tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30132728
Tiểu thuyết
05.11.2019
Vlastimil Podracký
Sodoma & Gomora


Trên sa mạc


Đoàn lữ hành này nhỏ hơn đáng kể so với đoàn Razim. Ông không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tham gia cùng họ, nếu không sẽ phải đợi hai tháng ở Melk. Sẽ là mùa Đông, các đoàn lữ hành lúc đấy không thể xuất phát. Mặc dù hướng về quê hương ông, nhưng tất nhiên không trực tiếp.


Qua các thung lũng, họ xuống rìa sa mạc cát. Trên cao vẫn còn những cánh đồng cỏ, nhưng xuống thấp dần là những vách đá trơ trụi, bình nguyên đá và cuối cùng là cát. Sau hai ngày họ đến một ốc đảo nhỏ nghỉ đêm. Đó là một thành phố với những bức tường thành, giống như tất cả các nơi khác trong vùng đất này. Họ ngủ lại ở quảng trường. Đoàn lữ hành của họ mang theo dầu, mỡ thơm hiếm và các bình thạch cao tuyết, nhưng đó chỉ là một phần của hàng hóa. Đoàn cũng mang theo bột mì, chà là, ô liu, muối, vàng trang sức và các sản phẩm từ gỗ, cuối cùng là gỗ nguyên, ở một số nơi khan hiếm. Các thương gia thuộc đoàn lữ hành thường mua gì đó ở nơi này rồi bán ra ở nơi khác, vì vậy họ không di chuyển quá nhanh. Khi bị mắc kẹt trong một cái hố nhiều ngày, phải trả tiền ăn, ở, Kesulot lấy làm tiếc nhớ lại cách mà đoàn của Razim du hành nhanh chóng và hiệu quả như thế nào.


Cứ như thế, họ dịch chuyển dần qua sa mạc, Kesulot nhận ra mọi người luôn vượt qua những cú nhích không đáng kể suốt toàn bộ chiều dài của tuyến đường. Đôi khi ngủ trên sa mạc, song chủ yếu trong các ốc đảo, dưới những ngọn núi điệp trùng giống như hàng răng cưa. Dường như Omar, chủ đoàn lữ hành, không muốn bỏ lại bất kỳ địa điểm nào trong số đó, vì vậy họ thường đi lang thang trong hai ngày tới thành phố nào đấy hoàn toàn nằm ngoài tuyến đường chính. Kesulot bực mình và mệt mỏi, tất cả các hang lỗ đó đều giống nhau. Khắp mọi nơi cũng những người đó, cũng bẩn thỉu đó, cũng mùi hôi và lộn xộn, những ngôi nhà làm bằng gạch đất sét và đường phố tràn ngập bụi. Nhưng một cái gì đó thêm vào mà trên cao nguyên không có. Ngoài hiên người già mù lòa ngồi. Cát liên tục trong mắt có nghĩa là người ta sẽ sớm mất đi thị giác. Thỉnh thoảng một cơn gió cát từ sa mạc, bao phủ mọi nơi, sau đó người ta phải quét và chuyển ra trước cổng thành. Cây dừa bám đầy cát, phải rũ bụi bặm từ những chiếc lá để chúng phát triển. Những cây khác mọc ít vì chúng không sẵn sàng đối mặt được với môi trường bất lợi như vậy. Tuy nhiên, rau và một ít lúa mạch đã được trồng, đôi lúc ở đâu đó cây ô liu nào đó thu mình lại. Tất cả phải được tưới nước từ trên cao để loại bỏ bụi khỏi lá. Đó là công việc vô tận – vận chuyển nước trong túi đựng và tưới cành lá...


Một tháng nữa trôi qua, họ vẫn trong sa mạc. Kesulot không thể có được từ Omar một thời hạn ít nhất gần đúng đến được vùng gần Tiểu hải. Ông đã sẵn sàng cả đi bộ, để đến được vùng đất văn minh hơn mà Omar diễn đạt trong phạm vi dăm tháng.


Sau khoảng hai tháng lang thang qua các ốc đảo dưới chân núi, họ dừng chân ở một thị trấn nhỏ cách khá xa những ngọn núi. Tên là Danat. Nói thẳng ra chỉ là một vườn bao bằng đá, không lớn hơn chuồng cho đàn cừu trên đồng cỏ. Những ngôi nhà bên trong được làm bằng đất sét. Một nguồn nước dồi dào trong thung lũng chảy ra và những đoàn lữ hành đường dài cũng dừng lại ở đó. Nhưng Kesulot không may mắn, không có đoàn nào trong thị trấn vào lúc này. Ông đã tự hỏi nếu có thể đợi ở đây và từng thảo luận với Omar và thương gia địa phương Zabad. Nhưng cả hai đều không biết gì. Người ta vẫn đang chờ đợi áp lực chính của các đoàn lữ hành. Kesulot sẽ phải chờ một tháng chẳng hạn và vẫn chưa chắc chắn có đoàn nào sẽ đi theo hướng ông cần. Omar cuối cùng đã thuyết phục ông tiếp tục đi với anh ta. Con đường lúc này đi ngang qua sa mạc không có điểm dừng và trong hai tuần họ phải đến được khu vực khá gần với Tiểu biển, ở đây được gọi là Biển muối.


Zabad thậm chí còn mời Kesulot uống cà phê tại nhà mình. Từ đường phố, nó trông giống như những ngôi nhà khác, nhưng bên trong khá đẹp, cũng có tiền sảnh, được gọi là sân, bởi vì được xây dựng từ tất cả các phía.


Cả hai ngồi trong sân, Zabad muốn Kesulot kể cho anh ta nghe về xứ Gomorrah. Anh đã nghe nói về nó và thậm chí nhiều hơn về xứ Sodom, nhưng chưa bao giờ gặp bất kỳ cư dân nào. Kesulot không muốn xúc phạm anh ta, vì vậy đã không ca ngợi nhiều quê hương của mình và người chị em là Sodom. Ông chỉ nói ở đó có rất nhiều nước và những con đường lát đá, nước chảy qua, làm sạch mọi thứ, những ngôi nhà được làm bằng đá.


