tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30132781
Tiểu thuyết
05.11.2019
Constant Virgil Gheorghiu
Cơ may thứ hai


Aurel Popesco cùng đi với trung úy phi công Varlaam vào phòng. Và Salomon vội giấu tấm hình chụp trang trại. Bà nhìn người mới đến và nhận ra ngay đó là Varlaam.


Đó chính là viên sĩ quan đổi đến Bucarest lấy căn nhà của bà bị trưng dụng theo luật chủng tộc. Bà Salomon nhìn ngay vào mắt hắn nhưng hắn không nhận ra bà.


- Tôi tin là chúng ta đã có gặp nhau rồi. - Bà Salomon nói.


Varlaam nhìn đôi giày cườm nhung, cái áo, vòng đeo cổ, khuôn mặt, những nếp nhăn ở trán và mái tóc nhuộm. Hắn không nhớ ra được là đã gặp bà rồi.


- Tôi tin chắc là chúng ta đã gặp nhau rồi. - Bà Salomon nói nhưng bà không nài nỉ nữa.


Bà nghĩ: “Tôi đã già đến nỗi người ta không nhận ra được nữa sao?” Một nỗi buồn chán mênh mông xâm chiếm tâm hồn bà.


- Tôi không nghĩ rằng chúng ta đã gặp nhau. - Varlaam nói - Tuy rằng tôi có một trí nhớ tuyệt vời.


- Không lỗi gì cả, thưa ông. - Bà Salomon nói - Chúng ta hãy bàn công chuyện làm ăn đi. Người bạn chung của chúng ta, ông Aurel Popesco có cho tôi hay là ông đã xin đi di dân nhưng ông bị tất cả các hội đồng từ chối. Tôi có thể giúp ông một dịp may. Dịp may trở lại làm phi công. Ông sẽ có một hợp đồng với quốc gia Israel. Ông vào không quân Israel với cấp bậc ông đã có, nghĩa là trung úy phi công, với trọn lương tháng như cũ cộng thêm với tiền công tác phí! Hợp đồng có giá trị suốt trong thời gian có chiến tranh giữa Israel và Ẳ Rập.


Bà Salomon giải thích cho Varlaam hiểu rõ là người ta không thể có được một “affaire” tốt hơn.


- Thay vì ở đây, ở lại nước Đức này, để làm một tên buôn lậu bơ và thuốc lá với viễn cảnh thường nhật là đi tù với những tên vô lại, tốt hơn nên làm một chiến sĩ, trên phương diện đạo đức, chiến đấu để bảo vệ đất Thánh ở Palestine là một việc làm vĩ đại.


Varlaam nghĩ đến những viễn cảnh sắp tới tất cả các nước ngoài đại dương (?) đều từ chối nhận hắn như một thợ mộc, một tên chăn bò hay một tên quét đường.


- Tôi chấp nhận. - Hắn nói.


- Chấp nhận không chưa đủ. - Bà Salomon nói - Ông phải đi ngay vào ngày mai.


- Không gì giữ tôi lại đây cả. - Hắn trả lời.


Bà Salomon giải thích cho Varlaam biết còn vài thủ tục nhớ phải làm. Hắn phải đến văn phòng quân sự phía đối diện để ký bản hợp đồng, để chụp hình và để đo kích thước cho quần áo đồng phục.


- Ông sẽ đi khỏi đây với đồng phục sĩ quan quốc gia Israel. - Bà Salomon nói - Nhưng ông được tuyển mộ trước tên ông.


- Có thật sự cần thiết phải đổi tên không? - Varlaam hỏi.


- Ông phải mang một tên Do Thái một khi ông mặc đồng phục sĩ quan quốc gia Do Thái. - Bà ta nói - Chúng tôi sẽ tìm cho ông một cái tên. Ông thích cái tên David không? Đó là một cái tên chiến đấu. Tiếp theo là Oztas, phi công trong quân đội Israel.


Bà Salomon đưa cho Varlaam năm trăm đô la và bảo hắn đấy là tiền đặt trước. Trước khi khởi hành, hắn sẽ nhận tiền lương tháng bằng đô la.


- Ông biết hối suất hiện nay ở Sở giao dịch chứng khoán chứ? - Bà Salomon hỏi - Về phương diện hối đoái, đây là một “affaire” đặc biệt đối với ông. Thời buổi bây giờ, một con người không đáng giá gì hết ở Sở giao dịch chứng khoán tại Moscow. Không đáng một đồng franc. Tại New York, một con người cũng không đáng giá bằng con số không. Các hội đồng mua người ở đây, ở nước Đức này, vì lợi ích các nước ngoài Đại Tây Dương đã trả một giá quá hạ cho một người đàn ông hay đàn bà. Còn hạ hơn giá một vé đi tàu thủy hạng ba. Đó là lý do tại sao họ mua người tại Đức theo mét và theo ký, và cho họ đi trên những chiếc tàu chở súc vật. Trước khi đi ông sẽ nhận hơn hai nghìn đô la, ở sở giao dịch chứng khoán Tel Aviv, giá trị cá nhân mới là cao hơn hết. Tôi nghĩ rằng hiện tượng này có thể giải thích bởi sự kiện Israel là một quốc gia có tín ngưỡng, có đạo giáo. Trong một quốc gia như thế, con người còn giữ được giá trị của mình và Israel là quốc gia có đạo giáo duy nhất trên thế giới.


Varlaam muốn đi khỏi.


- Ông hãy nhìn kỹ tôi một lần nữa đi và hãy nói cho tôi biết ông có nhận ra tôi không.


Varlaam nhìn đầu tóc nhuộm, bạc trắng ở chân tóc, nhìn mấy nếp nhăn quanh mắt, nhìn đôi lông mày nhuộm, nhìn cái cổ quấn đầy ngọc quí và nói:


- Tôi chưa bao giờ gặp bà, thưa bà Salomon.


Bà Salomon cảm thấy mắt đầy nước khi tiễn Varìaam ra cửa.


- Đừng quên tên ông đấy. Tên ông bây giờ là David Oztas. - Bà ta nói.


Trong khi đó bà vẫn nghĩ: “Tôi đã già trên thế sao?”


Aurel Popesco bắt đầu nói chính trị theo thói quen của ông ta.


- Trong vài ngày nữa, Hội nghị các nước Châu Âu bị người Nga chiếm đóng sẽ họp. Tôi sẽ có cách nói cho người Mỹ biết là một biến cố chính trị quan trọng hơn hết lúc này đang được chuẩn bị tại Hội nghị đó. Các thủ lãnh Cộng sản Đông Âu muốn tách khỏi nước Nga và thành lập khối Liên minh quốc gia Cộng sản vùng Sông Danube. Người ta sẽ chọn thống soái các quốc gia Slaves phía Nam đứng đầu khối liên minh này.


Moscow đã biết kế hoạch đó và đã giao cho Boris Bodnariuk nhiệm vụ ám sát thống soái, đồng thời nhiều toán quân sẽ tập trung trên bờ Địa Trung Hải. Cũng có thể giả thuyết là quân Đỏ sẽ tiến vào Ý đại lợi. Nhờ thông tin này, tôi giúp người Mỹ cảnh giác và tôi không chỉ cứu nước Ý và Vatican mà còn cứu cả nền văn minh phương Tây. Nhờ thông tin của tôi quân đội Mỹ biết trước sự hiện hữu của kế hoạch tiến quân của Nga Xô. Công lao cứu thoát phương Tây khỏi ách xâm lược Nga Xô.


- Ông dành thì giờ của ông để cứu vớt nền văn minh và để giết người. - Ante Petrovici nói - Các ông giết người để cứu nền văn minh, nền văn hóa và giáo hội à? Cứu một người và sự kiện sẽ nổi tiếng kêu cứu cả nhân loại bởi vì không có nhân loại, chỉ có những con người, những con người sống, thưa Ngài Aurel Popesco!


Ante Petrovici cảm ơn bà Salomon lần nữa về những chiếc áo rồi đi ra, chân bước khập khiễng nhiều hơn lúc nào hết.


