tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30132852
Tiểu thuyết
05.11.2019
Constant Virgil Gheorghiu
Cơ may thứ hai


Cũng giống những hội đồng khác, hội đồng Canada thích những giống dân miền Bắc hơn. Người phương Bắc khỏe mạnh hơn. Họ không nổi loạn và sống lâu hơn.


- Nghề nghiệp của ông? - Tên lái buôn hỏi vừa tiếp tục quan sát Pillat.


- Luật gia kỳ cựu. - Pillat nói.


Chàng cảm thấy điều chàng vừa nói không làm vừa lòng hội đồng.


Mọi người nhìn chàng không hài lòng.


- Người tiếp theo. - Tên lái buôn ngồi giữa hô lớn. Hắn ra dấu cho Pillat đi ra.


- Ông không nhận tôi à? - Pillat hỏi.


- Phần anh đã xong. - Tên Canada trả lời một cách nghiêm khắc, bực tức vì câu hỏi của Pillat.


- Tôi muốn biết xem tôi có được nhận hay không.


- Chúng tôi không nhận ông. - Tên Canada trả lời.


- Các ông thấy tôi có khuyết điểm gì nào?


- Chúng tôi không thâu nhận những người trí thức. Ông có thể đi được rồi. - Tên lái buôn nói.


Từ “trí thức” được thốt lên với vẻ căm thù thô bạo.


- Các ông cho rằng người trí thức không thể đốn cây ở Canada sao? - Pillat hỏi.


Giọng chàng bỗng trở nên khẩn khoản.


- Xin các ông nhân từ và nhận cho tôi cùng đi. Tôi van xin các ông.


- Không. - Tên lái buôn trả lời.


- Các ông trách cứ gì ở người trí thức nào? Chúng tôi cũng có thể làm công việc như những người khác.


- Các ông không thể làm được công việc. - Tên lái buôn nói.


- Trí thức các anh không thể lao động được. Người trí thức không có bắp thịt. Ông có thể đi được rồi. Ông đã bị từ chối rồi đó.


Pillat bước ra. Chàng không còn gì để hỏi nữa. Chàng đã được thuyết phục rồi. Chàng rời khỏi văn phòng hội đồng mà không nhận ra mình đã đi qua những đâu. Chàng đã đi ra bằng lối cửa khác. Marie đợi chàng ở ngoài đường. Nàng đã chạy như bay về phía chàng, mặt hồng lên vì sung sướng. Marie ôm hôn chàng và đu người lên cổ chàng.


- Em được nhận rồi. - Nàng nói - Nhóm của em gồm mười ứng viên và chỉ mình em được nhận.


Marie ôm chặt Pillat trong vòng tay. Kể từ khi trốn thoát khỏi làng Piatra, đây là lần đầu tiên nàng cảm thấy sung sướng thật sự.


Nhưng trong niềm hân hoan sung sướng của chính mình, nàng có cảm giác là vai, mặt, cổ của chồng nàng giá lạnh, tê liệt không còn sức sống.


- Họ không nhận anh à? - Nàng sợ hãi hỏi Pillat.


- Không. - Chàng nói - Họ không nhận trí thức. Trí thức thiếu bắp thịt.


IV


Trong khi Pierre Pillat và Marie rời xa dãy nhà của hội đồng, thì một nhóm mười người khác bước vào văn phòng hội đồng Canada. Trong đó có một người khỏe mạnh, đã luống tuổi. Ông ta bước vào văn phòng, xúc động, nhưng bước đi vững vàng, tin tưởng. Ông ta cúi đầu trước ba người Canada giống như ông ta đã có thói quen cúi đầu trước vị mục sư ở làng ông.


- Ông người nước nào? - Tên lái buôn Canada hỏi.


Người nông dân có đôi mắt đen lưỡng lự một giây rồi nói:


- Tên tôi là Ion Kostaky. Tôi là người Rumani. Tôi được bốn mươi tuổi. Tôi là dân cày ruộng, và ngoài những chi tiết trên tôi không hề biết thêm một tiếng Đức nào nữa.


Kostaky đọc lại bằng tiếng Đức những câu chữ của ông không sai một lỗi như thể ông đọc thơ vậy. Ông nhìn ba người ngồi đối diện với mình để xem họ sẽ quyết định thế nào. Ông đã chờ đợi như chờ đợi ngày phán xét cuối cùng vậy.


Cả ba người nổi lên cười.


- Ông đã học những chữ này ở đâu thế? - Tên ngồi giữa hỏi.


Ion Kostaky muốn đoán nghĩa câu hỏi, nhưng ông đã không đoán nổi. Tuy thế, ông nhận thấy là ba người đang ngồi ở bàn trước mặt ông đang nhìn ông chăm chú, và không có vẻ gì thù hận cả. Ông ta bắt buộc phải trả lời. Ông nuốt nước miếng và đọc lại câu trả lời duy nhất mà ông đã thuộc lòng:


- Tôi tên là Ion Kostaky. Tôi là người Rumani. Tôi được bốn mươi tuổi. Tôi là dân cày ruộng, và ngoài những chi tiết trên tôi không hề biết thêm một tiếng Đức nào nữa.


- Hoan hô! - Những tên lái buôn la lớn. - Hoan hô, tuyệt lắm! (Chúng cười lớn tiếng) Đó chính là một công dân ưu tú tương lai của Canada. Ông đã được chấp nhận rồi đấy.


Ion Kostaky nhìn họ. Ông thấy họ vui mừng nhưng không hiểu gì về những điều họ nói.


- Ông đã là người Canada rồi, ông hiểu không? - Vị chủ tịch nói.


Kostaky nhìn thấy ngón tay của tên lái buôn chỉ vào mình và nghe được tiếng Canada. Ông hiểu là ông đã được nhận rồi.


Trong thâm tâm ông cảm ơn Chúa. Sau đó ông nghiêng mình trước hội đồng, như xưa kia ông đã nghiêng mình trước vị mục sư Thomas Skobai ở Piatra, và tỏ ý muốn ra khỏi văn phòng.


Người thư ký hội đồng nắm vai ông và giải thích:


- Ông rất dễ mến. Ông sẽ ăn và ngủ tại đây. Sau đó ông sẽ đi Canada với các ông đây. Trong lúc chờ đợi hội đồng sẽ mướn ông.


Kostaky được dẫn xuống nhà bếp của hội đồng Canada.


Người ta cho ông ăn và thuốc hút. Ông xem như đã vượt qua mọi khó khăn trở ngại. Nhưng thay vì sung sướng hạnh phúc, mất ông ngập đầy nước mắt.


Ileana, ngôi nhà ở làng Piatra, Marie, con gái của ông, Pierre. Tất cả hiện ra trong trí nhớ ông. Không làng xóm, không gia đình, không nhà cửa, thì cũng không có một niềm vui nào nữa. Kostaky không thể ăn được. Ông nhìn ra ngoài cửa sổ qua màn nước mắt. Ông ước chừng nhìn thấy làng cũ, ngôi nhà của ông, đoàn gia súc của ông, tất cả những người thân yêu của ông, nhưng chỉ có những người xa lạ qua lại trước cửa sổ, chỉ toàn những người xa lạ.


V


Tất cả những người tị nạn rồi sẽ gặp nhau tại Đức bất kể họ khởi hành từ đâu.


Pillat gặp lại Motok. Viên Schaffner ăn bận rất thanh lịch. Hắn có một chiếc đồng hồ vàng, một cặp xách bằng da và hắn hút thuốc lá Mỹ. Cùng với Aurel Popesco, các ông Salomon và Varlaam hắn buôn bán hàng lậu. Thế nhưng hắn cũng muốn ra đi.


Tại Đức, người ta có thể hoặc chết đói hoặc buôn bán chợ đen và sau đó đi tù. Vì thế Motok tới trình diện cùng lúc với Marie, Varlaam, Pierre Pillat và Ante Petrovici trước ủy ban Úc vừa mới đến Stuttgart.


Theo thói quen, tiến sĩ Ante Petrovici lại phán xét về các vấn đề thời sự nóng bỏng.


- Châu Âu là một lục địa bị mất gốc hơn cả. - Ông nói - Châu Âu bán dân mình theo đơn vị thước và ký cho những lục địa khác. Tất cả những ủy ban vừa đến kia đều mua chúng ta theo thước và ký. Trong bản chất con người không gì làm cho các ủy ban đó thích thú cả, ngoại trừ trọng lượng và chiều cao.


Họ được mời bổ sung các mẫu khai lý lịch. Tiếp đó họ được đưa vào một phòng rộng chứa đựng dụng cụ y khoa. Tại đây họ sẽ được cân, đo, khám bệnh. Phụ nữ đứng một bên, đàn ông một bên.


Việc khám xét những người đăng ký di tản bất đầu như trong một bệnh viện.


- Không được để giấy tờ các ông bà xuống đất, có vi trùng đấy. Một cô ý tá người Anh lễ phép nói.


Ante Petrovici giữ giấy tờ của mình giữa hai hàm răng và cởi bỏ quần áo. Tất cả những người dự tuyển bây giờ đều trần truồng trước ba cô y tá tóc vàng hung hơi nâu sẫm và trước những y cụ trắng tinh. Những y cụ đang chứng kiến họ đứng trần truồng chờ đợi, những người tị nạn như thoáng thấy miền đất Úc châu như là miền Đất hứa vậy [2].


- Ông hãy siết chặt, siết chặt hết sức ông đi! - Một cô y tá nói.


Ante Petrovici giữ trong bàn tay phải của mình một cái máy hình chuôi kiếm và siết lại.


Cô y tá cười - Ông chưa bao giờ đo lực của bắp thịt ông à? - Cô ta hỏi Ante Petrovici.


Tiếp theo, cô đưa máy cho Pillat và anh cũng siết mạnh hết sức mình. Đường đến Úc châu phải vượt qua cái máy này.


Sau khi được đánh giá về sức mạnh của bắp thịt, mười người đàn ông trần truồng bị cô y tá dùng một dụng cụ không lớn hơn cái thìa tráng miệng chích vào đầu ngón tay trỏ. Mỗi người được lấy một giọt máu và máu này được ép vào những miếng kính nho nhỏ hình vuông.


Không ai có thể đi qua Úc mà không phải cho một giọt máu.


Ante Petrovici run rẩy, ông cảm thấy sợ hãi. Pillat nhìn những miếng kính có dán tên được đặt ngay hàng trên mặt bàn trắng mang những giọt máu của anh và các bạn đồng hành.


Cô ý tá tiến lại gần, tay cầm một ống chích.


- Không đau đâu! - Cô nói.


Tiếp đó, cô rút máu từ tĩnh mạch tay trái của mỗi người. Máu được cho vào các ống nghiệm có dán tên.


Còn một thử thách nữa. Người ta lịch sự mời người tị nạn thổi vào trong một cái ống cao su nối liền với một thiết bị hình dạng một bình bơm hơi rửa ruột. Máy này đo khả năng hô hấp của phổi.


Sau đó là cuộc thử thách quyết định đối với Ante Petrovici. Mặt ông xanh mét khi ông tới đứng dưới cái thước đo chiều cao. Pillat quan sát Ante Petrovici xem ông ta thóp bụng và nhón chân lên như thế nào.


- Ông hãy đứng bình thường cho! - Cô y tá ra lệnh.


Ante Petrovici thóp bụng và cố nhón chân cao dần lên.


Ông cần kiếm thêm vài phân nên gắng hết sức mình làm cho dài người ra.


Cô y tá đọc to số đo chiều cao của Ante Petrovici. Trông ông hớn hở, phơi phới. Ông đã thắng.


- Tôi chỉ cần hai phân. - Ông rỉ tai Pillat - Chỉ hai phân thôi và tôi đã có được.


Ông ta thật xem hoan hỉ. Người ta cân những kẻ dự tuyển và dẫn từng người một vào sau một bức màn đen, nơi đó đã sẵn máy chụp X-quang. Đó là thiết bị màu đen duy nhất trong cả căn phòng. Pillat, Motok, Ante Petrovici đều đi qua trước máy. Họ cảm thấy găng tay cao su của bác sĩ sờ lên vai họ, kế đó là tấm bảng lạnh ngắt áp vào ngực. Tất cả những động tác đó đều diễn ra trong bóng tối. Hai phút cho mỗi người. Đến lượt trung úy Varlaam. Đó là nhà thể thao duy nhất trong số những người dự tuyển. Thân hình ông rất vạm vỡ. Da ông ngăm ngăm màu đồng.


- Ông nằm bệnh viện bao nhiêu lâu? - Bác sĩ hỏi.


Ông ta xem xét phổi của trung úy Varlaam qua quang tuyến X.


- Tôi chưa bao giờ nằm viện cả! - Varlaam vừa nói vừa rời khỏi bức màn đen.


Bác sĩ khám xét làn da ngực của Varlaam và ngừng tay lại trên một vết sẹo.


- Ông bị thương ở chỗ này. Sao ông lại chối là chưa bao giờ nằm viện? - Bác sĩ hỏi.


- Tôi chưa bao giờ nằm bệnh viện. - Varlaam lại nói - Cái mà ông thấy chỉ là một vết trầy xước thôi. Tôi là phi công. Một hôm, tôi bị trúng một mảnh vỡ nhưng tôi đã không bị thương. Chỉ có áo khoác của tôi bị cháy, còn tôi chỉ bị sây sát. Người ta đã dùng tanh tuya iod (teinture d’iode) để rửa và dùng vải bông băng lại cho tôi. Hôm sau, tôi lại đi làm nhiệm vụ. Căn cứ vào đâu mà ông bảo tôi bị thương?


- Trong phổi ông có một vật thể lạ. - Bác sĩ nói - Đúng ngay chỗ có vết sẹo. Có thể đó là một mảnh đạn rất nhỏ.


- Nếu tôi có một mảnh đạn ở trong lồng ngực, - Varlaam nói, giọng chế giễu - thì tôi phải cảm thấy nó chứ? Tôi nghĩ là bất cứ ai cũng cảm thấy được khi một mảnh vỡ chui vào phổi mình.


- Tôi sẽ chụp hình phổi cho ông và ông sẽ tận mắt nhìn thấy.


Varlaam lại được dẫn vào sau bức màn đen. Người ta chụp hình phổi của ông. Những người tị nạn khác mặc lại áo quần.


- Ông cũng mặc áo quần vào - Bác sĩ bảo Varlaam.


Khi Varlaam mặc xong quần áo thì tấm hình phổi cũng đã rửa xong. Bác sĩ đưa nó ra gần cửa sổ và chăm chú xem.


- Nếu như tôi có một mảnh vỡ ở trong phổi thì tôi đã không làm sao hoàn thành được hàng nghìn phi vụ trên tuyến đường bay của kẻ thù ở bên Nga, và tôi làm sao có thể nhận cả nửa tá huy chương được? - Varlaam bực tức nói.


- Ông hãy tự mình nhìn kỹ đi. - Bác sĩ bảo.


Varlaam cầm lấy tấm phim và đặt nó trước cửa sổ. Đó là tấm hình phổi của viên phi công Varlaam. Hắn nhìn tấm phim và thấy những bóng tối. Điều đó không làm hắn ta thích thú chút nào.


- Ông có nhìn thấy cái chấm đen kia không? Cái chấm to bằng hạt đậu ấy? Đó là vật thể lạ và nó đang nằm trong phổi của ông.


- Nếu thật sự trong phổi tôi có một mụn mảnh vỡ, - Varlaam nói - thì điều đó đối với tôi chẳng quan trọng gì một khi nó không làm tôi khó chịu. Vật lạ kia đã không cản trở tôi thực hiện những phi vụ trên bầu trời địch trong suốt hai năm đêm cũng như ngày. Vật lạ kia đã không cản trở tôi ăn, ngủ và khiêu vũ. Tôi hoàn toàn khỏe mạnh. Một khi mảnh vụn kia không làm phiền gì tôi thì nó chẳng là gì cả, chả có gì quan trọng cả? Tôi đã bay với nó trên hàng nghìn mét độ cao, xuyên qua bao nhiêu hàng rào đại pháo và tôi không cảm thấy mảy may ảnh hưởng gì. Nếu như trước đây, cùng với mảnh vụn kia, tôi đã có thể trở thành ngôi sao sáng của không quân, thì tôi cho rằng bây giờ đây, cùng với nó tôi có thể thành một kẻ chăn cừu, một người nông dân hay một anh quét đường ở Úc. Bởi tôi đoán chắc các ông không dành những công việc nào khác hơn cho người tị nạn!


Chúng tôi chỉ nhận những di dân có phổi hoàn toàn sạch!


- Cầu Chúa cho tất cả mọi người Úc đều có những lá phổi sạch như phổi của tôi? - Varlaam nói.


Anh ta cài lại nút chiếc áo quân phục đã biến thành áo dân sự.


Varlaam rời khỏi phòng khám bệnh không thèm chào ai cả Anh đóng sập cánh cửa và đi ra.


- Đáng lẽ chúng ta có thể cho hắn một dịp may. - Vị y sĩ nói - Việc mổ lấy mảnh đạn không phức tạp gì lắm.


Bác sĩ nhìn tấm hình phổi.


- Nếu hắn ta chịu nghe theo lời khuyên của tôi thì người ta sẽ mổ cho hắn và hắn có thể đến trình diện lại, nhưng với cách thức của hắn ta thì...


Những người tị nạn đã mặc lại quần áo. Họ lại được đưa vào sau tấm màn đen. Một y sĩ khác khám răng cho họ qua quang tuyến X. Việc khám xét này nhanh thôi.


- Ông cần phải chụp hình. - Viên nha sĩ nói với Ante Petrovici - Mong ông không xem đó là điều kỳ cục. Tại Úc chúng tôi có một mức độ sinh hoạt mà ông không biết đến ở Châu Âu. Có thể về phương điện văn hóa, Châu Âu hơn chúng tôi, nhưng về những gì liên quan đến tiêu chuẩn sinh hoạt thì chúng tôi tiến xa hơn các ông. Đó cũng là chuyện bình thường thôi, chúng tôi là một lục địa trẻ mà.


Người nha sĩ vẫn nói chuyện sau bức màn đen đẹp khi ông chụp hình hàm răng của Ante Petrovici.


- Các ngành khoa học xã hội của chúng tôi rất cập nhật chứ không như ở Châu Âu các ông, chẳng hạn chúng tôi đã có một ngành vệ sinh xã hội và một ngành lai giống hiện đại. Chúng tôi đã giải quyết vấn đề chủng tộc, nhưng giải quyết một cách khoa học vì nước Úc chúng tôi có tinh thần khoa học. Nhờ tinh thần khoa học đó, chúng tôi tin chắc rằng trong vài năm nữa, ở tại Úc chúng tôi sẽ có một giống người thật sự siêu việt Chúng tôi thực hiện giống người siêu việt đó qua việc giám sát các cuộc hôn nhân, các cuộc gây giống và việc di trú một cách khoa học, nghĩa là bằng con đường hòa bình và khoa học. Chúng tôi không giải quyết vấn đề chủng tộc như các ông làm ở Châu Âu. Các ông giải quyết bằng sự tàn bạo kiểu Hitler, nghĩa là bằng việc thiêu sống người Do Thái, người Tzigan và các dân tộc thấp kém. Chúng tôi đối xử với các dân tộc thấp kém bằng những phương tiện khoa học, chúng tôi không thiêu sống họ. Vấn đề chủng tộc tồn tại trên phương diện khoa học nhưng chúng tôi không giải quyết nó trong các trại tập trung. Chúng tôi nghiên cứu nó trong các thư viện và phòng làm việc. Chúng tôi đề ra được một lối giải quyết nhân đạo.


Ante Petrovici chỉ muốn bịt tai lại. Từ khi người vợ cũ Lidia của ông chết, ông không còn có thể nghe nổi những cuộc tranh cãi về các dòng giống thượng đẳng và hạ đẳng. Từ ngày mà Milan Paternik nhân danh những nguyên tắc đó, đã giết chết mẹ ruột mình cùng với tám trăm ngàn người Sorbon và Do Thái, thì Ante Petrovici không còn có thể nghe nói về vấn đề chủng tộc nữa, ngay cả khi cách giải quyết vấn đề đó mang tính chất hòa bình.


Chỉ nghe nói đến chữ “nòi giống” là Ante Petrovici đã cảm thấy đau nhói trong lòng rồi.


Nhân danh chữ này, Lidia đã bị thiêu cháy. Thân thể nàng đã không nằm ngủ cạnh ông, những ngón tay nàng đã thiêu rụng trên chiếc vĩ cầm, tất cả, tất cả đều bị thiêu cháy nhân danh chữ này. Ante Petrovici cảm thấy tim bị hẫng, đau nhói khi nghe tiếng “nòi giống”. Chữ này đối với ông đồng nghĩa với lò thiêu, đồng nghĩa với giết người.


Trong cửa miệng của tên người Úc kia, hắn ta muốn nói lai giống người cũng như lai giống súc vật.


Ante Petrovici chỉ muốn trốn khỏi căn phòng. Viên nha sĩ đưa tấm phim ra trước cửa sổ:


- Ông hãy đến xem răng ông đây. - Viên nha sĩ nói vẻ chế giễu - Ông nhìn kỹ đi. Răng của ông đó.


Ante Petrovici lại gần. Ông nhìn hình chụp sọ não ông.


Ông cảm thấy một mùi vị đăng đắng tuôn đầy trong miệng.


Không ai muốn người khác chỉ cho mình sọ não của mình và bảo đó là đầu của mình. Vì rằng trên bức hình có xương đầu của ông, sọ não ông giống y hệt sọ não một người chết.


- Ông nhìn thấy răng ông chứ? - Viên nha sĩ hỏi. Ông ta chiếu rõ hơn tấm phim sọ não của Ante Petrovici. Người ta nhìn thấy trên tấm phim những cái xương màu đen, nhưng có thịt, những cái răng, những quai hàm giống như của người chết.


- Ông thấy đầu ông không? - Nha sĩ lại hỏi nữa, Ante Petrovici tái xanh mặt.


- Ông nhìn thấy đầu ông, phải không? Thế đấy, vậy thì ông không thể vào nước Úc với một cái đầu như thế được.


Ante Petrovici không còn gì để trả lời nữa.


Nhưng sau đó ông tự bảo: tốt hơn nên thử năn nỉ thêm chút nữa xem sao.


- Tôi sẽ chăm sóc răng của tôi. - Ông nói - Mong bác sĩ hiểu cho, bao nhiêu biến cố đã dội xuống đầu chúng tôi, những người Châu Âu.


- Trước mắt thì việc di trú của ông không thể giải quyết được, hoàn toàn không thể được. Trên nguyên tắc, chúng tôi không thể tiếp nhận những người di trú có răng hư được sửa chữa lại; nhưng ông vẫn có thể thử vận may sau khi chữa trị. Chúng tôi không nhận những hàm răng giả. Úc châu không tiếp nhận những di dân có răng giả. Ông hãy nhìn đây, mà ông thì cần phải làm răng giả, ông không thể đi được, không thể được.


- Tôi đã qua được tất cả các cuộc xét nghiệm khác. - Ante Petrovici nói.


Ông thắt chặt chiếc cà vạt làm như ông muốn thắt cổ chết luôn vì nỗi tủi nhục quá lớn, quá sức chịu đựng.


- Việc khám xét răng rất cần thiết. - Viên nha sĩ nói - Rất cần thiết. Tôi không biết tại Châu Âu các ông, việc đó xảy ra như thế nào chứ tại Úc hàm răng đóng vai trò hàng đầu. Hàng đầu, đúng nghĩa của chữ đó!


Ante Petrovici sửng sốt vì những gì đã xảy đến với ông, vì những gì ông nghe được.


- Ngay cả khi tôi là một người có tài năng lớn, hiện nay thì tôi không phải con người như vậy. - Ante Petrovici nói - Nếu như tôi là một Michel Ange hoặc một Goethe, chẳng hạn như thế, thì liệu ông có khước từ tôi cái quốc tịch Úc bởi vì tôi thiếu vài cái răng không? Tôi hỏi ông hoàn toàn do tò mò, chỉ vì tò mò. Bởi vì nếu đúng như thế thì chúng ta rất dễ trở thành lố bịch. Tôi muốn nói là trong mỗi con người, có thể có những đức tính siêu việt ví dụ như phẩm chất đạo đức, phẩm chất trí năng, phẩm chất mỹ thuật... và những phẩm chất này có thể bù đắp vào chỗ thiếu một vài cái răng.


- Không gì có thể cân bằng và thay thế một hàm răng tốt. - Vị nha sĩ nói - Nhiều công trình nghiên cứu khoa học mới đây hết sức chính xác. Khi chúng tôi đảm trách vấn đề di dân, chúng tôi chỉ dựa vào những nguyên tắc khoa học. Ông nói đến những phẩm chất đạo đức ư? Tất cả phải đi qua lỗ miệng. Tất cả mọi thứ đạo đức, ông biết không? Mà đi qua một cái lỗ miệng xấu thì chỉ có những điều xấu. Răng xấu sẽ làm cho tiêu hóa xấu. Tiêu hóa xấu khiến hiệu suất làm việc kém đi, dễ nóng giận. Điều này dẫn tới sự bất bình, sự bất bình dẫn tới những xích mích, đến chỗ mất việc làm chẳng hạn. Mất hợp đồng lao động sẽ dẫn tới thất nghiệp. Thất nghiệp bao hàm sự nghèo đói và sự nổi loạn. Và đó là con đường dẫn đến tội phạm, đến tình trạng vô kỷ luật, vô chính phủ, dẫn đến các âm mưu chính trị. Nếu ông hỏi tại sao thì đây là câu trả lời rạch ròi, quả quyết: vì ông không đủ răng. Một quốc gia mà những công dân có hàm răng xấu là một quốc gia yếu kém, thua thiệt cả về mặt trí thức, tinh thần lẫn đạo đức và kinh tế. Tôi nói với ông tất cả những điều này một cách sơ lược thôi, nhưng vấn đề đã được nghiên cứu kỹ càng rồi.


Một thoáng im lặng. Vị nha sĩ cầm tấm phim sọ não của Ante Petrovici.


Mọi người đều im lặng: cả Motok, Pillat và Petrovici.


- Trước mắt ông không thể đi di cư được. Chúng tôi không nhận ông.


Pillat kéo tay Ante Petrovici. Họ đi ra đường. Marie đã đứng trước cổng. Cô đứng đợi, cố che giấu một nụ cười thỏa mãn. Cô sợ chồng cô không được chấp nhận như chuyện đã xảy ra khi họ xin đi Canada.


- Được tuyển chứ? - Marie hỏi.


Cô sợ câu trả lời. Cô đoán nó sẽ là phủ định.


Pillat gật đầu là anh đã “trúng tuyển”. Marie bay tới ôm anh hôn.


- Em cũng thế. Em được nhận rồi! - Cô nói.


Pillat đứng bất động như một bức tượng. Anh không đáp lại nụ hôn của cô.


- Mong rằng sự thất bại của tôi không làm phiền anh chị! -Ante Petrovici nói - Sung sướng vì sự thành công của mình là lẽ tự nhiên.


VI


Trước khi khởi hành qua Úc châu, Pierre Pillat đi đến Hội Hồng thập tự Frankfort.


- Chúng tôi di trú sang Úc. - Pierre Pillat nói - Vài tuần nữa chúng tôi sẽ xuống tàu. Trước khi đi, chúng tôi muốn tìm xem ở một nước Đức có một người tị nạn Rumani tên là Ion Kostaky. Đó là ông bố vợ tôi. Hội Hồng thập tự có danh sách tất cả những người tị nạn. Nếu ông cụ không đến nước Đức thì hoặc ông cụ bị chết hoặc ông cụ bị người Nga bắt giữ.


Marie Pillat đứng chờ.


- Không hy vọng là ông bà còn gặp lại được cụ Ion Kostaky. - Người nhân viên nói - Tại sao ông bà không tìm cụ sớm hơn? Cụ đã di trú qua Canada cách đây mười lăm hôm.


Người nhân viên đọc tấm phiếu mang tên, nơi sinh, tuổi và nghề nghiệp của Ion Kostaky. Tiếp đó, anh ta hỏi họ có phải đúng người họ kiếm hay không.


- Đúng là bố rồi. - Marie vừa khóc vừa nói.


Họ đi bộ đến nhà ga, nhưng chuyến tàu đi Stuttgart vừa khởi hành.


Chuyến tàu kế tiếp thì khởi hành vào sáng hôm sau. Họ ngồi nghỉ trên một ghế băng, quyết định qua đêm trong phòng đợi. Họ ân hận đã không tìm Ion Kostaky sớm hơn. Phía trên đầu họ, có một tấm áp phích ghi rõ:


“Nhà ga đóng cửa lúc 10 giờ. Hành khách không được nghỉ lại trong phòng đợi hoặc ngoài sân ga”.


Bên cạnh, một áp phích khác viết:


“Bất cứ người nào đi lại trên đường phố sau 11 giờ sẽ bị bắn bỏ không cần cảnh cáo trước”.


Marie và Pillat đứng lên, lưng mang xắc. Khách sạn không có. Nhà cửa bị bom tàn phá hết. Có ai đó chỉ cho họ một chỗ ẩn núp phía đối diện nhà ga, ở đó họ có thể nằm nghỉ. Họ len sâu vào trong các đống gạch đổ nát. Trong hầm rượu có những cái giường bằng ván mà người ta có thể cho thuê ban đêm. Quá mỏi mệt, họ nằm dài ra, đầu gối lên xắc. Marie vừa khóc vừa tự nhủ là chẳng bao giờ cô gặp lại cha cô nữa. Rồi cô nghĩ đến đứa bé mà cô đang mong đợi.


- Em biết không, anh đã tìm được một cái tên cho con chúng ta rồi. - Pierre Pillat nói - Nếu là con gái, ta sẽ gọi nó là Doina Australia. Doina, vì đó là tên của bài ca Rumani nói về sự lưu đày và nỗi uất ức sầu muộn. Còn Australia vì đó là quê hương mới của chúng ta.


Marie thích thú với ý nghĩ là sắp tới họ sẽ ở Úc và con họ sẽ được sinh ra trong một quê hương thật sự chứ không phải trên những chặng đường lưu đày.


Họ ngủ say, tâm tư ngập tràn cái tên của bé Doina Australia. Khi họ tỉnh giấc, ánh nắng chiếu rọi vào hầm rượu xuyên qua ô cửa sổ nhỏ không kính ở bên trên giường họ. Cái áo dài cô đã cởi ra mắc lên đầu giường cho khỏi bị nhăn không còn đấy nữa. Nó đã biến mất. Cả đôi giày cũng biến luôn.


Trong hầm ẩn núp chẳng còn ai, các phòng đều trống. Họ không thể than phiền về chuyện mất quần áo với ai.


Pillat đổ hết đồ trong xắc ra. Anh tìm thấy một đôi giày vải bố của quân đội. Marie mang giày ấy vào. Khi cô nhìn thấy đôi chân nhỏ bé của mình trong đôi giày khổng lồ thì cô bật khóc. Bây giờ cô chỉ còn quần áo lót thôi. Pillat lại đổ xắc của Marie ra. Anh tìm thấy một gói gì mềm mềm. Đó là cái áo dài bằng vải voan trắng. Anh mở nó ra, ngạc nhiên.


- Đó là áo cưới của mẹ. - Marie nói - Em mang nó theo khi chúng ta ra đi. Em nghĩ là...


Cô đã kết hôn theo thủ tục dân sự. Ở xứ cô người ta không tổ chức lễ cưới ở nhà thờ nữa. Marie đem cái áo của mẹ theo với hy vọng một ngày nào đó cô có thể làm phép cưới ở nhà thờ.


- Em mặc áo này đi. - Pillat nói - Em sẽ khâu ngắn lên với cái dây nịt, như thế áo sẽ bớt dài.


Marie không chịu nhưng rồi cô buộc lòng phải mặc áo cô dâu đó vào vì không còn giải pháp nào khác. Thế là với đôi giày bốt của chồng mang ở chân, với áo cưới của mẹ che thân, lưng mang xắc, Marie vừa khóc vừa rời khỏi nơi trú ẩn. Thế nhưng ra ngoài đường, chẳng ai ngoái lại nhìn cô cả, chẳng ai thèm ngạc nhiên một điều gì.


Họ đến đồn công an. Anh cảnh sát nghe họ nói.


- Tôi có thể cấp cho anh chị giấy xác nhận là anh chị có nộp đơn thông báo bị mất trộm. - Viên cảnh sát nói - Với giấy này anh chị có thể đến phòng dịch vụ may mặc và xin phiếu mua một áo dài. Hãy cảm ơn Thượng đế là anh chị chỉ bị lấy cắp quần áo. Lần sau thì đừng có vào một nơi trú ẩn như thế nữa. Trong những hầm rượu gần nhà ga, hằng đêm người ta tìm thấy nhiều kẻ bị giết hại.


Phòng dịch vụ may mặc ở ngay bên cạnh. Người nhân viên đưa ghế mời họ ngồi và chăm chú nghe họ nói. Sau đó anh ta hỏi họ giấy chứng nhận cư trú.


- Chúng tôi có một giấy xác nhận chúng tôi phải đi di dân và một giấy xác nhận chúng tôi bị mất trộm. - Pillat nói.


- Chúng tôi không thể cấp phiếu mua quần áo nếu ông bà không có chứng chỉ cư trú. - Tay nhân viên nói.


- Đây là một trường hợp ngoại lệ. - Pierre Pillat nói - Ông hãy nhìn xem, vợ tôi không thể du lịch với chiếc áo cô dâu và đôi giày lính. Điều đó tùy ông bình xét. Tôi chỉ xin ông chiếu cố đến trường hợp ngoại lệ của vợ tôi, vì ngoài chiếc áo đó, cô ấy không còn gì cả.


- Thế theo luật định thì vợ ông đã trần truồng. - Tay nhân viên nói - Chiếc áo cưới không thể xem như là một vật dụng dùng để mặc. Trước mặt tôi, nghĩa là trước mặt luật pháp, bà đây là người trần truồng, tuyệt đối trần truồng và mặc dù thế, chúng tôi cũng không thể cấp phiếu cho bà mua áo. Chúng tôi cần phải có giấy cư trú của ông bà.


Pillat lại nghĩ đến cái vòng lẩn quẩn là muốn có giấy cư trú thì phải có giấy xác nhận có việc làm, muốn có việc làm cần có chứng nhận cư trú và bây giờ... Mọi sự năn nỉ van xin đều vô hiệu. Một giờ sau, Marie lên tàu đi Stuttgart với chiếc áo cưới, với đôi giày lính và với cặp mắt đỏ kè. Niềm an ủi duy nhất của cô là trên xe lửa không ai để ý nhìn cô. Không ai chú ý đến chiếc áo cưới vì người ta không nhìn lẫn nhau nữa. Không còn gì kỳ lạ nữa. Và đó là điều kỳ lạ nhất trong tất cả mọi điều: cái hiện tượng đó không còn gì là kỳ lạ nữa.


VII


Trong khi Pillat vắng mặt thì một Hội đồng Achentina đến Stuttgart. Tất cả những người đã bị các hội đồng trước đây từ chối đều muốn thử vận may lần nữa. Trong hàng người da mặt xám tro người ta nhìn thấy viên Schaffner Daniel Motok, phi công Varlaam, tiến sĩ Ante Petrovici. Họ đứng cạnh nhau, Ante Petrovici giữ chặt trong tay các giấy tờ giả ông tự mạo ra.


Khi được dẫn vào văn phòng, những người tị nạn nhìn xung quanh đầy ngạc nhiên: Hội đồng Achentina không có cân bàn, không có máy đo lực cơ bắp, không có máy chụp hình não sọ và hình phổi cho những người dự tuyển. Không có một loại máy nào hết.


Hai người đàn ông và một người đàn bà mặc đồ đen, cổ đeo tượng thánh giá lớn bằng vàng, ngồi ở một chiếc bàn hình chữ nhật. Chính người đàn bà chủ tọa. Hình như bà ta gốc người Tây Ban Nha. Da nâu nghiêm nghị, tóc bà chải rẽ ngược lên trên thái dương. Bà mặc một chiếc áo đen cổ đứng.


- Ông làm nghề gì? - Bà mặc áo đen và mang thánh giá vàng hỏi Motok.


- Nhân viên đường sắt. - Motok trả lời.


- Loại nhân viên nào?


- Kiểm soát viên các toa giường. - Motok nói - Tôi biết bốn thứ tiếng. Tôi đã hành nghề mười bốn năm.


- Trong lúc này chúng tôi chỉ nhận những người có nghề chân tay, thợ máy, thợ mộc, thợ luyện kim, thợ xây cất. - Bà chủ tịch nói - Sắp tới đây, chúng tôi sẽ tiếp nhận các nghề khác. Đừng mất hy vọng. Hãy tin vào Chúa. Chúa thử thách loài người, nhưng nhờ Chúa, ông sẽ thắng. Chỉ có Đức Chúa trời mới ban chiến thắng cho loài người.


Motok thấy mắt người đàn bà phủ kín một tia sáng lạnh như thủy tinh. Ông ngẩng đầu lên và bắt gặp đôi mắt của Đức Jesus trên cây Thập giá. Đức Jesus như muốn giải thoát Motok lại có thể muốn để ông ta phát biểu ý kiến. Nhưng bà chủ tịch ra lệnh:


- Người kế tiếp.


Bà ta ra dấu cho Varlaam tiến lại và hỏi nghề nghiệp của anh ta.


- Phi công. Varlaam nói.


- Chúng tôi có thừa phi công rồi. Tất cả phi công các nước chiến bại đều đến tị nạn ở Achentina. Lúc này chúng tôi chỉ thâu nhận những thợ máy không quân. Rất tiếc là ông không phải thợ máy.


Đến lượt Ante Petrovici.


- Tôi là thợ sửa đồng hồ ở Iéna.


Ông đặt mảnh bằng bằng giấy da thuộc do ông Chủ tịch nghiệp đoàn thợ đồng hồ ở Thurigue và mười hai thợ sửa đồng hồ khác ký ở lên bàn. Trên mảnh bằng viết rõ bằng chữ vàng rằng nghiệp đoàn thợ đồng hồ ở Thurigue nhận tiến sĩ luật khoa và toán học Ante Petrovici vào nghiệp đoàn của họ với tư cách là thợ chính sửa đồng hồ. Người đàn bà mỉm cười với Ante Petrovici như một người mẹ.


- Khi tôi còn là sinh viên, - Ông ta nói - tôi đã học tập sự ba năm ở một tiệm đồng hồ tại Iéna. Sinh viên hồi đó có thông lệ là học thêm một nghề chân tay. Năm tôi đỗ tiến sĩ luật khoa và toán học cũng là năm tôi có được cái bằng thợ sửa đồng hồ này. Tôi phải tháo ra và ráp lại một đồng hồ bỏ túi trong vòng ba mươi phút. Việc sát hạch để có mảnh bằng trên thật là khó.


- Và đó là điểm quan trọng nhất. - Bà chủ tịch nói - Achentina giờ đây cần thợ sửa đồng hồ. Bây giờ ông hãy đến trình diện tại phòng khám bệnh. Tôi chắc là ông hoàn toàn khỏe mạnh. Một con người có một nghề chân tay là một con người mạnh về thể xác.


Ante Petrovici nghĩ:


- Đây là vận may của mình: một mảnh bằng thợ đồng hồ. Mảnh bằng mà mình đã có được hồi còn trẻ nhờ thể thao.


Achentina sẽ không nhận mình với tư cách là tiến sĩ luật khoa, hay tiến sĩ toán học, cũng không với tư cách là một công chức có kinh nghiệm hành chánh lâu năm. Cái mà Achentina thấy có giá hơn cả ở mình đó là anh thợ đồng hồ. Mình quên khía cạnh đó của con người mình. Thợ đồng hồ trong vị tiến sĩ luật và toán học Ante Petrovici. Đấy, chỉ có điều đó là có giá thôi: thợ đồng hồ.


Người đàn bà ngồi dưới tượng Chúa ghi giấy chấp nhận cho Ante Petrovici đi khám bệnh.


“Đây là cái mà cuối cùng tôi được tồn tại”. - Ante Petrovici tự nhủ - “Một tên sửa đồng hồ tại Tân thế giới. Một tên sẽ thay đổi lò xo đồng hồ, sẽ thay thế mặt kính bể của những đồng hồ bỏ túi và đồng hồ đeo tay, sẽ sửa dây reo các đồng hồ treo tường và đồng hồ báo thức cho những người ở Tân thế giới. Đó là những gì Tân thế giới thấy có giá nhất, tốt nhất ở con người tôi. Hoan hô tiến sĩ Ante Petrovici. Đó là điều duy nhất Tân thế giới đòi hỏi ở một người thợ đồng hồ. May thay cho ngươi, ít nhất ngươi cũng là thợ sửa đồng hồ, nếu không ngươi sẽ chết.Vì chính Tân thế giới điều khiển vũ trụ và Tân thế giới không đòi hỏi trí thức nhưng cần những thợ đồng hồ. Vậy đó, điều duy nhất Châu Âu cần hiến dâng cho con cái mình, đó là việc đem bán chúng ta cho Tân thế giới, bán theo mét, theo ký, bán từng lá phổi, bán từng centimét. Và Tân thế giới chọn lựa trong chúng ta cái mà nó thích hơn cả. Ở tôi, Tân thế giới đã chọn thợ sửa đồng hồ”.


- Ông theo đạo Thiên chúa, đúng thế chứ? - Người đàn bà ngồi dưới cây thập giá hỏi.


- Đạo Chúa. - Ante Petrovici khẳng định - Dĩ nhiên là theo đạo Thiên chúa.


Ante Petrovici nuốt nước bọt. Ông cảm thấy nghẹt thở. Ông dướn cổ lên như muốn kiếm tìm ở nơi cao hơn cái không khí thở được.


Phía sau Hội đồng, Đức Kitô được chạm vào gỗ cây thập giá như quằn quại không phải vì đau đớn nhưng vì thương hại Ante Petrovici đã buộc lòng phải nói dối. Ante sinh ra ở Bosnie, dưới thời quân Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng, dân chúng Bosnie bị buộc theo đạo Hồi, nếu không thì phải chết. Ông nội của Ante Petrovici đã chối bỏ đạo Thiên chúa vì sợ bị chém đầu và theo đạo Hồi. Đó là lý do tại sao Ante sinh ra không là tín đồ đạo Chúa mà là đạo Hồi như bao nhiêu người dân khác ở Bosnie.


- Chúng tôi chỉ nhận những người theo đạo Thiên chúa. - Bà chủ tịch nói.


Bà nhìn thấy chứng nhận rửa tội theo đạo Thiên chúa mà Ante Petrovici tự tay làm ra để có được giấy phép hành nghề sửa đồng hồ ở Achentina.


- Ông qua khám bệnh đi. - Người đàn bà nói - Sau đó ông trở lại đây. Tuổi giới hạn là bốn mươi, xem ra ông chưa quá hạn tuổi đó. Tôi nghĩ là ông không có khuyết tật gì chứ?


Bà xem giấy tờ. Tất cả đều là giấy giả. Ante Petrovici đã quá bốn mươi tuổi rồi.


- Thật là hoàn hảo. - Bà nói - Ông qua gặp bác sĩ và ông có thể xem như mình là người Achentina.


Ante Petrovici nghĩ đến mấy centimét thiếu ở chiều cao, nhưng bây giờ ông ta biết cách thóp bụng và nhón chân dưới thước đo chiều cao rồi.


Ông lại nghĩ đến mấy cái răng bị thiếu, nghĩ đến bàn chân phải cạn quá vì không có vòm. Mặt ông xanh mét.


Những người thợ giỏi, những người Thiên chúa tốt, những người khỏe mạnh. Đó là những người của Achentina tìm kiếm. Ông hội đủ các điều kiện đó. - Bà chủ tịch nói.


Ante Petrovici lại nghểnh cổ lên tìm phía trên cao cái không khí thở được. Ông ngột quá. Cao hơn, không khí chắc phải trong lành hơn. Ông ngẩng đầu lên, trên cây thánh giá, chúa Jesus nhìn vào mắt Ante Petrovici và như nói với ông:


- Chúa sẽ giúp đỡ những ai không có vòm bàn chân phải, những ai không cao được 1,60 mét. Không nên sợ tiến sĩ Ante Petrovici vì anh theo đạo Hồi. Chúa sẽ giúp những người đạo Hồi. Chúa Jesus ở bên cạnh anh cả khi giáo hội của ta không chấp nhận anh và xua đuổi anh.


Ante Petrovici đi ra không khập khiễng chút nào. Ông bước đi như không có một chân ngắn hơn chân kia. Chúa Jesus phù hộ, nâng đỡ cánh tay Ante Petrovici để người đàn bà mang thánh giá vàng không nhìn thấy ông ta đi khập khiễng.


VIII


Sau khi ở Hội đồng Achentina trở về, Ante Petrovici thấy Pillat ngồi sẵn trong phòng ông. Marie mặc chiếc áo cưới bằng voan trắng. Họ từ Frankfort trở về.


Quân cảnh đến đó thường xuyên; họ bố ráp, tịch thu hết đô la và trong vài phút các nhà triệu phú đã trở lại nghèo xơ như khi họ ở trại tập trung ra vậy.


Ante Petrovici đi vào trong ngôi nhà của bà Salomon - Ông không biết bà Salomon trước kia có tên là Eddy Thall, nhưng khi biết bà ta là bạn của Lidia, vợ ông, khi biết bà từ Sural đến, khi biết bà làm việc cho kế hoạch biến đổi khí hậu ở Nga và ông cũng không biết là con bé gái Orly của bà ta đã bị giết ở Varsava. Không ai biết gì về bà Salomon và Isaac Salomon, ngoại trừ bà là nạn nhân của phát xít và bà Salomon là một trong những người đàn bà giàu nhất xóm Do Thái tại Stuttgart.


- Tôi đến xin bà một chiếc áo dài. - Ante Petrovici nói - Không phải xin cho một cô nhân tình nhưng cho vợ của một người bạn. Cô ấy bị trộm và không có gì để mặc nữa hết.


Bà Salomon mở vali và lấy ra hai chiếc áo cũ rồi đưa cho Ante Petrovici.


Trong phòng của bà chỉ có một cái giường, hai cái ghế, một cái bàn gỗ và nhiều chiếc vali chồng lên nhau.


- Tôi đã được chấp nhận đi di dân qua Achentina. - Ante Petrovici nói.


Bà Salomon chỉ cho ông xem bức hình một trang trại, bà treo phía bên trên đầu giường bà.


- Tôi cũng thế, tôi sẽ đi di dân. - Bà ta nói - Đó là Hany, trại chúng tôi mới mua ở Canada. Chúng tôi hy vọng sẽ ra đi trong vài tuần nữa.


- Tôi sẽ kiếm cho chị một chiếc áo dài và đôi giày. - Ante Petrovici nói - Hãy đợi tôi ở đây.


Ante Petrovici đi ra và tiến về phía ngọn đồi đứng sừng sững nhìn xuống thành phố Stuttgart. Ông đi khập khiễng nhiều hơn.


Khu vực trên đồi là vùng duy nhất không bị tàn phá.


Những biệt thự trắng được người Mỹ trưng dụng và cấp cho mấy người Do Thái đã thoát chết ở các trại tập trung. Đó là xóm người Do Thái mới.


Hằng ngày kể từ khi Chiến thắng, hàng triệu hàng triệu đồng Mark đã đi qua xóm Do Thái đó. Mỗi một đồ hộp Mỹ ngay sau khi ra khỏi cửa hàng đều đi qua xóm Do Thái trước khi ra chợ đen. Tất cả những tác phẩm nghệ thuật, tất cả vàng bạc, tất cả những cái gì có giá ở Đức đều đi qua xóm Do Thái trước khi được đưa xuống tàu qua Mỹ.


Mỗi gói thuốc lá khi ra khỏi túi anh lính Mỹ đều đi qua xóm Do Thái trước khi đến tay một anh dân thường.


Ở đó không thiếu một thứ gì. Có một số người đã trở thành triệu phú trong vài ngày. Xóm Do Thái trở nên thịnh vượng. Người ta có thể mua ở đó nào là áo lông thú, nào là mỹ phẩm, nào là đồ ăn, nào là trái cây ngoại, thuốc lá, có đủ tất cả. Cái duy nhất mà xóm Do Thái không có quyền được giữ đó là đồng đô la Mỹ.


- Isaac đang đi lo công chuyện làm ăn. - Bà Salomon nói - Chiều mai anh ấy sẽ trở về cùng với số tiền còn lại mà chúng tôi cần dùng để đi Canada. Đây là chuyến du lịch làm ăn cuối cùng của ông ấy, sau đó chúng tôi sẽ đi. Cuối cùng chúng tôi sẽ có một cuộc sống thanh thản.


Ante Petrovici biết rằng Motok đã đi cùng với Isaac Salomon để bán lậu nhiều xe hàng hóa ở vùng Xô Viết.


Nếu họ không bị bắt, họ sẽ trở về giàu có. Ante Petrovici muốn chào ra về những bà Salomon giữ ông ta lại.


- Aurel Popesco sắp đến. Ông hãy ngồi lại với tôi. - Bà ta nói.


Bà Salomon bắt đầu nói về trang trại ở Canada. Bà nhìn bức ảnh. Bà ăn mặc thật lịch sự, bà đeo một chuỗi hạt ngọc, nhiều vòng đeo tay và nhẫn nạm đá quý. Mũi giày và gót giày của bà đều có những hạt ngọc óng ánh đúng mốt Mỹ.


- Tôi nóng lòng muốn xa lánh những người Mỹ cũng giống như trước đây tôi nôn nóng muốn trốn khỏi cái trại tập trung. - Bà Salomon nói - Người Mỹ đã tranh đấu để giải phóng người Do Thái ra khỏi các trại tập trung và đã tiêu diệt chủ nghĩa bài xích Do Thái. Chiến thắng đã đến, chúng tôi đang ở đây, ở trong xóm Do Thái được ưu đãi này. Chúng tôi được cho không cơm ăn và nhà ở. Chúng tôi được tự do làm gì chúng tôi muốn. Chúng tôi có thể trở thành triệu phú nhưng đúng lúc chúng tôi có tiền thì người Mỹ đến và họ tịch thu hết. Isaac đã giàu bao nhiêu lần rồi chứ? Nhưng mỗi lần giàu lên thì quân cảnh Mỹ lại đến và họ lấy của chúng tôi đến đồng xu cuối cùng. Và không chỉ có thế, đúng lúc đồng đô la đến tay người Do Thái là nó mất giá trị. Chúng tôi, người Do Thái, chúng tôi không trả một chuyến du lịch ra nước ngoài, chúng tôi không thể mua một ngôi nhà vì chúng tôi bị cấm trả bằng đô la. Tất cả những gì chúng tôi có thể làm được với đồng tiền của mình, đó là chôn chúng. Tuy nhiên, tôi tin là chúng tôi đã kết thúc, đã xong xuôi với câu chuyện ảo tưởng này. Tất cả những gì chúng tôi có, chúng tôi chia đôi với một người Mỹ và người này sẽ chuyển tài sản chúng tôi qua Canada. Trong vòng vài tuần nữa thôi, chúng tôi sẽ rời xa xóm Do Thái này.


(còn tiếp)


Nguồn: Cơ may thứ hai. Tiểu thuyết của Constant Virgil Gheorghiu. Hoàng Hữu Đản dịch. In theo bản thảo mà Giáo sư Hoàng Hữu Đản gửi nhà văn Triệu Xuân, Trưởng Chi nhánh NXB Văn học - năm 2002. Triệu Xuân đã biên tập hoàn chỉnh để in ấn, nhưng không được cấp Giấy phép xuất bản (vì tác giả này chống Liên Xô)! Mãi đến năm 2010, GS Hoàng Hữu Đản gửi in tại NXB Công an nhân dân.


 


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 05.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
xem thêm »