tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31050873
Tiểu thuyết
05.12.2019
Henryk Sienkiewicz
Trên sa mạc và trong rừng thẳm


Chương 38


Ngày thứ năm của cuộc hành trình, Staś  đi cùng với Nel trên lưng con King, vì bọn trẻ gặp phải một rặng xiêm gai mọc dày đến nỗi ngựa chỉ có thể đi theo con đường voi đã mở ra mà thôi. Bấy giờ là sáng sớm, một buổi sáng nắng lộng lẫy và nhiều sương. Bọn trẻ trò chuyện với nhau về chuyến đi, mỗi ngày chúng càng tiến gần đại dương hơn, đến gần cha hơn, những người cha mà hiện nay chúng nhớ nhung vô hạn.


Từ lúc chúng bị bắt cóc ở Phaium tới nay, đó là chủ đề của biết bao nhiêu cuộc trò chuyện, những cuộc chuyện trò bao giờ cũng khiến cho bọn trẻ cảm động rơi lệ. Chúng cứ nhắc đi nhắc lại mãi: Cha của chúng đang nghĩ rằng cả hai hoặc là đã không còn sống trên đời nữa, hoặc là đã mất đi vĩnh viễn, hai ông buồn phiền, tuy thế họ vẫn thường xuyên phái những người Ả Rập tới Chartum để săn tin tức, ấy thế mà bọn trẻ lại đang ở rất xa Chartum, rất xa cả Fasoda nữa. Sau năm ngày đường nữa còn xa hơn, rồi sau đó lại cứ xa thêm mãi, mãi cho tới khi tới được đại dương, hoặc trước đó, tới được một chỗ có thể đánh điện.


Người duy nhất trong cả đoàn biết được những gì đang chờ đợi là Staś , còn Nel thì đang tin tưởng rất sâu sắc rằng, không có việc gì trên đời này Staś  không thể làm được, và cô bé hoàn toàn tin chắc rằng Staś  sẽ đưa được cô tới bờ đại dương. Cho nên nhiều lần cô bé vượt trước sự kiện để hình dung trong cái đầu óc nhỏ bé của mình những gì sẽ diễn ra khi tin tức đầu tiên về bọn trẻ đến được tay các ông bố, và líu lo như một con chim non, Nel kể cho Staś  nghe những điều tưởng tượng đó.


− Các ba đang ngồi, − Cô bé nói, − ở Port Said và than khóc, bỗng nhiên có một thằng bé mang tới bức điện. Cái gì thế này? Ba em hoặc ba anh sẽ mở điện ra, nhìn chữ kí và đọc thấy “Staś  và Nel!”. Ô, đến lúc ấy cả hai mới sung sướng nhé, cả hai ông bố mới bật ngay dậy để đi đón chúng mình. Đến khi ấy cả nhà mới náo nức cả lên, cả hai ba cùng mừng, tất cả mọi người đều mừng, tất cả mọi người đều ca ngợi anh, rồi mọi người tới đây, rồi em sẽ ôm thật chặt cổ ba, rồi sau đó chúng mình sẽ mãi mãi bên nhau... rồi...


Và mọi sự kết thúc ở chỗ là cái cằm nhỏ bé của cô bé bắt đầu run run, đôi mắt tuyệt đẹp biến thành hai “đài phun nước”, rồi ngả đầu vào vai Staś , cô bé khóc òa lên vì buồn, vì nhớ và vì vui sướng với ý nghĩ về cuộc sum họp trong tương lai. Còn Staś , với trí tưởng tượng bay bổng vào tương lai, em đoán rằng cha em sẽ tự hào vì em, ông sẽ nói: “Con khá lắm, xứng đáng là một người Ba Lan chân chính!”. Em vô cùng xúc động, trong trái tim tràn ngập nhớ nhung, nhiệt tình và lòng quyết tâm không thể nào bị nhụt, rắn như thép. “Ta phải cứu bằng được Nel.” − Em nhủ thầm. − “Ta phải sống bằng được tới cái giây phút ấy!”. Và khi ấy, chính em cũng cảm thấy rằng không có nỗi hiểm nguy nào mà em không thể chiến thắng, không có trở lực nào em không thể san bằng.


Nhưng đến chiến thắng cuối cùng này hãy còn xa lắm. Lúc này bọn trẻ đang phải băng qua rừng cây xiêm gai. Những cái gai dài của loài cây này vạch nên những vết xước màu trắng ngay cả trên làn da của con King. Nhưng mãi rồi rừng cây cũng thưa dần, và qua những cành cây ngổn ngang đã có thể trông thấy rừng xanh xa xa. Măc dù cái nóng đã khiến em thấm mệt, Staś  vẫn tụt xuống khỏi bành, lên ngồi trên đầu voi để trông xem có thấy những đàn linh dương hay ngựa vằn phía trước hay không, vì em quyết định phải củng cố số thịt dự trữ.


Về phía bên phải, em trông thấy một đàn linh dương arien chừng vài con, lẫn giữa chúng là hai con đà điểu, nhưng khi cả bọn vừa đi qua lùm cây cuối cùng và con voi quành về phía trái, thì một cảnh hoàn toàn khác hẳn đập vào mắt cậu bé: ở đó cách chừng nửa cây số, em trông thấy những nương sắn rộng, và ở rìa nương là hơn chục bóng người màu da đen, hình như đang bận làm đồng.


− Người da đen! − Em quay lại phía Nel kêu lên.


Tim em bắt đầu đập nhịp lo lắng. Em do dự một hồi không hiểu có nên quay lại ẩn vào rừng xiêm gai hay không, nhưng em chợt nghĩ rằng, trong một vùng dân cư đông đúc thì sớm hay muộn cũng sẽ gặp phải dân, phải quan hệ với họ, và tùy thuộc vào những mối quan hệ đó, số phận của cả đoàn sẽ được định đoạt, nên sau khi suy nghĩ một chút, em hướng con voi đi về phía cánh đồng.


Chính vào lúc ấy Kali cũng tiến lại gần, và trỏ tay vào phía rặng cây, nó bảo:


− Ông lớn, kia là một làng của người da đen, còn đây là những người đàn bà đang làm nương sắn. Kali có phải vào làng không?


− Chúng ta sẽ cùng vào làng. − Staś  đáp. − Cậu sẽ nói cho họ biết rằng chúng ta đến đây như những người bạn.


− Thưa ông chủ, Kali biết sẽ phải nói với họ điều gì.


Nó đưa tay lên miệng làm loa và gọi to lên:


Yambo, he! Yambo sana!


Nghe thấy tiếng gọi này, những người đàn bà đang đào sắn bật dậy và đứng như trời trồng, nhưng chuyện đó chỉ kéo dài trong nháy mắt, vì ngay sau đó, họ vứt hết thuổng cuốc, vừa kêu ré lên vừa ù té chạy về phía những rặng cây bao quanh làng.


Những người bộ hành trẻ tuổi thong thả và bình tĩnh tiến lại gần làng. Trong rặng cây có tiếng hú hét của hàng trăm con người, rồi đột nhiên im lặng bao trùm. Tiếp theo đó là tiếng trống trầm hùng vang động phá vỡ bầu không khí im lặng, tiếng trống về sau không ngừng lại một giây phút nào cả.


Rõ ràng đó là hiệu lệnh chiến đấu cho các chiến sĩ, vì hơn ba trăm người bỗng nhô ra khỏi rặng cây. Tất cả dàn thành một hàng dài trước làng, Staś  cho voi dừng lại cách chừng trăm bước chân và bắt đầu ngắm nghía họ. Mặt trời chiếu sáng những thân hình lực lưỡng của họ, những lồng ngực rộng rãi, những cánh tay khỏe mạnh. Họ được vũ trang bằng cung tên và giáo mác. Chung quanh đùi họ che một chiếc quần ngắn làm bằng cây thạch thảo, một số người khác − bằng da khỉ. Đầu họ mang những chiếc lông chim đà điểu, lông vẹt, hoặc những túm lông chỏm đầu vượn. Trông họ thật thiện chiến và dữ dằn, nhưng họ lại đứng bất động trong im lặng, vì sự kinh ngạc của họ thật quá lớn, khiến cho ý muốn đánh nhau bị đè bẹp đi. Mọi cặp mắt đều dán vào con King, vào cái bành màu trắng và vào người da trắng đang ngồi trên đầu voi.


Voi đối với họ không phải là một con vật xa lạ gì. Họ sống triền miên trong bạo lực của voi, những đàn voi đêm đêm tàn phá những nương sắn, những vườn chuối cùng những vườn cọ đum của họ. Vì giáo và tên không xuyên thủng được da voi nên những người da đen tội nghiệp nọ đành phải chiến đấu với chúng bằng lửa, bằng tiếng kêu la, bằng cách giả tiếng gà, bằng cách đào những hố sâu và đặt bẫy bằng những cây gỗ. Thế nhưng chưa một ai trong đời được trông thấy, thậm chí chưa một ai nghĩ tới chuyện voi có thể trở thành nô lệ cho người và để cho người ngồi trên cổ. Chính vì thế, cái cảnh đang ở trước mắt họ đây vượt quá xa mọi khái niệm và trí tưởng tượng của họ, khiến họ không biết nên làm gì: Chiến đấu hay chạy trốn để mặc cho số phận định đoạt mọi sự.


Cho nên, trong nỗi phấp phỏng, lo sợ và kinh ngạc, họ chỉ biết thì thào bảo nhau:


− Mẹ ơi! Không biết cái giống gì đến với chúng ta và cái gì đây đang chờ chúng ta với bàn tay của hắn?


Khi đó, Kali bèn tiến cách họ một tầm phóng lao, đứng nhổm dậy trên bàn đạp và gọi to lên:


− Hỡi các người, các người! Hãy nghe đây tiếng nói của Kali, con trai Phumba, vị vua hùng cường của người Vahima trên bờ Bassa Narok! Ôi! Hãy nghe, hãy nghe đây! Nếu như các ngươi hiểu được tiếng nói của hắn, thì hãy chú ý đến từng lời nói của hắn!


− Chúng ta hiểu! − Tiếng đáp lại từ ba trăm cái miệng nghe vang động.


− Vậy thì xin mời vua của các người hãy bước ra, hãy nói rõ tên họ của mình, hãy mở thật to tai và miệng để nghe cho rõ!


− M'Rua! M'Rua! − Nhiều giọng xôn xao kêu lên.


M'Rua bước lên trước hàng người, nhưng không quá ba bước chân. Đó là một người da đen đã già, cao to lực lưỡng, nhưng hình như không mấy can đảm, vì bắp đùi run run đến nỗi ông ta phải cắm cây giáo xuống đất và tì vào cán gỗ mới có thể đứng vững nổi trên đôi chân.


Theo gương của ông ta, các chiến sĩ khác cũng cắm ngược mũi giáo xuống đất, tỏ ý rằng họ muốn được nghe một cách ôn hòa lời nói của vị khách mới tới.


Còn Kali cất giọng cao hơn nữa:


− Hỡi M'Rua và các người, lũ làng của M'Rua! Các người đã nghe thấy rằng chính con trai của vua người Vahima đang nói chuyện với các người, vị vua mà đàn bò của Người phủ kín các ngọn núi cạnh hồ Bassa Narok dày đặc như đàn kiến phủ kín xác con hươu cao cổ bị giết chết vậy. Thế nhưng, Kali, con trai của vua người Vahima nói gì đây? Ta xin báo trước cho các người một tin vui lớn là có cả Mdimu Tốt đến làng các ngươi đó!


Rồi nó gọi to hơn nữa;


− Đúng thế! Mdimu Tốt! Ô ô ô!


Qua sự im lặng bao trùm, có thể hình dung ra được những lời của Kali đã gây nên ấn tượng to lớn đến thế nào. Hàng ngũ các chiến sĩ xao động như sóng dậy, vì một số người tò mò thì nhích thêm lên vài bước, còn những kẻ khác thì lùi lại vì sợ hãi. M'Rua tì cả hai tay lên cán giáo, và im lặng câm đặc bao trùm một hồi lâu. Lát sau, tiếng lao xao mới dần lan khắp hàng quân và từng giọng lẻ tẻ lặp đi lặp lại: “Mdimu!" "Mdimu!”, đây đó vang lên tiếng kêu “Yancig , yancig!” vừa biểu thị sự kính trọng, vừa biểu thị sự chào đón.


Nhưng tiếng nói của Kali lại át hẳn trong tiếng xì xào cùng những tiếng kêu đó:


− Các người hãy nhìn đi và hãy vui mừng lên! Đó, Mdimu Tốt đang ngồi trên kia, trong cái nhà màu trắng trên lưng con voi khổng lồ đó, và voi khổng lồ vâng lời Mdimu, như một tên nô lệ vâng lời ông chủ, như đứa trẻ vâng lời mẹ vậy! Ôi! Đến cha các người cũng như các người chưa từng thấy chuyện thế này bao giờ đâu...


− Chưa thấy! Yancig! Yancig!...


Mắt của tất cả các chiến sĩ đều trông về phía “cái nhà”, tức là cái bành.


Còn Kali, người mà trong những buổi học tôn giáo trên núi Linđe đã được dạy rằng lòng tin có thể lay chuyển cả núi, đồng thời lại tin chắc rằng, lời cầu nguyện của cô bé da trắng có thể xin được Thượng đế ban cho tất cả mọi điều, nên giờ đây tiếp tục kể về “Mdimu Tốt” hoàn toàn chân thành:


− Hãy nghe đây, nghe đây! Mdimu Tốt đi trên mình voi về phía mặt trời thức dậy từ sau núi non và những con nước, đến đó Mdimu Tốt thưa với Linh thần Vĩ đại để Người gửi về cho chúng ta những đám mây, và trong những hạn hán, những đám mây này sẽ trút mưa xuống cho kê, cho sắn, cho chuối, cho cỏ trong rừng của các người để các người có nhiều thức ăn, để những đàn bò sữa của các người có nhiều cỏ ăn, để rồi chúng cho các người thứ sữa thật đặc, thật béo! Các người có muốn nhiều cái ăn và nhiều sữa không, ơ lũ làng?


− Hê! Muốn chứ, muốn chứ!


− Rồi Mdimu Tốt sẽ nói với Linh thần Vĩ đại để Người gửi gió đến cho các người, gió sẽ xua đi khỏi làng các người thứ bệnh khiến cho thân thể con người trở thành lỗ chỗ như lát mật cắt ngang. Các người có muốn gió thổi sạch cái bệnh đó đi không, ơ lũ làng?


− Hê, cứ thổi sạch đi!


− Và theo lời khẩn cầu của Mdimu Tốt, Linh thần Vĩ đại sẽ bảo vệ các người tránh khỏi những cuộc tấn công và cảnh đời nô lệ, và những trận mất mùa... và khỏi sư tử, khỏi báo, khỏi rắn rết, khỏi châu chấu nữa...


− Xin hãy làm như thế!...


− Vậy thì hãy nghe tiếp đây và hãy nhìn xem, ai đang ngồi trước cái nhà giữa hai cái tai của voi vĩ đại kia? Ngồi đó là bvana kubva − ngài da trắng vĩ đại và nhiều sức mạnh khiến voi cũng phải sợ...


− Hê!


− ...Người cầm sấm sét trong tay và dùng sấm sét đó giết chết lũ người ác...


− Hê!


− ... Người giết chết sư tử...


− Hê!


− ... Người thả những con rắn lửa.


− Hê!


− ... Người phá tung những khối đá...


− Hê!


− ...Nhưng Người sẽ không làm gì hại cho các người, nếu như các người tôn kính Mdimu Tốt.


Yancig! Yancig!


− Nếu như các người mang đến cho người bột chuối khô, trứng gà, sữa tươi và mật ong.


Yancig! Yancig!


− Vậy thì các người hãy lại gần đây và hãy cúi đầu trước Mdimu Tốt đi!


M'Rua và các chiến sĩ của ông ta vừa không ngừng kêu “yancig” vừa tiến hơn chục bước lên phía trước, nhưng thật thận trọng vì cái sợ đầy mê tín đối với Mdimu cũng như cái sợ hãi thuần túy đối với con voi khiến cho những bước chân của họ bị hãm lại. Nhìn thấy con Saba, họ lại hoảng lên lần nữa, vì họ cứ tưởng nó là con vôbô, một loài vật to bằng con báo, lông hoe, sinh sống ở vùng này và vùng phía nam Abixinia [1] mà cư dân trong vùng sợ hơn cả sư tử, vì nó thích thịt người hơn mọi thứ khác và rất táo bạo, dám tấn công cả những người đàn ông có vũ trang. Nhưng họ lại yên lòng ngay khi trông thấy thằng bé da đen nhỏ con bụng tròn ung ủng túm cổ dề giữ con vôbô kinh khủng ấy lại.


Song chính cái đó còn khiến cho những điều hình dung của họ về quyền lực to lớn của Mdimu Tốt và ông da trắng càng to lớn hơn, và nhìn con voi, nhìn Saba, họ thì thào với nhau: “Nếu như họ đánh bùa được cả vôbô thì ai trên đời này có thể chống nổi họ?”.


Tuy nhiên, giây phút long trọng nhất diễn ra, khi Staś  quay lại phía Nel, trước hết là cúi đầu thật thấp, rồi vén bức vách của cái kiệu được dùng làm tấm che, và trước mắt của đám người đang tụ tập hiện ra dung nhan của Mdimu Tốt. M'Rua cùng tất cả các chiến sĩ cúi mặt xuống đất, thân thể của họ nối nhau thành một chiếc cầu sống. Không ai dám cử động, sự hãi hùng trùm lên mọi con tim càng tăng hơn nữa khi con King − không hiểu theo lệnh Staś  hay do ý muốn của bản thân − vươn vòi lên trời và rống lên vang động, rồi theo gương nó, con Saba cũng cất cái giọng trầm hùng của mình lên, cái giọng trầm hùng nhất mà nó có thể phát ra được. Khi đó, từ mọi lồng ngực đều bật ra một tiếng giống như lời van xin: “Aka! Aka!” − và tiếng ấy cứ kéo dài mãi cho tới khi Kali lại nói tiếp:


− Ô, hỡi M'Rua và các người, cháu con của M'Rua! Các người đã kính cẩn chào Mdimu Tốt, vậy các người hãy đứng dậy, hãy nhìn xem và hãy thu vào mắt hình ảnh của Mdimu, vì ai làm được điều đó sẽ được Linh thần Vĩ đại ban phước lành. Hãy xua đuổi cái sợ ra khỏi lồng ngực và cái bụng các người đi, và hãy nhớ rằng, nơi nào Mdimu Tốt tới, thì máu người không thể đổ ra!


Nghe những lời này, nhất là tuyên bố rằng với Mdimu Tốt thì tử thần không ai bắt được hết, M'Rua bèn nhổm dậy, và theo gương ông, các chiến sĩ khác cũng bắt đầu e dè nhìn vị thần tốt bụng nọ. Hẳn họ phải thừa nhận một lần nữa − nếu Kali có hỏi lại lần thứ hai − rằng cả cha ông họ lẫn bản thân họ đều chưa trông thấy chuyện lạ thế bao giờ. Vì mắt họ vốn quen nhìn những tượng thần khắc đẽo bằng gỗ và bằng những vỏ dừa xù xì, thế nhưng giờ đây trước mắt họ, đứng trên lưng voi là một vị linh thần nhỏ bé, trắng trẻo, hiền dịu, ngọt ngào và tươi cười, trông giống như một con chim trắng. Chính vì thế mà nỗi sợ hãi trong lòng họ qua đi, ngực họ thở thoải mái hơn, những đôi môi dày của họ bắt đầu mỉm cười, và cánh tay họ vô tình chìa về phía cái hiện tượng thần diệu nọ.


− Ô, yancig! Yancig! Yancig!


Tuy nhiên, vốn lưu tâm để ý thật chăm chú đến tất cả mọi chuyện, Staś  nhận thấy một người da đen, đội cái mũ da chuột, sau khi nghe những lời nói cuối cùng của Kali bèn lẻn ra khỏi hàng và trườn như một con rắn trong cỏ về phía ngôi nhà đứng riêng biệt bên sườn đồi, bên ngoài hàng rào chung, nhưng được bao quanh bằng một hàng rào cọc gỗ cao, ken bằng những sợi dây leo.


Trong khi đó cô Mdimu Tốt − bối rối vì vai trò thần linh của mình − theo lời Staś , đưa bàn tay bé bỏng ra chào những người da đen. Những người chiến sĩ da đen dõi theo mọi cử chỉ của bàn tay ấy với cặp mắt long lanh sung sướng và tin tưởng sâu sắc rằng trong đó có những “phép thuật” linh thiêng, bảo vệ che chở cho họ tránh khỏi biết bao chuyện chẳng lành.


Một số người đập tay vào ngực và vào đùi nói: “Mẹ ơi! Bây giờ chúng ta mới sung sướng đây, chúng ta và lũ bò sữa của chúng ta!”. Đã hoàn toàn bạo dạn, ông lão M'Rua tiến lại gần con voi, cúi chào Mdimu Tốt một lần nữa, sau đó cúi chào Staś  và cất tiếng nói như sau:


− Không hiểu ông lớn, người đưa vị thần màu trắng đi trên mình voi, có muốn ăn một miếng thịt của M'Rua và liệu có thuận để cho M'Rua ăn một miếng thịt của ông hay không, để cho chúng ta có thể trở nên anh em, giữa hai bên không còn dối trá và phản bội nữa?


Kali lập tức dịch lại những lời này, nhưng qua nét mặt Staś , thấy cậu không hề có chút nào muốn “ăn một miếng” của M'Rua, thằng bé bèn quay lại phía ông lão da đen và nói:


− Ô, hỡi M'Rua! Ông có thật nghĩ rằng, ông lớn da trắng hùng mạnh như thế, người mà voi cũng phải sợ, người có sấm sét trong tay, người giết được cả sư tử, người mà vôbô phải vẫy đuôi vâng lời, người thả đàn rắn lửa và đập vỡ các khối đá to, lại có thể kết anh em máu thịt với loại vua chúa thường thường? Hãy nghĩ xem, ô M'Rua, liệu linh thần Vĩ đại có trừng phạt ông không về tính ngạo mạn đó, và liệu đã đủ vinh dự cho ông hay chưa, nếu ông ăn một miếng thịt của Kali − con trai Phumba, thủ lĩnh của người Vahima, và nếu như Kali − con trai Phumba, ăn một miếng thịt của ông?


− Mày không phải là nô lệ chứ? − M'Rua hỏi.


− Ông lớn không bắt cóc Kali, cũng không mua Kali, mà chỉ cứu Kali thoát chết, cho nên Kali mới đưa Mdimu Tốt và ông lớn đến xứ sở của người Vahima, để người Vahima và vua Phumba chào hỏi và dâng những món cống vật lớn mà thôi.


− Thế thì cũng được, cứ như lời mày nói, để cho M'Rua ăn một miếng thịt của Kali, còn Kali ăn một miếng thịt của M'Rua.


− Hãy cứ thế, cứ thế! − Các chiến sĩ họa theo.


− Thầy phù thủy đâu rồi? − Vua hỏi.


− Phù thủy đâu? Phù thủy đâu? Camba đâu rồi? − Nhiều giọng kêu lên.


Chính vào lúc đó bỗng xảy ra một chuyện khiến cho tình thế có thể hoàn toàn thay đổi, làm vẩn đục quan hệ hòa hảo và biến những người da đen thành kẻ thù đối với các vị khách mới tới. Từ ngôi nhà cô độc đứng trên sườn đồi có hàng rào cọc gỗ vây quanh, bỗng nhiên vang lên những tiếng động khủng khiếp. Tiếng đó giống như tiếng rống của sư tử, như tiếng sấm, như tiếng trống, như tiếng cười của linh cẩu, tiếng hú của chó sói và tiếng cọt kẹt kinh người của những bản lề cửa bị hoen gỉ. Nghe thấy tiếng ấy, con King bắt đầu rống lên, con Saba sủa dữ đội, còn con lừa mà Nasibu đang cưỡi cũng hí lên. Các chiến sĩ nhảy dựng lên như phải bỏng và rút phắt những chiếc giáo đang cắm mũi xuống đất lên.


Náo động cả lên. Những tiếng kêu đầy lo lắng vọng đến tai Staś : “Mdimu của chúng ta! Mdimu của chúng ta đây rồi!”. Lòng kính trọng và thân thiện đối với các vị khách biến mất tăm trong một giây. Mắt của những người hoang dã này bắt đầu ném ra những cái nhìn đầy nghi ngờ và thù hằn. Những tiếng thì thào đầy đe dọa từ đám đông lan ra, còn tiếng ồn ào khủng khiếp trong căn nhà cô độc nọ thì mỗi lúc một mạnh thêm lên.


Kali kinh hoàng, lần nhanh lại với Staś , nó nói với giọng đứt đoạn vì xúc động:


− Ông chủ, đó là gã phù thủy đã đánh thức con ma dữ, Mdimu Ác sợ rằng dân làng sẽ không cống nạp lễ vật nữa nên đang gầm lên vì tức giận. Ông chủ hãy dùng những món cống vật thật to để làm yên phù thủy và Mdimu ác đi, nếu không mọi người sẽ chống lại chúng ta đấy.


− Làm chúng yên đi à? − Staś  hỏi.


Và bỗng nhiên em thấy căm giận cho tính tráo trở và tham lam của gã phù thủy, nỗi nguy bất thần khiến em phẫn nộ cả tâm hồn. Nước da rám nắng của em biến đổi hệt như khi bắn chết Gebhr, Chamis và hai tên Bedouin. Mắt em long lên dữ dội, môi mím chặt, nắm tay nắm thành nắm đấm, gò má tái nhợt hẳn đi.


− À, để tớ làm yên chúng nó cho! − Em thốt lên.


Rồi không cần suy nghĩ gì thêm, em thúc voi tiến tới ngôi nhà.


Không muốn ở lại một mình giữa những người da đen, Kali cũng đi theo. Lồng ngực các chiến sĩ hoang dã bật lên một tiếng thét − không hiểu là tiếng thét sợ hãi hay giận dữ, nhưng trước khi họ kịp định thần thì cái hàng rào cọc gỗ đã kêu răng rắc và đổ sụp dưới sức ép của đầu voi, rồi tiếp đó, những bức tường đắp bằng đất sét cùng cái mái nhà bị tung lên trong một đám bụi, và một giây sau, M'Rua cùng lũ người của ông ta trông thấy cái vòi màu đen vung lên không, còn ở đầu vòi là thầy phù thủy Camba.


Trên sàn nhà, Staś  trông thấy một cái trống lớn, làm bằng một thân cây rỗng lòng và bịt bằng da khỉ, em bèn bảo Kali đưa cho em, rồi quay trở lại, em đứng sừng sững trước mặt những chiến sĩ đang kinh ngạc.


− Hỡi mọi người! − Em nói to. − Đó không phải là Mdimu của các người gầm thét đâu, mà chính là cái tên đểu cáng này đã đánh trống để bắt các người phải cống nộp cho nó các thứ lễ vật, thế mà các người lại sợ hãi hắn như những đứa trẻ con.


Nói rồi, em túm lấy cái dây bện bằng da khô buộc vào trống và lấy hết sức quay xoắn nó thành vòng. Những âm thanh vừa nãy khiến cho những người da đen sợ hãi giờ đây lại vang lên, thậm chí còn nhiều phần hãi hùng hơn nữa, vì không còn bị bức tường của căn nhà chắn bớt.


−Ô, M'Rua và cháu con của ông ta mới ngu ngốc làm sao! − Kali kêu lên.


Staś  đưa trống cho nó, Kali bèn dùng trống làm ồn đến nỗi suốt một lúc lâu không thể nghe thấy tiếng ai nói cả. Cuối cùng, khi đã chán rồi, nó ném cái trống xuống chân M'Rua.


− Đó, cái ma Mdimu của các người đó! − Nó cả cười gọi to.


Rồi với sự lắm lời thường có của người da đen, nó nói với các chiến sĩ, không tiếc lời chế giễu cả họ lẫn ông M'Rua. Vừa chỉ vào gã Camba nó vừa nói rằng cái “tên ăn cắp” đội mũ da chuột này, suốt nhiều mùa mưa và mùa khô đã lừa bịp họ, còn họ thì nuôi béo hắn bằng đậu, bằng dê tơ và mật ong. Liệu trên thế giới này có thể có vị vua nào, có thể có dân tộc nào ngu dốt hơn chăng? Họ tin vào phép thuật của cái tên già chuyên lừa đảo, vào sức mạnh của y, vậy giờ xin họ hãy nhìn xem vị phù thủy vĩ đại nọ đang treo lơ lửng trên vòi voi và kêu lên: “Aka!” để xin ông lớn da trắng hãy thương tình. Sức mạnh của hắn đâu rồi? Pháp thuật của hắn đâu rồi? Tại sao chẳng có cái Mdimu Ác nào gầm lên để bảo vệ hắn lúc này? A! Mdimu của hắn là cái thá gì? Một miếng da khỉ và một mẩu thân cây gỗ rỗng lòng đã bị con voi giẫm nát. Ở vùng người Vahima thì ngay cả đàn bà và trẻ con cũng không thèm chơi bằng cái Mdimu như thế, ấy vậy mà M'Rua cùng những người của ông lại sợ hãi nó! Chỉ có một Mdimu chân chính duy nhất, chỉ có một ông chủ chân chính vĩ đại duy nhất đầy hùng mạnh mà thôi − Họ hãy mau mau thần phục, chào đón và mang thật nhiều lễ vật tới dâng đi, nếu không những tai họa sẽ đổ xuống đầu họ, những tai họa mà cho tới nay tai họ chưa từng được nghe nói tới bao giờ.


Thật ra, đối với người da đen, không cần phải có thêm những lời đó, vì chỉ cần việc tên phù thủy cùng Mdimu của y trở nên yếu ớt vô cùng so với vị thần da trắng mới cùng ông chủ da trắng đã hoàn toàn đủ để cho họ từ bỏ hắn và khinh miệt hắn rồi. Họ bắt đầu hô “Yancig! Yancig!” một lần nữa, còn thành kính và nhiệt thành hơn trước.


Song họ tức mình vì bao nhiêu năm đã để cho gã Camba lừa gạt, nên họ nhất thiết muốn giết chết lão ta. Chính ông M'Rua đã xin với Staś  cho phép trói hắn lại và giam giữ cho tới khi nào nghĩ ra được một cái chết thật tàn khốc xứng với tội của hắn. Nhưng Nel quyết định sẽ tha cho hắn được sống, và vì chính Kali tuyên bố rằng nơi nào Mdimu Tốt đặt chân tới, nơi đó máu người không thể nào bị chảy ra, nên Staś  cho phép họ đuổi cổ tên phù thủy bất hạnh nọ ra khỏi làng.


Vốn tưởng rằng mình sẽ phải chết đau đớn, nên giờ đây Camba quỳ phủ phục trước mặt Mdimu Tốt vừa nức nở vừa cảm ơn cứu mạng. Và kể từ lúc đó trở đi, không còn có chuyện gì khuấy động buổi lễ nữa. Từ sau hàng rào cọc gỗ, phụ nữ và trẻ con đổ ra vì cái tin những vị khách quý phi thường đến đây đã lan ra khắp làng, và ý muốn được nhìn thấy Mdimu Tốt đã thắng sự sợ hãi.


Lần đầu tiên Staś  và Nel được trông thấy cái làng của những người hoàn toàn hoang dã, những người mà ngay cả dân Ả Rập cũng chưa mò được tới nơi. Quần áo của những người da đen này làm bằng vỏ cây thạch thảo hoặc bằng da thú quấn chung quanh đùi. Tất cả mọi người đều xăm chàm. Cả đàn ông lẫn đàn bà đều đục thủng dái tai và xâu vào đó những mẩu gỗ hoặc những khúc xương lớn khiến cho dái tai chảy dài xuống gần chạm vai.


Ở môi dưới họ đeo cái pêlêlê, đó là một cái vòng bằng gỗ hay bằng xương, to như cái đĩa lót cốc. Những chiến sĩ danh tiếng hơn cùng vợ của họ mang trên cổ những chiếc vòng bằng dây đồng hay sắt, xếp chồng lên nhau cao và cứng đến nỗi họ khó khăn lắm mới cử động được cái đầu.


Rõ ràng họ thuộc về bộ lạc Sinlúc, bộ lạc này còn sinh sống chạy dài mãi sang phía đông, vì Kali và Mêa hiểu rất rõ thổ ngữ của họ, còn Staś  thì hiểu được một nửa. Tuy nhiên, họ không có được những đôi chân dài như những người anh em sinh sống ở vùng ngập nước sông Nin, vai họ rộng hơn, ít cao hơn và nói chung trông họ ít giống những loài chim chuyên môn mò lặn dưới nước hơn. Bọn trẻ con trông lanh lẹn như những con bọ nhảy, và do chưa phải mang pêlêlê, nên so với người lớn chúng xinh đẹp hơn hẳn.


Sau khi đứng đằng xa ngó Mdimu Tốt, những phụ nữ bắt đầu đua nhau với các chiến sĩ trong việc mang tặng vật tới, tặng vật là những con dê tơ, gà mái, trứng, đậu đen và bia nấu từ kê. Việc đó kéo dài mãi cho tới khi Staś  phải ngăn dòng thác những thức ăn ấy lại, và vì rằng nó trả đổi rất hào phóng bằng những chuỗi hạt và lụa màu, còn Nel thì phân phát cho bọn trẻ con mươi cái gương con được thừa hưởng của ông Linđe, nên niềm vui vô hạn ngự trị cả làng, và chung quanh túp lều nơi bọn trẻ nghỉ ngơi vẫn tiếp tục vang lên những tiếng kêu vui vẻ đầy ngưỡng mộ. Các chiến sĩ bắt đầu múa vũ điệu chinh chiến để đón chào những vị khách quý, họ đánh trận giả, và cuối cùng là việc tiến hành lễ uống máu ăn thề kết nghĩa anh em giữa Kali và ông M'Rua.


Vì thiếu phù thủy Camba, người nhất thiết phải có mặt cho buổi lễ này, nên một cụ già da đen biết đầy đủ các phù chú đã thay hắn. Sau khi giết một con dê và lấy lá gan của nó ra, ông lão chia gan ra thành nhiều miếng to tướng, rồi bắt đầu múa may chân tay như một con cù, lúc thì nhìn Kali, lúc thì nhìn M'Rua, và cất giọng trang nghiêm hỏi:


− Hỡi Kali, con trai của Phumba, mày có muốn ăn một miếng của M'Rua, con trai của M'Culi không? Và hỡi M'Rua, con trai của M'Culi, mày có muốn ăn một miếng của Kali, con trai Phumba hay chăng?


− Chúng tôi muốn! − Hai người anh em tương lai cùng đáp.


− Các người có muốn rằng trái tim của Kali sẽ là trái tim của M'Rua, còn trái tim của M'Rua là trái tim của Kali hay chăng?


− Chúng ta muốn.


− Và cả tay, cả ngọn giáo, cả lũ bò sữa?


− Cả lũ bò sữa!


− Và tất cả mọi thứ mà mỗi đứa đang có hoặc sẽ có?


− Những thứ đang có và sẽ có!


− Và để cho giữa các người không hề có dối lừa và phản bội, không có thù hằn?


− Không có thù hằn!


− Để cho người này không bao giờ ăn cắp của người kia?


− Không bao giờ!


− Để cho các người là anh em với nhau?


− Phải!


Ông lão quay mỗi lúc một nhanh hơn. Các chiến sĩ vây chung quanh mỗi lúc một thêm chăm chú dõi theo những cử chỉ của ông.


Ao! − Ông lão da đen kêu lên. − Nếu như một trong hai người nói dối người kia, phản bội người kia, ăn cắp của người kia, đầu độc người kia, giết chết người kia, hắn sẽ bị nguyền rủa.


− Xin cho hắn bị nguyền rủa! − Tất cả các chiến sĩ đồng thanh lặp lại.


− Còn nếu như hắn là thằng nói dối và âm mưu phản bội, thì xin cho hắn không nuốt nổi máu người anh em của hắn và xin cho hắn phải nôn ra ngay trước mắt chúng tôi.


− Ô, ngay trước mắt chúng tôi!


− Xin cho hắn phải chết!


− Phải chết!


− Xin vôbô xé xác hắn ra.


− Vôbô!


− Hoặc sư tử.


− Hoặc sư tử!


− Xin voi và tê giác cùng với trâu rừng hãy xéo nát hắn.


− Ô! Với trâu rừng! − Dàn đồng ca nhắc lại.


− Xin rắn hãy cắn chết hắn.


− Rắn!


− Xin cái lưỡi hắn trở nên đen kịt.


− Đen kịt!


− Và mắt hắn chạy ra sau gáy.


− Ra sau gáy!


− Xin cho hắn đi hai chân chổng ngược.


− Ha! Hai chân chổng ngược.


Không chỉ riêng Staś  mà cả Kali cũng phải cắn môi để khỏi bật cười, trong khi đó những lời nguyền cứ lặp đi lặp lại, mỗi lúc một kinh khủng hơn, con cù quay nhanh đến nỗi mắt người không thể dõi theo kịp vòng quay của ông. Cứ thế kéo dài mãi cho tới khi ông già người da đen hoàn toàn kiệt sức...


Kể từ giây phút này, quả thực không còn gì đe dọa những người bộ hành trẻ tuổi từ phía những cư dân hoang dã này nữa, kể từ hành động nhỏ nhặt cho tới mọi sự tấn công bất thần, ngược lại chúng được vây bọc trong tình mến khách và lòng thành kính gần như đối với vị thần.


Lòng thành kính này còn tăng lên hơn nữa, khi Staś  dựa theo cái áp kế to tướng của ông Linđe báo trước trời mưa, và ngay trong ngày hôm đó mưa khá tràn trề như trong mùa masica vậy, mặc dù mùa mưa đã qua đi khá lâu rồi, dường như ông trời muốn trút hết những lượng nước dự trữ của mình xuống đất. Những người da đen tin rằng chính Mdimu Tốt đã ban thưởng cho họ trận mưa đó, và lòng biết ơn của họ đối với Nel thật vô bờ bến.


Staś  nói đùa với cô bé rằng, vì cô bé đã là thần của người da đen nên sẽ chỉ có một mình em tiếp tục lên đường thôi, còn cô bé sẽ ở lại làng của ông M'Rua, nơi những người da đen sẽ xây dựng cho cô bé một cái giáo đường bằng ngà voi và sẽ mang đậu nành và chuối tới nuôi cô.


Nhưng Nel tưởng thật, bèn đứng nhón trên đầu ngón chân và thì thầm vào tai cậu bé theo thói quen của mình chỉ mấy chữ thôi:


− Anh không để em lại đâu! − Rồi cô bé nhảy cẫng lên vì vui sướng, nói − Nếu người da đen tốt bụng đến thế thì cả chuyến đi tới đại dương sẽ qua rất nhanh chóng và dễ dàng.


Chuyện đó diễn ra trước mặt đám đông, nên trông thấy Mdimu nhảy nhót, ông lão M'Rua cũng bắt đầu nhảy cẫng lên theo, cố gắng nhảy cao đến mức có thể được trên hai cái chân vòng kiềng của ông, vì ông tưởng rằng bằng cách đó ông có thể biểu lộ lòng thành kính của mình. Các vị đại thần, sau đó là các chiến sĩ, rồi phụ nữ và trẻ con − nói tóm lại là cả làng − cũng theo gương ông mà nhảy nhót một hồi như tất cả đều mất trí vậy.


Staś  buồn cười vì cái trò nhảy nhót theo gương vị thần nhỏ nọ đến nỗi cười bò ra. Tuy nhiên, đến đêm, chính em đã hiến cho nhà vua sùng tín nọ cũng như các thần dân của ông một công lao thật sự và lâu bền, vì khi đàn voi kéo vào đồng chuối, em bèn cưỡi con King đến đó và bắn lên mấy phát pháo hiệu. Sự kinh hoàng mà “những con rắn lửa” này gây ra vượt quá sự chờ đợi của nó. Những con vật khổng lồ điên lên hoảng sợ khiến cho cả khu rừng vang ầm tiếng rống và tiếng bước chân chạy trốn thục mạng của chúng, húc vào nhau, gạt đổ lẫn nhau. Con King hùng mạnh đuổi theo những người bạn đang chạy trốn với sự hăng hái vô cùng, nó không tiếc sức dùng ngà xua đuổi bọn bạn. Sau một đêm như thế, có thể tin chắc rằng, suốt một thời gian dài nữa sẽ không một chú voi nào còn dám bén mảng đến đồng chuối và cọ đum thuộc làng của ông già M'Rua nữa.


Trong làng vô cùng sung sướng, và những người da đen nhảy múa, uống bia làm bằng kê và rượu dừa suốt cả đêm. Kali tìm hiểu qua họ nhiều tin tức quan trọng, vì hóa ra có một số người đã từng nghe nói tới con nước lớn nào đó nằm về phía đông, có núi bao quanh. Đối với Staś , điều đó có nghĩa là cái hồ mà người ta không dạy cho em trong những bài học địa lí quả thực có tồn tại, và nếu cứ đi theo hướng đã chọn thì thể nào cũng tới được chỗ ở của người Vahima.


Xuất phát từ nhận xét rằng tiếng nói của Kali và Mêa không khác gì mấy so với tiếng nói của ông M'Rua, em đi tới kết luận rằng, tên gọi “Vahima” rất có thể chỉ là một cái tên gọi địa phương, và rằng những dân tộc sinh sống trên hai bờ hồ Baxxa Narốc thuộc về bộ lạc lớn Sinlúc, bộ lạc này cư trú bắt đầu từ sông Nin kéo dài mãi về phía đông, không biết tới tận đâu[2].


(còn tiếp)


Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz – Nobel văn học 1905. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan. NXB Văn học in nhiều lần. NXB Hội Nhà văn in lần thứ 25 kỷ niệm 100 năm ngày tác giả từ trần (1916-2016).


www.trieuxuan.info







[1]  Theo E.Reclus − Lefebvre: Thám hiểm Abixinia. (Chú thích của tác giả).




[2]  Vào thời Mahơđi, vùng này chưa được nghiên cứu (chú thích của tác giả).


 




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 15.01.2020
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 15.01.2020
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 10.01.2020
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 10.01.2020
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.01.2020
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 07.01.2020
Bắc cung Hoàng hậu - Nguyễn Vũ Tiềm 05.01.2020
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 05.01.2020
Trả giá - Triệu Xuân 02.01.2020
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 02.01.2020
xem thêm »