tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30446104
Tiểu thuyết
01.12.2019
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng

 Trở lại chỗ Nghĩa sinh đẻ. Trực cúi xuống gần sát mặt Nghĩa tái nhợt, hơi thở nhọc mệt hỏi: – “Nghĩa thấy trong người thế nào?”. – “Em mệt lắm...” – Nghĩa thì thào trả lời. Nhìn thấy Nghĩa đắp tấm mền cũ trong khi bên ngoài vẫn còn mưa rả rích, Trực thấy thương Nghĩa vô cùng, nhất là nàng lại sanh con trong hoàn cảnh nghĩa quân đang gặp lúc hết sức gian nan, phải rút quân trên rừng núi, thiếu thốn mọi bề... Bà Sáu quấn đứa nhỏ trong chiếc khăn đội đầu sau khi đã cắt rún đưa cho Trực, bà cười vui: – “Chú Hai coi nó giống ai nè!”. Trực nhìn thằng bé còn đỏ hỏn trong lòng chàng rộn lên một niềm vui khôn tả. Lần đầu tiên trong đời, chàng được làm cha, một nghĩa vụ thiêng liêng của đời người. Chàng hôn thằng bé rồi đặt bên cạnh Nghĩa, nó lại khóc oe oe: – “Em cho con bú đi. Chắc nó khát sữa rồi đó”. Nghĩa ôm choàng lấy đứa con nước mắt ràn rụa: – “Con!”.

            Có tiếng chú bé Tâm bên ngoài: – “Anh Hai, có người muốn gặp anh đó”. – “Được, anh sẽ ra đây”. Trực nói rồi quay sang Nghĩa: – “Cố gắng dưỡng sức nghen Nghĩa. Anh phải đi một chút đây”. Chàng cúi xuống hôn lên trán vợ, rồi quay lại nói với bà Sáu, giọng xúc động: – “Bà Sáu ráng trông nom giùm nhà tôi. Tôi mang ơn bà nhiều lắm. Cả cô Ba nữa!” – Trực nói với cô Đỏ khi thấy cô đang quạt cho Nghĩa. – “Chú Hai cứ lo việc quân đi – bà Sáu nhìn Trực, ánh mắt thông cảm – Mọi việc ở đây có tui với cô Ba, không sao đâu”. – “Cám ơn bà!” – Trực xúc động gật đầu rồi bước nhanh ra ngoài.


 


 


            Và bây giờ Trực ngồi nói chuyện với ông sư già, người bé nhỏ nhưng vẻ mặt phúc hậu, dễ mến. Ông sư nói, giọng trầm ấm: – “Sáng hôm kia, Lãnh binh Huỳnh Tấn theo chân lũ giặc Tây dương đổ lên Dương Đông. Hắn gom dân lại trước sân đình, nhưng chắc bị anh em mình bắn mấy phát súng, quân chúng hỗn loạn, nhân cơ hội đó dân chạy thoát được. Nhưng đến chiều, chúng tăng quân vây bắt dân lần nữa. Lần này thì chúng canh gác chặt chẽ, tra tấn đánh đập những người có quan hệ với nghĩa quân. Ngoài biển chúng cũng tăng cường tuần tra, bắt hết ghe thuyền ra buôn bán với Phú Quốc – Ông sư ngừng lại, nhìn Trực – Mục đích của bọn giặc làm vậy, chắc ông Hai biết rồi. Chúng quyết triệt nguồn tiếp tế cho nghĩa quân đó!”. – “Cám ơn sư thầy đã cho tôi biết những tin tức quan trọng này”. Trực nhìn sư thầy bằng ánh mắt biết ơn. – “Ông Hai là người trung cang nghĩa khí, làm vẻ vang cho nòi giống Rồng Tiên, bổn phận người dân không kể đạo hay đời là phải giúp đỡ cho những người yêu nước chống giặc như ông Hai”. Ông sư ngừng một lúc, nhìn Trực bằng ánh mắt kính trọng rồi nói tiếp: – “Nhà chùa lâu nay dành dụm được ít gạo nếp làm cốm dẹp với bánh tổ, nay xin đem tặng ông Hai chi dùng tạm trong lúc khó khăn này. Xin ông Hai vui lòng nhận cho”. Chú tiểu nhỏ gánh một gánh nặng cốm dẹp với bánh tổ đứng gần đó chờ, thấy cái vẫy tay của ông sư gọi, vội gánh đến. Trực xúc động nói: – “Thiệt không biết lấy lời lẽ nào để nói lên lòng biết ơn của tôi và anh em nghĩa quân về sự giúp đỡ của sư thầy đối với anh em trong lúc khó khăn, nguy hiểm này”. – “Xin ông Hai đừng nói chuyện ơn nghĩa – Sư thầy nhìn Trực, giọng ông cũng rất xúc động – Bởi vì nhà chùa cũng có trách nhiệm lúc nước mất, nhà tan như mọi người dân nước Nam. Cầu xin đức Phật Tổ Như Lai và đức Thích ca Mâu Ni độ trì cho ông Hai và anh em nghĩa quân vượt qua nạn tai để hoàn thành sứ mệnh cứu dân cứu mước. Giờ thì nhà chùa xin phép ông Hai được cáo lui”. Ông sư già chắp tay chào từ biệt Trực. Chàng cũng chắp tay cúi đầu chào và nói: – “Xin sư thầy bảo trọng. Mong có ngày được gặp lại sư thầy”. Chú tiểu chắp tay cúi chào Trực, để lại nguyên gánh bánh, rồi theo ông sư già đi vào con đường mòn nhỏ trong rừng... Trực đứng nhìn theo lòng bồi hồi xúc động… Chàng không ngờ trong chốn thâm sơn cùng cốc này, chàng còn gặp những tấm lòng yêu nước của những con người đã lánh xa trần thế, đem thân nương nhờ cửa Phật, vẫn nặng lòng yêu mến và giúp đỡ nghĩa quân.


 


 


 Khi nghĩa quân chuyển đến gần sông Cửa Cạn thì trời đã về chiều. Cai Tèo đi đầu chợt trông thấy đàn chim vỗ cánh bay loạn xạ ở phía dưới sông. Bằng kinh nghiệm trận mạc của người lính chiến, Tèo biết rằng phải đông người làm cái gì đó động ổ, nên khiến đàn chim hoảng sợ vội cất cánh kêu bầy bay trốn tránh. Anh vội thụp người núp sau tảng đá quan sát. Từ trên sườn núi, Tèo thấy một toán lính địch đang tiến về phía nghĩa quân. Ở xa trông chúng như con rắn bò dài ngoằn ngoèo với tên võ quan đi đầu vung vẩy thanh gươm trong tay. Tèo vội chạy trở lại báo với Hai Nhường, đang đi tới: – “Anh Hai, có địch!”. – “Đâu, nó đâu?” – Hai Nhường ngạc nhiên nhìn Tèo hỏi. – “Anh Hai nhìn xuống hướng sông kìa!” – Tèo chỉ tay về phía cánh quân địch đang tiến lên đồi về hướng nghĩa quân. Hai Nhường nhìn thấy rõ, vội ra lệnh cho Tèo: – “Cho anh em tản ra kiếm chỗ núp, chờ lịnh!”. Tèo cùng toán nghĩa quân đi đầu vội tản ra núp vào các bụi cây hốc đá, căng mắt theo dõi địch, chờ lệnh tập kích. Hai Nhường vội quay lại sau gặp Trực cùng với Tư Hội đang đi tới. Anh báo ngay cho Trực: – “Anh Hai, có giặc đổ bộ ở Cửa Cạn đang tiến về phía mình. Anh tính sao, đánh hay rút?”. – “Chúng nó có đông không?” – Trực hỏi với sự chú ý đặc biệt. – “Anh ra đây nhìn rõ lắm!” Cả ba đến một tảng đá lớn có mấy gốc cây to che khuất, rất dễ quan sát mọi hoạt động ở dưới chân đồi phía Cửa Cạn. Quan sát một lúc, Trực cau mày suy nghĩ rồi nói: – “Chúng tiến quân để có thể chốt chặn đường hành quân của ta, chớ chưa phải chúng biết ta ở đây nên chưa triển khai đội hình chiến đấu”. – “Bây giờ anh tính sao, anh Hai?” – Tư Hội mắt vẫn đang quan sát địch, hỏi. – “Phải đánh thôi! – Trực cau mày nghiến răng nói – Anh Hai Nhường cứ phục yên chỗ cũ, chờ địch đến gần mới đánh. – Trực nhìn Tư Hội – Còn anh Tư, anh dắt anh em vòng ra phía sau chặn đánh khi chúng rút chạy. Sau đó, chúng ta tiến qua Cửa Cạn rút về hướng Ba Trại. Hai anh nhớ chưa?”.


            Bọn giặc đã men theo đường mòn ở sườn núi tiến về phía quân Hai Nhường đang phục kích. Trời bỗng đổ cơn mưa. Rừng núi dưới cơn mưa bỗng trở nên u ám. Bọn giặc do mưa làm đường trơn, chúng phải dò dẫm từng bước để tránh trượt ngã. Hai Nhường núp sau một tảng đá, căng mắt theo dõi địch. Khắp dọc theo triền núi, các nghĩa quân cùng trong tâm trạng căng thẳng chờ địch. Ở một tảng đá khác gần chỗ Hai Nhường, Trực cũng chăm chú theo dõi đội hình tiến quân của địch, mỗi lúc một đến gần trận địa phục kích của nghĩa quân. Khi dáng tên võ quan Pháp đi đầu lọt vào tầm phục kích của nghĩa quân, Hai Nhường nhìn Trực như có ý hỏi đánh được chưa, thì Trực gật đầu. Hai Nhường vọt ra thét lớn: – “Sát!”. Anh vung lưỡi kiếm chém ngọt tên võ quan đi đầu khiến hắn bất ngờ không kịp chống đỡ, ngã vật ra chẳng kịp kêu một tiếng. Nhiều tiếng hô “Sát” tiếp theo của nghĩa quân đã rời chỗ phục kích xông ra chém giết bọn lính, do quá bất ngờ nên không tên nào kịp bắn phát súng. Một tên ma ní nhào vào tảng đá nơi Trực núp, giơ súng lên nổ được một phát súng thì đầu hắn cũng rơi lông lốc sau nhát kiếm của Trực. Chàng vội nhặt lấy khẩu súng trường của hắn trao cho một nghĩa quân gần đó: – “Cầm lấy!”. Rồi Trực lại vung kiếm xông vào trận chiến giáp lá cà đang diễn ra ở phía trước.


            Bọn giặc ở phía sông Cửa Cạn nghe tiếng súng nổ trên triền núi, biết là bọn lính đi trước đã đụng độ với nghĩa quân. Chúng được một tên thiếu úy dẫn đầu hò reo chạy lên dốc để tiếp viện. Bỗng bất ngờ một tiếng hô “Sát!” vang lên, toán nghĩa quân do Tư Hội dẫn đầu từ các bụi cây xông ra đánh xuyên hông. Tên thiếu úy Pháp bị trúng đạn vào đùi, máu ra lênh láng, hắn rên như bò rống, được hai tên lính mã tà – một tên cõng chạy, một tên bắn cản hậu – đưa thoát khỏi trận địa, chạy trở lại phía sông Cửa Cạn. Còn đám lính tiếp viện bị Tư Hội đánh bất ngờ, lớp chết lớp bị thương bỏ chạy trở lại phía sông Cửa Cạn. Nghĩa quân cướp được một số súng đạn chúng bỏ lại không kịp mang theo.


            Ở trận địa nghĩa quân phục kích trên núi. Một nghĩa quân xông vào đá bay khẩu súng trên tay tên lính mã tà khi nó đang định bắn Hai Nhường, rồi ôm vật tên này, bóp cổ nó. Nhưng tên này cũng không vừa, nó cố sức chống lại, ôm chặt lấy anh nghĩa quân, cả hai cùng lăn tròn như cái trục từ triền núi xuống vực sâu hun hút... Gặp sức chiến đấu mãnh liệt của những nghĩa quân “không còn gì để mất”, bọn địch sống sót tháo chạy thục mạng về phía bãi biển Cửa Cạn, nơi có số tàu chiến chở chúng đổ bộ đang nã đại bác yểm trợ cho chúng rút lui...


            Chiếc ghe chở anh em nghĩa quân qua sông Cửa Cạn phía trên vùng rừng núi đã được anh em nhận chìm, quyết không để lọt vào tay giặc. Mưa vẫn tiếp tục không ngớt hạt. Nghĩa quân do Tư Hội dẫn đầu vẫn tiếp tục đi sâu vào rừng núi, hướng về vùng Ba Trại, nơi có địa hình hiểm trở, có thể xây dựng khu căn cứ chống giặc lâu dài...


 


 


            Nghĩa từ sau khi sanh con, trên đường hành quân thiếu thốn đủ mọi thứ, lại thêm mưa gió không ngớt, không có thuốc men nên bệnh mỗi lúc một thêm nặng. Qua sông Cửa Cạn được một đỗi, Nghĩa run lên cầm cập, hơi thở mệt nhọc đứt quãng, khiến hai nghĩa quân khiêng võng hốt hoảng phải dừng lại bên một gốc cây to. Bà Sáu và cô Đỏ vội đun nồi nước sôi và kêu chú bé Tâm: – “Em chạy đi gọi anh Hai nghe!”. Tâm “Dạ” rồi vọt lẹ đi kiếm Trực ở phía trước. Bưng tô cháo nóng, cô Đỏ nói với Nghĩa nằm thiêm thiếp trên chiếc đệm: – “Chị Hai, chị ráng húp chút cháo cho đỡ mệt đi”. Nghĩa mở mắt, đôi mắt lờ đờ đã mất hết sinh khí, nói đứt quãng: – “Chị không nuốt nổi đâu. Chị... chị muốn nói với em... Chắc chị không sống nổi đâu...”. – “Chị đừng nói vậy, em sợ, chị Hai – cô Đỏ nói trong nước mắt – Chị ráng cố gắng... mình cũng sắp tới nơi rồi”. Nghĩa lắc đầu, nhọc mệt: – “Chị biết trong mình chị lắm... Chị muốn nhờ em thay chị đỡ đần lo cho anh Hai... Em hứa đi cho chị an tâm...”. – “Chị Hai, chị ráng cố chịu đựng… Mình cũng sắp tới nơi rồi đó” – Cô Đỏ nói trong nước mắt, nắm tay Nghĩa động viên. Nghĩa ho, rồi nói trong hơi thở đứt quãng: – “Có lẽ số phận chị ông trời không cho chị theo được anh Hai để lo cho ảnh... Ở đây bây giờ chỉ có em... Chị biết anh Hai cũng rất quý em... Em hứa đi... Chị xin em...” – Bàn tay Nghĩa tìm nắm bàn tay cô Đỏ đặt trên ngực mình, phía trái tim. – “Dạ... em xin hứa...”. Cô Đỏ nói bệu bạo nắm chặt bàn tay Nghĩa lúc này đã không còn hơi ấm... – “... Bà Sáu ơi!... – Nghĩa nói và cố nhìn bà Sáu, lúc này bà cũng để hai hàng nước mắt chảy dài trên đôi má đã nhăn nheo: – Con mang ơn bà Sáu nhiều, biết bao giờ con trả được...”. – “Đừng nói vậy cô Hai – Bà Sáu cũng nói trong nước mắt, tuy mới gặp Nghĩa nhưng bà thương Nghĩa như con ruột – Cô ráng chút đi... Cô còn trẻ mà...”. – “... Anh Hai đâu rồi...” – Nghĩa thều thào nói trong hơi thở mệt nhọc. – “Anh đây... Trực đây!” – Trực đã tới kịp trước giờ phút hấp hối của Nghĩa. Nước mắt chàng chảy dài trên đôi gò má sạm đen tóp lại vì vất vả suốt cuộc hành quân. – “Anh Hai... Em có lỗi với anh... với má.... Em không thể đi với anh nữa rồi... Em...” – Nghĩa nói mấy câu sau cùng trong hơi thở đứt quãng... rồi ngưng hẳn. Bàn tay Nghĩa nắm lấy tay Trực rời ra lạnh ngắt, buông xuôi... – “Nghĩa! Nghĩa...” – Trực kêu lên thảng thốt, nghẹn ngào… Chàng gục đầu vào mái tóc xõa ra của Nghĩa và bàn tay chàng run run vuốt nhẹ đôi mắt Nghĩa đã đắm đuối nhìn chàng trong giây phút cuối cuộc đời...


 


 


            Ngôi mộ Nghĩa được đắp bằng đất bên bờ sông Cửa Cạn, có bốn khúc gỗ trai bao quanh để làm dấu. Trời vẫn còn mưa rả rích, với những đám mây đen vần vũ trên trời. Anh em nghĩa quân do Hai Nhường, Tư Hội dẫn đầu, trong đó có Tèo và Sáu Nhỏ, đi vòng qua mộ chào tiễn biệt lần cuối người bạn đời của thủ lãnh nghĩa quân Nguyễn Trung Trực và cũng là một chiến sĩ giao liên nghĩa quân từ Tân An đến Kiên Giang... Người lính nghĩa quân cuối cùng là cai Tèo đi qua mộ Nghĩa chào từ biệt nàng, đã chạy theo kịp đồng đội đi vào rừng lâu rồi mà Trực vẫn đứng dưới mưa chần chờ không muốn rời xa Nghĩa... Bao nhiêu hình ảnh cũ hiện ra trong tâm trí chàng: Đêm đi xem hát bội diễn tuồng “Tiết Giao đoạt ngọc”. Nghĩa cùng chàng bình luận chuyện Tiết Giao trên bờ ruộng. Buổi biểu diễn võ thuật ở sân đình làng có Lãnh binh Trương Định chứng kiến. Nghĩa biểu diễn song kiếm… Nghĩa cùng Mận tiếp tế cho nghĩa quân trận đánh đại đồn Chí Hoà... Nghĩa và chàng quỳ trước ông thầy Sáu nhận lời ủy thác của ông trước lúc ông trút hơi thở cuối cùng. Nghĩa cùng Trực đóng vai cô dâu chú rể trong trận đánh đốt tàu Espérance ở vàm Nhựt Tảo, Tân An. Nghĩa chèo thuyền cho Trực chài tôm cá ở Bình Thuận. Nghĩa cùng chàng đưa bà Hai ra nhà ông Thuyên trị bệnh ở Rạch Giá. Nghĩa quằn quại đau đớn khi sinh con... và cuối cùng là hình ảnh Nghĩa lúc lâm chung.


            – “Anh Hai...” – Tiếng cô Ba Đỏ như kéo Trực trở về với thực tại. Trực nhìn thấy cô Đỏ, bà Sáu đang bế đứa con, chú bé Tâm đang đợi chàng để cùng theo anh em đã đi sâu vào trong rừng trước rồi. Chàng thì thầm nói nhỏ như vừa đủ cho Nghĩa nghe: – “Thôi Nghĩa ở lại. Anh đi đây! Chúng ta rồi sẽ gặp nhau, không lâu đâu em!”. Trời mưa vẫn rả rích. Tuy đã đi xa, Trực vẫn ngoái nhìn lại mộ Nghĩa lần chót trước khi biến vào màu xanh bạt ngàn của rừng núi…


 


 


            Tiếng súng bỗng nổ ran như đánh thức rừng núi đang mơ màng trong cơn mưa rả rích mấy ngày đêm. Đó là hai cánh quân địch, một từ An Thới kéo lên và một từ bãi biển sông Cửa Cạn – sau khi chấn chỉnh, bổ sung đội ngũ sau trận chiến đấu vừa rồi – đã phối hợp truy kích nghĩa quân, lúc này đã vượt lên nguồn sông về phía Ba Trại. Lập tức, có vài tiếng súng của nghĩa quân ở phía rừng đáp trả, khiến quân địch không dám hùng hổ xông lên hướng có tiếng súng, mà dò dẫm tiến từng bước thận trọng… Trời mỗi lúc một u ám vì cơn mưa mỗi lúc một nặng hạt.


 


 


            Đứa bé quấn trong chiếc khăn đã cũ khóc thét trong tay cô Đỏ. Từ lúc sinh ra nó không có sữa bú, chỉ cầm hơi bằng nước cháo loãng do bà Sáu và cô Đỏ đút cho. Trực đỡ lấy thằng bé trong tay cô Đỏ: – “Em đưa nó cho anh, để anh đi tìm coi có ai trong rừng này không, kiếm sữa cho nó...”. Cô Đỏ nước mắt lưng tròng trao đứa bé cho Trực. Tuy không phải là con đẻ ra, nhưng trước hoàn cảnh bi đát này, lòng cô Đỏ cũng đau đớn như Trực. Cô úp mặt vào gốc cây khóc nức nở, hai vai rung lên. Trực bế con đi mà lòng đau như cắt. Càng vào sâu trong rừng càng không có lối đi, chỉ có cỏ cây rậm rạp. Vùng rừng núi này hoang sơ, không một bóng người. Biết kiếm sữa ở đâu cho con bú bây giờ?


            Tiếng súng nổ nghe rất gần, có lẽ bọn địch đã truy kích sát nghĩa quân, khiến Trực phải sớm đi đến quyết định. Chàng không thể ôm con đi tìm sữa, bỏ mặc anh em nghĩa quân đang chiến đấu chống bọn giặc truy đuổi ráo riết. Chợt chàng nhìn thấy phía trái trước mặt một gốc cây to có cái bọng rất lớn. Trực vội cởi chiếc áo ngoài bọc thêm cho con, chàng chỉ còn chiếc áo lót bên trong, để nén bạc vào trong bọc, đặt con vào bọng cây, hy vọng có ai qua đây trông thấy sẽ đưa về nuôi giùm... Nước mắt chảy ròng ròng trên má, chàng lại cúi xuống bế con hôn vào trán nó, nói nghẹn ngào: – “Tha lỗi cho cha, nghe con!”. Tiếng súng bỗng rộ lên rất gần, như thúc giục Trực không thể chần chờ được nữa. Chàng đặt lại bọc con vào bọng cây rồi chạy vụt đi về hướng có tiếng súng, không nghe được tiếng thét gào khóc của đứa bé khát sữa vừa tỉnh giấc trong bọng cây. Và bây giờ ta thấy Trực cùng các nghĩa quân chí cốt, trong đó có Hai Nhường, Tư Hội, xông vào quân địch dũng mãnh như hổ vồ mồi, khiến lũ giặc thất kinh hồn vía, chúng không ngờ đạo quân ốm đói từ khi rút khỏi Dương Đông hầu như chỉ sống bằng bánh tét, bánh ít dân chúng cho và cháo loãng dành cho người đau yếu, lại có thể đánh nhau với sức mạnh ghê gớm như vậy. Riêng Trực, hai nỗi đau thương quá lớn mà chàng phải chịu đựng vừa qua, đã trở thành sức mạnh khủng khiếp khao khát trả thù, lao vào trận đánh, với lưỡi kiếm sắc, chàng tả xung hữu đột chém gục nhiều tên giặc và tên cuối cùng, có lẽ là tên đội mã tà. Tên này cũng có biết chút võ nghệ, hắn vung gươm chém xả vào Trực, nhưng chỉ trong chớp mắt, Trực đã đá bay lưỡi gươm trong tay hắn, và trong lúc hắn thất thế chưa gượng lại được thì Trực đã lia mạnh nhát kiếm vào cổ hắn, tiếp sau là một cú đá mạnh làm hắn bay luôn xuống hẻm núi đầy đá lởm chởm... Bọn giặc hò nhau tháo chạy trong cơn mưa ập đến, chúng ướt như lũ chuột lột, kết thúc cuộc truy kích nghĩa quân... Cuộc sống của nghĩa quân ở vùng rừng núi Ba Trại, thượng nguồn sông Cửa Cạn đã bắt đầu thiếu đói.


            Hầu hết dân Phú Quốc đều bị giặc – theo chủ trương của Huỳnh Tấn – gom về tập trung một chỗ như ở Hàm Ninh, Dương Đông, hoặc vài nơi khác... mà lúc ấy dân ở Phú Quốc đâu có nhiều nhặn gì, mỗi một địa điểm chỉ có vài chục hộ hoặc ít hơn. Cuộc sống của họ như tù nhân, có hàng rào và lính gác chung quanh khiến đồng bào càng thêm căm thù lũ giặc đã phá tan cuộc sống yên lành của họ. Nhiều cuộc xô xát đã diễn ra ở Dương Đông. Như có lần số người xin đi tắm đã bị bọn lính gác chặn lại quát: – “Đã nói có lịnh trên, ba ngày mới được tắm một lần. Nay mới có hai ngày, chưa được. Đi vô!” – Tên lính có bộ mặt rỗ hoa mè giơ súng chặn ngang số người đòi đi tắm, nói. – “Hai ngày trời nóng, người hôi như cú, ai mà chịu nổi!” – Một người dân, đã có tuổi, có để ria mép cá chốt nhìn tên lính với ánh mắt căm ghét, nói. – “Không chịu được cũng ráng chịu! Đây không cho đi là không được đi! Lợi dụng đi tắm để bỏ trốn hả?”. Tên lính cầm súng đẩy mạnh người đàn ông có tuổi, khiến ông té nhào. Cả đám đông gào lên giận dữ: – “Không cho đi tắm còn đánh người nữa, bà con ơi!”. – “Đánh chết mẹ nó đi!”. Lập tức đám đông ào lại. Cuộc đánh nhau dữ dội khiến bọn lính gần đó phải chạy đến tiếp viện. Tiếng súng nổ. Có người trúng đạn ngã gục. Tiếng kêu khóc vang lên cả khu vực tập trung. Tên lính mặt rỗ hoa mè giơ súng lên bắn chỉ thiên cảnh cáo, nhưng đám đông vẫn ào lại. Một người giật được khẩu súng trong tay tên lính, đạp nó té nhào. Nhiều bàn chân giẫm đạp lên tên lính vừa té nhào. Cuộc đánh nhau giữa dân với bọn lính gác mỗi lúc mỗi dữ dội. Bọn lính gần đó phải chạy lại tiếp viện. Có tiếng súng nổ. Có người trúng đạn gục ngã, có người bị thương. Tiếng kêu la inh ỏi cả vùng tập trung.


 


 


            Ở vùng núi Ba Trại. Anh em nghĩa quân phải đi kiếm thực phẩm bằng cách đào bới củ mài, mít rừng hoặc chuối rừng để ăn qua ngày. Có lần đi đào củ ăn, vào một buổi sáng, Sáu Nhỏ với cai Tèo chợt thấy có mấy con trâu hoang đang ăn cỏ trên một sườn đồi gần đó. Sáu Nhỏ giương súng lên toan bắn thì cai Tèo ngăn lại: – “Không được bắn!”. – “Sao vậy anh Hai?” – Sáu Nhỏ ngạc nhiên nhìn Tèo hỏi. – “Bộ chú mày không nhớ lời dặn của anh Hai Trực à?” – Cai Tèo nhìn Sáu Nhỏ nói nghiêm chỉnh. Thấy Sáu Nhỏ lặng thinh có vẻ không nhớ, Tèo nói luôn: – “Anh Hai dặn: Không ai được xâm phạm tài sản của dân. Nếu ai phạm sẽ bị tội chém! Nhớ chưa?”. – “Nhớ rồi! – Sáu Nhỏ bật cười, nụ cười của người biết lỗi – Nhưng không bắn lấy gì ăn? Trâu rừng mà”. – “Phải về báo cáo với anh Hai, không được làm ẩu!” – cai Tèo nói với vẻ mặt của một người từng trải, quen sống có kỷ luật.


            Và bây giờ cai Tèo báo cáo với Trực trong lán chàng ở. – “Sáu Nhỏ với em sáng nay, trong lúc đi đào củ mài có gặp mấy con trâu rừng, vì vùng rừng núi này có ruộng đâu. Thằng Sáu đòi bắn để lấy thịt anh em ăn, nhưng em ngăn lại, nói để về báo cáo với anh Hai cái đã”. – “Ngoài đảo này làm gì có trâu rừng? – Trực nhìn cai Tèo mỉm cười – Chắc là của ai nuôi đó, không được giết ẩu”. – “Nhưng mà anh em đói quá anh Hai!” – Tèo nói giọng đau khổ. – “Đói cũng phải ráng chịu. Không được làm gì hại đến tài sản của dân. Chú nhớ lịnh cấm chưa?” – Trực nhìn cai Tèo với ánh mắt tình cảm, nhưng nghiêm túc. – “Dạ nhớ. Vì vậy em mới chạy về xin ý kiến anh Hai đây” – Cai Tèo nói với vẻ mặt còn đau khổ. – “Vậy thì tốt – Trực cười – Để chờ anh hỏi coi chủ là ai, mình xin hoặc mua của họ, chớ không được làm ẩu. Nhớ chưa?”. Vừa lúc đó, Hai Nhường đến. Chỉ có một thời gian ngắn mà trông thấy Hai Nhường gầy ốm râu ria không cạo, già trước tuổi so với hồi mới ra đảo. – “Nhân có Hai Nhường đây, tôi muốn hỏi anh – Trực nhìn Hai Nhường mỉm cười – Chú Tèo với Sáu Nhỏ sáng nay đi đào củ mài trong rừng đã gặp mấy con trâu không biết của ai, Sáu Nhỏ muốn giết để lấy thịt cho anh em ăn, nhưng Tèo ngăn lại, nói để về xin ý kiến tôi. Tôi chưa đồng ý, vì biết đâu trâu có chủ ở vùng này, giết trâu mà không có người chủ đồng ý là xâm phạm tài sản của dân. Anh có biết chuyện trâu này của ai không?”. – “Hồi mới ra đây, lúc ở Hàm Ninh – Hai Nhường nhìn Trực mỉm cười – tôi có nghe dân nói. Hồi xưa có bà tên là Kim Giao, người Khơ Me ở đất liền ra đây khẩn hoang có đem theo bầy trâu. Nhưng việc khẩn hoang của bà không thành công, khi sắp qua đời bà có họp gia đình và những người đi theo bà, chia tài sản cho họ, khuyến khích họ ở lại đảo nếu không làm ruộng nữa thì sau khi bà mất nên thả hết đàn trâu... Họ nghe theo, thả hết trâu và nhiều năm nay không ai chăm sóc nên trở thành trâu hoang trong rừng”. – “Nếu đúng vậy thì có thể giết được, nhưng nên cúng vái đàng hoàng xin phép, chớ đừng làm ẩu mà đắc tội với người xưa – Trực nói – Thôi, Tèo đi đi”. Cai Tèo được Trực cho phép rất phấn khởi, vội chào Trực và Hai Nhường chạy vội đi gọi thêm anh em đi săn trâu hoang.


            Còn lại Trực và Hai Nhường. – “Anh Hai à! – Hai Nhường nói, vẻ mặt rất buồn – Tên phản bội Huỳnh Tấn có gởi thơ cho anh đây”. Trực ngạc nhiên nhìn Hai Nhường: – “Sao anh có thơ này?”. – “Ngày hôm qua – Hai Nhường nói – anh em mình đi kiếm lương thực, bắt gặp một ông già mang thơ này nói, do Lãnh binh Tấn biểu đưa thơ cho ông Trực. Anh em không dám đưa ổng vô đây để giữ bí mật căn cứ, chỉ nhận thơ nầy rồi cho ổng về”. Hai Nhường đưa phong bì cho Trực. Trực cầm thư và nói: – “Anh em làm vậy là rất tốt. Đâu, để coi tên phản bội này nói cái gì?” – Chàng xé thư ra đọc. Nét mặt chàng cau lại, khi đọc xong thư đưa cho Hai Nhường: – “Anh đọc đi”. Hai Nhường cầm thư đọc: – “Kính gởi anh Hai Lịch. Tôi với anh là bạn đồng môn, đồng đội ngày xưa. Nay tình thế đổi thay mỗi người một con đường, nhưng lòng kính trọng anh vẫn không thay đổi. Người Phú-lang-sa vốn biết trọng nhân tài. Họ lại có quân đội hùng mạnh, võ khí tối tân. Cả triều đình còn phải dâng đất cầu hoà, mà chưa chắc đã yên thân với họ. Còn anh, ngày nay thế mỏng lực tàn, co cụm vào chốn thâm sơn cùng cốc trên hòn đảo hoang vu này, làm sao chống đỡ họ được? Tôi khuyên anh hãy giải giáp quy hàng, chắc chắn người Phú-lang-sa sẽ trọng dụng anh. Người xưa có nói: “Chim khôn tìm cây lành mà đậu, người khôn tìm chúa tốt mà thờ”. Nếu anh quy hàng thì người Phú-lang-sa sẽ rút quân khỏi đảo, trả lại tự do cho dân đảo làm ăn. Còn nếu anh khăng khăng giữ mối ngu trung với lũ triều đình hủ bại mà không nghe lời tôi, thì chẳng những thân danh bị hủy hoại mà dân chúng đảo này cũng sẽ bị xoá sổ không còn. Riêng đối với bác Hai – người mà tôi rất kính trọng – nay đang cảnh cá chậu chim lồng trong tay người Phú-lang-sa, số phận của bà là chính do anh định đoạt đó. Thư bất tận ngôn”, mấy lời tâm huyết của tình xưa nghĩa cũ, mong chờ sự phúc đáp của anh...


Huỳnh Tấn.”


            Hai Nhường đọc xong thư đưa trả lại cho Trực rồi hỏi: – “Ý anh thế nào với lời lẽ của tên phản bội này?”. – “Có những điều hắn nói buộc tôi phải suy nghĩ kỹ rồi trao đổi với anh sau”– Trực nói rồi đứng dậy đi ra ngoài. Chàng đến một tảng đá lớn, ngồi nhìn ra xa. Một vùng đồi núi xanh trập trùng hiện ra trước mắt Trực. Số phận hàng trăm đồng bào bị tập trung một chỗ chịu mưa nắng, đánh đập, hàng chục nghĩa quân sống cơ cực đè nặng tâm trí Trực. Rồi hình ảnh người mẹ mà chàng hết sức yêu quý đang bị giam cầm trong ngục thất... Tất cả, tất cả đang đòi hỏi Trực phải sớm đi đến một quyết định dứt khoát.


 


 


            Trong phòng thuyền trưởng tàu chiến giặc thả neo trên biển, Lãnh binh Tấn chăm chú đọc thư của Trực gởi hắn. – “Tôi đồng ý nộp mình cho người Phú-lang-sa, nhưng với điều kiện: Một là, các người phải thả hết dân trên đảo mà các người đã giam họ một chỗ, đánh đập, tra tấn họ lâu nay, cho họ trở về nhà làm ăn sanh sống bình thường. Hai là, các người không được trả thù những nghĩa quân đã vì đại nghĩa theo tôi ra đảo, họ không có tội tình gì, để họ trở về nguyên quán sum họp gia đình kiến cơ lập nghiệp như bao dân chúng khác. Ba là, phải thả mẹ tôi ngay tức khắc, không ràng buộc điều kiện gì hết. Ba yêu cầu kể trên, nếu không được chấp nhận toàn bộ thì tôi quyết chiến đấu đến người cuối cùng trên đảo, chống lại sự xâm lược dã man của các người...”.


            Tấn nói với thiếu tá Rivière đang ngồi trong phòng với hắn: – “Đó là nội dung thơ của Trực gởi cho tôi, ý thiếu tá thế nào?”. – “Tốt quá đi chứ – Rivière mỉm cười – Ông có nhớ Soái phủ Sài Gòn có chỉ thị cho chúng ta là dùng mọi biện pháp miễn là diệt được Trực, còn sống hay đã chết. Đó là mục đích chính của cuộc hành quân này. Nay hắn chịu nộp mình thì coi như cuộc hành quân đã đạt được mục đích. Ông hãy viết thư trả lời hắn đi: ba điều kiện hắn nêu, quân đội Pháp chấp nhận tất cả. Chúng ta có thể uống rượu mừng được rồi đó! Lính đâu? Mang champagne ra đây!”. Tên lính Pháp bưng khay rượu ra, khui chai sâm banh nổ “bốp” một cái, rót đầy hai ly rượu rồi lui ra. Rivière giơ ly lên, mặt hắn rạng rỡ: – “Nào, xin chúc mừng thắng lợi cuộc hành quân chúng ta!”. – “Xin chúc mừng thiếu tá!”. Cả hai chạm cốc trong tiếng cười giòn của tên thiếu tá từng bị thua trận tháo chạy ở bãi biển Hàm Ninh…


 


 


            Buổi sáng sớm ở Dương Đông.


            Dân chúng bị giam trước sân đình đang rầu rĩ ủ dột vì phải chịu đựng cảnh đàn áp dã man của bọn giặc, bỗng tiếng loa vang lên làm họ ngơ ngác tưởng như nghe lầm: – “Tất cả dân trên đảo nghe đây! Kể từ thời khắc này sáng nay, theo lịnh của quan lãnh binh các người được trả tự do, trở về làm ăn sanh sống bình thường. Nghiêm cấm mọi hành động chống lại người Phú-lang-sa. Ai vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc! Nghe đây! Nghe đây!”. Tất cả dân lặng yên, sững sờ một chút, như không tin những lời mình vừa nghe, bỗng oà lên vui mừng như ong vỡ tổ, lăng xăng thu dọn mọi thứ rồi ào ra phía cổng đã mở toang hoác, bồng bế gồng gánh toả về các xóm...”. Bọn lính gác chia nhau đi nhổ cọc rào, trạm gác mà lâu nay chúng dựng lên để giam giữ dân...


            Nơi bến ghe thuyền bị bắt lâu nay ở Dương Đông, cũng trong sáng nay, một viên đội đã cho tập họp chủ ghe và thủy thủ một chỗ để nghe lịnh giải toả của Lãnh binh Tấn: – “Theo lịnh của quan lãnh binh, kể từ thời khắc này, các ghe thuyền lâu nay bị tạm giữ ở đây được tự do trở lại làm ăn buôn bán bình thường. Các người nghe rõ chưa?”. Viên đội nói xong nhìn mọi người xem thái độ phản ứng của họ ra sao thì một chủ ghe hỏi: – “Quan lớn đã trả tự do cho tui, vậy còn hàng hoá của tui các quan tính sao?”. Nhiều tiếng người nói tiếp theo: – “Phải đó. Hàng họ bọn tui bị giữ phải trả lại cho bọn tui chớ!”. – “Không được – viên đội nói – Theo lịnh trên, hàng hoá các người chở ra đây nói buôn bán hay tiếp tế cho quân phiến loạn, ai mà biết được? Cho nên hàng hoá coi như bị tịch thâu, không trả lại. Ai thắc mắc thì cứ neo ghe ở đây mà kiện. Ai không thắc mắc thì nhổ neo, nhổ sào mà đi. Các người nghe rõ chưa?” – Viên đội nói xong bỏ đi. Các chủ ghe và đám thủy thủ ở lại bàn tán xôn xao: – “Vậy là nó ăn cướp chớ quan quân gì”. – “Các ông không nhớ “cướp đêm là giặc cướp ngày là quan” ông bà ta đã nói vậy lâu rồi sao?”. – “Bộ chúng nó đã dẹp yên mấy anh em nghĩa quân rồi sao mà trả ghe tụi mình cho buôn bán bình thường?”. – “Tui quyết ở lại kiện lấy hàng của tui!”. – “Thôi đi ông ơi! Coi như “xí cô hồn” đi. Ở lại kiện, ai xử? Không khéo nó bắt giam lại “mất cả chì lẫn chài” đó!” Tiếng ồn ào một lúc rồi các chủ ghe và thủy thủ tản về ghe của mình lo nhổ sào nhổ neo tính chuyện làm ăn chuyến khác gỡ lại những thứ đã mất...


 


 


            Trực nói với cô Ba Đỏ trong lúc hai người ra dòng suối, ngồi bên tảng đá. Trời đã về chiều.


            – “Nghe nói bọn giặc đã thả hết những người bị bắt và trả ghe thuyền lại cho chủ ghe để họ tiếp tục làm ăn... Anh muốn nhân dịp này em tìm cách trở về Rạch Giá coi tin tức má anh thế nào, anh sốt ruột lắm... Em đi nhớ đưa bà Sáu cùng đi nghe”. – “Em đi thì được rồi... nhưng ai sẽ lo chăm sóc cho anh?” – Cô Ba Đỏ nói và nhìn Trực bằng đôi mắt dịu dàng tình cảm. – “Em đừng lo. Mọi chuyện rồi sẽ đâu vào đó hết – Trực cười, nhưng ánh mắt chàng đượm vẻ buồn – Anh em còn khổ hơn mình nhiều... Vậy mà họ vẫn chịu đựng được. Anh cảm thấy mình có lỗi với họ”. – “Anh tự trách mình vậy, theo em, là không được. Chính tại bọn giặc nên mình mới khổ, chớ đâu phải tại anh”. – “Đành vậy! – Trực thở dài – Nhưng là người chỉ huy chưa lo trọn vẹn cho anh em... để họ phải chịu đựng mọi khó khăn nơi chốn thâm sơn cùng cốc này, anh không thể không thấy trách nhiệm của mình”. – “Anh có tin tức gì về mấy người đi Xiêm mua võ khí không anh?” – cô Đỏ nói lảng sang chuyện khác. – “Chưa có tin tức gì về họ. – Trực lắc đầu – Anh cũng rất lo... không biết họ có đến nơi an toàn không... Nhưng bây giờ cũng đã muộn rồi...”. – “Sao lại muộn hả anh?” – cô Đỏ hỏi, nhưng linh tính mách bảo có cái gì đó rất quan trọng sẽ xảy ra nơi Trực. Biết mình lỡ lời, Trực tìm cách chống chế, vì trong thâm tâm Trực không muốn tiết lộ cho cô Đỏ biết ý định nộp mình cho giặc để cứu dân, cứu anh em nghĩa quân trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn nước sôi lửa bỏng này: – “Không, anh muốn nói là... có lẽ anh sẽ đưa anh em trở về đất liền trước khi họ mua võ khí về tới. Còn em, em lo thu xếp rồi lợi dụng tình hình giặc không cấm ghe thuyền ra làm ăn buôn bán với đảo, để về Rạch Giá coi tin tức má anh thế nào càng sớm càng tốt”. – “Dạ, em sẽ đi – cô Đỏ nhìn Trực mà nước mắt lưng tròng – Nhưng em rất lo cho anh...”. – “Anh cám ơn em, cám ơn nhiều lắm em Ba à. Ông bà ta từng nói: “có trải qua hoạn nạn mới hiểu được lòng nhau”. Những ngày về đánh giặc ở đất Kiên Giang – Rạch Giá này, em và chị Hai Điều của em đã giúp cho anh với nghĩa quân nhiều lắm trong chiến công hạ thành Sơn Đá của bọn giặc Tây dương. Tổ quốc và nhơn dân không bao giờ quên công lao của chị em và em đâu. Riêng em từ khi ra đảo đến giờ, anh thọ ơn em nhiều, dầu có chết cũng không quên được!”. – “Anh Hai!” – Cô Đỏ ngả đầu vào lòng Trực, nước mắt ràn rụa.


 


 


            Rivière mỉm cười nói với Tấn trên mũi tàu chiến đậu ở cửa biển Cửa Cạn: – “Ông đã thả dân rồi trả ghe thuyền bị bắt giữ trước khi Trực nộp mình... Liệu ông làm việc này có sớm quá chăng? Nếu như tướng Trực không thực hiện lời hứa thì sao?”. – “Tôi đã từng biết Trực nhiều năm. Đó là con người luôn trọng danh dự. Ông ta sẽ không thất hứa đâu! – Tấn trả lời dứt khoát”. – “Tôi đặt một giả thuyết – Rivière nói – Nếu do một áp lực nào cản trở không cho tướng Trực thực hiện lời hứa chịu nộp mình, thì chúng ta sẽ hành động ra sao để đối phó với tình huống đó?”. – “Thì chúng ta lại phải đành thực hiện những việc chúng ta đã làm vừa rồi – Tấn mỉm cười nói – Người ta không thể chiến đấu với một đạo quân ốm đói, thiếu tá thừa biết điều đó chứ?”. – “Tôi mong chúng ta sớm kết thúc chiến cuộc ở hòn đảo buồn tẻ này. Tôi sắp mãn hạn phục vụ quân đội ở đây. Nếu làm được một cái gì đó có ý nghĩa như dẹp được bọn phiến loạn ở hòn đảo này thì sẽ là món quà kỷ niệm khi tôi trở lại nước Pháp”. Rivière nói trong khi phóng tầm mắt nhìn lên màu xanh bát ngát trên đảo. – “Tôi tin thiếu tá sẽ toại nguyện” – Huỳnh Tấn nói và bắt tay Rivière. Cả hai cùng cười có vẻ đắc chí.


 


 


            Trong khi đó ở Ba Trại, Trực đã tập trung số nghĩa quân ở một bãi cỏ rộng. Trông họ bây giờ không còn được như hồi mới ra đảo. Những ngày mưa gió vật lộn với cái thiếu ăn thường xuyên, khiến họ xơ xác gầy ốm. Có người ôm ngực ho rũ rượi... Cả một đạo quân chỉ còn những ánh mắt chan chứa tình cảm yêu mến đối với người thủ lãnh đang đứng trước họ, sắp nói những gì mà họ chưa đoán được, và sẽ không bao giờ đoán được, bởi nó quá sức tưởng tượng của họ. Đứng trước hàng quân những người cùng vào sanh ra tử với mình từ trận đánh ở Chí Hoà – Gia Định, rồi vàm Nhựt Tảo, Thủ Thừa cho đến hạ thành Sơn Đá và ra đến đảo này còn cùng chàng chống giặc ở Hàm Ninh, Cửa Cạn... lòng Trực bỗng thấy thương họ còn hơn anh em ruột thịt, bởi họ vì lòng yêu nước mà đến với chàng, cùng chiến đấu với chàng suốt mấy năm dài, chịu đựng biết bao nhiêu gian nguy khổ cực, nhưng chưa có một ai trong số họ ngồi đây than van kể khổ, chưa có một ai tỏ ra phản bội chàng... Trực thấy cổ họng mình nghẹn lại, phải mất một lúc chàng mới cố nói lên được điều mà chàng biết nói ra sẽ đau lòng họ biết bao nhiêu... – “Các anh em – giọng Trực trầm hẳn xuống – Tôi sắp nói với anh em một điều mà tôi biết các anh em rất đau lòng, nhưng mong các anh em hiểu cho, tôi còn đau lòng hơn các anh em nhiều lắm. Vợ tôi, con tôi chết là một nỗi đau lớn của tôi, nhưng cũng chưa bằng nỗi đau này...”. Các anh em nghĩa quân nhìn nhau ngơ ngác không hiểu sao hôm nay người chỉ huy thân thương của họ, người không biết sợ cái chết, luôn đi đầu trong các cuộc tấn công giặc, nay lại nói với họ một giọng không giống bất cứ lần họp nào... Cái gì sẽ xảy ra đây? – “Các anh em – giọng Trực như đứt quãng, nặng nhọc – Chắc các anh em đều biết, sau khi tái chiếm Rạch Giá, bọn giặc Tây dương đã treo giải thưởng năm ngàn quan tiền cho ai bắt hoặc giết được Nguyễn Trung Trực. Rồi khi ra đảo Phú Quốc này, lũ giặc cũng truyền rao giải thưởng như vậy. Tôi rất cám ơn dân chúng Rạch Giá và Phú Quốc đã thương và bảo vệ tôi, không ai nỡ tham tiền mà làm cái việc ô nhục đó. Tôi cũng cám ơn anh em đã cùng tôi chiến đấu sanh tử với giặc, dầu chịu đựng nhiều gian khổ hiểm nguy, cũng không vì lợi danh của giặc mua chuộc mà phản bội hại tôi. Tình nghĩa đó tôi xin mang theo cho đến tận suối vàng”. Ngừng một lúc, đưa mắt nhìn anh em nghĩa quân ngồi im phăng phắc, nét mặt họ đầy vẻ cảm động trước lời nói chân thành của mình, Trực phải cố gắng nén cảm xúc thương xót đang dâng trào làm chàng cố lắm mới nói tiếp được. – “Các anh em biết rồi đó, không bắt và giết được tôi, lũ giặc Tây dương đã bắt má tôi đem về giam ở Rạch Giá, rồi rêu rao rằng nếu tôi ra hàng thì sẽ thả cho mẹ con sum họp. Nhưng đó là lời của giặc. Còn từ khi chúng ta ra đây, thì bọn giặc đã thi hành mưu kế ác độc là bắt giam dân chúng lại một chỗ, tra tấn đánh đập tàn bạo những ai có liên hệ, có tiếp tế cho nghĩa quân. Cả ghe thuyền ra buôn bán với đảo cũng bị chúng bắt giữ để triệt đường tiếp tế, chúng còn nói rằng chỉ cần bắt được Nguyễn Trung Trực, thì chúng sẽ thả đồng bào bị tập trung về làm ăn sanh sống bình thường...”. Ngừng một lúc, Trực nói tiếp, giọng chàng rất đau khổ: – “Các anh em. Như vậy, chỉ vì một mình Nguyễn Trung Trực nầy mà làm cho nhiều người dân trên đảo phải đau khổ, chết chóc. Anh em có người đã theo tôi từ lúc phất cờ chống giặc ở Sài Gòn, Vàm Cỏ, Tân An, có người từ Rạch Giá tới... Chúng ta đã làm hết sức mình để cứu dân cứu nước. Nhưng có lẽ nước Nam đang hồi vận bĩ, mọi cố gắng chúng ta đều không vượt qua số trời đã định. Cho nên hôm nay, qua nhiều đêm suy nghĩ mọi lẽ, giặc chỉ muốn bắt tôi thôi, tôi quyết định sẽ nộp mình cho giặc để cứu dân, cứu anh em mình. Các anh em, giặc đã cam kết không trả thù, sẽ trở về sum họp gia đình, tìm phương kế làm ăn, chờ đợi thời cơ. Trước sau gì lũ giặc Tây dương cũng bị dân ta đánh đuổi ra khỏi nước Nam! Anh em hãy nhớ lời tôi nói”. Trực vừa dứt lời thì tất cả nghĩa quân oà lên khóc nức nở. Nhiều tiếng nói: – “Anh Hai ơi! Đừng đi. Anh em mình sống chết có nhau”. – “Thà đánh tới người cuối cùng rồi cùng chết với nhau, anh Hai ơi!”. – “Anh Hai hãy giết em đi, rồi đi nộp mình cho giặc”. Một nghĩa quân nhào tới ôm chân Trực nói trong tiếng khóc. Hai Nhường, Tư Hội hoàn toàn bất ngờ trước quyết định của Trực. Nhưng họ rất hiểu con người Trực một khi đã quyết định điều gì đều không nghĩ tới cá nhân mình, mà vì quyền lợi của dân chúng, của anh em nghĩa quân. Hai Nhường bước tới gỡ tay anh nghĩa quân rồi nói: – “Chúng ta đừng làm anh Hai phiền lòng trong lúc này” – rồi Hai Nhường nói với Trực – “Chúng tôi sẽ làm gì khi anh đi rồi?”. – “Anh hãy lo cho anh em trở về sum họp gia đình, còn ai muốn ở lại đây thì cũng thu xếp cho anh em”. – “Tôi không còn ai, tôi sẽ ở lại đây. – Tư Hội nói rồi ôm Trực – Anh cứ yên tâm mà đi. Anh em mình rồi sẽ gặp nhau mà!”. Hai Nhường cũng ôm Trực, nước mắt lưng tròng: – “Anh em sẽ không bao giờ quên anh. Đất nước, nhơn dân cũng không quên anh, anh Hai”. – “Thề có trời đất, lòng Trực này bao giờ cũng ở bên cạnh anh em. Vĩnh biệt! Tâm, đi theo anh!”. Trực nói xong quay đi để giấu hai giọt nước đã chảy dài trên má của chàng. Chàng không nhìn thấy cảnh tất cả nghĩa quân đều qùy xuống lạy tiễn đưa chàng. Chú bé Tâm nước mắt ròng ròng vội chạy theo Trực đi xuống hướng biển...


            Trực đứng cúi đầu hồi lâu trước nấm mộ của Nghĩa, đất mới đắp nhưng bị mưa nhiều nên có chỗ bị sạt lở một chút. Chàng dùng tay lấy đất đắp lại chỗ bị sạt, cắm lên đó một nhánh hoa rừng mà hồi đi xuống đây chàng đã hái ven rừng. – “Anh đến thăm em lần cuối đây Nghĩa à. Không bao lâu nữa chúng ta sẽ gặp nhau. Bây giờ anh đi đây”. Chú bé Tâm tự nãy giờ đứng lặng yên. Trên khuôn mặt còn non nhưng đã sạm nắng hơi hóp má vì thiếu ăn, đôi hàng nước mắt chảy lặng lẽ khi thấy tình cảm của Trực đối với người bạn đời của mình trước khi đi nộp mình cho giặc.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »