tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29832391
Tiểu thuyết
12.01.2013
Néel Doff
Keetje - Gái ăn sương thành nghệ sỹ

Vào thời ấy, tôi đọc tất cả những tác phẩm của Zola xuất bản. Ông ta không làm tôi xúc động. Tôi có cảm giác mơ hồ đây là một sự miêu tả hời hợt, một thực tế bịa ra hay quan sát nông cạn. Với tôi, hình như tác giả quá tin vào trực giác của mình, nhất là khi liên quan đến quần chúng. Trực giác không bao giờ thể hiện được hoàn toàn cho các bạn thấy được tâm hồn của một nhân vật thối tha đang di chuyển trước mắt các bạn.


Tôi tự cho là mình ngu dốt. Nhưng có thật là tôi ngu dốt không? Thực tình thì tôi chắc chắn là tôi hiểu điều đó hơn Zola nhiều. Hơn thế nữa, tôi cảm thấy rằng tôi sẽ không bao giờ hiểu thật sự sâu sắc được những người thuộc một giai cấp khác giai cấp mà tôi xuất thân. Ngay cả từ nay, nếu mọi tiếp xúc giữa những người cùng giai cấp với tôi có chấm dứt đi nữa thì họ vẫn sống trong xương tủy tôi và không bao giờ tôi đồng hóa được tâm hồn những người khác. Thế mà Zola...Do đâu mà ông dám tự phụ cho rằng ông hiểu được chúng tôi một cách dễ dàng đến thế? Chúng tôi không nghĩ rằng mình hiểu được những người của một giai cấp khác. Chúng tôi không biết họ dành cho chúng tôi những gì và, trước hết, là chúng tôi sợ, như sợ điều xa lạ.


André thích A Rebours (Trái khoáy) của Huysmans: cuốn sách trên tầm hiểu biết của tôi. Tôi không biết rằng cuộc đời cũng điều khiển những kẻ giàu có trên trái đất này và đưa đẩy họ vào những hành vi kỳ lạ nhất: tôi hoàn toàn không thương xót họ chút nào. Với tôi, Esseintes là một kẻ hư hỏng không thể tha thứ được. “Khi mà người ta có tất cả để làm người lương thiện...”, đó là lý thuyết muôn đời của tôi. Cái đẹp của văn phong lúc đó chưa tồn tại đối với tôi.


André cũng nói chuyện với tôi về những kẻ theo thuyết Saint Simon, về Fourier, về tu viện trưởng Lamennais - họ chẳng có ý nghĩa gì đối với tôi cả, về ngôi nhà chung công cộng Ôi! Khủng khiếp và rùng rợn! Tất cả là của chung, không ai có nhà riêng của mình. Làm thế có thể tĩnh tâm để suy tư và theo dõi được một tư tưởng nẩy sinh? Tôi cảm thấy một ác cảm không thể khắc phục được đối với cái khái niệm “ngôi nhà công cong ấy”; và tôi, thà chọn sa mạc còn hơn.


André là một lý thuyết gia khá hùng biện. Tôi bắt đầu hiểu được khía cạnh giả tạo đó của con người. Nhưng, nơi anh, có một tấm lòng nhân từ cao cả thực sự. Victor Hugo và Michelet là những thần tượng của anh: anh bắt tôi đọc hai tác giả này. Trong La Femme (Người đàn bà), Michelet làm tôi phát khiếp: phải nhặt một người đàn bà ở vỉa hè rồi đưa mụ ta về gia đình nhà mình. Cuốn Nhà thờ Đức Bà Paris khiến tôi say mê. Tuy nhiên tôi muốn biết một bà mẹ, ở vào trường hợp Mụ hủi, khi bị người ta cướp mất đứa con gái của mình, có thể nói lên những câu đẹp đẽ như thế không?


Tôi nhớ lại một bà hàng xóm ở cùng ngõ có một đứa con bị mất hồi còn nhỏ, một bé gái có mái tóc xoăn vàng rất xinh. Bà thường gọi tôi đến chơi vì tôi gợi lên hình ảnh đứa con bà. Bà quấn mớ tóc của tôi quanh ngón tay bà, bà nâng cằm tôi lên để ngắm, nhưng rồi bà sững sờ ngạc nhiên khi nhận ra gương mặt mà bà đang ngắm không phải là gương mặt của con gái bà. Trong khi chú tâm vào việc nội trợ, bà mím miệng, hai dòng nước mắt chảy dài trên đôi má và rơi trên chiếc áo cánh. Bà lặng lẽ tiếp tục công việc. Rồi bà cầm lấy tay tôi, đưa tôi ra cửa. Lúc cửa đã đóng, tôi nghe một tiếng thở dài não ruột. Tôi nói với André rằng người đàn bà ấy cảm thấy nỗi đau khổ tột cùng của mình vì khi tôi còn bé, bà đã truyền cho tôi nỗi đau khổ đó khiến tôi lao vào ôm cổ mẹ tôi, khóc nức nở. Nhưng Hugo có thể ca ngợi với tôi tất cả những gì ông muốn, cũng chẳng xúc động lòng tôi chút nào.


- Ôi! Khốn khổ! Cô, con người thất học, cô lại muốn phê phán những con người có đầu óc lỗi lạc như thế ư?


- Khối óc của họ thì không, nhưng tấm lòng của họ thì tôi phê phán. Họ biết bài hát nhưng họ không biết bắt đúng cung điệu.


Anh nhìn tôi, ngơ ngác:


- Bây giờ em tự cho mình đã là một phụ nữ biết tranh luận với anh rồi cơ à: em tưởng rằng em là một người thông minh, nhưng cái sọ của em mới lớn cỡ này thôi.


Vừa nói, anh vừa chỉ lóng tay út của anh.


- Động đến Victor Hugo, đến Michelet, phải có cái đầu ngu như em mới dám làm việc đó. Đừng nói chuyện với anh nữa, em làm anh kinh sợ!


- A! Rốt cuộc là anh làm em bực mình. Nếu em ngu ngốc, thì chúng ta im đi và nhìn cây cối kìa, thực tình là em thích chúng hơn sách của Victor Hugo.


Tức sùi bọt mép, anh đưa hai tay lên, nhào đến tôi, nhưng rồi dừng lại, miệng há hốc:


- Im đi, đồ dốt đặc, đồ ngu... con nhà quê đáng thương hại.


Anh chạy đi lay một cái cây.


- Úi chà! Tốt đấy, thử đụng đến em xem.


Những lần tranh luận và cãi cọ như thế thường xảy ra trong rừng Soignes; mà ít nhất ba lần một tuần chúng tôi đi ngang qua đây để đi ăn tối ở Groenendael. Sau mỗi lần cãi cọ như vậy, chúng tôi đi mỗi người một phía, rồi thì tôi đến gần anh:


- André... nào...


Anh khóc thật tình và bảo tôi:


- Thật là thảm hại! Không làm gì được với đàn bà: em đã đọc bao nhiêu là sách rồi, thế mà em nói về Hugo như một người ngu dốt nhất và kém hiểu biết nhất. Anh tưởng rằng bằng cách nói chuyện như chúng ta đã làm, cuối cùng em cũng cảm nhận được cái vĩ đại của nhà thơ có một không hai này chứ!


- Bằng cách nói chuyện! Anh tưởng rằng điều đó đến với anh bằng nói chuyện à? Từ lúc lên bốn, anh đã có thầy dạy anh đủ các môn học. Trong lúc nói chuyện, anh đã chế giễu em... đúng, nếu em đã có được kiến thức căn bản như anh. Nhưng em chỉ có những cảm nghĩ của em. Tuy nhiên, em hiểu được Jean Jacques và Dostoðevsky. Họ làm em rung động từ đầu đến chân, còn Hugo, ông ấy cho em cái cảm giác rằng ông ta là một cỗ máy rất hoàn chỉnh mà người ta khởi động.


Anh vất mạnh điếu thuốc xuống đất:


- Ồ! Không! Rốt cuộc thì em mãi mãi chỉ là một cái gì tàm tạm thôi.


- Nếu em là tàm tạm đối với anh, thì em đi ngay; em không muốn, em muốn là tất cả.


- Tất cả ư?


- Tất cả!... Tất cả hoặc không là gì cả.


Và rồi đến lượt tôi, tôi òa lên khóc nức nở.


- Trời ơi! Em đừng khóc. Em không làm gì được đâu. Anh là một con thú vật!


- A! Không! A! Không! Không phải thế. Em không muốn anh thương hại em: đầu óc em ngang tầm với đầu óc của anh.


- A! Thế thì hết chỗ nói. Em tưởng tượng vậy thôi! Thực ra em không biết gì cả, em không có chút học thức nào cả!


- Vừa rồi anh bảo là điều đó sẽ đến với em bằng cách nói chuyện... Vả lại, em đã không được học những gì anh đã học, nhưng em đã thấy nhiều việc ngoài đời hơn anh và điều đó khiến em hiểu được những điều mà không bao giờ anh hiểu được, bởi vì người ta phải sống qua những cảnh ngộ đó mới cảm nhận được những điều đó. Anh biết một điều này, em biết một điều khác... Nhưng chúng ta không nên giận hờn nhau như thế này, em rất sợ mất anh...


- Ô! Không mất đâu! Cái ý nghĩ tuyệt vời thật!


Và chúng tôi vòng tay ôm người nhau, tiếp tục đi xuyên qua khu rừng êm ắng, chỉ còn nghĩ đến việc âu yếm nhau.


Tối lại, trên đường về, trong bóng đêm, chúng tôi bàn tán vui vẻ về những gã trưởng giả bụng phệ mà chúng tôi đã nhìn thấy trong lúc chúng nhậu nhẹt. Rồi anh trèo lên một cái cột chỉ đường, xem mình có đi đúng đường hay không trong khi tôi nhón chân quẹt que diêm đưa lên cao về phía anh. Anh tụt xuống, vòng cánh tay ôm tôi, rồi sau những nụ hôn, ngả người tôi trên đống tuyết hay trên đống lá khô rụng. Thường chúng tôi về đến nhà vào lúc hai giờ sáng, mệt nhưng thanh thản và sung sướng, trên người còn phảng phất hương rừng.


- Keetje, em không thể như thế này mãi: em nói một thứ tiếng địa phương không thể chấp nhận được, lại thêm cái giọng lơ lớ tiếng Anh làm người Hà Lan ngán ngẩm. Chữ viết của em rất đẹp vì em đưa vào đấy cả tâm hồn mình, nhưng chính tả thì hỡi ôi! Đây là địa chỉ của một cô giáo dạy ngữ pháp, ghi tấm biển ở cửa sổ nhà cô ấy. Vậy em hãy đến đấy hỏi thăm và học đi.


Tôi đến đấy và bắt đầu học ngay. Giáo viên là một cô nhỏ hơn tôi bốn, năm tuổi. Cô giảng cho tôi thế nào là một động từ, một tính từ, một danh từ. Lúc đầu, tôi không nhận thấy sự yếu kém của mình: tôi không biết rằng những yếu tố sơ khởi ấy đều giống nhau trong tất cả các ngôn ngữ. Nhưng khi tôi ý thức được điều đó, tôi ngượng đến nỗi cô nhận thấy, và, để tôi được thoải mái, cô kể rằng cô cũng dạy những bài như thế, trong giới thượng lưu, cho các bà đã có chồng có con mà việc học hành bị xao nhãng vì kém sức khoẻ hay vì những lý do khác. Có nhiều bà còn chậm hiểu hơn tôi. Tôi biết ơn cô vì cô muốn tôi được thoải mái, nhưng tôi không cảm thấy dễ chịu hơn chút nào vì sự dốt nát đáng thương của mình.


Trong vòng một năm, khi tôi có thể tự xoay xở được, André thấy bấy giờ tôi cần có một giáo sư sử và địa lý nữa. Tôi tìm được một vị ở một trường trung học nam. Trước hết, ông giảng cho tôi, trên tấm bản đồ, ý nghĩa của những đường ngoằn nghoèo nhỏ là gì, những đường này tượng trưng cho núi, những dường kia là sông,v.v… Tôi không tin nơi mắt mình, nhưng không nói gì cả. Khi tôi đã hiểu được, ông bắt đầu dạy lại từ đầu. Ông trình bày trước mắt tôi cả lịch sử xứ Ai Cập, rồi xứ Mèdes và xứ Ba Tư. Vừa kể, ông vừa bắt tôi theo dõi trên bản đồ để tôi ghi vào trong đầu những biến cố nào đã xảy ra ở đâu.


Đó là sự khám phá lớn của đời tôi. Chính tả nói chung làm tôi chán, nhưng ở bộ môn này, tôi vắt giò lên cổ mà chạy cho kịp. Càng lúc, mọi việc càng sáng tỏ với tôi, và tôi thấy trước mắt mình những quốc gia, với dân chúng và cuộc sống của họ, với thú vật, cách sinh hoạt của họ... Trận lụt của sông Nil khiến tôi kêu to lên rằng “Thôi rồi, nó tràn ngập tất cả rồi”. Những chiếc cầu tàu và đê điều đưa tôi đến Hà Lan, chân bì bõm trong nước bùn. Nhưng những xác chết mà người ta ngâm sáu tuần trong nước muối như cá mòi rồi sau đó dùng móc thọc qua lỗ mũi để lấy óc ra, và cả một quá trình rùng rợn để liệm xác đã gây cho tôi những cơn ác mộng khủng khiếp.


André cười trước những ấn tượng mà tất cả ngần ấy thứ đã gây ra cho tôi:


- Những cảnh tượng ấy còn lại trong em nhiều hơn trong bọn anh: bọn anh, người ta nhồi nhét những thứ ấy vào đầu từ khi còn quá trẻ, khi còn mê chơi bi. Cho nên bọn anh không có ấn tượng gì.


- Chẳng sao, nếu được đi học sớm, thì giờ đây em có thể làm những việc không đến nỗi sơ đẳng như thế này,vì em nhận thấy rõ rằng, muốn có hiểu biết thì cả đời người cũng không đủ.


Khi bàn đến Kinh Thánh,tôi thoải mái hơn. Tôi biết Kinh Thánh rất nhiều, nhưng người ta đã dạy tôi như đó là lời của Đức Chúa Trời, và lương tri tôi nổi lên chống lại Đấng đã phán: “Ta đã để cho các người phạm những điều bất công ấy, đã trả thù các người, bởi ta là vị Chúa trả thù”.


Giờ đây, người ta trình bày Kinh Thánh với tôi như là lịch sử và văn học của một dân tộc, cho nên nó gây nhiều hứng thú cho tôi.


Tâm tính tôi hoàn toàn thay đổi: tôi nhìn thấy xa hơn, tôi khám phá những cái đẹp, cái xấu mới.Tôi cũng bắt đầu hiểu rằng nếu nghèo đói là cái tai họa lớn nhất, thì cũng còn có những nỗi đau khổ khác ngoài cái bụng đói kêu rên, và khi đôi chân được đi tất ấm cũng chưa phải là tất cả.


Trước khi được học, mọi việc đều hiện ra trong tôi bằng những cảm giác, tôi không thể diễn tả bằng lời, mà khi tìm được lời để diễn tả thì tôi lại không dám nói, vì nghĩ là mình ngốc nghếch và phi lý. Bây giờ, tôi diễn tả được rõ ràng những ý nghĩ của mình, phân biệt sự kiện nào ra sự kiện ấy, biết tự chủ mình và không còn sợ bị người ta chế diễu như Eitel đã từng có thói quen chế diễu tôi trước kia. Tôi nói năng hoàn toàn khác, tôi biết chọn được từ, nhưng André thấy cái giọng nói của tôi còn là giọng người nước ngoài và anh sợ tôi nói giọng Bỉ.


- Em phải đến nhạc viện, nhưng đừng để cho người ta biết vị trí của em. Em nói em là người nước ngoài đến Bruxelles để học tiếng Pháp. Với chút dáng điệu một “phu nhân nước Anh”, công việc sẽ ổn. Nhưng trước hết, em phải theo một khoá học tư để dễ được ghi danh nhập học. Anh biết một cô học trò cũ, thời anh học vĩ cầm, vì - em không biết đâu, trước kia anh muốn trở thành nhạc sĩ vĩ cầm nhưng ba má anh phản đối - cô học trò cũ này ngày nay đã thành một hướng dẫn viên thực tập. Cô ấy ác độc như một con ghẻ nhưng cô ta dạy hay và có tay nghề.


Công việc được thu xếp ngay. Tôi phải mua một quyển phương pháp Merlet và chúng tôi bắt đầu xướng âm. Không một âm nào đúng, cách phát âm của tôi thì tốt. Kế đến, cô bắt tôi đọc từng âm tiết một và phải ngậm những viên bi trong miệng để diễn âm cho mềm mại. Cô bắt tôi phát âm bằng môi. Tôi phải luyện “mmme..., nnne..., pppe...”. Tôi hăng say đọc đến nỗi phải ngáp vì mỏi hàm, máu tụ lên đầu và mờ cả mắt. Tôi tin mình có thể làm việc cật lực để bù lại những năm tháng đã mất đi. Tôi tiến bộ vượt bậc, và, trong vòng vài tháng, cô giới thiệu tôi vào nhạc viện như một cô gái từ Bỉ đến để học bổ túc. Lúc này, tôi đã thuần thục hơn những sinh viên năm thứ hai.


Thế là tôi bắt đầu học nhạc cổ điển. Đó là một cánh cửa khác rộng mở cho tôi bước vào một cuộc sống huy hoàng mà tôi đang ngỡ ngàng thâm nhập. Tôi có những cảm giác cuồng nhiệt đồng thời với những cảm xúc nghệ thuật tinh túy. Cả con người tôi căng ra trong sự rung động tràn trề. Rồi là một sự tự phụ vô bờ bến. Sao! Tôi, tôi đang là sinh viên của một trường! Tôi, tôi bước vào một lãnh vực mà nhân loại đã sản sinh ra cái gì cao quí nhất! Tôi, tôi đang chăm chút từ cử chỉ, điệu bộ đến tiếng cười, đến cả nụ cười mỉm của mình? Tôi suy nghĩ vớ vẩn về những điều ấy; tôi là một sinh viên đúng giờ, thận trọng. Mỗi khi cô giáo nói về một quyển sách hay một bản nhạc nào, tôi đi mua nó ngay. Vì tiền bạc eo hẹp, mấy chiếc áo dài của tôi phải liên tục đưa đi nhuộm lại, cái mũ phải chỉnh sửa. Tất cả tiền của tôi đều dùng để mua sách và trả học phí vì tôi nghĩ rằng nhất thiết phải học tiếng Anh và tiếng Đức.


Vả lại, phải trả giá đắt để có niềm hạnh phúc này. Tôi đâm ra bồn chồn lo lắng, ban đêm hay đổ mồ hôi khiến tôi yếu hẳn đi. Rồi cô giáo lớp cao cấp mà tôi hiện đang học không thích tôi. Cô cho là tôi quá lớn tuổi, không có đủ ngực và mông...


- Em là nghệ sĩ, em thông minh. Nhưng, giữa chúng ta, cô nói thật nhé ở sàn diễn, mình phải làm vui lòng cánh đàn ông, và cô không tin rằng em thuộc trường hợp này.


Tôi có đọc Nana của Emile Zola và còn nhớ là, trên sàn diễn, không biết phải hát thế nào, cô lắc mông một cái. Tôi hỏi cô, sân khấu là như thế phải không. Cô nhíu mũi bực mình. Từ đó đến mãi về sau, những việc gì của tôi có liên quan đến cô đều hỏng cả.


Tuy nhiên, tôi làm việc cật lực. Nếu ban đầu tôi không nghĩ đến việc phải đổi giọng nói, thì bây giờ tôi đoán thấy một tương lai cho tôi trong kịch nghệ. Nhiều khi, tôi tự nghiên cứu thêm ngoài những vai diễn người ta giao cho tôi. Cả thầy trò trong lớp đều ngạc nhiên về cách thể hiện rất thực của tôi.


Trong vở Les Deux Pigeons (Đôi chim câu) chẳng hạn, làm sao không cảm thấy cái chết trong tâm hồn, khi người ta yêu nhau mà một trong hai người lại muốn bỏ đi để lao vào con đường phiêu lưu mạo hiểm?


Hay vở Le Chien et Le Loup (Con chó và con sói), tôi nghĩ đến cái vòng trong bao thế kỷ đã siết chặt cổ một phần nhân loại, và những kẻ mạnh thỉnh thoảng lại xoa dịu họ bằng cách ném cho họ vài thứ thức ăn thừa thãi, vài cái xương gà, xương bồ câu...


Rồi, vai Rolla!


Nghèo ơi! Nghèo ơi! Chính mi là ả giang hồ,


Chính mi đẩy cô bé kia vào giường…


Các bạn hiểu được nỗi cảm xúc sâu sắc của tôi khi đóng vai này. Tôi không còn định kiến đối với Victor Hugo nữa. Tôi đã đam mê nghiên cứu:


Đứa bé đã lãnh hai viên đạn vào đầu.


Tôi sẵn sàng trèo qua các hàng rào chướng ngại vật để phá hủy tất cả những hoa hồng ở công viên Saint Cloud. Phá hủy những đóa hoa hồng!... Tôi, con người đã từng nhắm mắt lại vì quá xúc động, trước hương vị của một đóa hoa hồng nước Pháp.


Rồi đến vở La Conscience (Lương tâm) với nhân vật Cain và câu hỏi điệp đi điệp lại “Con mắt kia đã biến đi chưa?”


Toàn thân tôi nổi da gà vì một nỗi kinh hãi không sao tả được.


Nhưng đến Booz! (Booz, một nhân vật trong Thánh Kinh)


Bóng tối tân hôn, tôn nghiêm, trang trọng...


Cả con người tôi bừng mở ra thành những ước vọng hướng về ánh dương, về những cánh đồng lúa vàng, về những hương thơm và ánh sao đêm hè... Tôi lôi André qua cánh rừng Soignes; nhưng vì là mùa đông, ban đêm tẻ nhạt đã không cho tôi những hình tượng và cảm xúc ấy.


Đấy, tôi đã đạt được tới sự rung động và sự chân xác làm ngạc nhiên bạn bè và thầy cô như thế đấy.


Tôi nghĩ là tôi đã nhờ rất nhiều ở khả năng ảo tưởng và hồi ức của mình để truyền dẫn những cảm giác ấy đến với khán giả.


Tôi không biết âm nhạc. Nhưng, nhờ dự những buổi hòa nhạc với André mà tôi bỗng cảm nhận được hương vị của đồng quê và thấy một dòng suối trong ngoằn ngoèo chạy qua những cánh đồng cỏ…


- André này, em có cảm giác rằng có cả hoa và nước trong điệu nhạc này.


- Có tất cả đấy chứ. Đó là bài Pastorale (Khúc nhạc đồng quê)


Tôi hoàn toàn không biết rằng Beethoven đã muốn thể hiện tất cả những điều tôi vừa nhìn thấy và hít thở.


Trước Duncan, tôi khiêu vũ theo bất cứ điệu nhạc nào, và nhất là tang khúc của Chopin. Điệu nhạc này!... Sau khi André mất tôi nhiều lần chiêm bao thấy một đoàn vũ công, mặc áo choàng tía rộng, đi trước xe tang nhảy múa theo điệu nhạc tang của Chopin.


Khi tôi nói với các bạn cùng lớp là tôi thấy diễn ra trước mắt tôi nào là màu sắc, nào là động tác, nào là mùi hương, là những cái có trong vai diễn của tôi, hầu hết họ đều chế diễu. Các bạn khác thì cho rằng đó là chuyện giả tạo và mọi người ai nấy đều ác cảm với cách nhìn, cách cảm ấy của tôi.


- Chị biết, Oldéma, với năng khiếu gợi nhớ ấy, thì chị làm thế nào để đóng vai Toinette trong Le Malade Imaginaire (Người bệnh tưởng)?


- Còn các bạn, không có cái năng khiếu ấy thì các bạn sẽ diễn Booz như thế nào?


Tất cả công việc này, đối với tôi là nguồn vui lẫn đau khổ, với họ lại là một gánh nặng. Ngoài Marthe, cô bạn duy nhất của tôi ở nhạc viện ra, không một ai có niềm đam mê nghệ thuật.


Ít lâu trước cuộc thi, tôi bắt đầu quan tâm chăm chút đến cái dáng điệu đi lại của mình trên sàn diễn. Sự hóa trang làm tôi xấu đi. Tôi lo ngại cho dáng vóc ốm yều của mình. Tôi muốn biết. Tôi bèn mua cả một bộ dụng cụ trang điểm nào là son, phấn, kem, bút chì đủ màu. Và một tối, tôi bảo Naatje là tôi sẽ ăn mặc và hoá trang như để ra sân khấu.


Tôi bật tất cả đèn trong nhà, trong phòng tôi lên. Tôi bảo Naatje:


- Bây giờ, em ngồi đây, đối diện cửa cái, rồi khi chị bước vào, em nhìn kỹ xem chị tạo nên cho em ấn tượng gì nhé!


Người thợ uốn tóc bảo tôi phải làm như thế nào. Hoá trang xong, tôi cuốn tóc lên cao bằng chiềc lược đồi mồi vàng, quấn chiếc khăn choàng lụa Trung Quốc trắng, thêu hoa văn màu hài hòa. Tôi bước vào. Naatje im lặng nhìn tôi. Rồi, với ánh mắt ngạc nhiên, giọng nói bực bội, nó bảo tôi:


- Em nghĩ là phấn son không hợp với chị.


- Chẳng phải nó hợp với chị đó sao? Tôi đáp và tiến đến bên cánh tủ gương.


Tôi thực sự rực rỡ, với vẻ trong trắng thơ ngây, tươi mát mà tôi không biết. Cánh tay tôi quá gầy, hốc xương vai quá sâu; nhưng cổ, gáy và ngực thì rất đẹp và trẻ trung lạ lùng. Đường nét thân hình, nhất là cái lưng, thanh nhã lắm và đôi bàn tay búp măng trông như có cá tính đặc biệt.


Tôi làm vài động tác và điệu bộ trước tấm gương, ngâm vài đoạn trường thoại trong bi và hài kịch; rồi tôi đi ra đi vào, với dáng điệu cúi chào rất cung kính. Naatje không nói gì và một lúc sau, nhìn tôi từ đầu đến chân với ánh mắt căm ghét.


- Naatje, nếu cô giáo chị thấy chị như thế này, thì dù có thiện chí đến mấy, cũng không có thể cho là chị vô duyên. Nhưng nếu cô cho đổ một ít hồ vào làm đầy hốc vai chị, và một chiếc áo nịt có ngực và mông, thì những cử chỉ và lối chào theo lối quí tộc của chị trước khi rời sân khấu sẽ không còn sự uyển chuyển của nó nữa. Em nhìn này, duyên dáng đấy chứ?


Rồi tôi nghiêng mình chào hai bên như những nữ hoàng chào trước khi rời cuộc họp.


Tôi lột bỏ vội vàng tất cả những thứ ấy trước khi André tới, và tôi cho Naatje về nhà luôn vì André không thích nó lắm.


- Em gái của em là một con rắn lục, đầu óc hẹp hòi, lại cho sự xấu xí của mình là một đức tính. Nếu cô ấy không chịu học lấy một nghề nào đó, thì đừng đến nhà em nữa, cô ta sẽ là một gánh nặng cho chúng ta.


Điều đó khiến nó nổi giận đùng đùng nhưng nó không đủ hãnh điện để thôi không đến và nó tự cho mình đã trở thành một tiểu thư vì nó thừa hưởng trang phục của tôi.


Một giờ sau, khi André đến, tôi vẫn còn cái cảm giác tự thấy mình đẹp đến nỗi anh hỏi tôi có việc gì mà vui thế:


- Mắt em rực lửa...


Chúng tôi được trải qua một đêm dài ân ái...


Mặc dầu bị cô giáo làm khó dễ đủ điều, tôi vẫn đứng vững đến kỳ thi. Cô làm mọi việc trên đời để loại tôi ra. Nhưng một học sinh đến hỏi cô, trước mặt ông giám đốc nhạc viện, xem có phải cô không muốn để tôi diễn hay không, rằng tôi đang đứng khóc đằng sau cái cột. Cô buộc phải giới thiệu tôi và trong tình trạng khiếp sợ, tôi ngâm Những lời nguyền rủa của Camille.


Suốt thời gian tôi ở trên sàn diễn, cô sôi nổi nói chuyện với ông giám đốc. Tôi hả dạ được nghe ông giám đốc nêu nhận xét:


- Đó là người duy nhất hiểu được những gì mình đang nói và giọng cô ấy tròn trịa.


Rồi, ông quay sang tôi:


- Rất tốt, cô à, cô có thể dự thi.


Nhưng cô giáo vẫn hành hạ tôi bằng những câu dè bỉu nhỏ nhặt và những lời nhận xét đầy ác ý. Những giọt mồ hôi đêm làm tôi kiệt lực đến độ không chịu đựng được nữa, tôi bỏ thi.


Rồi tôi cũng tự bảo mình: “Nếu mình thi hỏng, cô ta sẽ lợi dụng việc này để đuổi học mình luôn, mà mình thì muốn tiếp tục học: cuộc thi này có đạt cũng không tăng thêm cho mình chút kiến thức nào”.


Ngay khi tôi vừa bỏ thi, cô ta trở nên dễ thương ngay.


- Con à, hãy tin cô đi, sân khấu không phải là nghề nghiệp của con: vì không phải chỉ có sân khấu mà còn có hậu trường nữa... Con không có cái cần phải có để làm diễn viên mà nên làm nhà văn thì hơn.


Tôi đoán lại có một sự nham hiểm cuối cùng nào đây.


Một học sinh nói với tôi:


- Cậu ngốc lắm, thi với cử gì, cô ấy làm thế chỉ để mọi người tập trung chú ý vào con bé O và để nó giành được giải nhất. Và cái sản phẩm cho các ông già ấy sẽ không đoạt giải được nếu cậu chen chân vào.


- Nhưng tôi chịu đựng hết nổi rồi. Vả lại André bảo tôi rằng anh không muốn tôi trở thành diễn viên, rằng cái đó sẽ phá vỡ hạnh phúc của chúng tôi.


Thế là tôi đi chữa bệnh.


(còn tiếp)


Nguồn: Keetje, Gái ăn sương trở thành nghệ sỹ. Tiểu thuyết của NÉEL DOFF. Hoàng Hữu Đản Lê Minh Thuận dịch từ nguyên bản tiếng Pháp: KEETJE. NXB Văn học, 2007. NXB Văn học, Chi nhánh TP. HCM mua bản quyền tác phẩm này từ NXB LABOR - BRUXELLES.


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.Chương 1
5.Chương 1
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »