Nếu anh ở lại đây, anh chỉ có một vận may: vận may bị bắt. Hãy nhanh lên, nhanh lên, tôi khuyên anh đó.


- Tôi sẽ đi nhanh. - Pillat nói.


V


Ion Kostaky đợi Pillat trước cửa, ông cầm nhiều hoa móng tay. Cả hai người phải đến nghĩa trang, đến thăm mộ Doina Australia. Kostaky đã mua hoa và nến. Hoa xanh làm sáng ánh mắt ông. Ông mặc một áo sơ mi sạch và mang đôi giày bóng láng. Nhìn ông, Pillat cảm thấy ứa nước mắt.


“Làm sao có thể gọi một con người là một thứ cặn bã được? Không một người nào là cặn bã cả”.


Pillat lên tàu điện cùng với Kostaky. Anh nhìn ông: cặn bã, một kẻ thừa thãi, không có một nước nào trên thế giới chấp nhận. Không thể được chấp nhận trong bất cứ một nước văn minh nào. Cặn bã, phải ở lại và thối rữa mục nát tại chỗ.


- Bố này - Pillat nói - đêm nay chúng ta đi Rumani. Bố hiểu không?


- Đây là lần đầu tiên bố cảm thấy khỏe thật sự. - Kostaky nói - Bố có cảm giác là mọi chuyện rồi sẽ ổn và con sẽ có việc làm.


Kostaky nắm chặt trong tay bó hoa đồng thảo tím, hoa để đặt lên mộ cháu gái Doina Australia của ông.


- Họ không muốn nhận con vào nhiệm sở đó. - Pillat nói Nhưng không chỉ có thế thôi đâu. Chúng ta có tên trong danh sách những người sẽ bị bắt.


- Bắt chúng ta à? - Kostaky hỏi - Nhưng ta đã làm gì?


- Không làm gì cả. - Pillat trả lời - Nhưng đêm nay chúng ta đi. Hoặc là chúng ta sẽ bị lính gác bắn hạ, hoặc là chúng ta sẽ sống ở trên núi của chúng ta, trong rừng Piatra hay ở núi Néamtz.


Pillat đặt tay lên vai Kostaky.


Tàu điện ngừng lại trước nghĩa trang. Họ đi xuống, Kostaky siết càng lúc càng mạnh hơn bó hoa đồng thảo.


- Bố, bố có tên trong danh sách những tên vô lại, cặn bã, đồ thừa. Bố không thể xin nhập vào bất cứ nước nào trên thế giới. Bố có thể ở lại đây, đi ăn xin, mục thối ra và đợi chết. Hoặc đợi bị tóm cổ vì họ đã lập danh sách những người phải bị bắt. Và tên Kostaky có trong số những tên đầu tiên.


- Bị bắt. - Kostaky nói - Bố chưa bao giờ bị bắt.


- Bố sẽ bị bây giờ. Bố có tên trong danh sách của những người Mỹ vì bố đã rời bỏ một nước dân chủ là nước Canada. Đấy, đó là tình nghi. Đó là lý do bị bắt.


- Nhưng bố đã giải thích cho con rồi, chúng ta không thể sống ở đấy.


- Đó là một sự sỉ nhục đối với nền dân chủ. Người nào không ở lại trong một nước dân chủ người đó là kẻ đáng bị nghi ngờ.


Kostaky không hiểu. Ông yêu cầu nói rõ hơn.


- Bố phải ở lại Canada ư? - Ông hỏi - Nhưng bố sẽ chết mất nếu bố ở lại đấy!


Họ chậm chạp tiến vào các lối đi trong nghĩa trang.


Kostaky vẫn cầm bó hoa đồng thảo trong tay.


- Còn con, Pierre, con đã làm gì? Chúng nó cũng muốn bắt con à?


- Con cũng thế, con cũng bị tình nghi. - Pillat nói - Con bị tình nghi vì đã thử ở lại Rumani. Vì con đã bỏ trốn ngay và vì con đã thử sống với Cộng sản. Là chuyện mờ ám gian dối. Đó là lý do bị bắt.


Họ dừng lại trước ngôi mộ có cây thánh giá bằng gỗ. Trên thánh giá có ghi: Doina Australia Pillat.


Họ quỳ gối, Kostaky đặt hoa đồng thảo lên đất ướt. Pillat nhận thấy không phải chỉ là một bó hoa mà là hai bó.


- Một bó cho Marie, bó kia cho Doina, cháu ta, thiên thần của chúng ta.


Kostaky lấy ra hai cây nến. Ông thắp sáng một cây và cắm xuống đất.


- Cây này dành cho Marie. Xin Chúa cứu rỗi linh hồn Marie.


Ông thắp cây nến thứ hai và cũng cắm xuống đất.


- Cây này dành cho Doina. Xin Chúa cứu linh hồn nó.


Họ ngắm hoa đồng thảo đặt trên nấm mộ ướt ẩm và những cây nến cháy sáng với nhiều tia lửa nhỏ. Họ suy tư, ngẫm nghĩ.


- Con có tin là Ileana còn sống không? - Kostaky hỏi.


Pillat không trả lời. Lửa nến cháy chậm. Họ nghĩ đến làng Piatra, đến Ileana, đến Marie, đến Doina.


- Tại sao họ nói rằng bố là một kẻ cặn bã? - Kostaky hỏi.


- Bởi vì bố không còn răng. Vì bố đã già, bố ốm. Vì bố đã đau khổ.


- Xin Chúa thứ tha cho họ. - Kostaky nói khi đứng trước ngôi mộ. Rồi ông quay sang Pillat - Chúng ta đi đêm nay, ở trong rừng của chúng ta, không ai nói rằng chúng ta là những tên vô lại thừa thãi. Không ai hết.


Thưa bố, bố không phải là một người bỏ đi. Không một ai là người bỏ đi cả.


Lần đầu tiên trong đời mình, Kostaky khóc như một người đàn bà. Họ nhìn mặt trời, xem từ đây đến tối, khi họ trở lại quê nhà còn nhiều thời gian không. Mặt trời đang trên nghĩa trang.


Đôi bóng của họ ngả xuống trên các nấm mồ, trên tất cả các nấm mồ dọc theo lối đi cùng với bóng những cây thánh giá.


TẬP SÁCH CỦA NHỮNG TỦI NHỤC


Trước khi đi du lịch Aurel Popesco rẽ qua Bộ tư lệnh quân lực Đại Tây Dương. Hắn ký mấy bản báo cáo cuối cùng. Hắn nói chuyện với Zaig Burian, người thay thế hắn. Mấy ông lãnh đạo cho hắn biết những quyết định cuối cùng. Milan Paternik đợi hắn trong xe. Họ cùng đi với nhau nhưng không nói gì cả. Xe vượt qua nhiều thành phố và làng mạc bị tàn phá của vùng Wurfemberg. Sau khi bà Milostiva Debora Paternik, mẹ của anh chết, Milan bị lưu đày bởi chính cha ruột của mình. Người Đức bắt anh. Anh bị giam tù cùng với Aurel Popesco đến khi chiến tranh kết thúc và được phóng thích vào ngày Chiến thắng. Anh có tên trong danh sách các nạn nhân của chế độ phát xít, giống như Aurel Popesco. Và cũng giống như Aurel Popesco, anh được bổ nhiệm làm cố vấn chính trị ở Bộ tư lệnh Hoa Kỳ.


Giờ đây, anh được nghỉ một tháng và anh muốn đi cùng với Aurel Popesco qua Ý vì anh muốn nghỉ ngơi tại đây.


- Tại sao anh nhất quyết phải đi ngang qua Trieste? - Aurel Popesco hỏi. - Trieste là thành phố buồn nhất Châu Âu, buồn hơn Berlin, buồn hơn Vienne. Vienne và Berlin bị chiếm đóng bởi bốn lực lượng hùng mạnh. Ngoài bốn lực lượng chiếm đóng, Trieste còn có chính quyền Ý và “Slaves”. Trieste là một thành phố bị sáu loại cảnh sát bóp nghẹt. Chúng ta cần phải tránh xa Trieste. Anh sẽ vui thú hơn nhiều ở Roma..


- Tôi nhất quyết ở lại Trieste vài hôm. - Milan Paternik trả lời Anh cứ bỏ tôi lại đấy và tiếp tục cuộc hành trình của anh.


Aurel Popesco đã quen Milan Paternik tại Buchenwold.


Hắn biết rõ là anh đã trục xuất tám trăm nghìn người Do Thái khỏi quốc gia Slaves phía Nam. Đó là một con người không vướng mắc gì tình cảm.


- Tổ quốc là một cái gì đó không thể chữa lành. Tôi muốn đến Trieste để sờ mó, đụng đến mảnh đất quê hương, dù chỉ đụng chân vào thôi, hay để hít không khí, gió và mùi đất cha ông mình. Tôi muốn xem mình như là một con người không có nguồn gốc nhưng tôi đã lầm. Không một nền văn hóa nào, không một chính sách nào có thể tách anh hoàn toàn khỏi quê hương, Tổ quốc anh. Người ta không thể tự tách rời khỏi chính thân xác mình. Tổ quốc cũng giống như một thân thể được kéo dài ra của mỗi con người. Tiếng nói của đất nước được nghe thấy nơi những kẻ lưu đày cũng như tiếng gọi tình yêu hay nhục dục xảy đến với các đạo sĩ và các thầy tu trong những đêm hè. Đó là một cái gì đó sẵn trong máu, ta không thể giết đi và thỉnh thoảng nó lại trồi lên trên bề mặt. Tình yêu tổ quốc giống như thế đấy. Cả năm châu trên thế giới đều không thể làm anh quên được tiếng hát kia của Joreley về mảnh đất quê hương, tiếng hát gọi anh khi anh không hề để ý đến. Anh chưa bao giờ cảm thấy điều đó à?


- Và anh muốn làm gì ở Trieste? Nhìn xuyên qua hàng rào kẽm gai biên giới, tốp lính gác của xứ sở anh à? Chỉ vậy thôi à?


- Chỉ vậy thôi. Không cần gì hơn nữa. - Milan Paternik nói - Tôi sung sướng được nhìn thấy quê hương tôi. Chừng đó đủ rồi. Tôi nhớ quê hương. Một ngày nào đó điều ấy cũng sẽ đến với anh. Điều đó xảy đến với mỗi người, không trừ ai.


Trong suốt quãng đường còn lại của cuộc hành trình, họ không nói đến Tổ quốc nữa. Ở Trieste, trong khi Aurel Popesco đến hiệu ăn, Milan Paternik đi bộ một mình, đến khu vực phía đông thành phố, đến biên giới nước Anh. Anh trình thẻ chứng minh xác nhận anh là nhân viên quân lực Đại Tây Dương cho các tốp lính tuần tiễu nước Anh, người Mỹ, người Ý và người Slaves.


Anh dừng lại gần hàng rào kẽm gai chia cách khu đất quốc tế thuộc thành phố ranh giới quốc gia Slaves phía Nam.


Anh nhìn qua bên kia. Milan Paternik đã sinh ra trong lưu đày, đã sống trong lưu đày. Anh chỉ sống vài năm ở quê hương anh, nhưng giờ đây, đất quê hương thu hút anh giống như một cục nam châm khổng lồ. Anh không thể tự giải thích điều gì đã xảy ra. Không có một lối giải thích hợp lý nào đối với điều ấy cũng giống như không có một lối giải thích hợp lý nào đối với tình yêu. Đối với anh, hình như anh rất thích nghe nhiều tiếng nói bằng tiếng mẹ đẻ của anh và thích nhìn thấy những ngôi nhà trắng toát của quê hương anh ở phía bên kia hàng rào kẽm gai.


Nhìn chúng, anh cảm thấy mạch máu căng lên, mắt anh mờ hơn khi mạch nhảy nhanh và mắt anh mở lớn khi một người thân yêu đến gần.


Anh tháo cặp găng tay và cất vào túi áo. Anh tự để bị lộ.


Những lính gác người Anh ở vùng đất quốc tế và những lính gác Slaves trên quê hương anh đều nhìn anh qua ống nhòm. Milan Paternik ở trong tình trạng hợp pháp. Anh không vượt quá đường phân giới. Anh là một khách du lịch như những người khác.


Người ta nghe điện thoại reo ở trạm biên giới tổ quốc.


Tiếng chuông reo xuyên qua thân thể Milan như một dòng điện. Kế đó người ta nghe giọng nói của anh lính gác trả lời trong điện thoại. Người ta không thể hiểu được lời nói nhưng chỉ hiểu ám hiệu của tiếng mẹ đẻ. Từ miệng anh lính chỉ có một tiếng có thể hiểu được đó là Uredex có nghĩa là đúng luật lệ Đồng ý, tốt cả. Trong thâm tâm Milan Paternik, giờ đây tất cả đều đúng luật. Anh nhìn quang cảnh quê hương với đôi mắt mở lớn. Anh hít vào người, hương thơm của mảnh đất vùng biên giới bỏ hoang, hát với đôi môi hé mở và lỗ mũi căng đầy. Anh để tiếng đó reo hát trong tai, để nó ở lại đó, luôn mãi trường cửu.


Anh lính Slaves trước mặt Milan Paternik nhìn anh chăm chú, súng máy cầm tay. Anh thấy rõ kẻ lạ mặt không vượt lấn sang đất anh ta bảo vệ với khẩu súng tự động của anh ta. Milan Paternik tỏ ra như muốn nuốt vào mắt, vào miệng mình mảnh đất bên kia hàng rào kẽm gai, mênh mông mà anh lính đang bảo vệ. Anh lính đoán ra được ý đồ. Anh ta lại quan sát Milan Paternik qua ống nhòm. Anh ta không hiểu rằng kẻ lạ mặt kia nhìn mảnh đất anh ta đang bảo vệ với một thích thú như thế.


Chỉ có hai người thôi, anh ta và kẻ lạ mặt, đối diện nhau.


Một bên hàng rào kẽm gai là anh lính Slaves với ống nhòm và súng máy, gác một cách chăm chú và đầy nghi kỵ.


Bên kia, là Milan Paternik đang hát, mảnh đất cấm bằng lỗ mũi, bằng con mắt, bằng miệng, bằng mỗi lỗ chân lông của thân xác anh. Trò chơi không thể kéo dài lâu hơn. Kẻ bảo vệ quê hương cảm thấy người ta đang hát một cái gì đó của mảnh đất anh đang bảo vệ. Nhiệm vụ của người lính là bảo vệ quê hương. Anh nhắm Milan Paternik với cây súng máy như cố làm cho anh sợ và cấm không cho anh nhìn quê hương của những người Slaves với vẻ thèm khát như thế. Milan Paternik vừa mỉm cười thân ái vừa nhìn nòng súng máy đang bảo vệ mảnh đất của Tổ quốc anh. Anh lính xem nụ cười như là một sự khiêu khích thế là anh ấn nhẹ lên cò súng; một làn đạn tự động xuyên qua thân hình Milan Paternik. Anh ngã người sóng soài ở phía bên này đường phân giới.


Milan Paternik có thể ngả xuống nằm sấp trên ngực, mặt sát đất. Như thể thân hình anh có thể đổ dài qua phía bên kia đường phân giới, đầu và ngực anh có thể đụng được đất quê hương anh.


Và như thế anh có thể chết, đầu được nằm trên quê cha đất tổ mình. Nhưng Milan Paternik đã té xuống và đổ máu trên đất xa lạ, đất ngoại quốc, vùng đất quốc tế của thành phố Trieste.


Hơi thở nóng ấm của anh, làn hơi nóng ấm nhất của sự hô hấp, làn hơi của một sự co giật cơ trước khi chết, bị hút sạch bởi mảnh đất quốc tế. Làn môi khô của Milan Paternik tìm đất.


Làn môi của một con người luôn tìm đất trước khi chết, nhưng môi anh ta chỉ tìm thấy đất quốc tế chứ không phải đất tổ quốc.


Môi anh ta kiếm tìm tận nơi sâu thẳm hơn nhưng trong sự co giật trước tử thần, miệng Milan Paternik chỉ đầy ắp đất ngoại bang.


Có hiệu còi báo động. Tại Trieste, nhiều chuyện bất ngờ ở biên giới thường xảy ra nhiều lần trong một ngày. Lần này, cảnh sát của cả bốn cường quốc đều phản đối kịch liệt vì Milan Paternik bị sát hạ không lý do bởi một người Slaves trên vùng đất quốc tế ông ta muốn đi qua phía bên này. - Người lính gác nói ông ấy muốn chạy qua.


- Không ai lại muốn thử vượt qua một cách bí mật lúc mười một giờ sáng. - Tên người Anh nói.


Người ta muốn thiết lập lại các sự kiện của sự việc bất ngờ đó. Các sự kiện không rõ ràng. Hồi hôm, những người Anh đã bắn hạ một người Slaves. Lần này thì người Slaves bắn hạ một công dân vùng quốc tế.


- Vậy là huề. - Mấy anh lính gác biên giới kết luận - Một trả một. Hôm qua, các anh giết một người của chúng tôi, hôm nay chúng tôi giết một người của các anh. Vụ này thế là xong, coi như thanh toán sòng phẳng. Một trả một. Uredex nghĩa là gì thế? - Một người Slaves hỏi.


- All right. - Người Anh trả lời - Vụ này đã xong. Đồng ý.


Một chiếc xe Jeep chở xác Milan Paternik đến nhà xác thành phố. Người ta kiểm lại giấy tờ của anh và báo tin cho Aurel Popesco biết.


Bộ tư lệnh Hoa Kỳ lo việc mai táng Milan Paternik vì anh ta là nhân viên của Bộ này. Aurel Popesco bị buộc phải đi ngay. Hắn hối tiếc là đã không tham dự vào việc chôn cất Milan. Chương trình của hắn đã được tính từng giờ một. Hắn đã có vé máy bay và các cuộc hẹn được ấn định rồi vì thế hắn không thể ở lại dự đám tang. Hắn đứng tưởng niệm một lúc trước thi hài Milan Paternik. Phía sau hắn cũng có một người nào đó đang tưởng niệm. Đó là một người ngoại quốc. Khi Popesco muốn đi, người lạ mặt chặn hắn lại và tự giới thiệu.


Đó là vị đại diện cho cộng đồng người Do Thái tại Trieste.


- Cộng đồng chúng tôi đã liên hệ với Bộ tư lệnh Hoa Kỳ. Chúng tôi sẽ lo việc tống táng người quá cố với tất cả vinh dự theo lễ nhạc tôn giáo của chúng tôi.


Hai người Do Thái khác xuất hiện. Bây giờ có đến ba thành viên của Hội đồng. Họ muốn đưa người chết đến nghĩa trang của họ. Aurel Popesco tái mặt. Hắn nghĩ đến việc Milan Paternik đã tàn sát tám trăm ngàn người Do Thái trong lúc hắn ta điều hành ngành cảnh sát.


- Mẹ của Milan Paternik là Do Thái. - Aurel Popesco nói - Nhưng anh ta, người chết đây, không thuộc giáo hội Do Thái, ít nhất là theo chỗ tôi biết. Tôi nghĩ điều này sẽ là một sự quá khích.


- Nếu mẹ anh ta là Do Thái và điều này đã được chứng minh qua giấy tờ của anh ta thì anh ta cũng là người Do Thái. Vị đại diện cộng đồng nói - Việc anh ta không hành đạo Kitô quan trọng gì cả. Việc nhiều người Do Thái quên hẳn họ là Do Thái thường rất xảy ra. Nhiệm vụ của những người đồng đạo, đồng hương là trả lại cho họ tất cả vinh dự họ có quyền hưởng, sau khi họ chết, ngay cả trong trường hợp họ không làm gì cả để xứng đáng với các vinh dự đó. Đây là nhiệm vụ của chúng tôi. Vì thế cộng đồng sẽ lo cho anh ta.


Aurel Popesco hiểu rõ là có nài nỉ cũng vô ích. Anh không thể ngăn cản những người Do Thái ở Trieste chôn Milan Paternik trong nghĩa trang của họ. Họ đã đọc trong giấy tờ của Milan rằng mẹ anh ta là người Do Thái và không đọc thấy gì ở mục “tôn giáo”, tuy vậy nếu anh muốn ngăn cản họ thì điều đó vẫn vô ích.


- Vậy thì các anh hãy chôn cất anh ta, theo nghi lễ Do Thái, chôn ở nghĩa trang Do Thái. - Popesco nói.


Hắn rời khỏi Trieste thật nhanh không nhìn lại đằng sau.


Sự kiện Milan Paternik, tên đao phủ của những người Do Thái, lại được chôn cất ở nghĩa trang Do Thái và được khóc thương bởi cộng đồng Do Thái làm hắn ghê tởm. Đó là một sự bội giáo, nghịch đạo. Hắn muốn đi trở vào và nói cho họ biết sự thật. Những người Do Thái ở Trieste phần lớn là người tị nạn của quốc gia độc lập là người thân của những người Do Thái bị Milan giết chết. Hắn ta, Milan sẽ được nằm cạnh những nạn nhân hoặc những thân nhân của nạn nhân của hắn.


Hắn sẽ là người bạn muôn đời của họ. Aurel Popesco nhớ lại trường hợp của một người Pháp chống Do Thái, đã sống ở Áo dưới một cái tên giả và đã tự xưng là Do Thái để thoát khỏi tai biến, khi ông ta chết, cộng đồng người Do Thái chôn ông trong nghĩa trang của họ giống như Milan hiện nay. Vài tuần sau, người ta khám phá ra lý lịch thật của người chết, thế là đêm đến, cả hòm lẫn xác đều bị vất qua tường, vất ra khỏi nghĩa trang. Một đêm nào đó, có thể Milan Paternik cũng bị quẳng qua khỏi tường nghĩa trang Trieste.


(còn tiếp)


Nguồn: Cơ may thứ hai. Tiểu thuyết của Constant Virgil Gheorghiu. Hoàng Hữu Đản dịch. In theo bản thảo mà Giáo sư Hoàng Hữu Đản gửi nhà văn Triệu Xuân, Trưởng Chi nhánh NXB Văn học - năm 2002. Triệu Xuân đã biên tập hoàn chỉnh để in ấn, nhưng không được cấp Giấy phép xuất bản (vì tác giả này chống Liên Xô)! Mãi đến năm 2010, GS Hoàng Hữu Đản gửi in tại NXB Công an nhân dân.


www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 19.02.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 19.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 13.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
Dòng đời - Nguyễn Trung 06.02.2020
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 06.02.2020
Cõi mê - Triệu Xuân 30.01.2020
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 30.01.2020
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 15.01.2020
xem thêm »