tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30161577
Tiểu thuyết
05.11.2019
Vlastimil Podracký
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại


Những đứa trẻ cuối cùng


Bọn trẻ lớn lên và khi đến tuổi đi học, Zita quyết định sẽ dạy chúng. Tất cả fyzikal đồng ý để bọn trẻ được học với sự giúp đỡ của thày giáo và các hình ảnh trên monitor, không được dùng kukla. Human1 nhắc nhở mấy lần đó là vi phạm hiến pháp. Nếu đứa trẻ muốn kukla, cần phải cho phép nó. Để có thể dùng kukla, nó phải được tìm hiểu, cũng như con người và con vật có quyền tìm hiểu bất cứ vật thể nào của thế giới thể chất và tự do quyết định. Nhưng bố mẹ và các fyzikal không nghe theo. Họ tập trung bọn trẻ vào một trong các căn hộ, nơi Zita dạy chúng học. Bởi vì hiến pháp không cho phép làm phiền sự riêng tư, Human1 không làm gì được. Sau thời gian không có động tĩnh gì. Zita dạy bọn trẻ đọc và viết.


Một năm trôi qua, bọn trẻ đến trường và chơi trên bãi cát giữa các căn hộ. Thỉnh thoảng robot thông tin theo dõi chúng và hình ảnh được chiếu vào buổi tối sau bản tin chính. Sau khi bé Bogdana bị bắt cóc, yêu cầu của các mẹ được đáp ứng, khu vực bọn trẻ chơi đã được rào chắn để không có cư dân nào của Korpus vào được. Những người ảo khi đi dạo chen chúc nhau bên hàng rào ngắm bọn trẻ. Hình ảnh như ở rạp xiếc. Các mẹ và những fyzikal sao nhãng việc khuyên lũ trẻ đừng ném cát vào họ. Bọn trẻ thích thú điều này. Chỉ có các bà già mới được phép đến với chúng.


Sau khi bé Nada và John ném cát, đá vào những người ảo làm một bà già bị thương ở mắt, một lần nữa lại nổi lên cuộc tranh luận về giáo dục trẻ em.


Một bộ não bực tức: ”Thật là kinh khủng. Tụi fyzikal giáo dục bọn trẻ thành tội phạm. Có ngày bọn chúng sẽ thành nguy hiểm cho cả Korpus. Phải soạn ra chương trình giáo dục và sẽ là bắt buộc. Không thể để cho nhóm người fyzikal tự giáo dục bọn trẻ. Giáo dục nhà trường luôn luôn do nhà nước chỉ đạo. Các đề cương phải thông qua.”


 


Đại hội đồng Korpus đến hai mươi năm nay không họp. Đó là những bộ não danh tiếng được bầu ngày xưa. Vẫn có ý kiến cho rằng, Hội đồng không cần thiết, vì mỗi vấn đề đều có thể làm cuộc xâm nhập tất cả các bộ não, dưới dạng trưng cầu dân ý. Nhưng bây giờ là vấn đề linh hoạt. Cần phải tạo ra những phương án và đưa ra biểu quyết. Vì vậy đại hội ảo các thị trưởng được triệu tập. Các “công dân” khác của Korpus, nếu quan tâm, có theo dõi qua chương trình phát trực tiếp.


 


Human1 khai mạc cuộc họp: ”Thưa quý vị tham dự, chúng ta tổ chức cuộc gặp mặt bất thường để giải quyết vấn đề giáo dục trẻ em, phải cân nhắc mọi điều liên quan đến hiến pháp và các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa nhân đạo. Tôi khai mạc cuộc họp theo thứ tự.”


Thị trưởng1 giơ tay phát biểu: ”Cần phải áp dụng luật học đường, tạo ra chương trình giảng dạy và lựa chọn giáo viên.”


 


Thị trưởng2 nói: ”Điều đó quả là có thể, nhưng không cần thiết. Trẻ em không phải đi đến trường như vậy, không ai ép được chúng, những công dân tự do. Tạo ra cho trẻ em một tổ chức như vậy là không hiệu quả. Đã mấy thế hệ rồi, trẻ em được tự do. Chúng không phải đi học nếu không muốn.”


 


Thị trưởng3 nói: ”Trẻ em không cần trường. Chúng không cần biết gì hết. Chỉ cần đảm bảo rằng cha mẹ được giáo dục tránh dẫn tới bạo lực. Cần dạy họ chủ nghĩa nhân đạo.”


 


Thị trưởng4 nói: ”Vì vậy cần có trường học.”


 


Thị trưởng3 đăng ký: ”Trường học là chuyện vớ vẩn, đằng nào bố mẹ chúng cũng không cho đến cái trường như vậy và sẽ thuyết phục chúng đến với dì Zita và cô sẽ dạy chúng.”


„Chúng ta không thể phạt chúng chỉ như vậy. Làm sao ta biết được chúng làm điều đó.”


 


“Trẻ em thuộc về xã hội, là những công dân bình đẳng, cha mẹ không được điều khiển chúng.” Human1 nói.


 


“Ông muốn ngăn cản điều đó sao đây, định rứt chúng ra khỏi bố mẹ sao?” thị trưởng2 nói.


 


“Trẻ con phải thể hiện mong muốn của mình, nếu chúng không muốn sống với bố mẹ, xã hội phải chăm sóc chúng,” Human1 khẳng khái.


 


“Cha mẹ điều khiển chúng,” thị trưởng3 nhận định.


 


“Đó là sự tác động không thể chấp nhận đối với sinh linh tự chủ…,” Human1 nhấn mạnh.


 


“Vì vậy tốt nhất là đưa chúng vào các soba và điều chỉnh chương trình, sau dần chúng có thể chuyển kênh được. Đều trên sáu tuổi rồi, chúng làm được,” thị trưởng3 định hướng.


 


“Con trẻ cần có tình yêu người mẹ, không thể sống một mình…” thị trưởng1 xoa dịu.


 


“Tình yêu chỉ là một trong những cảm xúc. Có thể điều chỉnh cảm xúc trong chương trình. Đứa trẻ ngày nay chỉ cần mẹ về thể chất, nếu nó chưa trưởng thành về mặt sinh học. Nhưng bọn trẻ này đã…,” thị trưởng3 tìm giải pháp.


 


Về vấn đề này Human1 phát biểu: ”Con người hoàn toàn độc lập và thực sự tự do, như hiến pháp chỉ ra, để chúng ta thực hiện, chỉ dành người có cuộc sống ảo. Trong không gian ảo con người muốn làm gì thì làm. Trong cuộc sống thể chất, tự do luôn bị hạn chế và hiến pháp không bao giờ được thực thi. Lúc nào cũng có bạo lực và mất tự do, lúc nào quyền bất khả xâm phạm của con người cũng bị vi phạm. Lúc nào chúng ta cũng phải nheo mắt lại và không nhìn thấy các vi phạm… Chấp hành hiến pháp có nghĩa là đưa trẻ em vào các soba và đội kukla cho chúng…”


 


“Vấn đề là ở chỗ chúng sẽ không muốn. Chúng ta không thể ép chúng bằng bạo lực...” thị trưởng1 phân tích.


Thử nghiệm đội kukla cho trẻ em được thông qua.


 


Thị trưởng1 cảnh báo: ”Đó là điều vớ vẩn. Hãy để vài năm như hiện nay vậy. Nếu không sẽ có vấn đề...”


“Sẽ không có vấn đề,” Human1 khẳng định. “Chúng ta sẽ thực hiện một cách nhân văn.”


 


Robot thông tin với năm chiếc kukla trẻ em được trang bị thêm các hộp giao tiếp nhỏ sau gáy đã phóng đến nơi bọn trẻ đang chơi đùa trên cát và bãi cỏ giữa các căn hộ. Bọn trẻ không để ý đến robot. Đối với chúng, robot chỉ là một phần của thế giới xung quanh như cái nhà, quả núi hay biển. Robot đứng giữa quảng trường và bắt đầu gọi tên các em từ những cái loa. „Các em ơi, kukla của các em đây. Cũng đã trưởng thành rồi, các em có thể sử dụng kukla như những người lớn. Hãy nhận lấy và đội lên đầu. Chỉ bằng suy nghĩ, các em có thể chọn chương trình, nói chung là bất cứ cái gì trong khu vực thông tin.” Bọn trẻ ngừng chơi. Đến nay, chưa có robot nào nói chuyện với các em. Bé gái lớn nhất Bogdana tám tuổi, với tư cách là người phát ngôn của đám trẻ, đứng vào thế tự vệ. Bọn trẻ ý thức được rằng nhiều khi có những điều khó chịu và phiền toái đến từ Korpus. Sau nó là các em sáu tuổi Nasta và John. John có chiếc que trong tay, nó đang suy ngẫm làm thế nào để xem xét con robot. Chưa tháo dỡ cái gì như thế này, nó không rời mắt ngắm nghía mấy cái đèn đang nhấp nháy trên giá đỡ, nhìn quanh xem có người lớn nào cấm đoán không. Khi phát hiện ra rằng không có vấn đề gì, nó tiến đến gần robot. Nhưng rồi nó khựng lại và bắt đầu sợ. Ở tận phía sau trên bãi cát hai em sinh đôi Nada và Zazim, như bản sao của nhau, đang cùng nắm tay.


 “Cầm lấy kukla đi,” robot nói với John đang đứng cạnh robot. Nhưng John lại đang để ý đến mấy bóng đèn. Vì giọng nói của robot thân thiện, nó mạnh dạn sờ lên đấy. Nhận thấy không nóng, nó bắt đầu kéo một cái.


“Thôi đi,” Bogdana nói, “Lại thành ra chuyện lôi thôi đấy. Đừng có sờ vào.”


“Cầm lấy kukla của mình đi,” robot lại nói.


John cầm lấy kukla. Trông nó như quả bóng. Hôm qua nó vừa mất một quả bóng ở đâu đấy. Cái này sẽ thay thế quả bóng. Nó quan sát cái mũ, nhưng so với bóng thì cứng quá. Dù gì thì cũng đá được. Nó hất lên và đá một phát. Kukla bay đến tận căn hộ, rơi vào đúng góc tường vỡ tan. Trong các trò chơi John thích chơi đá nhất. Nó đá vào mọi thứ, kế cả những hòn đá to và luyện tập để đá hòn đá to nhất xa nhất. Kukla so với đá khá nhẹ. Nó đá đủ xa để tự cảm thấy hài lòng. “Thấy chưa, một cú đá tuyệt,” Nó quay về phía Bogdana. Con bé bắt đầu linh cảm sẽ có chuyện lôi thôi. Nó sẽ bị trách là lớn nhất mà không để ý đến bọn bé. John là cơn ác mộng. Nó cứ luôn làm gì đó để con bé bị khiển trách.


Robot không phản ứng khó chịu gì về chuyện vừa xảy ra. Nó chỉ nói thêm: ”Kukla để đội lên đầu…”


“Chả lẽ em phải chết ngốt vì nó,” John nói và đi về phía kukla bị vỡ.


Hai đứa sinh đôi tò mò bước tới phía robot. “Đừng có sờ vào cái gì cả,” Bogdana nói.


“Nhận lấy mũ đi, loại bé hơn đấy,” robot nói.


Hai đứa sinh đôi nhận lấy mũ. Bogdana không biết phải làm gì. Thế là đúng hay sai? “Ra chơi cát đi,” nó nhắc nhở.


Bọn trẻ ra sân chơi và đổ cát vào mấy kukla. Bé Zazim buộc cái mũ vào sau chiếc ôtô vận tải nhỏ của mình và kéo trên cát. Bé Nada cho cát vào mũ rồi đội lên đầu. Cát rơi đầy người. „Em làm gì vậy, cho cát nó rơi vào mắt à,” Bogdana mắng. “Zazim ơi, em hãy lấy kukla của nó đi.“


Zazim lấy cái kukla trên đầu Nada và dùng nó như một cái bát nữa để đựng cát.


„Tôi nghĩ là anh có thể đi được rồi,” Bogdana nói với robot. „Chúng tôi không cần mũ.„


Robot không có vẻ muốn đi. “Em không lấy mũ à?”


Bogdana bật cười. Đằng nào thì nó cũng bị đổ lỗi vì cả sự kiện. Nó quyết rồi. Lôi thôi thì lôi thôi. Cũng quá đủ. Cho họ ăn thịt luôn đi. Nó cầm lấy hai cái mũ còn lại ném ra sau hàng rào. “Rồi và bây giờ thì biến đi,” nó chỉ tay bảo robot ra khỏi hàng rào.


Robot sững người. Người vận hành điều khiển nó không biết phải xử sự thế nào. ”Các em, những chiếc mũ này để đội đầu,” nó nói.


“Cái đó chúng tôi cũng biết, không cần đến anh,” Bogdana nói.


“Tôi nghĩ đã đến lúc biến đi.”


“Tôi còn phải cung cấp vài thông tin nữa đã,” robot nói.


“Không thèm,” Bogdana khó chịu. “Cút đi!”


Trong lúc đó, John đã phá hỏng hoàn toàn cái kukla ọp ẹp và tiến đến chỗ robot. Nó nghe thấy những lời cuối cùng của Bogdana. Thỉnh thoảng, khi nào muốn, nó là người thi hành ý muốn của Bogdana. Nó cầm một nửa cái mũ ném vào robot. Nó hài lòng với kết quả của mình vì ném trúng camera. Cái giá đỡ để camera hoạt động, bị trục trặc. Máy lật ngửa lên trên và quay bầu trời. Robot không còn khả năng vận động. Nhưng bọn trẻ không hiểu điều đó. Nasta đến bên robot kéo vai đến khi nó bị lật ngửa ra. John bắt đầu đá vào nó.


 “Để nó yên, chết tiệt, để nó yên!” Bogdana quát lên. Nhưng bọn trẻ không nghe lời, tiếp tục phá hoại cái máy không tự vệ được. “Mẹ ơi, mẹ ơi, cô ơi, cô ơi, các em chúng nó làm hỏng robot,” nó hét to và chạy vào căn hộ. Nhưng ở đó không có ai, nên nó bắt đầu chạy quanh các căn hộ. Vừa lúc đó Zita xuất hiện. Cô hiểu có chuyện không hay. Cô chạy đến chỗ bọn trẻ và đuổi chúng rời xa robot, xem xét cái tác phẩm của sự huỷ diệt, không thể làm gì khác ngoài việc dựng robot lên bánh xe. May quá, trông cũng không đến nỗi. Trong bụng cô suy nghĩ rồi sẽ như thế nào đây…


Cũng lúc đó có hai robot lắp ráp đến. Từ loa nghe có tiếng hỏi: ”Chuyện gì vậy, ai đã làm gì?” Họ quay Zita. “Không phải tôi, bọn trẻ làm đấy, chúng muốn chơi với robot.”


“Tại sao chị không trông nom chúng?”


“Sao tôi phải trông chúng, chúng là những người tự do, không thể ra lệnh cho chúng được. Các anh không biết hiến pháp à?”


Bọn robot xếp cái máy hỏng lên và trở đi.


 


Bởi vì hiến pháp cấm việc người này có quyền hạn đối với người kia, bố mẹ cũng không có quyền đối với các con. Vì vậy họ cũng không có trách nhiệm về việc giáo dục chúng. Khi tội phạm trẻ em tăng lên, tuổi chịu trách nhiệm hình sự giảm xuống gần đến tuổi nằm nôi.


Căn cứ vào hành vi phạm pháp làm tổn hại đến tài sản của xã hội – làm vỡ và phá hỏng mũ và hủy hoại robot, một phiên tòa được thiết lập. Bằng chứng là phần ghi lại mà robot thực hiện trước khi bị phá hỏng và phần ghi lại của các robot đến mang robot hỏng đi.


Trong phòng họp lớn với nhiều monitor và loa, trên ghế là những bị cáo được mời đến - bọn trẻ và Zita. Các fyzikal khác ngồi ở hàng ghế sau.


Trên monitor xuất hiện các khuôn mặt nguyên đơn và quan toà. Đại diện pháp lý cho các bị cáo là giáo sư Válek. Tất cả những bộ não chết từ lâu, vẻ mặt của họ được hoạt hoá. Trong phòng xử kết nối với cả mạng thông tin nên ai cũng có thể điều chỉnh để xem.


 


Nguyên đơn đại diện cho “loài người” là bộ não ảo thị trưởng3, người đảm nhiệm phiên tòa này. Ông ta đọc cáo trạng từ monitor của mình:


“Các bị cáo: Zita, Bogdana, Nasta, John, Nada và Zazim. Bị cáo Zita là người có lỗi vì đã không ngăn chặn việc phá huỷ các kukla và làm hỏng robot V25, mặc dù đã có mặt khi hành động phá hoại xảy ra. Bị cáo Bogdana bị buộc tội làm hỏng hai chiếc mũ do ném chúng ra sau hàng rào. Bị cáo John bị buộc tội phá hỏng mũ và gây thiệt hại robot. Bị cáo Nasta bị buộc tội đã hợp tác để làm hỏng robot. Bị cáo Nada và Zazim bị buộc tội làm hỏng mũ do sử dụng không đúng mục đích. Các hình ảnh chứng minh điều đó.” Tiếp theo đó là những hình ảnh mà bọn robot đã quay được.


“Tôi phản đối,” luật sư biện hộ Válek nói. “trên các hình ảnh, Zita không có mặt khi xảy ra hành động phá hoại. Bà Zita khi đó không có ở đó. Tôi yêu cầu huỷ cáo buộc.”


Các quan toà trao đổi với nhau. Sau đó quan toà1 nói: ”Chúng tôi yêu cầu nguyên đơn thay đổi lời cáo trạng. Không có bằng chứng về sự có mặt của bà Zita khi hành động phá hoại xảy ra...”


“Vâng”, thị trưởng3 nói.”Đã định nghĩa sai. Bà Zita phạm lỗi vì lơ là việc chăm sóc những người bà được giao phó.”


“Phản đối,” ông Válek nói. „Những đứa trẻ theo hiến pháp không giao cho ai cả, cũng không có ai phải chăm sóc, nhà nước phải chăm sóc, không ai khác.”


Quan toà1 nghiêm nét mặt: ”Đúng là như vậy. Không ai phải chịu trách nhiệm vì đứa trẻ cả. Đứa trẻ là chủ thể theo luật pháp kể từ khi nó bắt đầu tự hành xử. Các em này đã ở tuổi đó rồi. Chúng tôi đề nghị huỷ bó cáo buộc bà Zita.”


Thị trưởng3 trao đổi một lúc với các cố vấn của mình, họ không được nhìn thấy. Sau đó ông ta nói: ”Được đáp ứng, bà Zita không bị buộc tội...”


 


Zita vẫn ngồi trên ghế, nắm tay con gái Nasta và phía bên kia Bogdana đang nép vào người cô. John không để ý gì và chơi với mẩu gỗ trước đó đã dùng dao gọt hết vỏ cây ra, cắt mỏm nhọn trông như mũi thuyền. Nó đang mong cái thứ chán phèo này kết thúc và sẽ đi thử sản phẩm của mình trên sóng biển, mơ ước rằng có ngày sẽ làm ra chiếc canô và bơi đi cùng nó.


“Bà Zita, bà có thể xuống ngồi ghế sau,” quan toà 1 nói.


Zita đứng dậy, Nasta và Bogdana theo cô. Hai đứa sinh đôi nắm tay nhau sợ hãi nhìn quanh. Khi Zita đi xuống, hai trẻ sinh đôi bắt đầu khóc.


“Bà Zita, bọn trẻ phải ở lại, chúng là các bị cáo...”


Zita đứng lại, thì thầm gì đó với Nasta và Bogdana. Bogdana quay lại, còn Nasta bám chặt lấy mẹ. Vậy nên Zita đành quay lại và ngồi xuống.


“Bà Zita, bà phải nghe lời toà án. Bà hãy ngồi xuống hàng ghế sau, hay có thể ra ngoài. Hãy để bọn trẻ ở hàng ghế trước!”


“Con gái tôi sẽ không ở đây một mình,” Zita nói.


Nada và Zazim bật ra khỏi ghế, chạy xuống phía sau theo mẹ Nada. Nada đặt chúng lên lòng.


“Bà Zita, hãy xuống phía sau ngay và để con gái ở ghế...”


“Các ông làm gì thế, là mẹ nó tôi cũng có quyền. Có lẽ cả quyền có thể ở cùng với con của mình.”


“Quyền của bà cũng trùng hợp với tất cả mọi người, đứa trẻ do nhà nước quyết định .”


“Tôi dạy dỗ nó...”


“Tôi phải khuyến cáo bà. Hiến pháp không công nhận công lao gì đó. Mọi người bình đẳng như nhau. Không ai có đặc quyền, dù so với những người khác làm nhiều hơn một số công việc. Không có tình cha, mẹ bắt buộc. Mọi người được nhận theo nhu cầu, chứ không phải theo công lao... Và bây giờ bà xuống ghế sau, giống như những công dân khác. Ở đây từng có những kẻ giết người và đã phải nghe lời...”


Zita lại đứng dậy và đứa con gái theo mẹ. Họ đứng ở giữa đường, thì thầm với nhau.


Quan toà1 bắt đầu tham khảo ý kiến với quan toà2 và quan toà3. Kết quả là tuyên bố: ”Cho phép ngoại lệ để các bà mẹ được ngồi cùng với con mình trên ghế các bị cáo.”


 


Khi các bị cáo đã đông đủ trở lại trên ghế, quan toà1 tiếp tục: ”Các cuộc hỏi cung của cảnh sát đã không được tiến hành, vì đây là phạm lỗi. Phiên toà chính ra thay thế trọng tài điều khiển. Bây giờ cáo trạng có thể nghe lời các bị cáo và xem xét các bằng chứng của nhân chứng.”


Thị trưởng3 cũng nhìn vào giấy tờ:


“Bị cáo Bogdana, tiến lên phía trước.”


Bogdana bước đến bục, tay bám vào thành, chiếc chân nhỏ kẹp giữa các thanh gỗ và ngón chân cái đang nghịch với cái góc thảm gấp lên. Khuôn mặt trẻ con tròn trĩnh với những nét Mông cổ cho thấy tính nghịch ngợm.


“Cô bị buộc tội phá huỷ hai chiếc mũ vì đã ném chúng qua hàng rào. Có đúng thế không?”


“Tôi làm vậy vì nghĩ rằng đấy là những quả bóng...”


“Cô không phân biệt được bóng với mũ sao?”


“Không.”


“Nhưng robot nói với cô rằng đây là những chiếc kukla.”


“Tôi không nghe thấy.”


“Được rồi, cô có thể ngồi xuống. Bị cáo John bước lên.”


Người mẹ hích vào John đẩy ra chỗ bục: ”Rồi, con đi đi, phải ra chỗ Bogdana vừa đứng.”


John đứng vào trong bục và chưa cao đến phần tay vịn. Nó vẫn chơi với mẩu gỗ. Nó đập mẩu gỗ vào tay vịn. Giá như nó có mảnh gỗ đẹp như cái tay vịn này để làm thuyền thì hay quá!


“Im lặng!” Quan toà1 nói. “Bây giờ cậu sẽ trả lời các câu hỏi của nguyên đơn.” John không chú ý gì và đưa đẩy mẩu gỗ trên vịn tay. Nó hình dung con thuyền đang lướt.


“Cậu bị cáo buộc cố tình làm hỏng chiếc mũ và đá vào robot. Cậu đang thấy hình ảnh hành động của mình.”


John vẫn tiếp tục chơi với mẩu gỗ và không trả lời.


“Hãy trả lời đi!”


John đang suy nghĩ liệu có nên hy sinh miếng gỗ đã mất công đẽo gọt để bắn hay không. Tiếc quá, không có cái cung của mình ở đây! Sau một lát ngập ngừng, quyết định, nó vung tay cùng mảnh gỗ trúng vào monitor và thị trưởng3. Thể nào chú Bogadyr cũng sẽ khen nó. Nó học được khá tốt cách ném trúng mục tiêu. Trong phòng có tiếng cười. Quan toà1 gõ chiếc búa lên bàn và từ loa vang lên giọng nói được hoạt hoá: ”Tôi cho dọn dẹp phòng, im lặng! Đây là sự coi thường toà án…”


“Thôi mấy cái trò khỉ của các người đi. Các người không biết đây là những đứa trẻ cuối cùng của loài người sao! Không lẽ với các người thế nào cũng được? Lẽ ra các người phải thấy xấu hổ,“ Zita phản kháng.


“Các bộ não mốc meo kia, hãy thôi đi, không tôi sẽ ngắt kết nối và thế là xong,” Bogadyr nói. “Nhét một vật kim loại và đường dẫn khó lắm sao! Hãy biến đi cho mau.”


“Ra khỏi phòng ngay…”


“Chúng tôi đi đây.” Mọi người đứng lên, bọn trẻ đi theo.


“Phiên toà sẽ tiến hành không cần sự có mặt của các người,” vang lên tiếng nói phía sau họ.


 


Sau khi các fyzikal đi khỏi, phiên toà tiếp tục. “Luật sư phản biện, bây giờ ông là người duy nhất đại diện cho phía bị cáo. Ông có đề xuất nào không?”


“Tôi khuyến nghị tự do hoàn toàn. Bọn trẻ còn nhỏ quá chưa thể tự quyết…”


“Không thể thế được, điều này trái với hiến pháp. Trẻ em là những công dân tuyệt đối, có đầy đủ các quyền lợi và cả nghĩa vụ…”


“Được,” luật sư phản biện nói. “Tôi đề nghị giam một tuần trong soba với sự có mặt của bố mẹ.”


“Đó không phải là hình phạt,” thị trưởng3 lên tiếng.


“Bọn trẻ không thể không có bố mẹ ở bên, hôm nay các vị đã thấy trong phòng xử án rồi. Phải có ai chăm sóc chúng. Đồng thời đó cũng là hình phạt cho bố mẹ.”


“Nếu bố mẹ muốn, không thể ngăn cản việc họ ở cùng với các con,” quan toà1 nói.


“Đồng thời chúng sẽ có chương trình giáo dục bắt buộc và cấm sử dụng các chương trình giải trí,” Válek nói.


“Không được, không được.” Thị trưởng3 nói. “Chúng cần phải học cách sử dụng kukla. Lúc đó chúng sẽ chỉ sử dụng kukla khi ưa thích chương trình giải trí nào đó.”


“Tôi không biết ông muốn gì!” Válek thắc mắc. “Ông muốn phạt chúng bằng cách cho chúng giải trí ư?”


“Đây là biện pháp phòng ngừa. Chúng tôi muốn giảm bớt cuộc sống thể chất của chúng đi. Các ông thấy đấy, nó nguy hiểm thế nào. Hôm nay chúng phá robot, ngày mai sẽ là Korpus. Bọn tội phạm sẽ bình tâm trở lại ngay sau khi chịu cuộc sống ảo. Chúng tôi có kinh nghiệm rồi. Tất cả sẽ hết nguy hiểm…”


Válek thấy để trẻ con bắt đầu chơi các chương trình ảo nguy hiểm như thế nào. Chúng sẽ thôi là người. Chính ông trước đây hai thế kỷ từng có cuộc sống thể chất đến năm sáu mươi tuổi rồi bắt đầu ốm nặng. Cần bảo vệ bọn trẻ vì cuộc sống thể chất. Vì vậy ông nói:


”Tôi không tán thành bắt buộc đội mũ vì chương trình giải trí. Đó là vấn đề tự nguyện. Phạt có thể bằng cách hạn chế các chương trình giải trí, giảm bớt việc chọn lựa tự do, chứ không phải ép giải trí…”


“Nhưng đối với chúng thì đây không phải là hình phạt, chúng nó cũng không chơi chương trình giải trí, vì vậy không thể phạt chúng cách này được,” cố vấn3 nói.


Quan toà1 kết luận: ”Chúng ta chọn thoả hiệp. Chúng sẽ bị giam trong soba, phải theo dõi các chương trình giáo dục về xử sự lễ phép. Bố mẹ có thể có mặt nếu họ muốn. Các chương trình giải trí sẽ bị cấm, cũng như trong trường hợp những người bị trừng phạt  khác. Đây là tiền lệ, không thể khác được. Tất cả có vậy.”


Válek vui lòng tán thành. Cuối cùng thì cố vấn3 đã thông qua.


 


 


Chế tạo con người


 


Các vấn đề với trẻ em và việc hình dung rằng cuộc sống thể chất của con người kết thúc đã dấy lên trong khu vực thông tin cuộc thảo luận tiếp theo về khả năng phục hồi thao tác, điều khiển gen. Các chuyên gia sinh học là những người đầu tiên phát biểu về đề tài này.


Giáo sư Malý, từng có năng lực được thừa nhận, mở đầu cuộc thảo luận bằng bài tham luận uyên bác: “Ngày ấy trong thế kỷ XXI người ta bắt đầu thao tác, điều khiển gen với thực vật, trồng được cây có khả năng chống lại sâu bệnh, đồng thời cho năng suất cao. Nhưng đã cho thấy rằng không thể được. Thiên nhiên từ chối nhân bản một phía chỉ có những đặc điểm tích cực. Hoặc thứ nhân bản năng suất cao, nhưng lại cần môi trường rất khó tính, có nhiệt độ bền vững, đủ ánh sáng mặt trời, nước tưới cần chính xác liều lượng, không quá nhiều, không quá ít. Nhưng cái chính là nó rất dễ bị nhiễm bệnh. Nó luôn luôn cần được chữa trị bằng hoá chất. Thế rồi các điều kiện phức tạp đến mức kết quả không bù lại công chăm sóc cần thiết, nên tốt hơn là trồng các loại trước đây có khả năng đề kháng bình thường và cho vụ mùa trung bình. Nếu như trồng được loại nhân bản mà có sức đề kháng mốc và vi trùng, thậm chí xua đuổi được cả loài gặm nhấm, thì nó lại không sinh sôi, tức là như cỏ dại. Nói thế loại nhân bản này đã thực sự trở thành cỏ dại, tràn ngập nhiều nơi trên trái đất và rất khó chống lại được. Có lẽ đến giờ nó vẫn tồn tại trong thiên nhiên. Bởi vì rất khó giữ được để loại nhân bản đó không thoát ra khỏi các phòng thí nghiệm vào thiên nhiên, cuối cùng thì những thử nghiệm này bị cấm, chưa kể là bọn tội phạm lợi dụng việc sử dụng gen này, nuôi những loại vi-rut sau trở thành hiểm hoạ. Tôi cho rằng những khả năng mà loài người có này cuối cùng nguy hiểm hơn cả bom nguyên tử.


Tất cả các thử nghiệm cùng với những kinh nghiệm trước đó của loài người cuối cùng đưa đến sự đảo lộn về suy nghĩ, con người bắt đầu không tin tưởng và cấm bất cứ gì có thể, tức là cả mưu sinh và các thứ khác, những thứ đã và có thể đem lại lợi ích trong tương lai. Loài người tin chắc rằng họ có thể tự huỷ diệt, bởi vì với niềm kiêu hãnh họ rời khỏi các nguyên tắc tín ngưỡng mà theo đó con người phải khiêm tốn và phục tùng. Điều đó dẫn đến năm thế kỷ đen tối về khoa học và sự thống trị của các hệ thống tín ngưỡng trước khi tiến bộ khoa học trở lại. Động cơ trực tiếp của việc trở lại các hệ thống tín ngưỡng và chặn đứng toàn bộ tiến bộ khoa học là đại dịch bệnh phổi gọi là moreta khiến một phần năm nhân loại chết. Nghe nói đó cũng là nhân bản, nhưng không có ai khẳng định cả. Đúng, nếu sống cuộc sống ảo, chúng ta không phải sợ các vi sinh vật và có thể tiến hành thử nghiệm nào đó. Nhưng nếu chúng ta muốn duy trì cuộc sống thể chất, thì tôi cảnh báo trước…”


 


Human1 cảm ơn giáo sư Malý và khai mạc cuộc thảo luận. Có khoảng mười người trong cộng đồng khoa học đăng ký phát biểu. Tiến sĩ Fichtinger hỏi: ”Thưa giáo sư, còn việc nhân bản gen các động vật, có cuộc thử nghiệm nào diễn ra không?”


“Như tôi được biết, các thử nghiệm bị giấu đi. Nhưng chắc chắn là có việc đó. Kết quả như thế nào thì tôi không biết. Một số dấu hiệu cho phép tiên lượng một số loài vật đã được nhân bản. Thí dụ như bò, để chúng cho nhiều sữa hơn. Tôi có nghe là sữa của những con bò này chứa một số chất nguy hiểm đối với cơ thể con người. Nhưng tôi không có thông tin chính xác và cũng không tìm thấy thông tin ở đâu.”


 


Các bài phát biểu tiếp theo cũng không khác mấy. Kết quả khẳng định việc nhân bản thực vật và động vật là nguy hiểm.


Liền đó người điều hành đưa ra chủ đề tiếp theo: Nhân bản. Giáo sư Zlámal có lời mở đầu:


”Nhân bản hoàn toàn không phải là phương pháp ích lợi gì. Theo nguyên lý thì đây chỉ là việc tạo ra những cá thể nhận dạng. Về cơ bản người ta đưa vào tế bào mẹ thông tin gen của một cá thể khác thay vì tinh dịch. Tại sao phải làm thế? Tôi không biết. Việc này chỉ có ý nghĩa khi không còn tinh dịch nam giới mà chỉ còn trứng của người mẹ. Thế nhưng ngày nay, như tôi thấy, vấn đề lại là ngược lại. Tế bào thì có đủ, nhưng không có ai sinh đẻ… Trừ khi chúng ta nói về tình mẫu tử chuyển tiếp, tức là về khả năng con người được đầu thai trong dạ con động vật. Thì cứ cho là trứng đã thụ tinh của người đặt vào dạ con của con khỉ. Thế nhưng khi xưa người ta đã thử vậy rồi. Không có kết quả. Hoặc thụ tinh trứng của con khỉ bằng tinh dịch người. Trong trường hợp đầu, hậu sinh không được cơ thể con khỉ chấp nhận, con khỉ bị sẩy và không bao giờ đậu. Trong trường hợp thứ hai một sinh linh lai tạp đã ra đời nhưng không có khả năng sống.


Tôi xin tóm tắt lại, về cơ bản chỉ có thể sử dụng gen, tức là thay đổi thông tin gen của con khỉ sao cho nó gần giống với con người, như việc bổ sung thêm vào thông tin gen của nó một số phần của ADN con người. Điều này chắc phải tiến hành qua mấy thế hệ, vì không thể hình dung được con khỉ đẻ luôn ra con người. Đơn giản cơ thể nó không tiếp nhận một thứ biến đổi như vậy. Tuy nhiên tôi có thể hình dung ra những đổi thay trong thời gian mấy thế hệ. Đồng thời phải tính đến chuyện phần lớn những sinh linh biến đổi sẽ không có khả năng sống, một số còn nguy hiểm nữa. Cần phải có sự chọn lựa nghiêm ngặt. Cá nhân tôi nghiêng về điều này, có thể đó là một cách…”


 


Tiến sĩ Kissinger bổ sung: ”Trong trường hợp động vật có xương sống lớn, chúng ta không phải lo rằng sẽ có con vật biến đổi nào đó thoát ra thiên nhiên. Chúng ta có thể dễ dàng tìm ra một con vật như vậy và tiêu diệt. Cuối cùng thì nó cũng không sinh sôi được vì không có bạn đời thành đôi. Nhưng đồng thời chúng ta cũng phải xét đến những kinh nghiệm của loài người và không bao giờ dung thứ sử dụng gen với vi trùng và cây cối hoặc sinh vật cấp thấp. Loài người ảo và cả loài người thể chất không cần điều này. Nên biết rằng, chúng ta có khả năng bằng con đường hoá học sản xuất ra bất cứ thực phẩm nào từ những cây bình thường, dù ít nhiều, kể cả từ cỏ dại. Loài người đã sử dụng hàng nghìn năm một số thực phẩm hoá học, chúng đã là một phần lớn lương thực của loài người ít nhất năm trăm năm. Chúng ta hãy đừng làm những thử nghiệm nguy hiểm, nếu điều đó không cấp bách!”


 


Lời phát biểu của giáo sư Kissinger dấy lên cuộc thảo luận tiếp theo. Hàng trăm bộ não đăng ký phát biểu. Cuộc thảo luận kéo dài mấy ngày chừng nào các bộ não thấy thích thú. Rồi dần một số rút lui, chỉ còn lại những người sáng tạo nhất. Về cơ bản ý kiến của tiến sĩ Kissinger được thông qua và dường như trở thành lối mở ra.


Từ toàn bộ cuộc thảo luận xuất hiện cảm tưởng rằng có thể thay thế hoặc tái sản xuất con người. Quan trọng chỉ là giữ gìn các tế bào có chức năng thông tin gen.


 


Song tất nhiên cũng đồng thời nảy sinh cả các vấn đề đạo đức. Giáo sư Valíšek xin trình bày các vấn đề đó:


”Những người hiện tại có quy chế con người, có quyền con người. Không những các người ảo chúng ta mà phần người sống thể chất cũng có quyền đó. Vậy thì quy chế của con người mới chế tạo ra sẽ như thế nào? Chúng ta đừng quên là con người đó được chế tạo ra từ động vật. Với tổ tiên họ từng được sử dụng như loài vật. Khi nào có thể giao cho sinh linh như thế quy chế con người và cho phép mọi thứ, cho phép tự do.


Cứ cho rằng chúng ta có khả năng đo được IQ của nó. Cứ cho rằng chúng ta có khả năng xác định các kỹ năng khác của nó. Thế nhưng liệu đó có phải là con người không? Hay chỉ cần nó có ADN trùng hợp với con người? Cứ cho rằng đó sẽ là một sinh linh hoàn toàn mới.


Bây giờ tôi sẽ không tranh luận về vấn đề con người hiện nay đã được tạo ra, hoặc phát triển từ con vật nào đó bằng quá trình tiến hoá chậm. Ít nhiều thì chắc chắn rằng nó đã trở thành một sinh vật hoàn hảo với cấu trúc xã hội qua quá trình phát triển từ từ của xã hội. Ở con người được tạo ra những đặc điểm như tình đoàn kết, chủ nghĩa vị tha, quan hệ với gia đình và con cái. Điều này được hoàn thiện như cách xã hội loài người từ từ hình thành. Tác phẩm đó lúc này vẫn còn vài phiên bản đứng trước cổng Korpus, không phải là kết quả của tạo hóa đột biến, mà là kết quả của sự phát triển xã hội. Và nó là như thế nào? Tất cả chúng ta biết rằng các nhóm người từng đánh lẫn nhau, số sống sót là nhóm biết thích nghi tốt nhất về môi trường và dần dần xua đẩy những nhóm không biết thích nghi tốt như vậy. Chính đây là điều rắc rối. Chúng ta sẽ làm gì với con người mới này? Chúng ta để các nhóm người đấu nhau? Chúng ta sẽ trịch thượng quan sát họ như các thánh thần nào đó? Ở đây cần ý thức một điều là chỉ có cuộc đấu chọi như thế trong quá trình lâu dài con người mới lại hình thành. Chúng ta có thể dựng lên một quyền lực thần thánh nào đó. Chúng ta có thể chỉ can thiệp trong trường hợp nếu thấy sự phát triển loài người mới tỏ ra không thích hợp. Nhưng đó lại là vị trí của thần thánh. Từ đây chỉ thấy có hai khả năng: Hoặc sinh linh mới sẽ bình đẳng với chúng ta ngay từ đầu, nhưng có hiểm hoạ là không biết trước phản ứng của loại người đó đối với chúng ta và có thể dẫn đến nguy hiểm. Hoặc đó là sinh linh mà chúng ta đối xử như đối với con vật và để nó phát triển tự nhiên trong thiên nhiên. Cả hai khả năng đó tôi thấy không cần thiết. Chúng ta sẽ không tạo ra bản sao con người hiện tại với những đặc điểm trùng hợp. Tạo ra một loại súc vật mới và thả nó vào thiên nhiên chỉ vì nó giống con người là không cần thiết.”


 


Tất nhiên tiến sĩ Kissinger không đồng tình: ”Mặc dù vậy cũng đáng để thử nghiệm. Tất nhiên là cách tiếp cận xã hội theo khả năng hai có thể xem xét. Tức là hành vi của sinh linh như vậy sẽ phải được kiểm tra trong môi trường tồn tại. Nhưng đó không phải là một sự phát triển dài dòng. Nếu như sinh linh đó biết hành xử như con người ngay ở thế hệ thứ hai, cùng với tác động của giáo dục, nó có thể được bình đẳng.”


 


Những người khác bật cười: ”Ông nói về con người mới cứ như anh ta đã ở đây rồi. Trước hết anh ta phải ở đây đã rồi sẽ có đủ thời gian nghĩ xem phải làm gì tiếp…”


 


Giáo sư Valíšek phản đối chuyện này: ”Không, không đúng như vậy, đầu tiên chúng ta phải làm sáng tỏ các vấn đề đạo đức trước khi bước vào những thử nghiệm này. Chừng nào chưa rõ ràng, chúng ta không thể thực hiện bất cứ thử nghiệm nào. Mỗi dự án cần có học thuyết và nó phải được chuẩn bị trước. Các vị hình dung xem, một sinh linh như vậy xuất hiện và thưa thốt với chúng ta bằng giọng nói của con người. Mọi người sẽ tin tưởng nó, thực ra lại là thú dữ… Nhất định điều đó sẽ đem lại những hậu quả đáng sợ. Tất cả chúng ta có thể bị tiêu tan. Chúng ta phải biết mình dễ tổn thương như thế nào…”


(còn tiếp)


Nguồn: Nhân mạng cuối cùng và đồng loại. Tiểu thuyết giả tưởng của nhà văn CH Séc: Ing. Vlastimil Podracký (Sci-fi 2009). Xuất bản dưới sự bảo trợ của Hội nhà văn Cộng hòa Séc; Đại sứ quán Cộng hòa Séc tại Việt Nam và Hội hữu nghị Việt Nam – Séc. Những người dịch: Mgr Nguyễn Thị Mùi (Lenka Nguyen),Đỗ Ngọc Việt Dũng, MSc. (Do.honza). Nhà xuất bản Hội Nhà văn. 2019.


Dịch giả Đỗ Ngọc Việt Dũng gửi www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 05.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
xem thêm »