Zabad lấy giày và áo dài ra, được cho là từ Sodom và rất rẻ, anh ta đã mua nó từ một thương gia đến từ những vùng đất đó. „Nghe nói ở đó ai cũng có. Tất cả đều đi giày sao?“


" Tất cả thì không, nhưng hầu hết."


"Ngay cả người nghèo?"


"Phần lớn họ có."


Đó là điều đáng ngạc nhiên đối với anh ta, vì đôi giày ở những khu vực này là dấu hiệu của sự giàu có. "Và hình như tất cả phụ nữ đều đeo vòng trang sức. Kể cả người nghèo?"


Anh không nên nghĩ đó là vòng tay vàng. Chúng được làm bằng gỗ hoặc da."


„Đấy cũng là điều rất kỳ lạ. Họ lấy nó ở đâu?"


"Họ kiếm ra tiền..."


"Nhưng làm thế nào?"


Kesulot không biết, sẽ phải nói gì, nhún vai. "Đó sẽ là chuyện giải thích dài dòng..."


"Hãy cho tôi biết chút ít về nó. Ông có thể ngủ lại chỗ chúng tôi, đằng nào đoàn hành hương cũng dời đi sau hai ngày.“


Vì vậy, Kesulot chuyển đến nhà chủ tiếp đãi mình và nói với Omar thông báo cho ông khi nào đoàn tiếp tục lên đường.


Buổi tối tại nhà Zabad, nhắc anh đến những buổi tối ở Gomorrah, chỉ thiếu nước trong đài phun, vì ở đây nước chỉ được chuyển đến từ nguồn khe. Kesulot muốn khoe cho Zabad thấy cuộc sống ở xứ Gomorrah, vì vậy ông yêu cầu chuyển nước vào thùng rồi tắm trong đó. Tiếp đến, ông mặc chiếc áo dài sạch sẽ và cho giặt quần áo. "Thế đấy, đó là cách chúng tôi sống ở xứ Gomorrah," anh mỉm cười nói với Zabad. Nước chảy từ trên các sườn đá, qua thành phố và phần lớn những ngôi nhà, nơi được tích trong các đài phun nước, đôi khi cả trong các bể bơi lớn. Chỉ đơn giản là chúng tôi có nhiều nước.“


Zabad gật đầu. "Ở đây không thể khả thi... Chúng tôi không có nước và phải vận chuyển từ dưới lên."


"Một điều nữa, chúng tôi có các nhà máy xay bột mì," Kesulot nói khi họ ngồi vào bàn trong sân bên dưới những ngọn đuốc ăn chà là. "Điều này đơn giản chỉ là việc đưa nước lên qua máng, quay bánh xe trên đó gắn hòn đá nghiền xay bột."


„Chúng tôi cũng xay bột bằng phiến đá. Nhưng lừa phải đi vòng quanh và kéo theo phiến đá đó."


"Nhưng ở xứ Gomorrah, nước và bánh xe lớn xay bột cho cả thành phố và vẫn còn được bán cho các thành phố khác. Đơn giản chỉ là một bánh xe lớn và một hòn đá lớn. Nước làm mọi việc.“


"Chắc chắn, nước là người trợ giúp trong tất cả mọi việc. Nếu có, có cuộc sống, nếu không sẽ là cái chết. Nhưng nước làm cả những việc khác, ngoài việc đảm bảo cuộc sống, nó cũng làm việc thay cho người và thậm chí cho cả lừa. Đó là điều mới mẻ đối với chúng tôi.“ Dễ nhận thấy, Zabad thông minh và hiểu biết câu chuyện.


Kesulot cảm thấy lạnh trong chiếc áo dài, quần áo ấm của ông vẫn chưa khô. Zabad mang cho ông cái chăn để quấn vào người.


"Và đó là việc tiếp theo," Kesulot tiếp tục. „Ở đó không lạnh, trời luôn ấm. Không oi bức vào mùa Hè, như tôi đã biết trên đường đi, không có giá buốt vào Đông, cũng không lạnh nhiều trong đêm, ban ngày gió mát thổi từ biển làm mát mặt mày.“


"Lại là nước", Zabad hiểu chính xác câu chuyện. „Đơn giản biển làm mát. Ngoài ra các anh sống ở những vùng ấm áp và biển ấm áp... Chỉ nước, nước và nước... Nhưng đây không phải là câu trả lời cho câu hỏi tại sao người nghèo ở đó không nghèo...“


"Chúng tôi không cần quần áo ấm như vậy", Kesulot đáp, để nói ra được điều gì đó, bởi vì ông không biết cách trả lời câu hỏi thế nào.


"Có lẽ thế không được," Zabad đăm chiêu, nói.


Kesulot không biết trả lời đơn giản như thế nào. Ông sẽ phải giải thích phong trào công dân chống lại nhà vua, nhưng điều đó thật nực cười, những người này cũng không có các vị vua và về cơ bản đã bỏ phiếu trong các Hội đồng, hoặc bị cai trị bởi các thương nhân giàu có và ấn định hành vi những người phụ thuộc. Ông hiểu rằng cuộc đảo chính đầu tiên ở Sodom và Gomorrah chống lại nhà vua không có gì là trần tục, là hoàn toàn bình thường trong thế giới này. Không chỉ một lần ông không biết sẽ trả lời gì. Ông hiểu sự khác biệt, một mặt, đó là điều kiện tự nhiên thuận tiện mang lại sự sang giàu hơn, có lẽ đó là phong trào công dân của "Những đứa trẻ hoa", nhưng bản thân ông không tin tưởng. Sự cường thịnh hình thành sớm hơn. Ông không thể giải thích được. Đành im lặng.


Zabad cho rằng, ông ta che giấu điều gì đó. Thực sự, anh mời ông ta đến nhà để học hỏi, hiểu biết! Thật không tốt khi vị khách che giấu điều gì đó. Anh nói hơi gay gắt: "Chắc các anh có mỏ vàng? Hay cái gì đó sao?“


„Vàng chúng tôi không có, chỉ có ít thôi. Đó là hàng hiếm... Nhưng hàng hóa được sản xuất tại các nhà máy, trong các kho lớn... Công nhân làm việc cả ngày.“


"Chẳng nhẽ ông nghĩ ở đây mọi người không làm việc... cả ngày."


Kesulot nhận ra một cái gì đó, một sự khác biệt khác nữa. Không biết nó liên quan thế nào, ông nhớ đến vị vua được khắc trên Cổng Tlapo. Đó không phải là vua, Ngài là Chúa trời. Vì vậy, ông hỏi: "Các anh có tin vào Chúa trời?"


"Có chứ, chẳng nhẽ các ông không?"


"Chúng tôi cũng vậy, nhưng chúng tôi không có cuộn giấy. Các anh có làm theo Thư chính tắc không?"


"Vâng, tất nhiên, nếu khác đi chúng tôi không thể sống được. Có những quy tắc mà chúng ta phải tuân theo. Nếu không sẽ nảy sinh sự tan rã và con người sẽ tự sát hại nhau."


„Chúng tôi cũng có quy tắc, chúng được gọi là luật lệ. Ở đó không có gì về Chúa trời. Con người tự chọn lựa, tự thay đổi và tự điều hành chúng. Chúa trời không ấn định cho chúng tôi các quy tắc...“


"Cái gì? Điều đó là không thể, Các anh không làm theo Thư chính tắc? Vậy mà anh không tự chém giết lẫn nhau và vẫn đang sống sao?"


"Một số luật lệ tương tự như với Thư chính tắc, nhưng chủ yếu là do chúng tôi tạo ra, thay đổi và duy trì chúng. Do đó, chúng tôi có một số thói quen khác thường và cả trong cuộc sống. Tôi không biết, nếu sau đó có cả nghĩa là tăng sự phóng túng và cuối cùng là sự tự mãn. Nhưng có lẽ Chúa trời ban phước chúng tôi như thế đấy...“


„Con người không bao giờ nghĩ ra bất cứ điều gì tốt hơn Thiên Chúa. Tốt hơn là nên tuân theo luật của Chúa trời...“


"Chúng tôi tuân thủ luật pháp của mình và anh thấy đấy, chúng tôi giàu có..."


"Các anh đã liên kết với ma quỷ. Ma quỷ có được các anh thông qua sự phóng túng vật chất. Trong các cuộn giấy văn bản ghi rõ ràng việc Sa tăng lôi kéo con người vào cạm bẫy, hứa hẹn sự giàu có, còn các anh đã rơi vào đó...“


„Không chỉ chúng tôi giàu có. Một số người của các anh cũng vậy. Anh cũng không nghèo, chỉ là anh có một số khả năng suy nghĩ thay người khác và biết so sánh. Đó là một khả năng hiếm có và anh có thể mang lại lợi ích cho người dân của mình. Nhưng tại sao sự giàu có chỉ đến từ Sa tăng? Của cải của anh chẳng nhẽ đến từ Sa tăng sao?"


"Tôi đã kiếm được nó một cách trung thực."


"Tôi cũng vậy."


Zabad đã bình tĩnh lại một chút. Họ nói với nhau về những việc khác, nhưng có lẽ anh đau đầu với sự giàu có của cả một thành phố như vậy mà không gì khác hơn là của Sa tăng. Dãn ra khỏi Kesulot một chút, anh nhận thấy, ông ta đang tìm cách che chắn cho mình.


Ngày hôm sau, Kesulot tham quan chuyện làm ăn của Zabad, ông thấy anh rất tháo vát và đưa ra nhiều ý tưởng mới mà mình tự phát minh ra. Thật đáng tiếc, ở đây anh ta không thể phát triển kỹ năng của mình quá nhiều.


Zabad vẫn đang cau mày và nghĩ ngợi. Kesulot biết, việc ông nghi ngờ anh ta quan hệ với quỷ dữ. Cho nên vào buổi tối ông nói với anh ấy: "Zabad à, anh là người giống như tôi. Tất cả chúng ta đều được Chúa trời chỉ dẫn. Chúa chiến thắng quỷ dữ, vậy anh vẫn còn nghĩ tôi phục vụ Satan sao?"


"Ông có thể không," Zabad buồn bã nói. "Nhưng thành phố của ông phục vụ hắn ta. Nếu không tuân theo Thư chính tắc, nó không thể tồn tại. Lúc nào đó sự trừng phạt của Chúa trời sẽ đến.“


„Zabad à, anh nghĩ tắm rửa là xấu sao? Tối hôm qua anh đã không phản đối để tôi tắm.“


"Tắm không phải là xấu, nhưng chỉ vì có ít nước."


"Và phụ nữ ra đường phải quấn khăn, che mặt?"


"Khi họ ở ngoài đường và người lạ có thể nhìn thấy, thì đúng."


„Tôi là người đàn ông lạ. Nhưng trong nhà anh, phụ nữ đi lại với cái đầu trần."


"Đúng, ông là khách, vì vậy không phải người lạ. Thậm chí, ngay cả khi muốn, ông có thể đưa vợ hoặc con gái tôi qua đêm. Nhưng tất nhiên tôi sẽ phải cho phép. Nhưng như tôi thấy, ông không thể hiện sự quan tâm."


"Tôi cũng sẽ không thể hiện. Ở chỗ chúng tôi không làm như vậy, nhưng người phụ nữ có thể làm những gì cô ấy muốn. Cô ta có thể có một người tình ổn định, hoặc ly dị với người chồng. Nếu thấy thích một người đàn ông, cô ấy có thể đi với anh ta. Khi không muốn có con, cô ta không buộc phải...“


"Với chúng tôi điều đó là không thể... Thế phụ nữ ở chỗ ông ăn mặc thế nào?"


„Như ý họ muốn. Họ không quấn đầu trừ khi trời mưa, mặc váy áo ngắn, có thể nhìn thấy chân... Anh thấy đó, chúng ta có những thói quen khác nhau, có thể chính trong đó là bí mật về sự tiến bộ lớn hơn của Sodom và Gomorrah. Nhưng chính xác thế nào, tôi không biết...“


Zabad thầm nhủ: "Ông có nghĩ rằng, nếu phụ nữ của chúng tôi cư xử như ông nói, họ sẽ làm những gì họ muốn, có người yêu, không vâng lời chồng và đi ra đường bán khỏa thân, rằng chúng tôi cũng sẽ có được tiến bộ? Điều đó thật vô nghĩa, nó không đáng giá gì cả.“


Rồi Zabad lắc lắc đầu: "Có thể có..."


 


 


Vua Atak


 


Đoàn lữ hành của Omar tiến vào sa mạc. Lại là những cồn cát bất tận. Nhưng thật kỳ lạ, chỉ kéo dài mất hai ngày đêm. Sau đó, những vách đá xuất hiện trở lại rồi chuyển sang vùng tiền đồn đồi núi mà bên dưới là một thị trấn. Ở đó, họ cắm trại qua đêm. Ngày hôm sau, các tay súng tiến đến trên lưng ngựa, họ là binh sĩ của vua Atak, hộ tống đoàn lữ hành qua những đoạn khe núi và vách đá nguy hiểm. Nhà vua khi xưa đã từng đột kích các đoàn lữ hành, nhưng buộc phải phục tùng những kẻ chiến thắng từ các thị trấn xung quanh và giữ vai trò ngược lại, bảo vệ các đoàn lữ hành khỏi những người không chấp thuận các thành phố và trộm cướp. Atak kiếm được tiền từ công việc đó, sự bảo vệ kiếm được nhiều hơn là cướp bóc. Tiếp đó họ tiến qua địa hình đá được theo dõi bởi các tay súng nhà vua. Họ không thể tiến ra sa mạc, nơi cát trắng, vì họ chỉ có ngựa, mười tay súng. Kesulot nhớ lại đoàn lữ hành của Razim đông tới năm mươi người.


Đoàn tiến qua vùng địa hình rất phức tạp. Nhưng giai đoạn này ít khó khăn hơn so với việc di chuyển trên cát, vì vậy đoàn lữ hành cũng di chuyển nhanh hơn. Xẩm tối, Kesulot nhìn thấy nhật thực quen thuộc gây ra bởi một đám mây cát, đường chân trời đỏ rực và những đám mây khổng lồ lăn tròn trên sa mạc. Nhưng ở đây không khí trong lành. Vào ban đêm, họ nhận ra một cơn bão đã đến, xé toạc lều, các hướng dẫn viên phải liên tục sửa chỗ neo đậu trong đất đá. Nhưng cát thì ít. Sáng sớm họ tiếp tục đi. Gió không còn mạnh và không có bụi. Một lần nữa, họ cắm trại trên một bãi đất đá, gió gần như không còn thổi.


Ban đêm, tiếng ồn ào làm Kesulot thức dậy. Ai đó rạch toang lều và những hình nhân lao vào bên trong cùng đuốc sáng. Những kẻ vũ trang lạ vung kiếm chỉ vào ông: "Ra, ra ngoài ngay lập tức!" Kesulot chấp hành. Bên ngoài, những người khác đã đứng thành hàng, xung quanh là những kẻ vũ trang lăm lăm kiếm.


Đám người vũ trang với ngọn đuốc đi xung quanh và tìm chọn từng người, phân loại ra. Kesulot để ý thấy, người trẻ xếp một bên và bên kia là người già. Tất nhiên họ xếp ông trong số những người già, song chỉ có một vài người. Cùng lúc, bình minh bắt đầu và bây giờ Kesulot mới nhìn thấy sự hủy diệt. Lều bạt bị xé tung, chồng lên nhau, bên cạnh tập trung đồ đạc. Lạc đà của họ lại được xếp hàng lên. Ông nhìn quanh. Các tay súng của đội bảo vệ chẳng thấy đâu. Có gì đã xảy ra với họ?


Tiếp đó, chúng trói đám trẻ và bắt đầu lục soát những người già. Tới cả Kesulot. Mặc dù ông đã cởi túi vàng ra khỏi thắt lưng mình và ném nó xuống đất trước đó, nhưng không biết chắc ở đâu. Chúng chỉ tìm thấy các đồng dukat trong tay áo, hẳn là rất thất vọng.


Rồi chúng đẩy những người bị trói lên phía trước vào sa mạc, đằng sau chúng là những con lạc đà đang tải và những tay cướp vũ trang cưỡi lạc đà. Những người khác trên lưng ngựa trong số họ biến mất trong các vách đá. Kesulot một mình với khoảng bốn ông già khác nữa ở giữa sa mạc...


Điều đầu tiên nghĩ đến là tìm nước. Ông bắt đầu tìm kiếm trong lều, nhưng không thấy gì. Ông lặp đi lặp lại nhiều lần, không đâu có gì cả. Tất nhiên, nước, đó là tài nguyên, cần cho cuộc hành trình sa mạc. Ông có thể vui mừng vì họ đã không giết mình, nhưng sẽ chết ở đây vì khát.


Ông ngồi trên tảng đá và suy nghĩ. Những người khác nằm bên dưới. Một số người già như ông, nhưng phần lớn đi lại rất kém. Vàng của mình đâu? Có lẽ đâu đó gần lều. Nhưng nó sẽ giúp gì cho ông? Sẽ không thể uống vàng.


Tìm kiếm một lúc, ông nhận ra rằng mình đang lãng phí bản thân một cách không cần thiết. Nếu có sự giúp đỡ đến, nó sẽ không ngay lập tức và không được cạn kiệt sức lực; Tốt hơn là nằm trong bóng râm. Ông tìm được nơi ẩn náu trong bóng râm của những tảng đá và ngủ thiếp đi ở đó.


Ông thức dậy vào buổi tối. Đêm ít nhất sẽ mang lại sự dịu mát, cơn khát sẽ giảm đi.


Không có gì xảy ra vào buổi sáng ngoại trừ cái nóng. Kesulot nói với những ông già kiệt sức: "Tôi sẽ đi tìm kiếm sự giúp đỡ. Cũng thế thôi nếu tôi chết hoặc ở đây hay một nơi khác.“


"Nhưng chắc ai đó sẽ đến đây..." một trong những ông già vất vả nói. "Những tay súng đáng lẽ phải bảo vệ chúng ta đã chạy mất. Có lẽ họ sẽ gọi giúp đỡ.“


"Không có gì chắc chắn như vậy, họ đáng ra đã ở đây. Tôi sẽ đi, Chúa trời bảo vệ các ông.“ Đám người già nằm trên mặt đất, thở khó khăn.


 


Kesulot theo con đường tiến lên nhìn ra xung quanh. Ông dừng lại vài lần, nhìn xa vào sa mạc. Ở đấy trông như có gì đó di chuyển và để lại dấu vết phía sau. Có thể là một đoàn lữ hành, nhưng chắc chắn không hướng đến đây. Khi leo được khá cao, ông để ý thấy một bên địa hình như khuất về phía sau. Chắc một thung lũng ở phía đó. Ông tiếp tục đi. Thực sự một hẻm núi xuất hiện và bên dưới là thung lũng sâu. Ông bắt đầu từ từ tụt xuống và tới đáy vào buổi trưa. Thung lũng có cát ở phía dưới, cứng và đi lại rất tốt. Kesulot luồn qua thung lũng lên cao. Gần tối, ông nhận thấy cát mát lạnh, đó là một phát hiện tốt, có thể sẽ có nước. Nó khuyến khích ông tiếp tục đi. Cho đến tối mịt nước không xuất hiện, thay vào đấy dưới đáy thung lũng hiện ra những bụi cây. Vì vậy, ông quyết định cắm trại dưới đáy hẻm núi, nằm trên đất và phủ tấm chăn.


Ban đêm dường như nghe thấy tiếng xào xạc. Ông ngồi dậy. Phải chăng con vật nào đó? Nhưng đột nhiên cảm thấy ẩm ướt, ông sờ soạng xung quanh và thấy mình chạm vào nước, nước văng tung tóe mỗi khi di chuyển. "Nước, nước, cuối cùng là nước!" Ông nằm sấp xuống và uống ừng ực. Ông đã được cứu thoát.


Khi uống no, thấy nước đã đến mắt cá chân, ông nhanh chóng đứng lên, đi về phía sườn núi. Chỉ có thể nhìn thấy rất mơ hồ, nhưng nước vẫn đang dâng và ông vẫn phải lên cao hơn. Ông uống thêm vài lần nữa rồi chuyển đến nơi an toàn trên dốc.


Cuối cùng ông nằm xuống và ngủ thiếp đi. Thức dậy khi mặt trời lên cao, quần áo của ông đã khô như được rang. Nhưng bên dưới dòng sông đang chảy, một dòng sông như vậy dễ dàng cuốn trôi ông.


Xuống bờ sông uống no nê, sau đó theo dòng sông ông leo lên cao. Trên đó chắc phải có một làng mạc nào đó.


Ông đi đến tối, nhưng không có dấu hiệu gì cho thấy làng bản nào. Một lần nữa ông cắm trại trên bờ sông. Bây giờ ông bắt đầu nhận ra mình đã bỏ bê một số thứ. Một phần ông không tìm thấy túi vàng của mình. Bây giờ ông trở thành kẻ ăn xin. Một phần không mang gì để đựng nước. Vì vậy, không thể rời khỏi dòng sông, bởi sẽ sớm khát nước. Nó hạn chế di chuyển của ông. Vẫn cần thức ăn, song ông sẽ còn chịu đựng được một thời gian. Nhưng không nhận thấy trên dốc cao xuất hiện bóng người nào cả, ông quay lại giấc ngủ.


Khi tỉnh dậy, ông thấy một nhóm vũ trang đang băng qua sông. Họ có thể là những tên cướp, nhưng sẽ không tìm thấy bất cứ thứ gì ở mình. Họ chỉ có thể giúp ông. Ông đứng dậy, vẫy tay quyết liệt về phía họ, hét lên: "Này, các anh đằng kia, huuuu... chết tiệt... Đợi tôi với..."


Các tay vũ trang chắc chắn đã nhìn thấy, vì họ tiến đến phía ông. Một người dừng ngựa trước mặt. Kesulot nhận ra mình nhỏ bé như thế nào nếu định chống lại. "Ông là ai?"


"Tôi là Kesulot từ xứ Gomorrah. Tôi bị cướp trên sa mạc...“


"Ông đến từ đoàn lữ hành đó?"


"Vâng, đúng đấy."


"Chúng tôi là lính của nhà vua Atak."


"Các anh đáng ra phải bảo vệ chúng tôi..."


Người lính nhảy xuống ngựa. Kesulot nghĩ rằng anh ta sẽ giết mình vì những lời nói táo bạo. Nhưng nó đã không xảy ra. "Còn ai khác ở đó không?"


"Chỉ còn khoảng bốn ông già."


"Ông nghĩ rằng họ vẫn còn sống?"


"Tôi không biết."


"Ở đó còn gì nữa không?"


"Không."


Tay vũ trang, hẳn là chỉ huy, đưa ra mệnh lệnh thầm lặng cho một người khác, lấy ống đựng nước và túi thức ăn rồi hành quân theo dọc sông. Những người khác quay đầu lại. "Lên ngựa đi," một người nói.


Mặc dù đã trên ngựa, nhưng Kesulot không thể ngồi vững. Một tay súng khác đã phải xuống ngựa, đặt Kesulot lên lưng ngựa phía sau viên chỉ huy.


Họ phi nước đại cả ngày. Tại một trạm gác, thay ngựa. Thế rồi, cao nguyên với lâu đài của vua Atak xuất hiện. Họ cắm trại thêm một đêm nữa, hôm sau tất cả dừng trước một bức tường thành khổng lồ.


 


Kesulot bước vào trong cung điện lớn, sàn nhà lát đá cẩm thạch với những bức tường sơn đẹp mắt cảnh chiến đấu. Giữa bục, một chiếc ghế với tay vịn lớn, trên đó một nam nhân ngự triều. Đáng ngạc nhiên, nó trùng khớp với những gì từng có trong truyện cổ tích về các vị vua. Chỉ thiếu quyền trượng, thanh kiếm ở đó.


"Tôi xin nhắc lại một lần nữa," Kesulot nói. Đứng trước nhà vua, mà như từng biết đến trong những câu chuyện cổ tích, ông cần phải cung kính. Đó là lý do tại sao ông không nổi cáu như thường lệ, không la hét và phát ngôn khá bình thản.


"Các Ngài phải bảo vệ và không để họ mai phục chúng tôi... Tôi yêu cầu lời xin lỗi. Tôi đã mất tất cả tài sản của mình..."


Nhà vua ra hiệu cho một trong những người hầu. Anh ta mang chiếc ghế chạm trổ tuyệt đẹp có dựa lưng, chỉ thiếu bọc nhung.


„Ông là người duy nhất được cứu thoát từ đoàn lữ hành. Những người khác đã chết trong sa mạc, hoặc hiển nhiên bị kéo đến một chợ nô lệ nào đó của người xứ Sumer."


Nô lệ? Kesulot nhận ra việc mình đã được nghe nói đôi điều như vậy. Ở xứ Gomorrah, thỉnh thoảng ai đó trở về từ những vùng đất xa xôi mang theo người nô lệ. Nghe nói anh ta đã mua họ. Nhưng một nô lệ như vậy ở xứ Gomorrah thực sự được tự do. Khi muốn rời khỏi chủ, điều mà anh ta thường không làm, dù có thể. Câu hỏi là, sẽ đi đâu, khi không có tiền và không phải là công dân thành phố, anh ta không có quyền lợi gì cả. Điều diễn ra trong toàn bộ lãnh thổ mà ông biết. Omar do vậy sẽ là một nô lệ. Điều đó có nghĩa gì ở những vùng đất xa xôi kia, ông không có cảm nhận, lại chỉ có từ những câu chuyện cổ tích ông mới biết nô lệ ở đó là một người hầu, phải làm mọi thứ mà chủ nhân của anh ta muốn và không thể rời đi khi không thể chịu đựng được. Nói cho cùng, có lẽ đó không phải là một số phận xấu. Cái chết trên sa mạc còn tồi tệ hơn. Ông ngồi vào ghế.


Nhà vua nói tiếp: "Omar chỉ trả tiền cho mười tay vũ trang. Theo thông lệ, khi những tên cướp mạnh, các chiến binh của ta phải tính toán xem nếu có bất kỳ cơ hội chiến thắng nào không, rồi sau đó quyết định. Ta không thể mất các tay vũ trang vì sự vô trách nhiệm của chỉ huy đoàn lữ hành, kẻ keo kiệt. Ta đề xuất một số người. Nếu đoàn lữ hành chấp nhận, lực lượng vũ trang của ta sẽ chiến đấu bất chấp mọi tình huống. Trong trường hợp đó, phần lớn họ sẽ thắng, nhưng thường không bị tấn công. Đúng ra ta không nên thỏa thuận hợp đồng với các chỉ huy lữ hành vô trách nhiệm. Nhưng đôi khi băng cướp nhỏ có thể thắng được một nhóm nhỏ những người đàn ông của ta. Đối với trường hợp đó...“


Kesulot nhận ra, Omar chỉ là một tiểu doanh nhân, thường di chuyển giữa các ốc đảo, không tham gia những hành trình dài. Nhưng có lẽ lúc này anh ta muốn kiếm lợi nhuận từ lọ đá và thuốc mỡ thơm mà các thương nhân mang đến từ đất nước của những người da vàng. Đó là lý do tại sao anh ta hành trình xa như vậy với một đoàn lữ hành nhỏ. Đơn giản là làm liều. Thật không may, nó đã không thành công, kết cục trở thành nô lệ. Nhưng còn với Kesulot thì sao?


„Tôi đã mất tất cả mọi thứ và các ngài cũng phải chịu trách nhiệm vì nó. Tôi chắc sẽ không đi cùng đoàn lữ hành nếu biết nó không đủ an toàn. Tôi cần được biết về mối nguy hiểm này...“


"Đấy không phải là mối quan tâm của ta. Người chỉ huy đoàn lữ hành phải thông báo điều đó.“


"Ngài sẽ làm gì với tôi?"


„Luật lệ của vùng đại đất hoang bắt buộc ta phải có nhân tính, giúp đỡ bất cứ ai gặp rắc rối, khó khăn."


„Với tôi có nghĩa gì chứ? Ngài có chuyển tôi về xứ Gomorrah không?"


„Nó ngoài khả năng của ta. Ông sẽ ở đây với ta như một vị khách.“


"Tôi sẽ ở đây mãi mãi sao? Ở Gomorrah người ta sẽ không biết rằng tôi ở đây. Vàng để đưa tôi trở lại không còn."


Nhà vua nghĩ ngợi. Đó là vấn đề. Thông thường họ là những người quanh đây, sau đó họ hàng tìm đến đón về.


"Ta sẽ thông báo tới xứ Gomorrah."


"Sẽ là hai tháng và không chắc chắn điều đó xảy ra. Sự trợ giúp cho tôi từ xứ Gomorrah cũng không chắc đến được. Tôi sẽ ở đây trong hai năm trước khi mọi việc có kết quả? Tôi sẽ chết ở đây. Quả thực tôi mong được chết ở quê nhà hơn.“


Nhà vua ngẫm nghĩ. Phụ tá của ngài thì thầm gì đó. Thực sự giống như trong câu chuyện cổ tích. Làm sao những câu chuyện cổ tích lại đồng thuận với thực tế như vậy! Ngoại trừ việc các quần thần, nông nô ở đây không cúi đầu và gục mặt trước nhà vua. "Ta sẽ giao ông cho một đoàn lữ hành nào đấy đi theo hướng đó."


"Ai sẽ trả tiền công?"


"Ta sẽ xem, họ thường không từ chối phục vụ ta..."


"Hãy làm ơn, đức vua ơi," Kesulot đứng dậy và khẽ cúi đầu. "Đưa tôi cho một đoàn lữ hành đi đến tận Azaj."


"Đi đâu kia?"


"Tới Azaj."


"Ta sẽ nhớ điều đó. Chỉ cần đến một cảng nào đó trên Tiểu biển."


"Vâng, chính xác như vậy. Tôi không còn tiền để có thể trả thêm cho một đoàn lữ hành nào khác nữa."


"Điều đó rõ ràng," nhà vua nói và coi cuộc yết kiến chính thức kết thúc.


 


Kesulot đi quanh lâu đài - tường đá của Atak - nhiều lần, từ thành lũy này sang thành lũy khác. Nói đúng ra chỉ vài bước. Các tòa nhà cao, nhưng quanh đi quanh lại một vài cái, chẳng phải thành phố lớn gì cả. Không quán hàng, không dân cư nào mà không gặp một hai lần trong ngày. Ông luôn phải nhìn vào đồng hồ mặt trời trên tường để không bỏ lỡ bữa. Ở bàn ăn, ông là khách. Luôn có một số quần thần nổi danh, gia đình hoàng gia - hai hoàng hậu và mười một đứa con, các chỉ huy lực lượng vũ trang và khách. Lúc này chỉ có mình ông.


 


Một trong những quần thần đó là nhà chiêm tinh, ông ta am hiểu các vì sao và nghe nói có khả năng tiên đoán tương lai. Kesulot nhận ra từ cách nói năng của ông ta tại bàn ăn. Ngoài ra, không ai nói chuyện với ông ta, Kesulot không muốn làm phiền bất cứ ai bằng những câu hỏi. Khi không còn muốn dạo quanh lâu đài, Kesulot có thể đi nghỉ trong khoang ngủ của mình. Đó là một trong những phòng dành cho khách, hiển nhiên là phòng nhỏ nhất và trang bị sơ sài nhất. Một chiếc giường, một bàn nhỏ với một chiếc ghế đẩu. Bức tường bằng đá, lạnh lẽo, còn may thời tiết ấm áp, nhưng trời lại bắt đầu lạnh. Kesulot nhận ra, đã một năm kể từ khi ông và đoàn lữ hành của Razim đi qua vùng đất bên dưới lâu đài. Giờ đây ông đang bị mắc kẹt trong lâu đài như nhà tù. Còn Razim thì sao? Có lẽ anh ta đang ở gần đâu đây. Ông nghĩ mình sẽ thường xuyên dõi ra xung quanh.


Khi mấy ngày liền quan sát miền đất, ông thực sự nhìn thấy một đoàn lữ hành. Nhưng nó đi về phía Medin. Có lẽ đó là Razim! Ông buồn bã nhìn những tay vũ trang cưỡi ngựa xung quanh và những con lạc đà thồ vật nặng giẫm lên mặt cát như thế nào.


Ít nhất ông đã lại có một trò giải trí. Một lần ông nhìn thấy đoàn lữ hành, đi theo hướng ngược lại. Ngay lập tức ông báo cáo với nhà vua và được tiếp kiến sau khoảng một giờ. "Kính thưa nhà vua, hiện nay có một đoàn lữ hành đang tiến theo hướng đi xuống. Tôi không dám làm phiền ngài, nhưng ngài có quên tôi không đấy?"


"Không, đừng lo lắng và đừng làm phiền ta về điều đó nữa. Ta đang có lo lắng khác... Ông nghĩ, ta muốn để ông ở đây mãi sao? Chúng ta có thỏa thuận, ta sẽ thực hiện nó.“


Kesulot xin lỗi rồi rời đi. Khi bước xuống cầu thang từ tầng ba nơi nhà vua trị vì, ông gặp nhà chiêm tinh trên cầu thang. "Salamo," ông chào.


Nhà chiêm tinh dừng lại, nhìn chằm chằm vào ông. Anh đứng một lúc như vậy, Kesulot cũng thế. "Ông biết gì về tôi không?" Kesulot hỏi.


"Đúng, ta nhìn thấy con người ông."


"Tôi hy vọng, toàn những điều xấu..."


"Chúng chỉ là những tồi tệ nho nhỏ của con người, ai cũng có. Nhưng ta thấy một cái gì đó khác."


"Cái gì kia?"


"Ông biết không, hãy đến chỗ ta tối nay..."


Kesulot sốt ruột chờ đợi buổi tối, thế rồi ngay khi mặt trời khuất sau ngọn núi, ông leo lên tầng trên cùng, thực chất là vào một căn phòng nhỏ trên nóc tháp. Ở đây không có gì ngăn cản tầm nhìn lên bầu trời, các ngôi sao bắt đầu xuất hiện. Trước buồng ngủ là khoảng trống, thực sự cao nhất trong toàn lâu đài. Nhà chiêm tinh ngồi đó quan sát tinh tú vũ trụ. Mặt trăng không nhìn thấy được, có lẽ đang là mùng một.


Bên cạnh là chiếc ghế đẩu. Kesulot không muốn làm phiền, ông lặng lẽ ngồi xuống.


"Hãy cho ta biết ngày sinh của ông," học giả hỏi.


Kesulot đáp lời ông ta. Học giả nhìn chằm chằm vào các vì sao, thỉnh thoảng chỉ tay vào một ngôi nào đó, đôi khi che bằng lòng bàn tay tầm nhìn lên bầu trời để tránh làm xáo trộn ánh sáng xung quanh. Rồi ông ta bắt đầu lắc lắc đầu. "Điều đó là không thể," ông ta thở dài.


Kesulot không dám hỏi. Chờ đợi...


"Mọi thứ ta nhìn thấy đều kỳ lạ," học giả nói một cách bí ẩn. "Ta cũng không muốn tin điều đó."


Rồi ông ta nhìn về phía trước, ngồi thêm một lúc, dần giải thích: "Ngay khi ông đến chỗ này, ta biết có gì đó đã thay đổi. Nhưng ta không biết là gì. Nó dần làm ta tập trung vào ông. Chỉ đến khi trên cầu thang ta mới cảm nhận thấy...“


„Vậy đó là gì? Tôi là một người đàn ông bình thường từ xứ Gomorrah, chủ sở hữu đồng ruộng và là doanh nhân. Khi đang bán ngũ cốc, bọn cướp tấn công chúng tôi...“


"Tất nhiên, ông là đứa con của thần may mắn, tài lộc. Ông đã luôn trải qua tất cả những nguy hiểm và vẫn sẽ còn trải qua. Ông sẽ sống rất lâu. Tất cả điều này là rõ ràng và hiển nhiên trong suốt số phận của ông. Nhưng...“


Kesulot lặng thinh. Nó thực sự có nghĩa là gì? Tại sao tất cả như vậy?


Bầu trời đã tối mịt. Ánh sáng từ đám lửa trong sân hắt lên từ bên dưới. Ông ngửi thấy mùi gỗ. Thật tuyệt biết bao khi hít mùi khói này vì nó có mùi thơm tuyệt vời so với mùi hôi hám mà ông phải sống qua trong các thành phố. Học giả không động đậy. Ánh mắt ông ta dừng lại ở một điểm duy nhất trên bầu trời. Có lẽ đó là ngôi sao chuẩn mực.


Rồi ông giật mình và cúi đầu xuống. "Nhưng như thể nó không phải là chính nó," ông nói. "Nó đang hướng tới một cái gì đó và ta không biết hướng đến đâu. Chỉ cần ông hãy tự cân nhắc...“


„Phải cân nhắc gì đây? Tôi không phải là một học giả. Tôi rất mừng, mình được sống lâu, nhưng tôi không hiểu được người khác.“


„Ông có một sứ mệnh đặc biệt, nhưng ta không biết là gì. Có một ý nghĩa gì đó quan trọng đối với cả thế giới. Đối với lịch sử. Cho thế hệ tương lai...“


"Chẳng lẽ tôi sẽ trở thành nhà tiên tri?"


"Không, không phải thế. Ông phải đưa ra bằng chứng về điều gì đó sai trái và cảnh báo mọi người. Nó liên quan đến sự kiện...“


"Tôi sẽ trở thành nhân chứng tội ác nào đó?"


"Không, không có gì về tội phạm. Và đó chính là điều lạ lùng mà ta không hiểu. Đơn giản là có một bằng chứng về những điều có vẻ bình thường, không tồi tệ và mọi người không nghĩ xấu về chúng. Tuy nhiên, nếu những điều đó vẫn còn lại, nhân loại sẽ biến mất. Nhưng ta không biết nó là gì.“


"Tôi cũng không ..."


Vị học giả thở dài và giải phóng sự căng thẳng trong cơ thể, kết thúc việc bói toán của mình. Ông ta bắt đầu đi lại bình thường, nuốt vào vài lần. Cuối cùng, ông ta nói thêm: "Nhiệm vụ có thể diễn ra mà bản thân ông không thể nhận thức ra. Ông chỉ cần làm những điều mình cho là đương nhiên. Nhưng điều quan trọng sẽ chủ yếu dành cho các thế hệ con người rất xa.“ Ông chỉ lên bầu trời: „Những ngôi sao đó có lẽ cách nhau hàng ngàn năm... Ngôi sao nguồn, chính là ông và ngôi sao thu nhập là những người ở thời đại xa xôi.“ Ông ta dừng lại. Cả hai đều im lặng.


Kesulot muốn thoát khỏi câu chuyện đó: "Tại sao ông lại sống trong vườn rào này, xa cách mọi người?" Ông hỏi. Từ  "vườn rào" có một chút miệt thị mà ông không muốn sử dụng thuật ngữ "thành phố", biểu từ cho lâu đài không tồn tại. Ông muốn thiết lập cuộc trò chuyện bình thường. Bói toán không làm ông thích lắm, đó là một khoảnh khắc vui vẻ. Rất nhiều loại thầy bói đã phán cho ông và họ thường khác nhau trong hầu hết mọi thứ. Ông cũng tin người đàn ông này chỉ một phần. Nếu ông ta không dựa vào các vì sao mà chỉ dựa vào chính mình thì tốt hơn. 


„Đây là một nơi rất tốt để quan sát. Nó cao và các ngôi sao rõ ràng. Tất nhiên, đôi khi ta đi ra ngoài đọc số phận cho người dân trong thành phố từ những ngôi sao, nhưng với ta là gánh nặng. Ta xem tướng cho các thương nhân và các vua."


Kesulot biết rằng đây là thời điểm tốt để đề nghị học giả giúp đỡ. "Thưa ông, ngài học giả quý giá, ông có thể nói chuyện với nhà vua cho tôi về nhà và đảm bảo cho tôi đến được đó?"


"Không cần thiết, nhà vua biết rồi. Ngài cũng đã nói chuyện với ta về điều đó. Nhắc Ngài là thừa, vì nó rõ ràng trên các ngôi sao. Ông sẽ về được nhà và hoàn thành sứ mệnh của mình.“


Điều đó làm Kesulot yên tâm. Ông không tin nhiều những ngôi sao, thay vào đó tin lời hứa của nhà vua.


(còn tiếp)


Nguồn: Sodoma & Gomora. Tiểu thuyết giả tưởng của nhà văn CH Séc


Ing. Vlastimil Podracký (Sci-fi 2009). Xuất bản dưới sự bảo trợ của Hội nhà văn Cộng hòa Séc; Đại sứ quán Cộng hòa Séc tại Việt Nam và Hội hữu nghị Việt Nam – Séc. Những người dịch: Nguyễn Kim Phụng (Azis Nektar),Đỗ Ngọc Việt Dũng, MSc. (Do.honza) và Ngô Khánh Vân, DrSc. Nhà xuất bản Hội Nhà văn. 2019.


Dịch giả Đỗ Ngọc Việt Dũng gửi www.trieuxuan.info


 


 


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 05.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
xem thêm »