IX


Aurel Popesco muốn giải thích cho bà Salomon rõ tại sao các lãnh tụ Cộng sản các nước bị người Nga chiếm đóng, muốn nổi dậy chống lại Moscow cùng thống soái các quốc gia Slaves phía Nam là người cầm đầu, tại sao những người Xô Viết sắp giết thống soái và lợi dụng cơ hội đó để tiến quân vào Tây Âu.


Bà Salomon nghĩ đến trang trại của bà ở Canada. Bà nhìn qua cửa sổ và thấy Varlaam từ văn phòng quân sự đi ra.


- Chính trị không làm tôi thích thú chút nào. - Bà nói.


Tiếp đó, bà mời Aurel Popesco cùng đi xuống. Đúng là hoàng hôn. Tất cả người Do Thái đổ ra đường ngay trước nhà họ. Trong tất cả các xóm người Do Thái và trong tất cả các khu vực Do Thái, người ta có thể quan sát cùng một hiện tượng. Đó là: Khi chiều xuống, người Do Thái rời khỏi nhà họ. Họ không thể đi ngủ sau bữa ăn chiều. Họ đi xuống đường phố để xem và nghe những gì xảy ra. Đó là nỗi kinh hãi đã ăn sâu vào máu họ. Trước khi trở về nhà, trước khi cài kỹ cửa và đi ngủ, họ đi ra đường và dò hỏi tin tức về Sở giao dịch chứng khoán, về chính trị hay về các bước hoạt động của phong trào chống Do Thái. Họ hỏi thăm mọi chuyện, hỏi đủ chuyện để biết xem, tùy theo trường hợp hoặc là họ có thể đi ngủ hoặc là phải thức suốt đêm.


Họ tính toán và tự hỏi không biết có chuyện gì đến với họ trong đêm không, không biết họ có thể ngủ không, không biết họ có thể thay quần áo không.


Aurel Popesco nhìn những người Do Thái tụ tập thành từng nhóm nhỏ trước nhà họ. Một chiếc xe cam nhông xuất hiện trước cửa xóm Do Thái, theo sau thêm một chiến khác và cuối cùng là cả một số lớn xe cam nhông chở đầy lính Mỹ đội mũ có hai chữ M.P (Quân cảnh). Họ bao vây khu vực các biệt thự.


Những người Do Thái đứng nhìn sững làm như họ cố giăng cao dây ăng ten để thấy tất cả và nghe mọi việc.


- Họ lại đến kiếm đô la. - Bà Salomon nói - Mỗi tuần họ đến hai hoặc ba lần.


Những người Mỹ đi vào trong mấy con đường của khu phố.


- Quân cảnh Mỹ xuất hiện mỗi khi có người báo cho họ một vụ có thể mang lại nhiều đô la. Họ tra soát, chiếm lấy đô la rồi biến đi như khi họ đến. Ngoài đô la, không còn gì làm cho ho thích thú.


Nhiều người lính đã lập những chiến hào ngăn hàng rào quanh vài ngôi nhà.


- Isaac không có mặt ở đây vẫn hơn. Tôi thích thế nhưng cuộc cướp đoạt như thế này hành hạ thần kinh chúng tôi quá. Nếu như ông biết được là tôi muốn ra đi biết chừng nào. Bao lâu chúng tôi chưa ra khỏi đây thì tôi vẫn không thể tự do được. Thật may mắn là Isaac đã đi vắng. Về mặt tinh thần anh ấy không thể chịu đựng thêm một cuộc cướp đoạt nào nữa, không một cuộc nào nữa. Đã bao nhiêu lần họ đã lấy hết tiền chỗ tôi, lấy đến đồng đô la cuối cùng. Bây giờ, nếu họ lên phòng tôi, họ chỉ tìm thấy quần áo bẩn.


Bà Salomon và ông Aurel Popesco ngừng lại và nhìn. Họ không thể tiến lên nữa, đường đã bị rào chặn lại rồi.


- Chúng ta sẽ được yên ổn ở Canada. Chúng ta sẽ có thể sống như mọi người, như mọi người khác.


Đúng lúc đó người ta nghe một tiếng ồn lớn, giống như vật gì đó đổ xuống.


Đám đông bắt đầu hét lớn, la to và huýt gió.


- Ai đó nhảy từ cửa sổ xuống. - Aurel Popesco vừa nói, vừa nhón chân cao hơn.


Đám đông xô lấn nhau quanh ngôi nhà có ai đó nhảy từ trên cửa sổ xuống nhưng không người nào có thể lại gần được.


Bà Salomon níu lấy cánh tay Aurel Popesco. Bà dựa hẳn vào người ông ta, mặt xanh mét.


- Thần kinh không thể chịu đựng nữa những xúc động như thế. - Bà nói - Tôi không thể chịu nổi nữa. Tôi phải đi ngay, phải ra khỏi nơi này.


Xe cứu thương đến. Mấy người y tá chở xác của kẻ đã nhảy qua cửa sổ. Tất cả chỉ kéo dài trong vài phút.


Eddy Thall nhờ Aurel Popesco dẫn bà về phòng.


- Thật quá sức chịu đựng đến nỗi tôi cảm thấy không thể lên phòng một mình. - Bà nói.


Họ rẽ một lối đi qua đám đông, mọi người đều nói và bàn tán về vụ tự tử.


Bà Salomon cảm thấy có cái gì nhầy nhầy dưới chân mình, ngay trước nhà bà. Bà đã bước đi trong vũng máu đúng ngay chỗ cái xác rơi xuống.


Eddy Thall muốn hỏi xem ai tự tử nhưng mắt bà nhìn chăm chú vệt máu trên đường nhựa, vệt máu bà đã dẫm bước lên với đế giày có nạm ngọc vàng ánh, đúng mốt Mỹ. Giày bà bị vấy máu và trên vũng máu ruồi đã kêu vo vo.


- Chúng ta lên đi, lên đi. - Bà nói.


Bà vẫn nhìn thấy trước mắt vệt máu, chiếc xe cứu thương trắng, đám đông vây quanh bà.


Một người Do Thái nhảy qua cửa sổ và điều đó xảy ra sau Chiến thắng! Xảy ra khi mà hiện tại người Do Thái làm chủ bom nguyên tử và ông trùm nền kỹ nghệ nguyên tử, ông Lisienthal là một người Do Thái sinh trưởng cùng làng với Lidia!


- May mắn là chúng tôi sắp đi Canada. - Bà ta nói.


Bà thấy choáng váng phải dựa vào tay Aurel Popesco khi đi lên bậc thang. Bà muốn lau chùi giày để không vào nhà với đôi giày đầy máu.


- Ai tự tử thế? - Bà hỏi.


- Tôi không biết. - Aurel Popesco nói - Người ta đã chở người ấy đến bệnh viện và ông ta đã chết.


Vào tới phòng bà Salomon nằm lăn ra giường.


- Hãy cho tôi chút gì uống đi. - Bà nói - Cái gì mát lạnh ấy. May phước là chúng tôi sắp đi khỏi đây, sắp rời bỏ cái xứ đáng nguyền rủa này. Hăng hái ra đi. Phải chi Isaac trở về sớm hơn nhỉ... nhưng Isaac chỉ về vào ngày mai lúc 6 giờ. Và cho đến 6 giờ ngày mai tôi phải ở một mình, một mình, một mình...


Bà khóc âm thầm, qua làn nước mắt, bà nhìn thấy cái mũ của Isaac trên một ghế dựa. Bà mở mắt lớn hơn và thấy rõ cái áo “ba đờ xuy” và áo vét của Isaac ở gầm giường ngủ. Bà nhảy thót dậy, tưởng như ngủ mơ.


- Isaac về rồi sao? - Bà hỏi - Anh ấy đâu rồi?


Cửa không mở ra và hai cảnh sát Do Thái mang sao hiệu của Salomon lặng lẽ đi vào.


- Isaac về rồi hả? - Bà Salomon vừa hỏi vừa cầm lấy áo vét của chồng.


Hai cảnh binh lặng thinh. Bà Salomon chạy bổ về phía họ, áo vét ôm ở ngực. Bà hỏi họ Isaac đâu. Bà muốn bám lấy họ và buộc họ phải nói Isaac ở đâu nhưng mấy ông cảnh binh vẫn nín lặng. Họ chỉ động đậy khi bà Salomon té xỉu xuống nền nhà với áo vét của chồng ôm chặt trong tay.


Lúc đó mấy cảnh binh mới đến nâng bà lên và để bà nằm vào giường.


- Có nhiều người Mỹ ở trên lầu một. - Viên cảnh binh nói - Ông Isaac đã trở về; ông chạy lên cầu thang từng bốn bước một. Mấy người Mỹ thấy ông vào phòng. Mấy giây sau, ông nhảy qua cửa sổ.


- Ôi, vậy chính là ông ta? - Aurel Popesco hỏi.


Mấy viên cảnh binh liếc nhìn về phía bà Salomon. Bà không thấy và không nghe gì nữa.


- Đúng rồi, đúng là ông ta đã nhảy qua cửa sổ, ông Isaac Salomon. Ông ấy là một trong những bạn ông à? Hình như ông ấy có nhiều đô la, phải không? Ông ấy sợ bị tra soát.


Hai cô y tá vào trong phòng. Họ bắt đầu chà xát, xoa bóp trán cho bà Salomon vẫn nằm ngửa, bất động.


- Cũng có thể Isaac quá mệt mỏi, kiệt sức. - Một cảnh binh nói - Vì ông là bạn của ông ấy, chắc ông biết rõ. Ông ấy quá kiệt sức. Chúng ta không thể phiền trách ai về chuyện đã xảy ra. Mấy người Mỹ không có ý định kiểm tra, soát xét nhà ông ấy. Họ bị xúc động mạnh vì vụ tự tử. Họ đã ra lệnh ngưng ngay cuộc vơ vét.


Ở trên giường, dưới lưng bà Salomon, có chiếc cặp da của Isaac Salomon đựng đầy đô la.


Mấy cô y tá kéo xích chiếc cặp da ra để bà Eddy Thall nằm thoải mái hơn.


Khi rời khỏi căn phòng, mấy ông cảnh binh nói với Aurel Popesco:


- Xin chào ông. Không phải lỗi ai hết, lại càng không phải lỗi của người Mỹ. Chúng tôi là nhân chứng. Ngay sau khi Isaac nhảy ra cửa sổ, người ta cho ngừng cuộc vơ vét.


X


Tin tức của Aurel Popesco thật đúng. Ngay tối Isaac Salomon tự tử chết, Boris Bodnariuk được lệnh ám sát thống soái các quốc gia Slaves phía Nam.


Sau khi thanh toán xong các thành phần từ sau loại một, Boris Bodnariuk được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng.


Hắn đến quận Néamtz vài ngày, đến bằng máy bay riêng, do Anatole Barsov lái, Anatole Barsov là viên phi công trẻ của hắn làm quen được ở một bệnh viện gần Moscow. Họ đáp xuống phi trường Piatra.


Người ta đã xây cất một phi trường tại chỗ trước đây là nhà của Pierre Pillat, tại nơi trước kia là ruộng lúa, là vườn rau của Ion Kostaky. Trong ngôi nhà của Ion Kostaky người ta đặt nhiều bàn làm việc. Làng Piatra đã thay đổi. Bodnariuk lên xe.


Hắn bắt tay Anatole Barsov và Igor Poltarev, anh phi công phụ tá và chúc họ vui chơi thỏa thích.


Đường sá Piatra giờ đây rộng rãi và đã tráng nhựa, người ta xây dựng một nhà máy ở làng Piatra. Giữa thành phố Molda và làng Piatra có một dãy nhà mới xây ngói đỏ rực, đó là nhà tù.


Người ta tập thể hóa, quốc hữu hóa đất đai. Đa số nông dân làm việc ở nhà máy và ăn cơm ở “căng tin” (nhà ăn của nhà máy). Họ chỉ trở về nhà để ngủ.


Nhà cửa ở Piatra gần như trống vắng. Người ta không còn đốt lửa nữa vì nông dân từ nhà máy trở về quá khuya, họ vội vàng đi ngủ để lại ra đi lúc rạng đông. Người ta không còn thấy lò sưởi phun khói nữa; không còn thấy bờ rào nữa, không còn thấy mèo nữa, không còn thấy chó nữa, không còn hoa trên cửa sổ nữa. Và ngay cả không còn thấy người ở trong làng nữa, trừ ngày chủ nhật, nhưng ngay cả ngày này, họ cũng phải đi họp ở xã. Và như thế là nhà cửa trống không.


Xe chở Boris lên phía rừng dương. Hắn hài lòng, thỏa mãn vì công việc đã hoàn thành.


- Lần đầu tiên, nhờ những rừng Xô Viết, người ta ban cho con người khả năng không đấu tranh nữa vì sự tồn tại riêng của mình, theo kiểu súc vật. Cá nhân được bảo đảm về mối lo âu ngày mai. Cuộc đấu tranh sinh tồn được tổ chức chung. Đó là đặc ân lớn hơn hết mà người ta đã làm cho con người. Vậy mà họ lại chống đối. Vậy thì họ phải bị tiêu diệt để cho cuộc cách mạng đầu tiên thật sự vĩ đại của lịch sử có thể hoàn thành.


Trong ngôi biệt thự ở miền núi có nhiều rừng dương. Boris Bodnariuk phải chuẩn bị bài thuyết giảng cho Hội nghị các quốc gia Đông Nam Châu Âu. Trước đó hắn đến nghỉ ngơi ba ngày tại đây, trong sự yên tĩnh của núi rừng. Trời lạnh, hắn thắt chặt hơn chiếc khăn quanh cổ, cài nút áo măng tô da và che kín chân trong tấm chăn.


Boris chưa bao giờ có ngày nghỉ. Đây là những ngày nghỉ đầu tiên trong cuộc đời hắn. Hắn sẽ ở trên núi một mình thanh thản trong ba ngày. Hắn mỉm cười, đi xuống ngôi biệt thự có tường trắng được bố trí, sắp đặt theo nguyện vọng của hắn.


Trong thời gian đó, Anatole Barsov và Igor Poltarev, hai anh lái máy bay của Bodnariuk, nghỉ ngơi tại Piatra, một chai rượu Vodka trước mặt.


Anatole Barsov sung sướng vì cuối cùng được xa cô vợ Olga của anh. Đó là một phụ nữ không ngừng làm anh điên đầu Anh thất vọng, chán nản vì chuyện này. Anh không trách Olga điều gì, trừ việc cô ta luôn kiếm chuyện gây gổ. Đó là một loại cối xay không bao giờ nghỉ.


- Tối nay, không còn bận cãi cọ với Olga nữa. - Igor nói - Không tối nay và không bao giờ nữa, không bao giờ. Cô ta sẽ gây gổ với những bức tường. Vì với cậu, việc đó không thể có được nữa. Chúng ta khởi hành tối nay.


- Chúng ta đi đâu? - Anatole Barsov hỏi.


- Như chúng ta đã quyết định. - Igor nói thật bình tĩnh - Chúng ta có đủ dầu xăng. Chúng ta có tất cả. Bay từ phi trường Piatra dễ hơn là từ Bucarest. Tớ có thể chỉ cho cậu dầu xăng. Nó nằm trong phi cơ.


Anatole Barsov nhớ lại cuộc bàn luận của họ, nhớ từng chỗ một, nhớ như còn nghe thấy từng lời của Igor Poltarev.


Một tối kia, họ đi công tác chung. Igor Poltarev đã đi nước ngoài làm những công tác cho người Xô Viết. Anh đã biết London, Paris, Milan, Berlin. Anh kể chuyện. Igor Poltarev đường đột hỏi Barsov:


- Cậu không muốn trốn qua Mỹ với tớ sao?


- Tớ không phải là một thằng phản nghịch. - Barsov trả lời, giận dữ vì câu hỏi.


- Tớ cũng thế, tớ cũng đâu phải là thằng phản. - Igor nói.- Trước tiên, tớ hỏi cậu đã, cậu không hợp với vợ cậu và cậu không hợp với các thủ trưởng phi đội cậu, cậu là bạn của bộ trưởng Bodnariuk, đấy là sự thật, đồng ý, nhưng ông ta quá bận việc, không có thì giờ dành cho cậu. Tớ hỏi xem cậu có muốn đánh cắp máy bay và trốn đi, trốn Olga, phi đội, nợ nần, chương trình mỗi ngày. Trốn xa mọi sự. Bay đến một nước xa lạ, trở thành giàu có và tự do, tự do, không vợ con, không thủ trưởng.


Barsov nhớ hết tất cả những gì bạn anh nói.


- Tớ nghĩ đến chuyện đó mỗi tối, trong nhiều giờ liền. - Poltarev nói tiếp - Tớ tưởng tượng tớ lên máy bay với một rừng bạn và bay đến một nơi xa lạ, một xứ sở nóng ran. Khi nghĩ đến việc ra đi, tớ sống những giây phút đẹp nhất đời tớ. Thật giống như tớ uống rượu vậy. Tớ sưởi ấm nhờ ánh sáng.


- Cậu không nhận thấy đó là những giấc mơ của một kẻ phản nghịch à? - Barsov hỏi - Nếu như tớ tố cáo cậu với chỉ huy?


- Cậu sẽ không tố cáo mình đâu. - Poltarev trả lời - Tớ biết cậu là bạn tốt của tớ. Trước hết mình là chiến sĩ và công dân Xô Viết và chỉ sau đó mới là bạn cậu.


- Cậu sẽ không tố cáo mình. - Poltarev vẫn nói - Không có gì xấu trong những điều mình kể cho cậu nghe cả. Tớ biết là cậu cũng mơ ước ra đi với phi cơ và bay đến tận cùng thế giới, mỗi phi công đều mơ ước như thế, đó là chuyện bình thường.


- Tớ công nhận điều đó. - Barsov nói - Tớ cũng vậy. Tớ mơ những chuyến du lịch dài ngày, mơ chuyến bay nhưng cùng lúc tớ cũng mơ trở về và tớ hạ cánh trên đất quê hương Xô Viết mà tớ yêu mến và trung thành.


- Tớ cũng thế. Tớ thích trở về trên đất quê hương Xô Viết.- Poltarev nói - Tớ trung thành và yêu quê hương nhưng cậu phải nhìn nhận một điều quá khắc nghiệt, quá nặng nề đó là: sau những giờ bay vào nơi sâu thẳm nhất của bầu trời, thay vì cậu có đủ mọi thứ dưới chân cậu thì khi hạ cánh xuống đất, cậu lại phải chịu đựng bao nhiêu lời phê bình, nhận xét của phi đội trưởng chỉ vì cậu không cài hết tất cả nút áo?!


Igor Poltarev biết cách nói chuyện.


- Cậu thấy chưa, đối với một phi công, đáp máy bay trở về lại quả đất là một điều phũ phàng, đau khổ. Quả đất xấu xí, chật hẹp và dơ bẩn. Quả đất không giống bầu trời. Sau một lần bay, tim cậu thổn thức vì ý nghĩ trở về mặt đất với bao nhiêu chuyện bực mình đang chờ đón cậu: cậu phải vào trại lính, phải trả nợ, phải tiết kiệm, phải thi hành những mệnh lệnh ngu xuẩn, phải cãi cọ với chỉ huy, với mẹ vợ, với vợ, phải chịu đựng những trò vui đùa ngu ngốc của các bạn (đồng chí). Thật là khổ sở khi sau chuyến bay cậu phải trở về lại với tất cả những chuyện đó.


Thật đau khổ vì phải rời bỏ bầu trời ở đó cậu là vua của chính cậu, ở đó những vì sao che phủ vai cậu như quân hàm thống soái. Tớ không thể tin được là cậu không cảm thấy những điều đó, như tớ. Tất cả phi công đều mơ ước như vậy.


Anatole ngồi trước mặt Igor Poltarev, cố nhớ lại buổi nói chuyện. Anh nhớ rõ vì từ sáu tháng nay rồi, anh không ngừng nghĩ đến nó. Anh nghĩ đến từng lời được trao đổi. Anh đã trả lời Igor Poltarev:


- Theo quan điểm của cậu thì cậu có lý, nhưng trước hết chúng ta là những công dân Xô Viết và thứ đến, chỉ thứ đến thôi, chúng ta mới là phi công, hoa tiêu.


Cuộc tranh luận chấm dứt với những tiếng sau cùng đó, nhưng chính anh Anatole Barsov đã gợi lại câu chuyện ít lâu sau. Đây là lỗi anh.


- Cậu biết không, tớ cũng thế, tớ nghĩ đến việc ra đi với máy bay. - Barsov nói - Tớ nghĩ là tớ sẽ đi với một người bạn và tớ sẽ không về lại phi đội nữa.


- Cậu tin đó là điều tốt chứ? - Igor hỏi dò.


- Tớ nghĩ đến điều đó, mỗi tối. Tớ phải công nhận đó là những giờ đẹp nhất trong ngày.


- Người ta thấy rõ là cậu đã tìm được một thời hạnh phúc. Poltarev nói - Lúc sau này, cậu uống ít, cậu mập ra, ít nổi giận, một giọt ước mơ làm dịu cuộc đời.


- Nếu có ai đó nghe chúng ta nói chuyện thế này, chắc chúng ta sẽ bị tóm cổ cả hai đứa quá. - Barsov nói - Chúng ta sẽ bị kết án tù chung thân khổ sai về những điều chúng ta nói.


- Mơ ước là trọng tội sao? - Poltarev nói.


- Tất cả mọi thứ tội ác và tất cả mọi sự phản bội đều bắt nguồn trước tiên từ những giấc mơ. Mộng mơ là nguồn gốc của mọi tội lỗi. Vì lẽ đó mà đồng chí Boris Bodnariuk cho rằng sự mơ mộng cũng phải bị trừng phạt nặng như hành động. Từ mộng mơ đến hiện thực chỉ là một bước rất ngắn. Công lý phải xử phạt cùng mức độ như nhau, giấc mơ, một tội ác còn trong giấc mơ và một tội ác đã phạm rồi. Vả lại, tớ tin chắc là công lý Xô Viết đã bắt đầu xử phạt giấc mơ cũng như hành động. Khi mơ, tớ có ý thức phạm tội ác.


- Vậy cậu có thể chuyển những điều cậu mơ thành hiện thực không? - Poltarev hỏi - Ví dụ, leo lên máy bay và đi?


- Điều đó thì không. - Barsov nói - Tớ không bao giờ trở thành một tên phản bội thật sự.


- Nếu cậu là một tên phản bội trong giấc mơ thì cậu sẽ là một tên phản bội trên thực tế. - Poltarev nói.


Cuộc tranh luận trở nên gay cấn.


Anatole Barsov dọa sẽ mách lại hết với Boris Bodnariuk.


- Cậu chỉ mách khi cậu phải khai báo với tòa án là mỗi tối cậu mơ trốn thoát như thế nào. - Poltarev nói - Cậu sẽ phải khai là cậu mơ, cậu lấy cắp máy bay để trốn thoát, đào ngũ như thế nào. Cậu có biết một lời khai như thế có nghĩa gì không? Có nghĩa là đào ngũ nhưng chưa thực hiện vì thiếu phương tiện. Mấy ông quan tòa biết rõ là cậu nếu có xăng dầu, cậu sẽ chuyển giấc mơ thành hiện thực và họ sẽ kết tội cậu vì ý định, vì chủ tâm. Cũng giống tớ vậy.


- Tớ sẽ không bao giờ là một tên phản bội. - Barsov vẫn chống chế - Cậu là một thành phần nguy hiểm. Tớ không tố cậu nhưng tớ sẽ tránh không nói với cậu chuyện ra đi tối nay. Tớ không bao giờ trở thành một kẻ phản bội.


- Không phải là một sự phản bội. - Poltarev nói - Đó là một chuyện tự nhiên, bình thường đối với một phi công. Một phi công thường mơ bay cao, đi xa. Đó không phải là một sự phản bội đối với mảnh đất Xô Viết. Đó là lòng trung thành của mỗi người phi công đối với bầu trời, Barsov thân yêu ạ. Chúng ta, những phi công, chúng ta cũng yêu mến bầu trời như quả đất và đó là chuyện tự nhiên vì chúng ta cũng thuộc về bầu trời nữa. Nếu có một sự phản bội trong tất cả những gì chúng ta làm, thì mỗi phi công là một kẻ phản bội vì tất cả những phi công trên thế giới đều làm như thế. Và khi những chàng phi công ước mơ bay, họ không phản bội một mảnh đất nào đó, đặc biệt là mảnh đất quê hương họ, mà họ phản bội cả trái đất. Đó cũng là chuyện tự nhiên. Bầu trời đẹp hơn. Quả đất dơ bẩn, xấu xí. Đó là lý do tại sao, cậu, một phi công thực thụ, cậu sẽ bay với tớ. Hơn nữa, cậu thích xa hoa, tiền bạc, âm nhạc, đàn bà, tất cả những gì đẹp đẽ và vì thế cậu sẽ ra đi với tớ. Chúng ta sẽ thực hiện giấc mơ mỗi tối của chúng ta.


- Giấc mơ phản bội Tổ quốc à? - Barsov hỏi, giận dữ.


- Tớ cũng thế, tớ yêu quê hương tớ, tim tớ sẽ ngập tràn Tổ quốc tớ, bất cứ nơi nào tớ dừng lại. Nhưng tớ ra đi, với cậu như tớ đã ước mơ. Và tớ sẽ tổ chức, sắp xếp cuộc đời mình theo sở thích. Tớ muốn biết các nước xa lạ. Tớ muốn có tiền, muốn khiêu vũ, muốn nghe nhạc, muốn có nhân tình đẹp, lịch thiệp. Đấy không phải là phản bội.


- Cậu không phải là một công dân Xô Viết. - Barsov nói - Cậu là một tên phản bội.


- Tớ đã kiếm được một nghìn lít xăng. - Poltarev nói tiếp. Ngay sau khi tớ có đủ số lượng xăng cần thiết, tớ sẽ cho cậu biết. Tớ sẽ gọi cậu và cậu sẽ đến.


Anatole Barsov không tố Poltarev tối hôm đó, cũng không tố vào ngày hôm sau. Anh tự bảo là sẽ kể lại tất cả cho Boris Bodnariuk nghe nếu anh gặp hắn, nhưng Boris Bodnariuk đã đi khỏi và Barsov không thể kể lại chuyện đó với một ai khác.


Vài ngày sau, Igor Poltarev nói:


- Chúng ta sắp đi được rồi. Tớ rất hài lòng vì cậu đã chấp nhận. Thật tuyệt vời được bay với một người bạn. Vả lại trên thực tế, tớ không thể nào đi một mình, tớ cần phải có ai đó.


- Tớ không chấp nhận gì cả. - Barsov nói.


- Việc cậu không tố cáo tớ mặc dù tớ chỉ cho cậu thấy chỗ giấu xăng lấy cắp, có nghĩa là cậu chấp nhận đi với tớ. Bây giờ thì đã quá trễ để cậu tố giác tớ. Nếu cậu tố, cậu cũng bị bắn chết. Đơn giản là thế.


Igor Poltarev cười lớn rồi khuyên Barsov cũng nên đánh cắp xăng. Barsov từ chối.


Còn bây giờ, anh vừa nghĩ đến tất cả những chuyện đó, vừa nhìn những ngôi nhà trống ở Piatra. Anh uống thêm một ly nữa. Poltarev giấu chai rượu.


- Không được uống nữa. Chúng ta sắp khởi hành trong vài giờ nữa thôi. Tớ có đủ số xăng cần thiết rồi. Mọi cái đã sẵn sàng.


- Tớ không muốn phản bội. Tớ thích chết hơn. - Barsov nói.


- Quá trễ để từ chối. - Poltarev chỉ chiếc máy bay trên đường băng- Mọi sự sung sướng, tốt đẹp đang chờ đón chúng ta ở phía bên kia. Cậu có biết một anh phi công dân sự Mỹ lãnh lương tháng bao nhiêu không? Hơn chúng ta lãnh một năm. Và nếu như cậu biết cuộc đời ở bên đó đẹp như thế nào? Rồi cậu sẽ biết ơn tớ.


- Tớ không chấp nhận phản bội. - Barsov nói. Anh nhìn máy bay. - Tớ không phản bội. - Anh lặp lại.


- Tớ giấu xăng trong mấy lon đồ hộp, để trong khoang chứa của phi cơ. Chúng ta có đủ tất cả những gì cần thiết để khởi hành. - Poltarev nói.


- Và nếu như người Mỹ tóm cổ chúng ta và giao cho người Xô Viết? - Barsov hỏi.


- Đừng sợ gì cả. - Poltarev nói - Tớ bảo đảm với cậu là từ đây đến tám ngày nữa thôi, chúng ta sẽ ở trung tâm thành phố New York, môi phì phèo thuốc lá và túi đầy tiền.


- Cậu đảm bảo với tớ điều ấy à? - Barsov hỏi - Làm sao cậu có thể biết được điều gì sẽ xảy đến?


- Tớ đã ở ngoại quốc và tớ biết nó là cái gì.


Họ im lặng nhìn máy bay.


Barsov nghĩ đến Olga và nói:


- Tớ sẽ đi với cậu: Nếu việc không thành thì tớ tự sát. Và như thế là rất đúng. Một kẻ phản bội thật đáng chết, phải chết. Tớ đã là một kẻ phản bội. Tớ đã trở thành phản bội ngay hôm đầu tiên tớ chấp nhận tranh cãi với cậu, cách nay sáu tháng.


Hai giờ sau, khi họ lên máy bay, Barsov cảm thấy sung sướng. Anh nói với Igor Poltarev:


- Tớ vui sướng được ra đi, vui sướng như chưa bao giờ vui sướng.


- Hạnh phúc của cậu sẽ tồn tại trong tương lai. Cuộc sống chỉ mới bắt đầu. Cậu chưa biết là cuộc sống tốt đẹp như thế nào.


Mọi người đều mơ ước ra đi. Cậu may mắn được ra đi như cậu mơ ước. Và đó là một dịp may vĩ đại.


Phi cơ riêng của Boris Bodnariuk, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Rumani, bay về hướng Tây. Nó nhắm hướng nước Áo với hai phi công đào tẩu.


- Đây là giây phút quan trọng của đời tớ. - Anatole Barsov nói.


Lần đầu tiên trong cuộc đời phi công của anh, anh cảm thấy anh bay thật sự, anh cảm thấy anh được tự do. Anh bay như những con chim, bay theo ý muốn mình. Một chuyến bay thật sự.


XI


Bốn giờ đồng hồ trôi qua kể từ khi máy bay biến khỏi phi trường Piatra. Boris Bodnariuk không hay biết gì cả. Hắn ở trong tòa biệt thự khuất giữa rừng thông và lật từng tờ tạp chí. Hắn không thể ngủ được. Không khí đối với hắn hình như quá lạnh, giường ngủ lại quá êm ái. Hắn bắt đầu viết bài diễn văn hắn sẽ đọc ở Bucarest vào dịp lễ tưởng niệm Tinka Neva và ngày thành lập liên minh các nước Cộng hòa dân chủ Xô Viết vùng Danube.


Hắn linh cảm có một việc gì đó rất nghiêm trọng sẽ xảy đến.


- Tổ quốc Xô Viết lại là nạn nhân của một cuộc phản bội. Một trong những vị đại tá nói - Thống soái của quốc gia Slaves phía Nam từ chối đến Bucarest để thành lập liên minh các nước Cộng hòa vùng Danube. Ông trở về sống trong tòa lâu đài trên núi. Hai sư đoàn bảo vệ ông ta. Trong vài ngày nữa ông ta sẽ tố giác hiệp ước với những người Xô Viết.


Boris Bodnariuk đứng lên. Hắn giận run người. Hắn đã gửi cho Moscow nhiều tin tức thông báo việc thống soái các quốc gia Slaves phía Nam liên lạc với phương Tây. Ông ta đưa ra việc thành lập liên minh Danube, để sau đó tách rời khỏi những người Xô Viết và cấu kết với các nước tư bản.


Boris Bodnariuk biết rõ sự phản bội của thống soái không do lòng khát khao tiền bạc cũng không do quan niệm tư tưởng mâu thuẫn, bất đồng. Thống soái là một người kiêu ngạo. Ông ta muốn trở thành một người chủ tuyệt đối, một nhà độc tài.


Trong khuôn khổ các nước Cộng hòa Liên bang Xô Viết, việc đó không thể có được. Vì vậy ông ta chơi con bài Mỹ.


Người Mỹ đã hứa với ông ta -với điều kiện là ông cắt đứt liên lạc với Nga Xô - là họ sẽ giúp để thành lập Liên minh Danube bao gồm các nước Rumani, Bulgaria, Hungary, Yugoslavia, l’Allareie, Áo và ông ta sẽ là người cầm đầu.


Khi ông ta có đủ những đảm bảo để trở thành kẻ độc tài, nhờ sự giúp đỡ của người Mỹ, thì ông ta phản bội.


Boris Bodnariuk mời hai sĩ quan Nga uống trà. Hắn thả bước dài quanh phòng, vẻ kích động.


- Tôi tin chắc là ông thống soái phản bội. - Hắn nói - Chúng tôi là bạn bè nhưng vào cái ngày tôi nhận thấy hắn có một con chó và hắn hết mực thương yêu con chó đó thì tôi biết hắn sẽ là một tên phản bội. Một người có một say mê đối với một cái gì đó thì sẽ trở thành một kẻ phản bội rõ rệt nhất. Một người thương chó một cách say đắm không thể là một con người Cộng sản. Bodnariuk nói nhanh.


- Lại còn tệ hơn nữa, - hắn nói tiếp - thống soái các quốc gia Slaves phía Nam có những bộ quân phục sáng chói hơn cả Gaesiuf nữa, áo choàng thêu vàng, đồng phục ca nhạc. Những con nhà nòi, những tòa lâu đài thời Trung cổ. Thế thì tự nhiên hắn ta phải đi đến chỗ phản bội. Lão đã phản bội giai cấp thợ thuyền lao động. Chỉ cần nhìn con chó và mấy bộ đồng phục là tôi biết lão ta sẽ phản. Mỗi lần nhìn thấy con chó của thống soái, tôi chỉ muốn rút súng ra và bắn hạ nó dưới con mắt lão. Người Cộng sản kiên cường đó đã trở thành tên phản bội chỉ vì con chó. Chỉ cần một đam mê thôi, những đam mê tự nhiên sẽ có tiếp theo sau, và con chó là đam mê đầu tiên.


- Moscow muốn ngài đi qua xứ Slaves phía Nam. - Một đại tá nói - Thống soái phải bị cầm tù hoặc bị bắn hạ trước khi sự phản bội của lão ta được công khai trong công chúng. Không nên để mất một giây phút nào nữa.


- Chúng ta hiện có năm sư đoàn ở trong nước. - Vị đại tá thứ hai nói.


- Ngày mai, suốt cả ngày mai sẽ có nhiều sư đoàn khác vượt sông Danube, họ đến từ Horyrie, Áo, Rumani. Ngay cả một đoàn phi cơ thuộc quyền sử dụng của Ngài. Phi đội đó đã có tại chỗ. Tùy theo nhu cầu, chúng tôi có thể chuyển đến số lượng máy bay cần thiết theo đòi hỏi của Ngài. Chỉ cần vài tiếng đồng hồ thôi. Moscow yêu cầu Ngài đến cung điện Mùa Đông của thống soái. Ngài có thể sử dụng, ngay trong thành quách của cung điện, ngay dưới sự canh gác, phòng vệ của lâu đài một tiểu đội cảnh sát, một đại đội lính dù, và một phần đội du kích người Alanair mà Ngài có thể tin tưởng được. Chúng đã được tập luyện kỹ lắm, chúng sẽ biết cách vào trong cung điện. Ở trong máy bay tôi sẽ cung cấp cho Ngài mọi chi tiết của kế hoạch. Moscow hãnh diện vì đã phó thác nhiệm vụ này cho Ngài. Thống soái các quốc gia phía Nam sẽ không nghi ngờ gì Ngài cả vì Ngài là một trong những bạn thân của lão ta. Có thể lão ta sẽ mời Ngài tham gia vào sự phản bội của lão. Tóm lại, lão ta phải bị bắt làm tù binh hoặc bị ám sát trong vòng bốn mươi tám giờ trở lại nghĩa là trước khi công luận biết đến sự phản bội của lão.


- Thống soái các dân tộc phía Nam đã được thông báo về cuộc viếng thăm của Ngài vào buổi sáng ngày mai. - Viên đại tá thứ nhất nói - Lão đã xác định việc đó qua đài phát thanh và đang đợi Ngài. Ngài là người duy nhất có thể lọt vào ổ rắn độc để vặn cổ nó. Bây giờ chúng ta phải gấp rút lên thôi.


Họ nhìn đồng hồ treo tường đã không còn chạy được nữa.


Boris Bodnariuk nhanh chóng mặc quần áo.


“Một người Cộng sản chân chính sẽ không hề biết đến một đam mê trần thế nào”. Hắn nghĩ. “Một người Cộng sản đích thực phải vượt lên trên thân phận nô lệ, một người Cộng sản đích thực nhất thiết phải không còn có bản năng sinh tồn nữa. Anh ta phải sẵn sàng hiến dâng sự sống của mình cũng dễ dàng như anh ta cho đi một chiếc áo sơ mi, hay hộp đựng thuốc lá bởi vì tất cả con người anh ta đều thuộc về người Xô Viết, kể cả sự sống của anh ta”.


Boris Bodnariuk suy nghĩ về kế hoạch tiêu diệt cả thống soái lẫn con chó. Ở phòng bên cạnh, hai viên đại tá đùa giỡn với cô tớ gái, Boris Bodnariuk không hài lòng về chuyện này.


Hắn ghét đàn bà, mỗi một người đàn bà đều có thể trở thành một đối tượng đam mê cho một người Cộng sản. Người đàn bà trước hết là một kẻ thù đối với đàn ông, đối với Đảng, đối với những người Xô Viết.


Một người đi xe mô tô dừng lại trước tòa biệt thự. Anh ta đưa đến Boris một bức điện tín đầy chữ số.


“Máy bay riêng của Ngài đã vượt biên giới và đã đáp xuống vùng kiểm soát của Mỹ tại Đức. Đào ngũ có dự tính trước của hai phi công Igor Poltarev và Anatole Barsov. Kiểm tra lại xem có tài liệu nào mất không?”


Bodnariuk xé nát mảnh giấy trên đó hắn đã giải xong bức điện tín và đốt nó với một que diêm. Hắn cố tỏ ra bình tĩnh nhưng hắn không làm được. Đối với những kẻ phản bội, hắn có một sự căm thù tàn bạo nhưng chưa bao giờ hắn căm ghét những tên phản bội và sự phản bội bằng đêm nay. Hắn chỉ có một mơ ước. Tự tay siết cổ thống soái mê chó để trả thù cho tất cả những vụ phản bội đã qua và sẽ đến; sự phản bội của Natacha, của Barsov, của Poltarev và mọi người.


Với cơn khát máu đó, hắn lên máy bay có hai viên đại tá Nga hộ tống và bay ngay trong đêm, đến vị thống soái mê chó, đến ổ rắn độc.


- Tôi ao ước trong lúc bắn bỏ lão ta, ta bắn chết luôn con chó, bắn chết cả hai với chỉ một viên đạn. - Boris Bodnariuk lầm bầm trong khi máy bay rời khỏi phi trường Piatra.


XII


Vài ngày sau vụ tự tử của Isaac Salomon, Ante Petrovici có mặt trong phòng của trưởng toa Daniel Motok.


- Tôi yêu cầu Ngài đến để nhờ Ngài giúp cho một việc - Motok nói - Tôi buôn lậu cùng với Isaac Salomon. Cảnh sát đang truy lùng tôi và tôi phải đi. - Motok muốn giữ vẻ bình tĩnh.


- Nếu như Canada, Úc hay Achentina nhận tôi thì tôi đã không buôn lậu. Tôi đã thử khắp nơi. Nếu tôi bị bắt, người ta sẽ kết án tù năm năm. Hôm nay tôi đi Hoa Kỳ, khoảng hai giờ nữa thôi. Tôi cần sự giúp đỡ của Ngài.


Phòng của Motok thật ngăn nắp. Trên giường ngủ có một vali; một cái thùng bằng gỗ mới để ở phía sau cánh cửa. Ông ta xem giờ.


- Người ta đã hỏi tôi nhiều lần rồi. Họ có thể trở lại bất cứ lúc nào. Tôi biết lính Mỹ có quyền gửi về gia đình họ những chiến lợi phẩm lấy ở Châu Âu. Họ có quyền gửi về cho gia đình tất cả những đồ vật xác nhận lòng dũng cảm của họ trong “cuộc viễn chinh” để giải phóng Châu Âu. Họ trang trí nhà cửa với những lợi phẩm đó. Và tôi đã tự kiếm được cái thùng gỗ này.


Motok chỉ vào cái thùng gỗ mới toanh để ở phía sau cánh cửa.


Bên một phía có dòng chữ:


“Tôi sẽ vào nằm trong cái thùng gỗ đó. Tên lính Mỹ John Schueith sẽ đến lấy cái thùng gỗ và mang nó ra phi trường lúc sáu giờ. Tôi sẽ ở trong đó. Trên nắp hòm có đề chữ “chiến lợi phẩm”. Nếu tôi không bị chết ngạt trong cuộc hành trình thì tôi sẽ đến nước Mỹ. Ngay sau khi tôi vào trong thùng gỗ, xin nhờ Ngài đóng đinh kỹ nắp thùng và giao nó lại cho John Schueith. Đó là lời cầu xin duy nhất của tôi. Khi anh ta bỏ được cái thùng lên xe “Jeep” rồi thì Ngài đưa cho anh ta 500 đô la. Tôi xin Ngài ráng giúp cho tôi việc này”.


Búa, đinh, tiền đô la, tất cả đã để sẵn trên bàn. Motok chờ Ante Petrovici trả lời.


- Anh lính Schueith biết có ông trong thùng gỗ không? - Petrovici hỏi.


- Không, thưa Ngài. - Motok trả lời - Anh ta đã nhận lời tôi với những điều kiện sau đây: Tôi phải cho anh ta 500 đô la tiền chuyên chở. Cái hòm không nặng quá 100 kilô và không đựng đồ bị cấm, ai đó phải mang chiếc hòm từ phòng ra xe “Jeep”. Tôi đã hứa với anh ta sẽ tôn trọng tất cả các điều kiện trên. Anh ta sẽ đến đây lúc sáu giờ. Bà Blanche Schueith là mẹ anh ta nhưng cái hòm sẽ nằm đợi ở phi trường New York cho đến khi người nhận đến lấy nó ra.


- Ông tự xem mình là một đồ vật mà chính quyền cho phép lính Mỹ gửi về gia đình họ thay thế cho những chiến lợi phẩm của cuộc “viễn chinh” để giải phóng Châu Âu sao?


- Những thùng chiến lợi phẩm không bị mở ra ở phi trường. - Motok nói - Các thùng hàng được kiểm soát bằng quang tuyến X. Tôi đã dò hỏi kỹ rồi. Qua quang tuyến X người Mỹ thấy hết tất cả những gì có trong thùng gỗ.


- Thật là phi lý, ấu trĩ và không thể thực hiện được. - Ante Petrovici nói - Trước hết, ông quên rằng cơ thể con người chứa đựng nhiều kim loại và muối khoáng có thể nhìn thấy được qua quang tuyến X. Cơ thể con người cũng có xương. Cảnh sát ở phi trường sẽ thấy bộ xương của ông. Cảnh sát sẽ không nhìn thấy thịt ông, máu ông, tim ông và nỗi tuyệt vọng của ông. Họ chỉ nhìn thấy bộ xương của ông. Phần còn lại nghĩa là thịt, máu, não, da của một người không làm cho các ngài cảnh sát thích thú đâu. Cảnh sát không gắn cho những thứ ấy một cái giá nào hết. Chỉ có bộ xương của ông và sọ não của ông họ thích. Họ sẽ khám phá ra cột sống của ông, xương hàm, sọ não, tất cả những gì có chất kim loại hoặc chất vôi. Chính quyền sẽ không nhìn thấy tim ông, tôi biết rõ lắm nhưng cảnh sát hiện tại cùng với máy móc tinh vi của họ, sẽ khám phá ra bộ xương của ông trong cái hòm gỗ và như thế là ông không được chấp nhận trong máy bay. Những bộ xương người không thể vượt biên giới, ít nhất đó là điều tôi đang nghĩ.


Motok mở nắp hòm gỗ, phía trong được dán bằng giấy kẽm bạc gỡ ra từ mấy bao thuốc lá hay sôcôla.


- Người ta không thể thấy sọ não cũng không thấy được xương sống qua giấy kẽm bạc. Bộ xương của tôi sẽ tối đi.


Ante Petrovici nín thinh.


- Cái thùng gỗ được đóng theo kích thước của tôi. - Motok nói - Trong thùng tôi có sẵn cà phê, vitamin và rượu Conjoe. Tôi có đủ mọi thứ cho cuộc hành trình. Kiên nhẫn tôi cũng sẽ có. Tôi chỉ cần một chút xíu may mắn. Tôi đã nghiên cứu kế hoạch trong nhiều tuần nay. Ý định chợt đến với tôi khi tôi đọc thấy một cô gái trẻ đã muốn qua Mỹ trong một hòm gỗ được gửi đi như một thùng hàng bình thường, đơn giản nhưng ngay trước lúc phi cơ chưa khởi hành, cô ta đã bị ngạt và kêu cứu.


- Tôi không nhận giúp ông được. - Ante Petrovici nói - Tôi không muốn làm những gì ông yêu cầu tôi. Giả sử rằng ông sẽ đến được Hoa Kỳ, không bị phát giác và còn sống sót, đối với tôi điều này thật đáng nghi ngờ, thì ông sẽ ra sao ở New York? Chỉ một giờ sau là ông sẽ bị bắt và bị đưa trả lại đây. Hoa Kỳ đã trả về nước như thế hàng triệu người di cư bất hợp pháp. Hàng ngày có nhiều tàu bè chở đầy người bất mãn hoặc người trốn đi bí mật, rời cảng Mỹ để cập bến Châu Âu.


Sau tất cả những cố gắng của ông, ông sẽ chỉ được bắt bỏ lên một chiếc tàu rào dây kẽm gai và được trả lại nước ông. Đại Tây Dương đầy rẫy những thuyền bè như thế, những nhà tù nổi bồng bềnh chở tù nhân đến Châu Âu. Từ ngày Chiến thắng, không chỉ mặt đất mới có nhà tù mà biển cả và đại dương cũng có nhà tù nổi, ông muốn rời khỏi nhà tù trên đất cạn để rồi bị nhốt vào nhà tù nổi à?


- Ông từ chối làm tôi buồn khổ quá. - Motok nói - Nhưng thật sự tôi không thể nhờ một ai khác đóng nắp thùng két cho tôi được. Bạn bè tôi đã biến hết. Isaac Salomon tự vận. Varlaam đang ở Palestine, Aurel Popesco đã trở thành một công chức cao cấp không có thể gặp được nữa. Pillat là một con người tình cảm. Tôi không thể nhờ ông ta việc này. Tại sao Ngài từ chối tôi, thưa tiến sĩ?


- Bởi vì đối với tôi, việc này cũng đồng nghĩa với một vụ tự sát. Tôi không thể hoàn thành nó được... Hãy tha thứ cho tôi, Motok. Tôi cảm thấy, một nỗi xót xa đối với con người, không chỉ đối với riêng ông hay với tôi đâu mà đối với tất cả những người bị buộc phải đi đến những giải pháp tuyệt vọng như thế.


Trên mặt địa cầu đã có hơn một trăm triệu người đã phải dùng đến các giải pháp tuyệt vọng như ông. Ông hãy nghĩ coi, một trăm triệu. Một nửa dân số Hoa Kỳ, hai lần dân số Pháp. Những con người lang thang, tuyệt vọng, không còn quyền lợi nào cả. Chưa bao giờ có một thứ vô sản tối tăm nhất, khốn nạn nhất mà quả đất phải cưu mang. Do những thỏa ước và hiệp định được ký kết giữa phương Tây với phát xít Đức rồi sau đó với những người Xô Viết mà bây giờ hàng trăm triệu người bị trấn lột tài sản, bị ném xuống đường và phải kiếm tìm trong tuyệt vọng một nơi nào đó để bám víu. Tôi không có can đảm để giúp ông điều ông yêu cầu.


Ante Petrovici muốn rời khỏi phòng Motok.


- Cũng có thể chính quyền cấp giấy phép xuất ngoại ngay cả khi người ta khám phá bộ xương của ông trong thùng két. Một khi các chiến binh can trường kia có quyền gửi về cho mẹ họ nào kiếm, nào áo đồng phục, nào khiên chương, nào cúc áo kẻ thù đã ngã gục để trang trí, làm đẹp nhà cửa họ thì tại sao họ lại không gửi một sọ não hay một bộ xương như chiến lợi phẩm? Nếu các chiến sĩ đó gửi cho mẹ họ hay vợ họ một bộ xương toàn vẹn của kẻ thù thì lòng dũng cảm của họ càng được thuyết phục hơn nữa. Những chiến lợi phẩm có giá trị hơn cả được các binh lính viễn chinh gửi về nước họ là những sợi dây người ta dùng để treo cổ các nhà lãnh tụ đối địch. Nếu họ gửi được những sợi dây thắt cổ thì tại sao họ không gửi những bộ xương? Cũng có thể xảy ra cái điều hi hữu là họ không làm phiền ông trong chiếc quan tài di động của ông và đánh giá ông cao như là một chiến lợi phẩm? Ôi, có thể tôi dễ bị điều khiển bởi lòng hận thù. Hãy tha thứ cho tôi, Motok, hồn tôi quá nổi loạn.


- Nếu Ngài không muốn giúp tôi, tôi sẽ kiếm một người khác Motok nói (ông ta xem giờ) - Tôi phải chui vào trong thùng két đóng đinh. John Schueith sẽ đến vào lúc sáu giờ đúng.


XIII


Ante Petrovici từ chối không đóng đinh thùng gỗ trong đó có bạn ông.


Motok tìm một người nào khác làm việc đó giúp ông ta.


Đến bảy giờ, cái thùng trong đó có Motok đã được chở tới phi trường, gần chiếc máy bay đi New York cùng với nhiều thùng chiến lợi phẩm khác. Máy kiểm soát không phát giác Motok. Vậy là người ta sẽ chở ông đi. Ông nghe tiếng chong chóng phi cơ, mệnh lệnh của mấy nhân viên, tiếng nói chuyện của hành khách. Hai người lại gần thùng gỗ trong đó có Motok. Họ nói tiếng Nga, Motok biết rõ đó là những hành khách sẽ cùng đi một chuyến tàu với ông. Ông chăm chú lắng nghe cuộc tranh luận của họ. Một người tên là Igor, người kia có tên Anatole Barsov. Hai người đó đang cãi nhau. Motok theo dõi cuộc cãi vã. Ông hiểu ra đó là những phi công Xô Viết đào ngũ và được người Mỹ mang về Hoa Kỳ.


- Cậu chỉ là một thằng ngốc. - Người có tên Igor nói - Nếu cậu cứ tiếp tục nói với người Mỹ rằng cậu không trốn đi vì những lý do chính trị thì họ sẽ trả cậu về lại ngay.


- Tớ không thể nói láo được. - Anatole Barsov nói.


- Cậu phải kể lại với người Mỹ những gì họ muốn nghe.


- Igor Poltarev nói - Người Mỹ không cần sĩ quan Nga đến ở nước họ vì các sĩ quan đó cãi lộn với vợ hoặc không trả được nợ nần. Người Mỹ tiếp nhận chúng ta và đối xử với chúng ta như những ông hoàng vì họ xem chúng ta đã chạy trốn với tư cách là kẻ thù của chế độ thay vì nói với các nhà báo về Staline, về Boris, về sự khủng bố của Cộng sản, cậu chỉ muốn lập đi lập lại như một thằng khùng rằng cậu cãi lộn suốt ngày với vợ, với chỉ huy phi đội và cậu bị thương như thế nào ở chiến trường. Điều đó không thể làm cho người Mỹ thích thú được. Họ muốn cậu nói với họ về Staline.


- Tớ chẳng biết gì về Staline hết. - Barsov nói - Tớ chưa bao giờ thấy ông ta, vậy thì cậu muốn tớ kể gì về ông ta đây?


- Cậu chỉ cần nói với họ là cậu nhìn thấy ông ta từ xa, trong một cuộc diễn binh nhưng không ai có thể lại gần ông ta được vì có cả một đội quân khoảng vài trăm tên lính người Caucase cao hai mét và được vũ trang đến tận chân răng, luôn canh gác, bảo vệ ông ta. Nói giống như tớ đã nói với họ vậy. Cậu không để ý là người Mỹ thích nghe loại chuyện như thế này biết chừng nào à?


- Tớ không thể làm được chuyện đó. - Barsov nói.


- Ít nhất cậu cũng phải nói với họ là cậu bỏ trốn vì lý do chính trị, vì sự khủng bố không giới hạn của người Xô Viết, vì không ai có thể sống tại nước Nga. Ít nhất cậu phải nói với họ rằng thuốc điếu sĩ quan Nga dùng quá dở, rằng chúng ta thiếu lương thực.


- Tớ có thể nói với họ là lương thực và thuốc lá không đủ - Barsov nói - Vì đó là sự thật.


- Cậu hãy nói với người Mỹ rằng cậu ngây ngất vì quá thán phục xe hơi của họ, đồng phục của họ, đồ ăn của họ, sô-cô-la của họ và rằng các thứ đó không có tại Nga Xô. Người Mỹ là những thương gia vì thế họ rất thích được nghe ca tụng, tán dương và đối xử như những nhà quân sự và ngoại giao. Nếu cậu nói với họ như thế, cậu sẽ giàu có ngay.


- Tớ ấy à? Tớ có lương tâm. - Barsov nói - Tớ không phải là một thằng đối trá, đê tiện, còn cậu, cậu có thể là một thằng đê tiện.


- Cậu là một thằng ngu. - Igor nói - Nếu cậu không nghe lời khuyên của tớ, thì mọi việc sẽ xui xẻo đối với cậu thôi.


Mấy người thợ nâng cao cái hòm gỗ trong đó có Motok và cẩn thận dùng ròng rọc đưa nó lên máy bay, không dám đụng mạnh vào nó. Mấy người thợ thấy rõ trên mặt hòm gỗ có đề chữ “Chiến lợi phẩm” và họ biết rõ là cần phải di chuyển cẩn thận và khéo léo các chiến lợi phẩm.


(còn tiếp)


Nguồn: Cơ may thứ hai. Tiểu thuyết của Constant Virgil Gheorghiu. Hoàng Hữu Đản dịch. In theo bản thảo mà Giáo sư Hoàng Hữu Đản gửi nhà văn Triệu Xuân, Trưởng Chi nhánh NXB Văn học - năm 2002. Triệu Xuân đã biên tập hoàn chỉnh để in ấn, nhưng không được cấp Giấy phép xuất bản (vì tác giả này chống Liên Xô)! Mãi đến năm 2010, GS Hoàng Hữu Đản gửi in tại NXB Công an nhân dân.


 


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 05.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
xem thêm »