tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30445885
Tiểu thuyết
02.12.2019
A. Dumas
Hai mươi năm sau


-  Các anh hãy đứng gọn lại, -  đ’Actanhăng nói. – Đừng để cho ông đây có thể vin vào một cớ nhỏ mọn nào để xử sự không đúng, mà, xin thất lễ ông chứ, hình như ông rất thèm những lý do ấy.


Portôx và Aramix đứng vào cạnh tường song song với chỗ Atôx đứng, thành thử hai tuyển thủ chiếm chỗ chính giữa căn phòng, nghĩa là họ ở nơi sáng nhất, hai ngọn đèn chiếu sáng đặt trên bàn của Cromoen. Chẳng cần phải nói rằng khi người ta rời xa ngọn đèn thì ánh sáng yếu dần đi.


-  Nào, -  đ’Actanhăng nói, -  cuối cùng thì ông đã sẵn sàng chưa?


-  Rồi, -  Morđao đáp.


Cả hai người đồng thời tiến lên một bước, và nhờ cái động tác giống nhau ấy, hai thanh kiếm chạm vào nhau.


Đ’Actanhăng là một tay kiếm siêu quần nên chẳng cần sờ nắn địch thủ, như người ta thường nói theo thuật ngữ đấu kiếm. Anh giở được một đòn nghi binh tuyệt diệu và nhanh như chớp Morđao đỡ được.


-  A, a - ! Anh kêu lên với nụ cười khoan khoái.


Và chẳng để mất thời giờ , tưởng nhìn thấy một chỗ sơ hở, anh vươn tay đâm một nhát thẳng cực nhanh và lóe sáng như tia chớp.


Morđao đỡ bằng một đường gươm rất chặt chẽ như không ra khỏi chôn kim.


Đ’Actanhăng nói:


-  Tôi bắt đầu ngờ rằng chúng tôi đang chơi đùa.


-  Ừ, -  Aramix nói, -  nhưng vừa chơi đùa vừa chơi thật chặt chẽ vào.


-  Mẹ kiếp! Này bạn, cẩn thận đấy, -  Portôx nói.


Morđao mỉm cười.


-  Chà! – đ’Actanhăng nói, -  sao ông có một cái cười đê tiện đến thế! Ma quỷ đã dạy ông cười như thế phải không?


Morđao chỉ đáp lại bằng cách cố khóa chặt thanh gươm của đ’Actanhăng với một sức mạnh mà chàng Gaxcông không ngờ có thể tìm thấy ở một cơ thể trông ốm o, nhưng nhờ một miếng đỡ khéo léo không kém nhát đánh của đối thủ, anh kịp thời gặp lưỡi gươm của Morđao, nó trượt theo gươm của anh mà không chạm vào ngực anh.


Morđao lùi nhanh lại một bước.


-  A! Ông lùi đấy à? Ông quay đấy à? – đ’Actanhăng nói. – Tùy ý ông thôi, nhưng tôi cũng đã giành được một điều:  tôi không trông thấy nụ cười độc ác của ông đâu nữa. Tôi đang đứng hẳn trong bóng tối; càng hay. Ông không ngờ rằng ông có cái nhìn giả dối, nhất là khi ông sợ hãi. Hãy nhìn vào mắt tôi đây và ông sẽ thấy một điều mà một mảnh gươm chẳng bao giờ cho ông thấy cả, đó là một cái nhìn thật thà và thẳng thắn.


Những lời lẽ dài dòng ấy có lẽ chẳng lấy gì làm nhã nhặn lắm, nhưng đ’Actanhăng có thói quen tuôn ra cốt để làm bận tâm rối trí địch thủ. Song Morđao chẳng đáp lại một lời, hắn cứ lùi và chạy quanh mãi, cuối cùng đổi được sang chỗ đ’Actanhăng.


Hắn mỉm cười luôn và bắt đầu khiến chàng Gaxcông lo ngại.


-  Thôi, thôi, phải kết thúc đi, -  đ’Actanhăng nói; -  thằng ba que này có những bắp chân bằng thép. Nào xông lên đánh những đòn mạnh mẽ!


Anh dồn ép ráo riết Morđao. Hắn tiếp tục lùi bước nhưng rõ ràng do chiến thuật, không phạm một sơ suất nào khiến đ’Actanhăng có thể lợi dụng, lưỡi gươm của hắn không một lái nào chệch đường. Tuy nhiên trận đấu diễn ra trong một căn phòng chật hẹp thiếu chỗ tung hoành đến một lúc chân Morđao chạm vào tường và tay trái hắn vịn vào đó.


-  A! – đ’Actanhăng nói, -  ông bạn quý ơi, lần này ông không còn lùi vào đâu được nữa, -  Anh mím môi, chau mày và nói tiếp:  -  Các bạn ơi, đã bao giờ các anh trông thấy một con bọ cạp bị đóng đinh vào tường chưa? Chưa phải không? Vậy thì các anh sắp thấy đấy.


Và trong một giây đồng hồ, đ’Actanhăng xỉa ba nhát khủng khiếp vào Morđao. Ba nhát đều chạm vào người nhưng chỉ sướt qua thôi. Đ’Actanhăng không sao hiểu nổi sức mạnh kỳ lạ đó. Ba người bạn đứng xem mà thở hổn hển, trán đẫm mồ hôi.


Cuối cùng vì lấn quá gần, đến lượt đ’Actanhăng lùi lại một bước để chuẩn bị một nhát thứ tư hay nói đúng hơn là để thực hiện nhát đó. Bởi vì đối với anh, đấu kiếm cũng như đánh cờ là một sự phối hợp rộng lớn, trong đó mọi chi tiết móc nối ăn khớp với nhau. Nhưng đến lúc anh làm một động tác nghi binh vừa mau lẹ vừa ráo riết rồi bất thần đâm một nhát nhanh như chớp thì bức tường như nứt đôi ra. Morđao biến mất vào khe hở toang hoác đó, còn lưỡi gươm của đ’Actanhăng bị kẹp chặt giữa hai mảnh tường khép lại và gãy vụn ra như thủy tinh.


Trong khi đang đấu kiếm, Morđao đã vừa tự vệ vừa tìm cách đến dựa vào cánh cửa bí mật mà lúc trước ta đã trông thấy Cromoen đi ra. Tới đó, hắn đưa tay trái dò tìm và ấn vào chiếc nút; rồi hắn biến mất giống như những hung thần nọ trên sân khấu có tài đi xuyên qua các bức tường.


Chàng Gaxcông văng ra một lời chửi rủa điên giận, nó được đáp lại bằng một tiếng cười từ bên kia tấm cửa sắt, một tiếng cười man rợ, thê lương khiến chàng Aramix hoài nghi ớn lạnh đến tận xương sống.


-  Đến đây với tôi, -  đ’Actanhăng kêu lên, -  ta hãy phá cái cửa này ra.


Aramix chạy tới và nói:


-  Đó là quỷ sứ hiện hình!


-  Nó trốn thoát rồi! Mẹ kiếp! Nó trốn thoát rồi! – Portôx gào lên và tì cả bắp vai đồ sộ của mình vào vách ngăn mà đẩy, nhưng nó không hề suy suyển.


-  Càng hay! – Atôx lẩm bẩm.


Mệt nhoài vì những cố sức vô ích, đ’Actanhăng nói:


-  Tôi đã ngờ ngợ. Khi thằng khốn khiếp chạy quanh gian phòng, tôi đã nghi nó mưu mô một điều gì đê tiện; nhưng ai có thể ngờ được việc đó.


Aramix nói:


-  Quỷ sứ đã đưa đến cho chúng ta một tai họa ghê gớm!


-  Thượng đế đưa đến cho chúng ta một hồng phúc hiển nhiên! – Atôx nói với một vẻ mừng rỡ rành rành.


Đ’Actanhăng rời bỏ cánh cửa sắt trơ trơ, nhún vai nói:


-  Atôx! thực sự là anh tự hạ mình đấy. Sao anh lại có thể buông ra những lời lẽ như vậy với những người như chúng tôi, mẹ kiếp! Anh không hiểu tình hình bây giờ ra sao ư?


-  Sao? Tình hình thế nào cơ? – Portôx hỏi.


-  Trong các trò chơi này, -  đ’Actanhăng nói – kẻ nào không giết thì sẽ bị giết. Bạn thân mến ơi, trong những lời than vãn chuộc tội của mình, anh có nghĩ rằng Morđao hi sinh chúng ta cho lòng hiếu tử của hắn ta không? Nếu đó là ý kiến của anh, thì hãy nói thật cho chúng tôi biết.


-  Ôi! đ’Actanhăng, bạn thân mến của tôi!


-  Kể ra thật là tệ hại phải nhìn các sự việc theo phương diện đó! Thằng khốn nạn sắp phái một trăm giáp sĩ đến nghiền nát chúng ta như nghiền nát bột trong cái cối của ông Cromoen. Nào, lên đường thôi! Chúng ta mà nán lại đây năm phút thôi thì ta sẽ đi đời hết.


-  Phải, cậu nói đúng đấy, ta lên đường thôi! – Atôx và Aramix nói.


-  Nhưng đi đâu bây giờ? – Portôx hỏi.


-  Về khách sạn, lấy quần áo và ngựa. Rồi từ đó, nhờ Trời phù hộ, ta sẽ trở về Pháp, nơi ít ra tôi cũng còn biết về kiến trúc nhà cửa. Thuyền đang đợi chúng ta, thực tình ta hãy còn may đó.


Nói rồi, gắn liền lời giáo huấn với hành động nêu gương, đ’Actanhăng tra đoạn gươm gãy vào vỏ, nhặt mũ, mở cửa cầu thang và bước vội xuống, ba người bạn theo sau.


Ra ngoài cổng, gặp lại mấy người hầu, họ hỏi tin tức về Morđao, nhưng bọn này chẳng thấy ai đi ra cả.


 


74


CON TÀU “TIA CHỚP”


 


Đ’Actanhăng đã đoán đúng:  Morđao không có thời giờ để mất và đã không để mất thời giờ! Biết rõ quyết định và hành động nhanh chóng của kẻ thù nên hắn cũng quyết ra tay ngay. Lần này các chàng ngự lâm quân đã tìm được địch thủ ngang tài.


Sau khi đóng cửa cẩn thận sau lưng mình, Morđao tra thanh gươm vô ích vào bao, trườn xuống một đường hầm và lần sang ngôi nhà bên cạnh. Hắn dừng lại để lấy hơi và sờ nắn trong người.


-  Tốt lắm! – Hắn nói, -  chẳng sao cả, chẳng có gì đáng kể; mấy vết xây xát, có thế thôi, hai vết ở cánh tay, một vết ở ngực. Những vết thương do ta gây ra hay hơn nhiều! Cứ hỏi tên đao phủ xứ Bêtuyn, cứ hỏi ông bác ta và vua Saclơ xem! Bây giờ không thể để mất một giây đồng hồ, vì chỉ chậm một giây thôi là chúng nó có thể trốn thoát; mà cần làm sao cho cả bốn tên kia chết cùng với nhau, chết cùng một đòn, tan xương, nát thịt, bay biến đi. Ta sẽ chạy cho đến lúc hai chân không còn mang nổi mình, trái tim dãn nở đầy lồng ngực, nhưng ta sẽ đến trước chúng nó.


Morđao bắt đầu rảo bước nhanh hơn nhưng đều đặn hơn đến trại kỵ binh đầu tiên cách đó gần một phần tư dặm và đi chừng mất bốn năm phút.


Đến trại, hắn xưng danh rồi lấy con ngựa tốt nhất và phóng đi ngay. Mười lăm phút sau hắn đến Grinuýt.


-  Bến cảng kia rồi – hắn lẩm bẩm – chấm đen xẫm ngoài kia là đảo Chó. Hay lắm! ta vượt chúng nửa giờ... có lẽ một giờ. Ta ngốc thật! suýt nữa thì mình chết ngạt vì sự hộc tốc điên cuồng ấy.


Hắn đứng lên bàn đạp để nhìn ra xa tìm giữa những đám mây dây rợ và một cột buồm và nói:


-  Tia chớp, con tàu Tia Chớp ở đâu?


Như để đáp lại mấy lời nói lẩm nhẩm của hắn, một người nằm trên một cuộn dây thừng đứng dậy và tiến mấy bước về phía Morđao.


Morđao rút một chiếc khăn tay ra và giơ phấp phới trong gió một lát. Người kia tỏ vẻ chăm chú, nhưng vẫn đứng nguyên một chỗ, chẳng tiến mà cũng chẳng lùi một bước nào.


Morđao thắt nút ở bốn góc khăn tay, người kia đến sát gần. Đó là ám hiệu đã thỏa thuận. Người thủy thủ khoác một chiếc áo choàng len rộng che cả mặt, cất tiếng:


-  Thưa ông, phải chăng tình cờ mà ông từ Luân Đôn đến đây để làm một chuyến du ngoạn trên biển.


-  Rõ ràng như vậy, -  Morđao đáp, -  tôi muốn đi ra phía đảo Chó.


-  Thế đây. Chắc hẳn ông ưa thích một loại thuyền nào đó hơn phải không? Ông muốn thuyền chậm hay thuyền nhanh...


-  Như tia chớp, -  Morđao đáp.


-  Hay lắm, thế thì đúng chiếc thuyền của tôi mà ông đang tìm. Tôi là người chủ thuyền đó.


-  Tôi bắt đầu tin điều đó, -  Morđao nói, -  nhất là nếu ông không quên ám hiệu nào đó.


-  Thưa ông đây! – Người chủ thuyền rút trong túi áo choàng ra một chiếc khăn tay buộc nút ở bốn góc.


-  Tốt lắm, tốt lắm! – Morđao reo lên và xuống ngựa. – Bây giờ gấp lắm rồi, ông hãy cho dẫn con ngựa này đến quán hàng gần đây và đưa tôi ra thuyền của ông.


-  Nhưng những người đồng hành của ông đâu? – chủ thuyền hỏi – tôi ngỡ rằng ông có bốn người cơ mà, không kể đầy tớ.


Morđao tiến đến gần người thủy thủ và nói:


-  Này ông, hãy nghe đây, tôi không phải là người mà ông chờ đợi cũng không phải là người mà họ muốn tìm. Ông đã thay thế đại úy Rôgiơ phải không? Ông đến đây theo lệnh của tướng Cromoen; tôi cũng do ngài phái tới.


-  Quả có vậy, -  người chủ thuyền nói, tôi nhận ra ông, -  ông là đại úy Morđao.


Morđao giật mình.


-  Ồ, đừng sợ, -  người chủ thuyền kéo áo choàng xuống, ngã mũ ra và nói:  -  tôi là một người bạn mà.


-  A, đại úy Groxlâu! – Morđao kêu lên.


-  Chính tôi. Tướng quân nhớ rằng trước kia tôi là sĩ quan hải quân nên đã giao cho tôi nhiệm vụ này. Có gì thay đổi không?


-  Không có gì thay đổi cả. Trái lại mọi việc vẫn như cũ.


-  Có lúc tôi nghĩ rằng cái chết của nhà vua...


-  Cái chết của nhà vua chỉ càng thúc giục họ chạy trốn. Có lẽ trong mươi mười lăm phút nữa họ sẽ tới đây.


-  Thế ông đến đây làm gì?


-  Để xuống thuyền với ông.


-  A, a! Tướng quân hoài nghi nhiệt tình của tôi chăng?


-  Không phải thế đâu! Tôi muốn tự mình chứng kiến cuộc trả thù của tôi. Này, ông không có ai giúp mang con ngựa của tôi đi ư?


Groxlâu huýt sáo, một thủy thủ xuất hiện.


-  Này Pat’ric, -  Groxlâu bảo, -  hãy dắt con ngựa này đến chuồng ngựa của quán hàng gần nhất. Nếu có người hỏi ngựa của ai thì nói là của một vị lãnh chúa Iêclăng.


Người thủy thủ lẳng lặng rời bước.


-  Ông không sợ họ nhận ra ông ư? – Morđao hỏi.


-  Chẳng lo đâu! Tôi ăn mặc như thế này, trùm cái áo choàng này, trời tối như thế này. Vả lại, ông mà còn chẳng nhận ra tôi, thì họ làm sao mà nhận ra được.


-  Đúng thế, -  Morđao nói, -  với lại họ chẳng ngờ đến ông đâu. Mọi thứ sẵn sàng cả rồi chứ?


-  Rồi.


-  Thuyền chất hàng chưa?


-  Rồi.


-  Năm thùng đầy phải không?


-  Thế đấy.


-  Chúng tôi chở rượu Portô đến Ăngve.


-  Tuyệt lắm. Bây giờ cho tôi xuống thuyền và ông hãy trở lại vị trí, vì họ đến ngay bây giờ đấy.


-  Sẵn sàng.


-  Điều quan trọng là không để cho ai trong số người của ông trông thấy tôi vào.


-  Chỉ có một người ở trên thuyền và tôi tin ở hắn ta như chính mình. Vả chăng người ấy không biết ông, và cũng như đồng đội của hắn, hắn sẵn sàng phục tùng mệnh lệnh  mà không hay biết gì hết.


-  Tốt lắm, ta đi thôi.


Họ đi xuống phía sông Tamidơ. Một chiếc xuồng nhỏ neo ở bến cảng bằng một xích sắt buộc vào một cái cọc. Groxlâu kéo cái xuồng lại, giữ cho Morđao xuống, rồi hắn nhảy xuống theo. Và ngay lập tức hắn cầm lấy mái chèo và chèo miết để chứng tỏ với Morđao điều hắn nói là thật, nghĩa là hắn không quên nghề thủy thủ của mình.


Năm phút sau, chiếc xuồng thoát ra khỏi cái thế giới thuyền bè vào thời ấy luôn luôn bề bộn ở các vùng phụ cận Luân Đôn và Morđao có thể trông thấy chiếc tàu buồm buông neo như một chấm đen đang đung đưa ở cách đảo Chó chừng bốn năm tầm.


Đến gần tàu Tia chớp, Groxlâu huýt sáo ra hiệu và trông thấy một cái đầu ló ra trên thành tàu.


-  Đại úy đấy à? – người kia hỏi.


-  Phải, ném thang xuống đây.


Nhanh nhẹn và nhẹ nhàng như một con én, Groxlâu leo lên và đứng bên gã thủy thủ.


-  Lên đi, -  Groxlâu bảo bạn.


Không trả lời, Morđao nắm lấy sợi dây thang và leo theo thành tàu một cách lanh lẹ và chắc chắn hiếm có đối với những người ở trên cạn; lòng háo hức trả thù của hắn đã thay thế cho thói quen và khiến hắn có khả năng làm được mọi việc.


Như Groxlâu đã dự kiến, người thủy thủ gác trên tàu Tia chớp không có vẻ gì nhận biết là chủ mình trở về cùng với một người khác.


Morđao và Groxlâu đi đến phòng của thuyền trưởng. Đó là một ngăn dựng tạm bằng ván gỗ ở trên boong.


Căn phòng danh dự đã được đại úy Rôgiơ nhường cho hành khách.


-  Bọn họ đâu? – Morđao hỏi.


-  Ở cuối tàu, -  Groxlâu đáp.


-  Họ không có việc gì làm ở phía này ư?


-  Chẳng có việc gì hết.


-  Tuyệt lắm! Tôi sẽ nấp ở chỗ ông. Ông hãy trở lại Grinuýt và dẫn họ đến đây. Ông có một chiếc xuồng nhỏ nào không?


-  Cái xuồng mà chúng ta vừa ra đây ấy.


-  Nó có vẻ nhẹ và chắc.


-  Một con thuyền thoi thực sự đấy.


-  Hãy lấy dây chão buộc nó vào sau đuôi tàu, để mái chèo vào xuồng để nó có thể đi theo luồng tàu và khi cần thì chỉ việc cắt dây. Để sẵn rượu rum và bánh quy trong xuồng. Nếu chẳng may biển động, người của ông sẽ chẳng bực mình thấy có sẵn các thức để mà bồi bổ sức lực.


-  Ông sẽ được vừa ý. Ông có muốn thăm sợi dây mìn không?


-  Không, -  Morđao đáp. – Đợi lúc ông trở lại. Tôi muốn tự mình đặt dây mìn để chắc chắn là không cháy chậm. Chú ý che mặt để họ không nhận ra ông.


-  Chuông đồng hồ Grinuýt đang điểm mười giờ.


-  Cứ yên trí.


Thật vậy, mười tiếng chuông ngân vang rầu rĩ quyện qua bầu trời chứa đầy những đám mây khổng lồ đang trôi đi giống như những làn sóng im lặng.


Groxlâu khép cửa lại và Morđao cài chốt bên trong. Sau khi ra lệnh cho người thủy thủ canh phòng thật cẩn mật, Groxlâu xuống thuyền. Chiếc thuyền nhanh chóng rời xa, đôi mái chèo khuấy nước bọt ngầu.


Khi Groxlâu cặp bến Grinuýt, gió thổi lạnh và con đường đập vắng tanh; nhiều thuyền bè vừa mới rời bến lúc nước triều lên. Groxlâu bước lên bờ thì nghe như có tiếng ngựa phi trên con đường lát đá.


-  Ồ ồ! – hắn nói, -  Morđao giục ta gấp lên là đúng. Không thể chậm trễ được nữa, họ tới kia rồi.


Quả nhiên đó là những người bạn của chúng ta hay nói đúng hơn là nhóm tiền trạm gồm đ’Actanhăng và Atôx. Đến trước nơi Groxlâu đứng, họ dừng lại như đã đoán ra rằng đó là người họ cần tìm. Atôx xuống ngựa và lặng lẽ giở một chiếc khăn tay buộc nút ở bốn góc và phất ra trước gió, trong khi đ’Actanhăng bao giờ cũng thận trọng, hơi cúi mình trên yên ngựa, một tay thọc vào bao súng.


Ngồi xổm sau một chiếc nòng đại bác chôn xuống đất dùng để cột các dây thuyền, Groxlâu ngỡ rằng các kỵ sĩ kia đúng là những người hắn đang đợi, lại trông thấy ám hiệu đã định, hắn đứng dậy và bước thẳng đến chỗ họ. Hắn chùm áo choàng kín mít nên trong không rõ mặt. Vả chăng trời tối như mực nên việc phòng bị cũng bằng thừa.


Tuy nhiên, mặc dầu bóng tối, con mắt sắc sảo của Atôx vẫn đoán ra rằng không phải kẻ đứng trước mặt anh ta là Rôgiơ.


Atôx lùi lại một bước và hỏi:


-  Ông cần gì?


Groxlâu bắt chước giọng Iêclăng và nói:


-  Thưa milo, tôi muốn thưa với ngài rằng ngài định tìm ông chủ tàu Rôgiơ nhưng hỏng công thôi.


-  Sao vậy? – Atôx hỏi.


-  Bởi vì sáng nay ông ta ngã từ trên cột buồm quan trắc và bị gãy đùi. Tôi là em họ của ông Rôgiơ nên ông ta kể với tôi tất cả mọi việc và nhờ tôi thay ông ra đón ngài và các vị quý tộc có mang chiếc khăn tay buộc nút ở bốn góc giống như cái khăn tôi có ở trong túi đây. Tôi sẽ đưa cho các ngài đi bất cứ nơi nào các ngài muốn.


Nói rồi Groxlâu móc túi ra chiếc khăn mà hắn đã giơ cho Morđao xem.


-  Có thế thôi à? – Atôx hỏi.


-  Ấy, thưa ngài, còn bảy mươi lăm livrơ đã hứa nếu tôi đưa các ngài yên ổn đến Bulônhơ hoặc một nơi nào đó ở nước Pháp mà các ngài cho biết.


Atôx quay sang hỏi đ’Actanhăng bằng tiếng Pháp:


-  Cậu thấy việc đó thế nào?


-  Hắn nói gì đã chứ? – đ’Actanhăng đáp.


-  Ở nhỉ, -  Atôx nói, -  mình quên rằng cậu không biết tiếng Anh.


Và anh kể lại cho bạn những lời trao đổi vừa rồi với người chủ tàu.


-  Điều ấy có vẻ thật đấy, -  đ’Actanhăng đáp.


-  Tôi cũng nghĩ thế, -  Atôx đáp.


-  Với lại, -  đ’Actanhăng nói, -  nếu như người này lừa dối ta, ta vẫn có thể bắn vỡ sọ nó.


-  Thế ai sẽ dẫn đường chúng ta?


-  Anh đấy, Atôx ạ. Anh biết đủ thứ ở trên đời và tôi chẳng hồ nghi là anh không biết lái một con tàu.


Atôx mỉm cười bông đùa và nói:


-  Bạn ơi, thực tình là cậu nói khoác gặp thời. Cha tôi ngày trước hướng cho tôi làm nghề hàng hải, cho nên tôi cũng biết đôi chút việc lái tàu.


-  Anh thấy chưa! – đ’Actanhăng reo lên.


-  Vậy cậu hãy đi tìm các bạn chúng ta và trở lại đây. Mười một giờ đêm rồi, chẳng còn mấy thì giờ nữa đâu.


Đ’Actanhăng tiến về phía hai kỵ sĩ cầm súng ngắn đang đứng gác ở những ngôi nhà đầu tiên của thị trấn. Ba kỵ sĩ khác cũng đứng canh và có vẻ chờ đợi, họ nép vào một nhà kho sát bờ đường.


Hai kỵ sĩ đứng giữa là Portôx và Aramix. Ba kỵ sĩ ở cạnh nhà kho là Muxcơtông, Bledoa và Grimô. Nhưng nhìn gần thì thấy sau lưng ngựa của Grimô còn có người em của Pary. Anh ta phải dẫn trở lại Luân Đôn những con ngựa của mấy ông chủ và người hầu đã bán cho chủ khách sạn để trả tiền trú ngụ. Cũng nhờ vậy mà bốn người bạn còn dư ra được một số tiền nếu không phải là to tát thì ít ra cũng đủ chi dùng trong những khi bị chậm trễ hoặc xảy ra những chuyện bất thường.


Đ’Actanhăng rỉ tai bảo Atôx và Aramix đi theo mình và mấy người này lại ra hiệu cho bọn đầy tớ xuống ngựa và tháo các bọc quần áo ra.


Người em của Pary lưu luyến chia tay bạn bè. Họ mời anh ta sang Pháp, nhưng anh khăng khăng từ chối.


-  Cũng đơn giản thôi, -  Muxcơtông giải thích, anh ta còn có ý định trả thù Groxlâu.


Ta còn nhớ rằng chính Groxlâu đã đập vỡ sọ anh ta.


Toán người theo kịp Atôx. Nhưng đ’Actanhăng đã lấy lại tính đa nghi tự nhiên của mình. Anh thấy trên kè vắng vẻ quá, đêm tối đen quá, chủ tàu dễ dãi quá.


Anh kể lại những việc vừa xảy ra cho Aramix nghe, anh chàng này không kém đa nghi càng góp phần làm tăng thêm những nỗi nghi ngại của bạn.


Một tiếng chậc nhỏ báo cho Atôx biết những nỗi băn khoăn của chàng Gaxcông.


-  Chúng ta chẳng có thì giờ để hoài nghi đâu, -  Atôx nói, -  chiếc thuyền đang đợi chúng ta, ta vào đi.


-  Với lại ai cấm chúng ta cứ vào mà vẫn cứ hoài nghi, -  Aramix nói. – Ta sẽ theo dõi chủ thuyền.


-  Nếu hắn không đường đường chính chính, tôi sẽ đập vỡ sọ nó ra; có thế thôi.


-  Portôx nói hay lắm, -  đ’Actanhăng bảo. – Nào ta vào đi. Đi, Muxcơtông.


Đ’Actanhăng ngăn các bạn lại, cho bọn gia nhân qua trước để thử tấm ván bắc từ con đập ra thuyền.


Ba tên hầu sang thuyền yên ổn.


Atôx theo sau họ, rồi đến Portôx và Aramix; đ’Actanhăng sang sau cùng, vừa đi vừa lắc đầu.


-  Cậu làm cái quái gì thế? – Portôx nói; -  xin thề là cậu làm cho Xêda cũng phải sợ.


Đ’Actanhăng đáp:


-  Trên cái bến này, tôi chẳng thấy có người kiểm tra, chẳng có mống lính gác, chẳng có nhân viên thuế quan.


-  Vậy mà cậu than vãn ư? – Portôx nói. – Mọi việc trôi chảy như trên một đường dốc nở hoa.


-  Mọi việc trôi chảy quá, Portôx ạ. Mặc kệ, rốt cuộc, nhờ ơn Chúa.


Tấm ván vừa rút lên, chủ thuyền ngồi vào đằng lái và ra hiệu cho một thủy thủ dùng một cây sào đẩy cho chiếc thuyền ra khỏi chốn mê lộ những tàu với bè.


Một thủy thủ khác đứng sẵn ở mạn trái thuyền tay cầm mái chèo.


Khi ra được chỗ thoáng, bạn hắn đến cùng chèo và thuyền bắt đầu lướt nhanh.


-  Cuối cùng chúng ta ra đi! – Portôx nói.


-  Than ôi! – bá tước đờ La Pherơ đáp, -  chúng ta ra đi không có thêm ai!


-  Phải rồi, nhưng cả bốn người chúng ta cùng ra đi, không một vết xước, đó là một điều an ủi.


-  Chúng ta chưa đến nơi đâu, -  đ’Actanhăng nói. – Hãy coi chừng những cuộc chạm trán.


-  Ơ này bạn thân mến ơi; -  Portôx nói; -  cậu giống như những con quạ ấy, cậu toàn kêu điềm gở. Ai có thể gặp gỡ chúng ta trong cái đêm tối mù mịt như thế này, cách xa hai chục bước chẳng còn nhìn thấy gì hết.


-  Phải, nhưng sáng mai thì sao? – đ’Actanhăng nói.


-  Sáng mai chúng ta sẽ ở Bulônhơ.


-  Tôi thành tâm cầu mong điều đó, chàng Gaxcông nói, và tôi thú nhận nỗi yếu đuối của tôi. Atôx này, anh sắp cười đấy, nhưng chừng nào chúng ta còn ở trong tầm súng của con đập hoặc những tàu bè ven đó, tôi vẫn thấp thỏm đợi chờ một loạt đạn khủng khiếp nào đó sẽ nghiền nát tất cả chúng ta.


-  Nhưng mà, -  Portôx nói với vẻ biết suy nghĩ, -  đó là điều không thể có được, bởi vì người ta sẽ giết chết luôn cả chủ thuyền lẫn thủy thủ.


-  Ô hay, đó là một việc quan trọng đối với ông Morđao đó hả? Cậu tưởng rằng ông ấy quá câu nệ như thế ư?


-  Rốt cuộc, -  Portôx nói, -  tôi rất khoái thấy đ’Actanhăng thú nhận là cậu ta sợ.


-  Không những tôi thú nhận mà tôi còn tự phụ là khác. Tôi chẳng phải là con tê giác cứ húc bừa như cậu. Ơ này, cái gì thế kia?


-  Tia chớp đó, chủ thuyền nói.


-  Chúng ta đến rồi ư? – Atôx hỏi bằng tiếng Anh.


-  Đến rồi! – Thuyền trưởng nói.


Quả thật, sau ba nhát chèo, con thuyền đã cập mạn chiếc tàu nhỏ.


Người thủy thủ đang đợi, cái thang đã buông sẵn, hắn đã nhận ra con thuyền.


Atôx leo lên trước tiên nhanh nhẹn như thủy thủ thực thụ. Aramix từ lâu đã quen với thang dây và những phương tiện khác ít nhiều sáng tạo dùng để vượt qua những nơi cấm đoán. Đ’Actanhăng thì như một thợ săn hươu nai và hoẵng. Còn Portôx thì cứ lấy sức mà dẫy.


Leo thang dây đối với mấy tên đầy tớ khó khăn hơn. Không phải với Grimô, bác như giống mèo ống máng, gầy và thon, bao giờ cũng tìm được cách leo lên mọi chỗ. Nhưng đối với Muxcơtông và Bledoa, mấy người thủy thủ buộc phải đẩy họ lên đến ngang tầm tay của Portôx rồi chàng hộ pháp cứ tóm lấy cổ áo của họ mà đặt lên boong tàu.


Thuyền trưởng dẫn hành khách vào phòng đã sửa soạn cho họ, nó gồm có mỗi một gian cho nên họ phải ở chung. Rồi hắn đi ra, viện cớ phải sai phái làm các việc.


-  Khoan đã, -  đ’Actanhăng bảo. – Ông chủ ơi, ông có bao nhiêu người ở trên tàu?


-  Tôi không hiểu, -  hắn trả lời bằng tiếng Anh.


-  Atôx dịch hộ tôi với.


Atôx hỏi lại bằng tiếng Anh.


-  Ba người, -  Groxlâu đáp, -  tất nhiên không kể tôi.


Đ’Actanhăng hiểu, vì chủ tàu vừa nói vừa giơ ba ngón tay.


-  Ồ, ba à! – Đ’Actanhăng nói – Tôi bắt đầu yên tâm hơn. Mặc lòng, trong khi các cậu sửa soạn chỗ nằm, tôi đi một vòng quanh tàu xem sao.


-  Còn tôi, -  Portôx nói, -  tôi đi lo bữa ăn tối.


-  Cái dự tính ấy thật là đẹp đẽ và hào hiệp Portôx ạ, hãy thực hiện ngay đi. Còn Atôx anh hãy cho tôi mượn gã Grimô, khi đánh bạn với Pary hắn đã học sủa được chút ít tiếng Anh; hắn sẽ làm thông ngôn cho tôi.


-  Đi đi, Grimô, -  Atôx bảo.


Một tay cầm khẩu súng ngắn, một tay nhấc chiếc đèn có sẵn ở trên boong, đ’Actanhăng bảo chủ tàu:


-  Come!


Cùng với chữ Goddam, đó là tất cả những gì anh nhớ được trong tiếng Anh.


Đ’Actanhăng đi đến cửa quầy tàu và xuống sàn giữa.


Sàn giữa chia làm ba khoang:  khoang đ’Actanhăng đang xuống, nó có thể kéo dài từ cột buồm nhỏ thứ ba đến tận đuôi tàu, phía trên nó là ván sàn phòng Atôx, Portôx và Aramix đang sửa soạn nghỉ ngơi. Khoang thứ hai ở giữa tàu dùng làm nơi nghỉ cho bọn đầy tớ. Khoang thứ ba kéo dài dưới mũi tàu, nghĩa là dưới cái buồng mà thuyền trưởng dựng tạm và Morđao nấp trong đó.


Đ’Actanhăng vừa bước xuống thang vừa dang tay giơ chiếc đèn ra phía trước và nói:


-  Ồ ồ, sao mà lắm thùng gỗ thế này. Hẳn là căn hầm của Alibaba.


Truyện Nghìn lẻ một đêm hồi ấy vừa mới được dịch ra lần đầu tiên và rất được thịnh hành.


-  Ông nói gì thế? – gã thuyền trưởng nói bằng tiếng Anh.


Đ’Actanhăng hiểu qua giọng nói. Anh đặt chiếc đèn lên một thùng rượu và nói:


-  Tôi muốn biết có cái gì trong những thùng này.


Chủ tàu toan trèo lên thang, nhưng lại thôi.


-  Portô! – hắn đáp.


-  A, rượu vang Portô hả? – Đ’Actanhăng nói. – Dù sao cũng yên tâm, chúng ta sẽ không chết khát.


Rồi quay lại phía Groxlâu đang lau mồ hôi hột đổ trên trán, anh hỏi:


-  Các thùng có đầy không?


Grimô dịch lại.


-  Có thùng đầy, có thùng rỗng. – Groxlâu trả lời bằng một giọng dù cố gắng tự nhiên vẫn lộ ra vẻ lo lắng.


Đ’Actanhăng lấy tay gõ gõ vào các thùng thấy rằng có năm thùng đầy, còn các thùng khác đều rỗng. Rồi trước sự kinh hoàng của gã người Anh, anh soi đèn vào khe thùng và thấy rằng các khe thùng đều trống.


-  Thôi, ta đi nào, anh nói và tiến về phía cửa thông sang khoang thứ hai.


Viên thuyền trưởng đứng ở phía sau, luôn luôn hốt hoảng, nói:


-  Khoan đã, tôi có chìa khóa cửa đây .


Và vội vàng đi trước đ’Actanhăng và Grimô, hắn run run tay tra chìa khóa vào ổ. Muxcơtông và Bledoa sắp sửa ăn bữa tối.


Trong khoang này rành rành chẳng có gì để tìm kiếm hoặc lấy ra cả:  ánh đèn soi rõ những người bạn đồng hành xứng đáng ấy và tất cả mọi ngóc ngách.


Người ta chuyển ngay sang thăm khoang thứ ba.


Đó là phòng các thủy thủ.


Ba bốn chiếc võng mắc ở trần, một cái bàn treo bằng hai sợi dây luồn qua mỗi đầu bàn, hai cái ghế mọt và gãy chân, đó là tất cả đồ đạc trong phòng. Đ’Actanhăng tới vén mấy tấm rèm treo ở vách và chẳng thấy gì khả nghi, anh trở lại lên trên boong.


-  Thế còn căn buồng này? – Anh hỏi.


Grimô dịch ra tiếng Anh và chủ tàu đáp:


-  Đó là buồng của tôi. Ông có muốn vào không?


-  Mở cửa ra, -  đ’Actanhăng bảo.


Chủ tàu tuân theo, đ’Actanhăng giơ đèn và ló đầu qua cánh cửa hé mở và thấy rằng căn buồng đó là một túp lều thật sự. Anh nói:


-  Tốt! Nếu có một đội quân ở trên tàu, thì chẳng phải nó được giấu ở đây. Thôi ta về xem Portôx đã kiếm được cái gì ăn chưa?


Rồi gật đầu cảm ơn chủ tàu, anh trở về căn phòng danh dự có các bạn anh ở đó.


Hình như Portôx chẳng kiếm được gì cả, hoặc giả nếu có kiếm được cái gì đó thì do cái mệt thắng cái đói, anh nằm trong tấm áo choàng, và lúc đ’Actanhăng về thì anh đã ngủ say.


Được những con sóng biển đầu tiên ru êm, Atôx và Aramix cũng đã lim dim con mắt và mở choàng khi nghe tiếng bạn bước vào.


-  Thế nào? – Aramix hỏi.


-  Ổn cả, -  đ’Actanhăng đáp, -  chúng ta có thể ngủ yên.


Được bảo đảm như vậy, Aramix lại ngả đầu xuống sàn:  Atôx gật đầu thân ái, và đ’Actanhăng cũng như Portôx còn cần ngủ hơn là ăn, anh nằm ngủ trong chiếc áo choàng, gươm tuốt trần, mình chắn ngang lối đi để không ai có thể đi vào mà không đụng phải anh.


(còn tiếp)


Nguồn: Hai mươi năm sau. Tiểu thuyết của A. Dumas. Anh Vũ dịch. NXB Văn học in lần thứ ba, 2009.


www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.
79.
80.
81.
82.
83.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »