tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30445396
Tiểu thuyết
21.11.2019
Khái Hưng
Tiêu sơn tráng sĩ


CHƯƠNG 20: VUA CHIÊU THỐNG


Tuyệt phẩm tiên hiệp - Đạo Quân


Năm hôm sau, bốn người đến Lạng Sơn và theo Phạm Thái đi thẳng đến Kỳ


 


Lừa thăm sư cự chùa Tam Thanh. Sư cụ đạo hiệu Phổ Mịch thiền sư là bạn đồng


 


chí của Phạm Thái và là một đảng viên trong đảng Tiêu Sơn.


 


Hàn huyên dăm câu rồi hai người hỏi nhau đến việc đảng. VÔ tình không biết


 


có hoàng phi đứng trước mặt Phổ Mịch buột miệng nói:


 


- Về vùng trấn Bắc như thế cũng có thể hy vọng lắm. Còn Ở đây, từ khi cái tin


 


Hoàng đế thăng hà đưa về nươc các bật sĩ phu xem chừng đều có ý chán nản...


 


Thiền sư bỗng ngừng bặt vì thấy Phổ Chiêu ra hiệu bảo im ngay. Nhưng đã


 


quá chậm rồi. Hoàng phi nấc lên một tiếng rồi ngã vật xuống đất. Nhị Nương vội


 


nâng dậy đật lên giường và gọi mãi mới tỉnh. Thấy bà khóc thảm thiết và luôn


 


miệng kêu "Bệ hạ", Phạm Thái lại gần khẽ nói:


 


- Tâu lệnh bà nên bình tĩnh.


 


- Ta cần gì. Ta cố sống đến ngày nay là chỉ vì hy vọng mai sau được gặp mặt


 


Hoàng thượng. Nhưng nay Hoàng thượng thăng hà rồi, thì ta chỉ còn một thác mà


thôi.


 


- Tâu lệnh bà, lệnh bà dạy thế sao được? Vì nào chỉ có một mình Thánh


 


thượng? Còn thái hậu, vâng còn Quốc mẫu, sau này ai người phụng dưỡng ngài?


 


Và xin lệnh bà tha tội cho, Hoàng thượng mất tuy là một sự đau đớn. Vì Hoàng


 


thượng mất còn tìm được người trong hoàng tộc kế vị, chứ giang sơn mất vào tay


 


người khác, mới là mất hẳn. Vậy xin lệnh bà tĩnh tâm cho, đừng làm náo động


 


lòng thần dân. Nhất lại Ở chốn biên thành này, binh lính cùng thám tử của ngụy


 


triều đông như kiến cỏ, nay lệnh bà khóc lóc ầm ỹ, nhỡ đến tai bọn họ, thì không


 


những một mình lệnh bà bị khổ nhục, mà đảng trung thần phục quốc cũng đều vì


 


lệnh bà mà phải ly tán mất. Xin lệnh bà nghĩ kỹ mà lượng xét cho.


 


Hoàng phi lau nước mắt ôn tồn đáp lại:


 


- Đạ tạ thiền sư, không có lời dạy bảo của thiền sư thì suýt nữa tôi đã làm lỡ cả


 


việc lớn


 


Bà liền cố gượng khuây nói chuyện với Phổ Mịch, cốt để hỏi về mọi sự đã xảy


 


ra Ở bên Tàu. Phổ Mịch sợ hãi khép nép:


 


- Tâu lệnh bà, vì lệnh bà cải trang, bần tăng không biết, đã xúc phạm tới lệnh


 


bà.


 


- Điều ấy không hề gì. Vả từ nay tôi thực đã trở nên một người tu hành, một


 


nhà chân tu. Vậy xin sư cụ cứ gọi tôi là Phổ Bác cho tiện.


 


Dùng thiền trà xong, hoàng phi cố nài Phổ Mịch thuật lại cho biết tình cảnh


 


bọn bầy tôi tòng vong Ở nước người sau khi Hoàng thượng thăng hà. Phổ Mịch


 


nói:


 


- Điều ấy, bần tăng không được tường. Nghe đâu vua Càn Long đày mỗi người


 


Ở một nơi...


 


Hoàng phi thương hại phàn nàn:


 


- Trời ơi? Sao lại còn bị đày nữa? Tội tình gì mà bị đày như thế?


 


- HỌ bị đày ngay khi còn sinh thời Tiên đế, vì vua Càn Long không muốn bọn


 


họ được gần đấng Tiên đế, sợ họ thúc giục Tiên đế xin quân đem về nước lo sự


 


phục hưng.


 


Hoàng phi thốt ra một câu mắng nhiếc:


 


- Quân khốn nạn?... Vậy thế thì ta không còn mong gì nhà Thanh giúp binh


 


nữa đấy.


 


Phạm Thái đáp:


 


- Tâu lệnh bà, ta cũng chăng nên mong cậy gì Ở họ. Trước kia họ cho Tôn Sĩ


 


Nghị mang quân sang ta, tuy miệng nói là cứu giúp, nhưng kỳ thực chỉ cốt chiếm


 


cứ nước Nam mà thôi. Nhà Minh xưa giúp nhà Trần, cái gương xâm lược ấy ta đã


 


quên rồi sao?... Chỉ nên trông vào sức mình là hơn cả...


 


Phổ Mịch nói tiếp:


 


- Tâu lệnh bà, Phổ Chiêu thiền sư nói rất phải. HỌ chẳng nhân nghĩa gì đâu. Cứ


 


xem cách tàn nhẫn họ xử với một ông vua mất nước với đám bầy tôi tòng vong


 


cũng đủ rõ tâm địa họ không ra gì. Ai đời thủa một ông vua láng giềng gặp bước


 


loạn ly lánh sang nhờ vả mình, mà coi người ta không bằng một viên thượng thư?


 


Bần tăng nghe Trần Thiện mo hắn phong cho Tiên đế chức tả lĩnh, ban cho áo mũ


 


quan tam phẩm. Cái tin ấy làm bần tăng thâm ruột tím gan. Vua mình nó còn


 


khinh thường như thế không trách các quan đi hộ giá, nó đày mỗi người một nơi...


 


Việc này chỉ tại thằng Kim Giản xui nên cả. Tâu lệnh bà, chẳng ai ngu như bọn Lê


 


Quỳnh, Phạm Như Hùng, Hoàng Tịch Hiếu không biết cư xử cho phải đường.


 


Thấy nó lãnh đạm với mình thì mình phải hiểu chứ, ai lại để Thánh thượng đi lại


 


cầu cạnh mãi rồi ra quỳ bên đường dâng biểu lên vua Thanh xin binh, nhất lại nhờ


 


tên đô thống Kim Giản đưa vào hầu. Thầy trò chúng nó đã bàn định cùng nhau rồi.


 


Chúng nó sợ bọn Tây Sơn như sợ cọp, còn dám ho he gì nữa mà mong ngóng


 


chúng nó cứu giúp? Vua Thanh có cho thằng Kim Giản ra dỗ ngon dỗ ngọt, đánh


 


lừa tam tứ phen, nào là chỉ cho đất Thâm Châu, nào là sắp phong làm quốc vương


 


Ở đất Tuyên Quang. Chỉ thương hại Nguyễn Văn Quyên vì lòng trung quân mà bị


 


bọn chó má nó ném chết Ở trong vườn Viên Minh.


 


Hoàng phi rơm rớm nước mắt hỏi lại:


 


- Chắc cao tăng biết nhiều về mọi việc Ở bên nước láng giềng. Vậy dám xin


 


cao tăng làm ơn thuật lại cho nghe.


 


- Tâu lệnh bà, bần tăng quả mắt không trông thấy, nhưng tai được nghe Trần


 


Thiện kể lại. Câu truyện đau lòng lắm, thiết tưởng lệnh bà chẳng nên biết làm gì


 


thêm khó chịu. Chẳng qua nhà Lê ta đến vận suy, nên tình cảnh vua tôi sinh ra như


 


thế


 


Hoàng phi cố giữ nét mặt thản nhiên:


 


- Xin cao tăng cứ cho biết.


 


Nhị nương cũng nói:


 


- Việc đã xảy ra thì có can hệ gì. Đối với người đeo đuổi việc lớn, chỉ có việc


 


hiện tại với tương lai là đáng kể. Vậy xin cao tăng cứ thuật lại hầu lệnh bà nghe rõ


 


đầu đuôi


 


Phổ Mịch ngồi ngẫm nghĩ một lát, như để sưu tầm mọi điều trong trí nhớ, rồi


 


kể rằng :


 


- Hồi cuối năm ngoái, một hôm bần tăng đi tới cửa động Tam Thanh, bỗng gặp


 


một người hành khất, quần áo rách rưới, dườing như đứng chờ ai. Người ấy vái


 


chào bần tăng, thì thầm xưng tên là Trần Thiện. Bần tăng giất mình, vì hôm tiễn


 


thánh giá vượt biên giới sang Tàu, chính mắt bần tăng trông thấy trong bầy tôi có


 


ông Trần Thiện. Ngày nay ông ta về nước, chắc có sự biến cố chi đây. Bần tăng


 


liền thắp đuốc mời Trần quân vào chơi trong động nói chuyện. Thì ra Trần quân


 


trá hình kẻ hành khất trèo non, vượt suối về nước chỉ để báo tin cho thần dân biết


 


rằng Hoàng thượng đã thăng hà, và đã lập Duy Khang kế nghiệp.


 


Hoàng Phi ngơ ngác hỏi:


 


- Duy Khang là ai vậy?


 


- Tâu lệnh bà, là Lê duy Vượng, con nuôi của đấng Tiên đế.


 


Hoàng phi có vẻ lo sợ:


 


- Thế hoàng tử?


 


- Hoàng tử...


 


Phổ Mịch ngần ngại đưa mắt nhìn Phạm Thái, Nhị Nương trù trừ đáp:


 


- Tâu lệnh bà, Hoàng tử lên đậu đã qua đời.


 


Nhị Nương kinh hãi nhìn hoàng phi, chắc thế ngào nghe tin thái tử mất, bà


 


cũng chết ngất đi. Nhưng không, bà vẫn giữ thản nhiên.


 


CÓ lẽ sự thống khổ đã đến cực điểm làm cho bà nghẹn ngào không khóc được


 


lên tiếng. Hay lòng căm tức vua tôi nước Tàu lấn át cả sự thống khổ? Cặp mắt mơ


 


mộng xa xăm, bà ngây người, nhắc đi nhắc lại:


 


- Lên đậu? ... Hoàng tử lên đậu? Lên đậu? Mất rồi?


 


- Tâu lệnh bà, có lẽ phần bực tức bị người Tàu khinh mạn, phần buồn phiền vì


 


hoàng tử qua đời. Nên Hoàng thượng mắc bệnh nặng ngay, rồi qua năm sau, năm


 


Quí sửu, Ngài thăng hà.


 


Cặp mắt Hoàng phi vẫn mơ mộng xa xăm:


 


- Ngài thăng hà? Ngài thăng hà?


 


- Vâng, Ngài thăng hà đã được hơn bốn năm nay.


 


Hoàng phi rùng mình như có cơn gió lạnh thổi qua tâm hồn. Nhưng bà cố định


 


thần mà hỏi rằng:


 


- Trần Quân có thuật cho cao tăng nghe cái giờ lâm chung của bệ hạ không?


 


- Tâu lệnh bà, Trần quân thuật rất tường tận.


 


"Hôm ấy, Thánh thượng biết rằng sắp qua đời, liền gọi bảo Như Tùng. Lê duy


 


Vượng đi nấu nước thơm để Ngài tắm. Khi đã lau mình mẩy sạch sẽ, Ngài truyền


 


lấy triều phục mặc vào cho Ngài rồi ngài nằm thẳng trên giường, quay mặt về phía


 


Nam, miệng lẩm bẩm khấn khứa rất lâu. Hai người tôi - Trần Thiện với Như Tùng


 


- quỳ Ở một bên giường, trong lòng lo sợ, đau đớn...


 


Nhị nương hỏi:


 


- Bạch cụ, còn ai nữa không, hay chỉ có hai người ấy?


 


- Chỉ có hai người ấy, Những người khác đã bị đày cả đi các nơi. Hoàng ích


 


Hiểu bị đày ra Y lệ, Lê Hân ra Phụng Thiên, Quốc Đống ra Cát Lâm, Việt Triệu,


 


Văn Chương ra Nhiệt Hà.


 


Hoàng phi thở dài nguyền rủa:


 


- Cha đời quân Mãn Thanh? Thế rồi sao nữa, bạch cụ?


 


- Tâu lệnh bà. Thánh thượng vẫn tỉnh lắm. Ngài bảo Trần Thiện lấy giấy bút


 


thảo tờ di chiếu, lập Duy Khang, tức Như Tùng Lê duy Vượng lên kế nghiệp, giữ


 


hương hoả hoàng phả, phụng thờ đức hoàng thái hậu.


 


Đọc xong, Thánh thượng cười chua chát nói tiếp: "Hương hoả của trẫm chắc


 


cũng chẳng còn mấy?"


 


Trong phòng yên lặng, lạnh lẽo. Hai người tôi vẫn quỳ bên giường. Bỗng


 


Thánh thượng nắm lấy tay Trần Thiện mà rằng:


 


- "Các người theo trẫm trên con đường khốn quẫn, cùng trẫm nằm gai, nếm


 


mật mong có ngày lấy lại giang san... Ngờ đâu trẫm gặp phải vẫn nước, vận nhà


 


chẳng ra gì, đến nỗi không giữ nổi được xã tắc, phiêu bạt quê người... Nay trẫm


 


chết là linh hồn trẫm được yên... Trẫm thương các ngươi không biết còn đeo cái


 


khổ, cái nhục đến đời thủa nào.


 


Trần Thiện khóc mà tâu rằng:


 


- "Muôn tâu Thánh thượng, vua tôi có ngờ đâu gặp phải bọn quyền gian đánh


 


lừa như thế này để đến nỗi Thánh thượng âu sầu căm tức là long thể mang đau, Hạ


 


thần xin thề rằng, nếu Bệ hạ có mệnh hệ nào, thì kẻ hạ thần xin tận tâm báo được


 


thù này. . .


 


Hoàng thượng cười và an ủi:


 


- "Thôi, không nên trách người ta làm gì, chỉ nên trách mình mà thôi. Vả ngày


 


nay, vận mệnh nhà Lê ta đã hết, các ngươi dẫu có chống chọi đi nữa có lẽ cũng


 


không ăn thua gì. Ta chỉ ước mong có một điều sau này các người được về nước.


 


Bấy giờ các ngươi mang hài cốt ta về, phụ táng vào sơn lăng liệt thánh, để tỏ bụng


 


ta; các ngươi nên nhớ kỹ điều ấy, cùng là truyền báo cho các quan Ở xa được biết.


 


Trần Thiện, Như Tùng khóc nức nở vâng mệnh.


 


Thánh thượng nằm nghỉ một lát, rồi lại nói:


 


- "Khi trẫm bị quân Tây sơn đuổi, kịp bỏ chạy sang đây, đến cửa Nam quan thì


 


thấy lạc mất hoàng phi. Trong mấy năm nay trẫm hằng lo lắng chẳng biết hoàng


 


phi trốn tránh nơi đâu hay đã bị quân giặc hại mất rồi. Nếu sau này về nước, các


 


ngươi còn có gặp Hoàng phi, thì xin vì trẫm trông coi cho tử tế. Trẫm nhờ Trần


 


Thiện trao cho hoàng phi cái nhẫn này, Hoàng phi đeo Ở tay chắc lại nhớ đến trẫm,


 


mà biết rằng Ở nơi đất khách quê người trẫm không bao giờ quên kẻ chung tình."


 


Phổ Mịch ngừng kể, xin phép đứng dậy mở hòm lấy ra cái nhẫn vàng trổ


 


lưỡng long chầu nguyệt đưa nộp Hoàng phi.


 


- Tâu lệnh bà, cái nhẫn này, Trần Thiện sợ thất lạc đã gửi bần tăng giữ giúp,


 


nay bần tăng xin dâng lên lệnh bà.


 


Hoàng phi ứa nước mắt đỡ lấy vẫt kỷ niệm của người xưa, đeo vào ngón tay


 


mà lẩm bẩm:


 


- Bệ hạ? Bệ hạ?


 


Nhị nương ghé vào tai Hoàng phi nói thầm:


 


- Tâu lệnh bà, cái nhẫn ấy, xin lệnh bà gói lại cất đi, đeo vào tay như thế, sợ có


 


nguy hiểm.


 


Hoàng phi khóc nức nở:


 


- Từ nay ta còn sợ gì nguy hiểm tới thân ta nữa. Ta sống đến nay chỉ mong mỏi


 


có ngày được gặp long nhan, nhưng nay... ta chỉ còn lấy cái thác đền lại ơn tri ngộ


 


của Hoàng thượng.


 


- Thiết tưởng lệnh bà càng nên giữ gìn quý thể để mai sau, khi rước hài cốt


 


Hoàng thượng về nước, còn được nhìn thấy cùng là trông nom việc mai táng trong


 


sơn lăng liệt thánh.


 


Hoàng phi vụt tỉnh ngộ:


 


- Em nói rất phải. Chị đợi đến ngày ấy hãy xuống cửu tuyền hầu Thánh hoàng


 


cũng không muộn.


 


Rồi quay lại hỏi Phổ Mịch:


 


- Hoàng thượng thăng hà vào năm nào, ngày nào, giờ nào, bạch cao tăng?


 


- Tâu lệnh bà, bần tăng đã biên chép cẩn thận. Thánh thượng thăng hà giữa giờ


 


Dần, ngày mười sáu, tháng mười, năm Quý sửu. Ngài thọ hai mươi tám tuổi.


 


Hoàng phi lấy bút chép lại ngày tháng vào một mảnh giấy, gập lại bỏ vào bọc


 


và phàn nàn:


 


- Chẳng biết mấy năm nay, có ai nhớ ngày húy ky Hoàng thượng mà cúng giỗ


 


không?


 


Phổ Mịch đáp:


 


- Tâu lệnh bà, thế nào Ở bên Bắc Quốc, Duy Khang chẳng đèn nhang thờ


 


phụng Tiên đế. Còn như Ở bản sơn môn đây, thì năm năm vẫn nhớ ngày húy, lập


 


đàn cầu nguyện lên vong linh Tiên đế.


 


- Đa tạ cao tăng, cao tăng đừng quên hoàng tử nhé?


 


- Xin vâng... Nhưng bây giờ thì rước lệnh bà xơi lưng cơm chay cho đỡ đói.


 


Liền bảo các chú tiểu sắp cơm, trong khi hoàng phi và Nhị nương ngồi sụt sịt


thì thầm nói chuyện.


CHƯƠNG 21: THANH XUYÊN HẦU


Tuyệt phẩm tiên hiệp - Đạo Quân


Thanh Xuyên hầu, Trương Đăng Thụ là một trang thiếu niên tuấn tú, con quan


 


Kiến Xuyên hầu, người làng Thanh Nê, trấn Sơn Nam.


 


Kiến Xuyên hầu làm thượng thư bộ lễ thời chúa Trịnh Sâm. Khi Sâm mất,


 


Khải và Cán chia ra hai phe đánh cướp nhau ngôi chúa, thì hầu chán nản cáo quan


 


về làng, Trương Đăng Thụ hồi đó đang làm hiệp trấn Lạng Sơn.


 


Kịp khi Tây Sơn dứt nhà Lê, vua Chiêu Thống qua trấn Lạng sang Tàu, Thụ


 


xin hộ giá tòng vong, nhưng vua truyền Ở lại xem xét tình hình trong nước và để


 


sau này làm nội ứng cho quân cứu quốc Ở ngoài đưa vào. Thụ ép lòng nhậm chức


 


cũ, đợi xem Tây Sơn xử trí ra sao. Chàng nghĩ thầm: "Dù có vì thế mà bị hại, thì


 


cũng là một cách báo đền ơn vua".


 


Triều đình Tây Sơn có rõ điều ấy chăng? Chỉ biết rằng vua Quang Trung săn


 


sóc đến bọn bầy tôi nhà Lê một cách tha thiết, chu đáo. Ai đi trốn thì tìm về cho


 


làm quan, ai Ở chức cũ thì cất nhắc lên chức trên, còn những người nào nhất quyết


 


từ chối không chịu nhận quan tước thì đẽ mặc ý về quê an cư lạc nghiệp, không


 


phiền nhiễu tới. ĐÓ chỉ là một chính sách thu phục nhân tâm, có chi lạ.


 


Cũng vì thế mà Trương Đăng Thụ đương Ở chức hiệp trấn được nhắc lên chức


 


trấn thủ. Nhưng ta đừng vội tưởng đó là sự khoan hồng của nhà Tây Sơn. Trong


 


chính giới, không có cai gì người ta làm vì tình cảm hết, Ở đời nay hay Ở đời Tây


 


sơn cũng vậy. Trước kia, Trương Đăng Thụ còn Ở chức hiệp trấn thì tuy dưới


 


quyền quan trấn thủ nhưng bao binh lực chốn biên thuỳ đều Ở trong tay mình. Nay


 


được thăng chức trấn thủ tức là bị tước hết binh lực. Vả viên hiệp trấn mới lại là


 


một tướng thân tín của vua Tây Sơn từ Quảng Nam theo vua ra Bắc, và một số


 


đông binh lính mới lại là người đường trong, trung thành với nhà vua, với triều


 


đình


 


Vậy thì quan trấn thủ Trương Đăng Thụ thực chẳng khác một tên tù giam


 


lỏng, tuy vẫn được quan hiệp trấn và các viên liêu thuộc rất tôn trọng.


 


Trương Đăng Thụ cũng thừa hiểu, nhưng phải vờ trung thành với triều đình


 


mới, dù ngày đêm vẫn lo mưu khởi nghĩa để phục hưng nhà Lê.


 


Một hôm lòng buồn bực, trí chán nản, Thụ đến vãn cảnh chùa Tam thanh, và


 


nhận thấy sư cụ Phổ Mịch là một bậc cựu thần nhà Lê. Hai người liền đem tâm sự


 


ra kể lể. Lúc bấy giờ sư cụ mới bỏ lòng khinh bỉ Thanh Xuyên hầu, vì trước kia


 


vẫn tưởng lầm rằng hầu ham công danh, phú quý, bỏ vua theo giặc.


 


Nghe sư cụ thành thực tạ lỗi, Thanh Xuyên thở dài mà rằng:


 


- Sư cụ, - xin cứ xưng hô như thế cho tiện - sư cụ ngờ oan cho Thụ này, thật


 


chẳng có gì là quá đáng. Thời này, ai đã dễ mà tin hẵn được ai? Bậc trung thần


 


nghĩa sĩ, anh hùng khảng khái thì ít, mà đồ siểm nịnh ham danh vụ lợi thì nhiều.


 


Những hạng siểm nịnh ấy, tôi có trách đâu. Cái chí bình sinh của họ Ở chổ vinh


 


thân phì gia, thì họ cứ việc mà theo cái chí lớn ấy cho kỳ tới mục đích, nào ai cấm


 


đoán, mà nào ai bảo sao... Tôi chỉ trách riên bọn bầy tôi nhà Lê ngoài miệng leo


 


lẻo những chữ trung quân, ái quốc, phò Lê diệt tặc, mà trong lòng chứa đầy sự


 


ham muốn cho mình, cho vợ con mình. Tôi chẳng cần kể tên bọn họ ra đây, vì


 


chính tôi cũng đương Ở một điạ vị vừa khả nghi vừa khó xử... Nhưng sư cụ thử


 


nghĩ xem, lúc phò thánh giá, bọn kia nói những gì khảng khái biết bao? Thế mà


 


bây giờ tôi chỉ biết mấy thằng trong đám nghĩa binh xưa đang dự vào những chức


 


trọng yếu trong triều... Sư cụ đừng ví họ với tôi. Tôi chỉ là một tên tù giam lỏng


 


mà thôi, không có quyền binh gì trong tay. Chứ bọn họ - bọn đồng chí xưa của ta -


 


thì trái hẳn, nay họ chỉ hô một tiếng là đầu chúng ta rụng, họ chỉ vẫy tay một cái là


 


cả một hạt bị tàn phá. Công to của họ đối với triều đình Tây Sơn là đã hoặc dụ


 


hàng, hoặc chém giết hàng trăm hàng nghìn bậc cựu thần nhà Lê. Tôi đây hẳn là


 


cái gai trước mắt bọn họ, họ chỉ chờ dịp bứt đi mà thôi.


 


Phổ Mịch hết lời an ủi Thụ, rồi đem công việc đảng Tiêu Sơn ra bàn. Thanh


 


Xuyên hầu cả mừng mà rằng:


 


- Tôi vẫn nghe đất Kinh Bắc có nhiều bậc anh hùng. Bây giờ mới biết rằng


 


một đảng lớn mới thành lập Ở đấy. Thực là đại phúc cho nhà Lê ta?... Nhưng có


 


phải dư đảng của Nguyễn Đoàn không?


 


- Không, đảng trưởng đảng Tiêu Sơn là Phổ T nh thiền sư. Nhưng mới có cựu


 


quân sư của Nguyễn Đoàn nhập đảng.


 


- Phạm Thái phải không, bạch sư cụ?


 


- Chính Phạm Thái, thế ra ngài biết cũng tường tận lắm nhỉ.


 


Từ hôm đó thỉnh thoảng Trương Đăng Thụ lại đến vãn cảnh động - chàng


 


không ra luôn, sợ gợi lòng nghi ky của viên hiệp trấn. Nhưng sau chàng nghĩ được


 


một diệu kế là vờ ham mê đạo Phật, mua đủ cách thứ kinh về xem, rồi đoạn sách


 


nào không hiểu, lại thân ra chùa Tam Thanh hỏi sư cụ.


 


Viên hiệp trấn thấy vậy chỉ cười, cho trấn thủ là người mê tín đạo Phật và


 


không đáng đề phòng cẩn mật lắm như triều đình đã có lệnh: "Phải, còn có việc gì,


 


chẳng xem kinh Phật thì làm cái gì?" Viên hiệp trấn lấy làm đắc chí, tâu luôn mấy


 


điệp sớ về triều, kể tình trạng sự thay đổi tâm tính của Thanh xuyên hầu.


 


Nhưng trong khi ấy Phổ Mịch và Trương Đăng Thụ vẫn được bình tĩnh cùng


 


nhau bàn quốc sự. Rồi nhờ Phổ Mịch giới thiệu, Thụ xin vào đảng Tiêu Sơn và


 


biên thư xin Phổ Tĩnh phái Phạm Thái lên trấn Lạng để cùng hai người lo toan


việc lớn.


CHƯƠNG 22: TÂM SỰ


Tuyệt phẩm tiên hiệp - Đạo Quân


Bấy giờ vào quá giờ Tý. Dẫy nhà thấp lụp xụp mái lơp ngói kiểu tàu nằm ngủ


 


dưới ánh sáng yên lặng của trăng tà. Gần đấy, về phía tây bắc, mấy quả núi đá Kỳ


 


Lừa lù mù lấp lánh trong sương. Đứng bên bờ sông Kỳ Cùng trông sang, cảnh ấy


 


hiện thành một bức tranh thủy mạc Tàu chấm phá trên nền lụa màu vàng ám khói.


 


Cách xa hẳn dẫy phố, bên con đường nhỏ rẽ vào động Tam Thanh, một toà


 


nhà cao rộng hơn, nhưng cùng làm theo một kiểu kiến trúc. Một bức tường xây


 


bằng đá ong, trên ngọn có cắm mảnh sành vỡ, bao bọc nơi dinh cơ ấy, trông như


 


một cái thành quách nhỏ vậy, tuy xung quanh không có hào. Trong vườn nhô lên


 


những đám lá cây thưa nhặt, thấp thoáng trong trăng, khiến cảnh thâm u lặng lẽ


 


kia bớt vẻ buồn tẻ, lạnh lùng.


 


Đêm đã khuya, thế mà một nhà sư trẻ tuổi còn lần mò đến gõ cổng nơi biệt


 


thự. Sau một hồi chó sủa inh ỏi, có tiếng hỏi Ở phía trong:


 


- Ai? Ai đến khuya thế?


 


- Tôi.


 


- Tôi là ai mới được chứ?


 


- Tôi đây mà? Bần tăng đây mà?


 


Tiếng mắng đuổi chó, tiếng lách cách mở then rồi cánh cổng từ từ hé. Người


 


bên trong cất tiếng run run, se sẽ hỏi:


 


- CÓ phải Phổ Bác thiền sư đấy không?


 


Người đứng ngoài cũng se sẽ trả lời:


 


- Phải.


 


- Trời ơi? Sao đêm hôm khuya khoắc mà lệnh bà lặn lội...


 


Hoàng phi sợ hãi vừa quay đầu nhìn phía sau lưng vừa thì thầm:


 


- Im?


 


- Sao thế, tâu... bạch sư ông?


 


Hoàng phi bước vội vào:


 


- Đóng cổng lại đã. Hình như có bóng người theo sau.


 


Rồi hai người cùng đi vào trong nhà.


 


Độc giả hẳn đoán biết người vừa ra đón tiếp Hoàng Phi là Nhị nương. Nhưng


 


sao Nhị Nương lại đến Ở đây?


 


Nguyên biệt thự này, quan trấn thủ Thanh Xuyên hầu dựng lên đã dăm năm


 


nay, dùng làm nơi nghỉ mát để thỉnh thoảng đến đọc sách, ngâm thơ, di dưỡng tinh


 


thần những khi nhàn hạ, rảnh việc quan. Nhất từ ngày ngài ham khảo cứu đạo


 


Phật, thì ngài càng năng lui tới nơi đó để được cùng sư cụ Tam Thanh thuyết minh


 


nghĩa mầu nhiệm của kinh Phật.


 


Kỳ thực, lập ra lớp riêng, Trương Đăng Thụ chỉ có một mục đích hưng Lê, hội


 


họp anh em đồng chí để bàn việc lớn chống chọi với Tây Sơn.


 


Hai tháng trước Hầu có ngỏ lời nhờ Phổ Mịch thiền sư tìm cho một người tin


 


cẩn thông chữ nghĩa để vừa trông nom nhà, vừa biên chép kinh Phật, cùng văn thơ.


 


Nhân gặp giữa lúc Phạm Thái và Nhị nương phò giá Hoàng phi lên Lạng, sư cụ


 


liền đem Nhị nương ra giới thiệu là một người cháu họ tên gọi Nguyễn Đức Minh.


 


Thế là đương đóng vai phong lưu công tữ, Nhị nương đã đổi ra đóng vai quản


 


gia tại biệt thự quan trấn thủ. Trong khi ấy Phạm Thái Ở lại tạm trụ trì một ngôi


 


chùa gần Tam Thanh và Hoàng phi đến trú Ở chùa Tiên, có đầy tớ tinh cẩn chủa


 


Thanh Xuyên ăn mặc giả làm tiểu Ở trông nam hầu hạ luôn bên mình.


 


Ham nay chừng có điều khẩn thiết hay nguy kịch muốn ngỏ cùng Nhị nương,


 


Hoàng phi bỏ chùa lần tới đây chăng? Chính Nhị nương cũng đoán thế nên vừa


 


vào trong phòng, nàng đã lo sợ thì thầm hỏi:


 


- Tâu lệnh bà, có việc gì quan trọng thế?


 


- Không, chả có việc gì quan trọng cả, nhưng hôm nay không biết sao, chị


 


nóng ruột quá.


 


Nhị nương thở dài:


 


- Lệnh bà làm tôi giật mình kinh hoảng, tưởng đã xảy biến. Mà tôi cũng vậy,


 


tâu lệnh bà, lòng tôi cứ xót như bào, đêm nay không sao nhắm mắt ngủ yên được.


 


Tôi đương một mình tản bộ ngoài vười thì nghe có tiếng lệnh bà gọi cổng.


 


Hoàng phi buồn rầu nói:


 


- Em ạ, từ hôm nghe tin hoàng đế thăng hà, hoàng tử qua đời đến nay, chị sinh


 


ra mê sảng luôn. Động nhắm mắt là lại thấy haòng thượng về đứng bên giường.


 


Có khi muốn tránh những giấc mơ đau lòng, chị đã thức suốt đêm tụng kinh niệm


 


Phật, cầu cho vong linh thánh thượng cùng hoàng tử.


 


Nhị nương nghe Hoàng phi nói, chỉ ngậm ngùi thở dài. Rồi nàng hỏi:


 


- Mấy chén thuốc tôi lấy hầu lệnh bà, lệnh bà đã xơi chưa?


 


- Cám ơn em, chị uống cũng thấy dễ chịu, nhưng sốt ruột thì vẫn còn sốt ruột.


 


Hôm nay vì chị đứng ngồi không yên về nỗi sốt ruột, nên chị phải vội đến thăm


 


em để nói chuyện cho khuây khỏa.


 


Nhị nương chợt nghĩ đến con sông Kỳ Cùng:


 


- Nhưng ai chở thuyền hầu lệnh bà sang ngang?


 


- vẫn có anh lái đò của sư Phổ Mịch đỗ thuyền Ở bến. Chị nói sư cụ cho tìm,


 


nên người ấy vội vàng chở ngay. Nhưng còn em, vì cớ gì mà em cũng băn khoăn


 


không ngủ?


 


- Tâu lệnh bà, tôi cũng không hiểu vì cớ gì mà đêm nay tôi lại nóng ruột quá


 


thế Tôi lo đã xảy ra sự gì bất trắc Ở Tiêu sơn, nên có tâm linh báo cho biết như


 


vậy Tôi muốn một hai hôm nữa về thăm đảng trưởng cùng anh em đồng chí,


 


nhưng lại e lệnh bà Ở đây một mình...


 


Hoàng phi vội đỡ lời:


 


- Nếu em về thì chị cũng về. Chị Ở đây gần Trung quốc là nơi hoàng đế thăng


 


hà, lòng chị đau thương không rứt. Vì thế chị cũng muốn về Bắc để được nhất tâm


 


niệm Phật mà quên đau khổ.


 


Ngừng một lát không thấy Nhị nương đáp lại. Hoàng phi nói tiếp:


 


- Nhưng chị thấy em cũng khổ sở thì chị lại muốn quên nỗi thống thiết của chị


 


đe để an ủi em. Hình như em có điều gì dấu chị?


 


Nhị nương vẫn ngồi im. Bỗng Hoàng phi nghe thấy nàng nức lên một tiếng.


 


Bà vội cầm lấy tay nàng, ôn tồn khuyên bảo:


 


- Chị em ta cùng gặp một cảnh ngỗ, tưởng em chẳng nên giấu chị một điều gì.


 


Đấy em coi, xưa nay có một ý nghĩ gì mà chị không ngõ cho em biết?


 


Nhị nương lặng lẽ để bàn tay trong tay Hoàng phi rồi thong thả nói:


 


- Thưa chị - vì lệnh bà đã cho phép tôi được kêu lệnh bà là chị...


 


Hoàng phi vui vẻ ngắt lời:


 


- Phải, chị muốn em gọi chị là chị, như thế vừa thân vừa kín đáo.


 


- Thưa chị, tâm sự của em, em chưa ngỏ cùng ai. Nhiều khi đêm khuya thanh


 


vắng, gồi một mình em lấy làm tự thẹn về những ý nghĩ bất chính của em. Vì, thưa


 


chị những ý nghĩ ấy thật là bất chính. Em xin cứ thực tình dể hầu chị nghe:


 


"Từ ngày em rời bỏ tỉnh Nghệ, mang tấm thân phiêu bạt đi khắp đó đây, em


 


đã tự thề với em rằng em còn sống một ngày nào, thì đời em, em hoàn toàn hiến


 


cho sự báo thù cha, cho sự trả ơn chúa. Cũng vì thế mà em dấn mình vào nơi nguy


 


hiểm, đi tìm thầy học võ, tìm bạn đồng chí để gây thế lực.


 


"Thế rồi một đêm em gặp Trần Quang Ngọc, cùng nhau lập đảng Tiêu Sơn".


 


Hoàng phi kinh ngạc:


 


- Vậy ra chính em đã cùng Quang Ngọc, sáng lập đảng Tiêu Sơn?


 


- Vâng, sau khi em cùng chàng giết được tên ác tăng tu hành Ở chùa Tiêu Sơn.


 


Rồi một ngày, đảng một thêm đông, một ngày em một thêm mến phục Quang


 


Ngọc, mến vì nết, phục vì tài. Nhưng xin thú thực với chị rằng ngoài sự mến phục


 


ra, không có gì nữa. Quang Ngọc coi em như một đảng viên khác bên nam giới mà


 


thôi, còn em thì mải mê man trong cuộc hành động... em không bao giờ để lòng


 


em...


 


Nhị nương im bặt như lấy làm hổ thẹn về lời thú tội của mình. Hoàng phi thở


 


dài đáp :


 


- Thế thì em đáng thương lắm. Chị hiểu em rồi. Em ạ, chị em mình muốn


 


khảng khái, muốn hiến thân cho việc lớn đến bực nào mặc lòng, cũng chẳng bao


 


giờ thoát khỏi được ra ngoài vòng thường tình nhi nữ. Nhưng em ơi, nặng chữ tình


 


thì có phạm tội gì đâu. Mà theo đuổi việc lớn thì sao lại không được có tình?


 


Nhị nương ngập ngừng:


 


- Nhưng... thưa chị, Quang Ngọc đã mặc áo cà sa.


 


- Không em ạ, Quang Ngọc tuy mình mặc áo cà sa, mà vẫn giữ một linh hồn


 


một trang hiệp sĩ. Sống tạm trong tấm áo kẻ tu hành để làm việc lớn không phải


 


hoàn toàn là kẻ tu hành. Đã không phải là kẻ tu hành, thì em có thể mong được


 


mai sau...


 


Nhị nương bỗng ngồi ngay lại, nói dắn dỏi:


 


- Tạ ơn chị. Không, thưa chị, không bao giờ ta được nhu nhược. Em xin tự xử


 


làm sao cho xứng đáng lòng tin cậy, lòng quý mến của Quang Ngọc, của đảng


 


trưởng. Thưa chị, em nhất định không bao giờ chịu để ngữ "nhi nữ tình trường,


 


anh hùng khí đoản" lại không đúng nghĩa đối với cả những hạng người theo đuổi


việc lớn như Quang Ngọc?


Hoàng phi cảm động khen một câu:


- Em nghĩ rất phải.


(còn tiếp)


Nguồn: Tiêu sơn tráng sĩ . Tiểu thuyết lịch sử của Khái Hưng. In lần đầu năm 1934, các NXB tái bản nhiều lần.


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »