tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30132724
Tiểu thuyết
01.11.2019
Vlastimil Podracký
Sodoma & Gomora


Trên những nẻo đường


Sự phản bội ở  Azaj


Emor lắc lắc đầu, "Thực sự là không thể," anh ta cúi gằm xuống đất.


"Chúng ta có một giao ước hẳn hoi mà," Kesulot giận dữ ném cuộn giấy lên mặt bàn.


Emor đỏ mặt. "Khi không thể, nó sẽ là không thể, giấy tờ chẳng giúp được gì. Tôi phải thực hiện e hèm, một số nghĩa vụ nhất định...“


"Anh chưa bao giờ phản bội tôi, lời nói của anh luôn luôn có giá trị. Chuyện gì đã xảy ra thế?"


"Rất nhiều điều đã xảy ra..."


"Kẻ nào, lạy Chúa tôi... Kẻ nào ép anh làm điều đó?"


"Tôi chẳng thể làm được bất cứ điều gì..."


Kesulot rút bọc ví, đổ vàng ra và đếm số tiền tạm ứng trả cho Emor mà ông đã nhận được.


Emor thậm chí còn đỏ mặt hơn. "Nó làm sao ấy, tôi không có ý định để..."


"Cầm lấy đi và đừng bao giờ đến trước mắt tôi nữa..." Kesulot quay đầu rời đi.


Ông trở lại kho cảng chỗ chứa vụ thu hoạch của mình. Phải làm gì với nó đây? Cứ mỗi ngày sẽ phải trả nhiều, nhiều tiền hơn. Không thể nằm lại nhà kho. Vậy mà kho lại cứ rỗng dần đi. Đâu đó buôn bán vẫn chạy, duy ông thì không.


Ngủ lại trong khách sạn bến cảng, ngày hôm sau ông đến quảng trường tìm kiếm khách hàng. Ở đó những đoàn lữ hành lạc đà tụ tập, lúa mì chất đầy trên lưng chúng. "Thủ lĩnh đoàn lữ hành đâu rồi?" Ông hỏi người đàn ông lớn tuổi đang giám sát mọi thứ.


Anh ta hất đầu về phía người đàn ông trẻ đội khăn xếp. Kesulot chờ người thủ lĩnh nói chuyện xong với nhóm người đội khăn xếp mới lên tiếng: „Khi nào đoàn lữ hành lên đường?“


„Ông muốn đi với chúng tôi sao?“


„Rất có thể, nhưng chủ yếu tôi muốn bán lúa mì.“


„Việc đó không do tôi quyết định, mà là ông Razim. Nếu muốn, tôi sẽ đưa ông tới chỗ ông ta.“


„Tốt thôi.“


Viên thủ lĩnh dẫn Kensulot tới khu lán trại lưu động trên quảng trường. Ở đó, một người đàn ông đang ngồi trên ghế đẩu với bộ râu muối tiêu, rít tẩu thuốc. Bầu không khí hoàn toàn khác ập vào Kesulot. Tuy trong lán rất ít đồ nội thất, nhưng thay vào đó trên tường treo các mẫu thảm đẹp trang trí khác nhau. Kesulot cảm thấy nhẹ đi chút ít. Chắc nơi này quả thực nằm ngoài ảnh hưởng của đám trộm cướp từ bên kia biển. Ông nghi ngờ, người đàn ông này có thể có gì đó chung với họ. Dù gì cũng phải có một số giới hạn cho quyền lực của họ chứ.


„Tôi có thêm người quan tâm tới vận chuyển,“ thủ lĩnh đoàn lữ hành giới thiệu.


„Tôi là Kesulot xứ  Gomorrah, bán lúa mì. Tôi có thể cung cấp năm trăm bao.“


„Tôi là Razim, xin mời ông ngồi!“


Kesulost ngồi xuống.


„Chúng tôi chỉ vận chuyển chứ không mua lúa mì. Nhưng tôi có thể mời ông. Nếu đi với chúng tôi, lúa mì sẽ được chuyển tới Melk và ở đó ông có thể bán nó. Tôi nghĩ rằng ông có thể có cả lời lãi hơn.“


Đó không phải là đề nghị tồi. Kesulot không nghĩ ra, có thể đơn giản như thế. „Sau bao lâu chúng ta tới Melk?“


„Sau khoảng một tháng đi đường. Tất nhiên dọc đường chúng ta sẽ dừng tại Medin. Từ đây đến không quá hai tuần. Ở đó ông cũng có thể bán được hàng. Thông thường người ta bán một phần vì giá không lời lắm.“


„Với tôi thế có nghĩa là gì? Tôi phải chuẩn bị như thế nào? Tôi chưa bao giờ đi lại như vậy.“


„Chúng tôi sẽ đảm nhận tất cả, nó sẽ nằm trong giá.“


„Được, vậy là thỏa thuận xong. Bây giờ chỉ còn phải chất bao hàng lên và soạn hợp đồng.“


„Chắc vậy rồi, sáng mai chúng ta sẽ tiến hành.“


 


Kesulot hài lòng vì công việc trôi chảy dễ dàng. Trong quán ăn trên quảng trường ông biết thêm, cùng đi với Razim còn vài nhà buôn tương tự như vậy từ Azaj và quanh vùng. Ông rơi vào cơn sốt du hành. Đó sẽ là chuyến đi phiêu lưu, mạo hiểm! Chưa bao giờ ông vào những sa mạc lớn sau dãy núi cao. Ông chỉ am hiểu thế giới qua khu vực Tiểu biển, hồi nào đó được gọi là Solné, bởi nó mặn hơn các biển và hồ khác. Bây giờ ông đang có cơ hội...


Một trong những nhà buôn từ Dalemo, thành phố không xa dãy núi hỏi thăm: „Quả thực đó là quyết định đúng đắn bán lúa mì tận nơi, ở đó rất được giá. Nhưng phần lớn người nông dân bán lúa mì cho các nhà buôn. Sao anh lại không làm như vậy?“


Kesulot không muốn trả lời, ông lắc đầu.


„Tất nhiên tôi hiểu rồi, ông muốn thử kết nối kinh doanh và tự bán hàng. Đó là một quyết định tốt nhưng đầy rủi ro. Một mặt đó là hành trình vất vả, sau đó là một môi trường hoàn toàn xa lạ, nơi ông sẽ bán hàng... Bằng không, ông có thể bán ngũ cốc ngay, tôi sẽ mua nó.“


"Giá bao nhiêu?"


"Hai mươi đồng bạc cho một bao tải." Giá đó không bằng một nửa so với những gì anh thường mặc cả với Emor.


"Ồ, không. Thế thì rẻ quá. Tôi định giá lúa mì của mình cao hơn thế."


"Được thôi, tùy ông nghĩ... cũng chẳng sao cả. Chúng ta sẽ là bạn bè, chúng ta phải giúp đỡ nhau, cần tới nhau trên đường đi. Cuối cùng, đoàn sẽ đông vui hơn.“


"Anh có ước lượng được giá ngũ cốc là bao nhiêu để có thể bán ở Melk không?"


"Điều đó khác nhau, nhưng nếu ông vượt qua được, bảo đảm sẽ có lời. Chắc chắn gấp mười lần. Tuy nhiên, nếu chỉ vậy, chuyến đi sẽ không bõ bèn gì. Tốn rất nhiều thời gian. Thông thường ra người ta kiếm được nhiều tiền hơn nữa."


Kesulot có quá nhiều thời gian, Về nhà với ông không là điều bắt buộc. Cứ coi đó là một chuyến rong chơi, ông nói lời chia tay rồi ra đi.


Ngày hôm sau, lúa mì được chất lên, tiếp đó đoàn lữ hành xuất phát. Họ chuẩn bị cho Kesulot quần áo, khăn xếp và lạc đà. Tiền sẽ phải trả tới khi bán được hàng, ông hài lòng với mọi thứ, rất thích môi trường mới, một cái gì khác lạ thực sự. Các mối quan hệ khác đi, tất cả mọi người đều thân thiện.


Hành trình trôi đi, trong vòng hai ngày họ đã đến thành phố Asimo, trên núi cao. Lạc đà và cừu gặm cỏ xung quanh. Ở đây cảm giác cái lạnh rõ ràng hơn, Kesulot nhận ra mùa Đông giá đang đến. Ông không còn ngạc nhiên tự hỏi việc mình nhận được quần áo ấm, làm từ sợi lông cừu, có hai lớp vải. Mặc trông rất tệ vì các lớp xộc xệch với nhau, nhưng thật sự ấm áp. Tuy nhiên ông vẫn tạm thời bằng lòng hành tiến trong bộ áo dài của mình.


Sau Asima, nơi bắt đầu hẻm núi, ông ngó lại lần cuối Tiểu biển hay còn gọi là biển Muối, nói đúng hơn là lớp sương mù phía trên và toàn bộ lưu vực rộng lớn nơi biển án ngữ. Sau đó, rừng núi che phủ tầm nhìn, đoàn tiến vào khe đá giữa các ngọn núi. Họ liên tục lên cao hơn cho đến khi Kesulot nhận thấy trong khe núi xuất hiện nước, dòng suối nhỏ mạnh dần. Đoàn người tiến dọc theo con suối.


Đột nhiên, một lưu vực rộng lớn, thấp xuất hiện, bên trên bao phủ lúa mì, chắc còn lâu mới chín. Khi đến gần hơn, các cánh đồng có điều gì đó kỳ lạ với Kesulot. Ông không biết là gì, nhưng sau rồi nhận ra. Các thửa ruộng không có kênh tưới tiêu. Rõ ràng nước có đủ từ mưa hoặc từ mặt đất. Trên những cánh đồng ngũ cốc là một thị trấn nhỏ, Oliv. Khí hậu ở đây dễ chịu, se lạnh. Chỉ đến khi họ cắm trại trong thành phố vào ban đêm, ông mới thấy mình phải mặc trang phục đã nhận được. Tuy nhiên, ông tự hài lòng cách nó đang diễn ra.


Sáng ra, đoàn lữ hành đi qua Oliv, Kesulot nhận thấy phụ nữ ở đây che mặt, mà từ lâu ở các khu vực xung quanh Tiểu biển không nhìn thấy. Ở đây tất cả mọi thứ đều khiến anh nhớ đến Azaj hồi nào, còn trước cả thất bại của Nemetel và nhóm tôn giáo của ông ta. Kể từ đó, cả phụ nữ Dázár ở Azaj và các thị trấn lân cận đã cởi bỏ khăn mặt và cả che đầu và thậm chí gần đây đã bắt đầu mặc quần áo ít vải. Nhưng trong vùng núi này Kesulot hiểu được. Ở đây rất lạnh và mọi người phải mặc quần áo, thậm chí trùm khăn trên đầu mà đàn ông ở Tiểu biển không bao giờ quàng, đội. Họ đi qua thêm một số thị trấn nhỏ hơn và bắt đầu từ từ đi xuống vùng thấp. Cánh đồng biến mất, chỉ còn lại những cánh đồng cỏ, nhưng ngày càng thưa thớt hơn.


Sau hai ngày đi xuyên đồng cỏ, họ chuyển vào sa mạc. Nhưng ở đây không có sa mạc đá như Tiểu biển, mà là cồn cát sa mạc. Kesulot chưa bao giờ nhìn thấy nó trước đây nên ngắm nghía không chán mắt phong cảnh kỳ lạ này. Vào buổi tối, mọi người dường như rất phấn khích. Họ bắt đầu quấn che đầu và chui vào lều. Kesulot có một nơi bố trí sẵn trong đó. Họ ăn thịt cừu với bánh mì rồi nằm nghỉ.


Ban đêm Kesulot nhận ra lý do việc chuẩn bị lúc buổi tối. Trời rất lạnh. Ông phải quấn thêm chăn quanh mình. Nhưng ngay cả sau đó vẫn không thấy dễ chịu hơn, ông ngủ ít và ngay khi mặt trời vừa ló ra khỏi đường chân trời, ông chui ra ngoài, sưởi ấm dưới những tia nắng mặt trời. Ông không ngủ được nhiều dù đêm rất dài và khi bình minh sớm phải phải thực hiện chuyến đi tiếp theo.


Sa mạc trông rất đẹp. Mặt trời tạo ra sự tương phản rất lớn giữa bóng râm và ánh sáng. Trong bóng râm nhìn như hoàn toàn trong đêm tối và ngoài ánh sáng là rực rỡ ánh mặt trời. Điều này được nhìn thấy rõ nhất trên cồn cát và bóng râm của chúng. Tuy nhiên, bóng râm nhanh chóng co lại và biến mất khi mặt trời lên cao. Buổi trưa, trời trở nên nóng nực. Kesulot bỏ chăn ra, sau đó cởi quần áo và mặc áo dài. Chỉ giữ lại khăn xếp vì mặt trời đang quay nướng. Những người khác cũng làm giống vậy.


Sau một đêm mất ngủ, Kesulot có bữa ăn ngon lành với những người khác, rồi đoàn lữ hành rời đi. Ít ngày sau Kesulot bắt đầu cảm thấy mệt mỏi. Sự lắc lư, nhồi đập của lạc đà làm ông kiệt sức và mất ngủ cũng góp phần thêm vào nó. Lúc đầu, ông sợ ngủ gật trên lạc đà có thể sẽ bị ngã. Nhưng cuối cùng noi theo những người khác, ông trói mình vào yên ghế ngồi và sớm ngủ thiếp đi. Tỉnh dậy trong sảng khoái.


Ngay khi nhìn quanh, ông nhận ra có gì đó đã thay đổi. Không nhìn thấy mặt trời, chỉ như trong sương mù. Nó từng xảy ra ở xứ Gomorrah vào một số ngày mùa Đông. Hay trời đã sang Đông? Nhưng không cảm thấy lạnh, mà là khá nóng. Đoàn lữ hành tiếp tục tiến lên đều đặn, bền bỉ. Những người dẫn đường thúc lạc đà đi nhanh hơn. Nhưng một con lạc đà như vậy thường không để bị thúc, nó đi theo bước của mình và không để ý vào bất cứ thứ gì. Lúc này những con lạc đà dường như tự muốn một cái gì đó, cảm thấy một cái gì đó, dồn bước đi.


Kesulot nhận ra một cơn bão đang đến. Hiện tượng này rất hiếm ở Gomorrah. Ông đã trải qua hai lần trong đời, đó là một cơn gió mạnh và trời đổ mưa. Ở đây trên mặt phẳng này không có gì cản đường gió. Trong thành phố có thể giấu mình trong nhà, ngoài thành phố trong một số khe đá. Nhưng ở đây không có nơi trú ẩn.


Đột nhiên mọi thứ dường như bị bao phủ bởi sương mù. Nhưng đó không phải là sương mù bình thường. Đó là bụi bay trong không khí. Không còn nhìn thấy được xa hơn mông con lạc đà trước đó. Kesulot hiểu ra tại sao những con lạc đà được gắn kết với nhau bằng một chiếc dây da và đoàn lữ hành dường như bị trói chung vào nhau. Đây là cho trường hợp này. Người thủ lĩnh đi phía trước và tất cả đều bị kéo về phía anh ta ngay cả trong đêm tối.


Gió bất chợt ập đến. Những cơn gió cát quất vào mặt. Không còn là bụi nữa mà là những hạt cát. Nhưng đoàn lữ hành tiếp tục, Kesulot che mặt, nhưng chẳng mấy chốc, đôi mắt ông đầy cát và không thể thở được. Cát ở khắp mọi nơi, lạo xạo giữa răng và thốc vào cổ.


Cứ như vậy, họ đi tiếp khoảng một giờ, Kesulot gần như bắt đầu nghẹt thở khi gió bất chợt ngừng lại. Ngay cả tầm nhìn cũng được cải thiện. Cơn bão đã chấm dứt sao?


Nhưng không phải vậy. Ông để ý thấy những bức tường nào đó, nhận ra họ đang ở trong thị trấn. Hình như đi qua cổng và bây giờ đi trên đường. Họ quả thực đã đến kịp đúng lúc. Tuy trên quảng trường gió thổi một cách khó chịu, nhưng có thể dựng được một chiếc lều bạt chứa tất cả đoàn người hành hương vào đó. Cát khắp mọi nơi, nhưng có thể sống nổi. Thậm chí còn nghe thấy tiếng ồn nào đó như thể nước đang chảy. Trên quảng trường có đài phun nước. Một đài phun nước thực sự! Ông khao khát được rửa ráy vì đã không tắm rửa quá nhiều ngày!


Thấy những người đàn ông khác chỉ lấy nước và uống, ông cũng uống. Trong không khí, cát bay tứ tung nên không ai rửa. Cát sẽ ngay lập tức dính vào cơ thể trần trụi, tắm sẽ không có ý nghĩa. Thế là Kesulot bẩn thỉu toàn thân, đầy cát ra góc lều ngủ thiếp đi.


Một sự im lặng kỳ lạ vào buổi sáng. Trong lều đầy bụi cát, người ta nằm sát vào nhau ngủ. Nhưng gió không còn thổi nữa, ông đi ra ngoài. Không gian yên tĩnh, mặt trời từ từ ló dạng. Ông nhìn thấy một thị trấn nhỏ tồi tàn dính vào nhau từ đất sét, những bước tường thấp, các cửa sổ hẹp từ đó hiện ra. Khắp nơi phủ lớp bụi và cát. Nước đài phun sủi bọt giữa quảng trường. Kesulot cởi đồ, vui vẻ nhảy lên dưới dòng nước chảy ra từ đài phun. Tuy trời lạnh, nhưng mặt trời đang chiếu vào nên có thể chịu được. Đồng thời, ông nhìn thấy một nhóm phụ nữ che mặt đang đứng ở góc quảng trường. Không quan tâm đến, ông tiếp tục tắm. Mọi người bắt đầu co cụm ở góc quảng trường và hét gì đó vào mặt ông. Tốt hơn là kết thúc tắm cho xong, lau người và mặc quần áo. Ông biết người Dázár hồi nào không được phép tắm. Có lẽ ở đây, bằng hành động của mình, ông đã xúc phạm cư dân. Phải cẩn thận hơn, ông nhanh chóng chuồn vào lều.


Nhưng chẳng mấy chốc, ông nhận ra việc tắm đã không giúp được gì, quần áo đầy bụi cát, thậm chí đến nỗi không thể phủi được. Một lần nữa cát bụi dính bám vào cơ thể.


 


 


Medin và Melk


 


Sa mạc với những cồn cát của nó trông giống như một tấm chăn mềm của trái đất lại hiện ra, một tấm chăn trên giường khi con người từ đó thức dậy vào buổi sáng. Nó có một màu vàng son đẹp cho đến vàng hẳn. Gió dồn những đụn cát mới và làm thay đổi hình dạng của chúng, liên tục thay đổi. Đoàn lữ hành không để lại dấu vết phía sau như thể chưa bao giờ có ai đi. Phía trước chỉ là những cồn cát bất tận. Trên mỗi đỉnh cồn cát, Kesulot quan sát những gì sẽ thấy tiếp. Nhưng chỉ có cồn cát, cồn cát và những thung lũng giữa chúng phải vượt qua. Khi vượt qua, một cái khác xuất hiện và cứ thế tiếp tục.


Thế rồi, các cồn cát đổi hướng và đoàn lữ hành đi trên đỉnh cồn cát. Nhìn thấy được ở cả hai phía biển cát vô tận không dấu vết, như thể nơi bắt đầu thế giới.


Mặt trời dần nghiêng về phía Tây và đổ bóng xuống tít xa. Kesulot theo dõi, nó không đổ xuống trên mặt phẳng với họ, mà là cao hơn. Hoặc là mây hoặc là núi. Nó trông giống như những ngọn núi, bởi vì các đỉnh lởm chởm. Họ tản ra trong đêm cuối cùng trên sa mạc cát.


Kesulot đang dần quen với điều kiện sa mạc. Bức tường nỉ với ông đã trở thành quê nhà tạm thời, giống như yên ghế lạc đà. Ông hiểu được cuộc sống khó hiểu trước đây của người Béd - Dân tường nỉ mà cư dân thành phố thường chế giễu họ. Nhưng mặc dù vậy ông có thể thích nghi được, vườn rào đá, như những người du mục gọi các thành phố, luôn là tổ quốc của ông và bất cứ lúc nào cũng cảm thấy hạnh phúc khi sống ở đó.


Vào buổi sáng có thể nhìn thấy rõ những ngọn núi. Chúng là những vách đá lởm chởm, hoang dã hơn nhiều so với những hòn đá nhô lên dọc theo Tiểu biển. Họ đến nơi vào buổi chiều, cắm trại trong bóng tối của nó. Ở đây đá nhiều hơn cát.


Những ngày tiếp theo họ di chuyển lên trên, qua các hẻm núi có khi rộng, có khi hẹp. Ngủ lại đêm tại đó, bên dưới đã xuất hiện cỏ và bụi cây. Lạc đà được chăn thả thường xuyên hơn, đoàn lữ hành dừng nghỉ. Kesulot chống lại được sự cám dỗ để tắm trong dòng suối chảy qua thung lũng. Không ai làm điều đó, vì vậy ông cũng không muốn tạo ra tâm trạng thù địch. Tóc ông dính dán lại với nhau và trên cơ thể một lớp bụi bẩn, nhưng phải làm sao? Không thể khác người được.


Lại xuất hiện những hẻm núi hẹp. Đội vũ trang đi vòng quanh đoàn lữ hành dọc theo hai bên sườn và cố gắng dồn lạc đà vào hàng hẹp nhất. Tiếp đó chia đều quân hộ vệ. Thông tin này cho thấy một điều gì đó. Chắc ở đây đã không an toàn.


Rồi xuất hiện sự hỗn loạn giữa đội bảo vệ. Họ rong ruổi khắp nơi và hét lên gì đó. Kesulot nhìn xung quanh xem cái gì là nguyên nhân lo lắng của họ. Trên một tảng đá cao đầu dốc hẻm núi, ông thấy những kỵ sĩ cưỡi ngựa, khoảng hai mươi người. Trông giống như những bức tượng, những khối đá thuộc về miền đất này.


Mặc dù vậy, đoàn lữ hành vẫn bình tĩnh tiến trình, chậm rãi nhưng chắc chắn tránh qua nơi nguy hiểm. Những kỵ sĩ trên lưng ngựa kia không thể nguy hiểm cho một đoàn lữ hành lớn như vậy. Có lẽ họ đã nhận ra sẽ rất nguy hiểm nếu tấn công.


Đoàn người ra khỏi khe núi, tiến vào vùng đồng cỏ rộng lớn phủ đầy cỏ mỏng. Những đàn ngựa và lạc đà đang gặm cỏ trên đó. Từ xa một khối hình kỳ lạ xuất hiện. Có lẽ là một tảng đá có hình dạng kỳ lạ hoặc một sản phẩm của con người? Đúng hơn đó là tác phẩm của một người khổng lồ đã đặt rất nhiều đá lên trên một ngọn núi cao để xây dựng những bức tường hùng vĩ.


Ngày hôm sau họ đi vòng qua. Kết quả lao động của con người, thị trấn nhỏ với những bức tường khổng lồ, cao chót vót, nói đúng hơn là một "bức tường vây bằng đá". Bên trong chỉ có một vài tòa nhà vượt lên các bức tường bởi các mái của nó. Một nơi như vậy chắc chắn là bất khả xâm phạm. Một số kỵ sĩ cưỡi ngựa rời khỏi "bức tường vây bằng đá" cao ngất, chẳng mấy chốc họ đã ở bên đoàn lữ hành đang dừng lại. Người quản lý thương lượng gì đấy với họ, sau đó đoàn xe lại di chuyển. Các kỵ sĩ theo tháp tùng đoàn. Như sau này Kesulot được biết, đó là đội bảo vệ được vua Atak gửi đến bảo vệ các đoàn lữ hành ở những nơi nguy hiểm.


Tiếp sau là ngày nghỉ ngơi. Lạc đà và ngựa gặm cỏ trên bãi cỏ ngon. Kesulot rất muốn tắm trong lạch suối, nhưng không dám. Ít ra thì cũng đặt chân vào đấy, những người khác ngạc nhiên nhìn ông.


Chập tối, khi tập trung tại lều, Razim đi một vòng xung quanh họ. "Trong vòng hai ngày nữa chúng ta sẽ đến Medin," anh nói, khi đến gần Kesulot và một nhóm du khách khác. „Chúng ta sẽ nghỉ ngơi một lần nữa. Không có lý do để vội vàng. Đêm hôm sau chúng ta sẽ ngủ trong nhà trọ, ở đó sẽ không ngủ được nhiều.“


Medin đã nhìn thấy được từ xa. Kesulot không nghĩ rằng có một nền văn minh như vậy ở đây, xa tít trong sa mạc. Một thành phố lớn được bao quanh bởi những bức tường, một lượng đá đáng kinh ngạc tích tụ ở một nơi. Ông không ngạc nhiên bởi những người du mục chế nhạo gọi các thành phố - vườn rào đá. Tại sao các bức tường lởm chởm, với Kesulot là điều bí ẩn.


Nhưng đêm đầu tiên họ vẫn chưa đi vào thành phố mà cắm trại gần đó.


Trời giá lạnh. Kesulot phải mặc liên tục bộ quần áo ấm, thậm chí cả vào buổi trưa không cởi ra. Ban ngày mặt trời chiếu sáng, song hầu như không sưởi ấm. Thỉnh thoảng bầu trời cuộn mây và mưa phùn. Sáng ra, nước có cho tất cả, trên cỏ, trên lều, trên lạc đà và ngựa. Thật là khó chịu. Trong thời tiết này ông thậm chí không còn muốn tắm tát nữa.


Những vườn cây ô liu và chà bao quanh quanh thành phố, nhưng đất để trồng ngũ cốc không có. Đã rõ tại sao ở đây người ta cần nhập khẩu ngũ cốc.


 


Khi đoàn người bước qua cánh cổng lớn vào thành phố, Kesulot cảm nhận đâu đó mùi hôi hám. Nó đến từ đám lửa mà người dân đang nhóm lên trong các ngôi nhà. Khói bốc ra qua mái. Người ta không đốt bằng củi mà bằng phân lạc đà, nặng mùi gần như không thể chịu nổi.


Đoàn lữ hành đến quảng trường lớn, nhưng không dựng lều. Họ được chia vào các nhà để nghỉ. Trong đó thậm chí còn tồi tệ hơn bên ngoài. Hơn thế nữa, tất cả đều bốc mùi, không biết do họ không tắm tát, hay bị ám hơi bởi mùi hôi thối khủng khiếp từ đám lửa kia. Có lẽ là cả hai, mặc dù thật khó để nói thứ gì khó chịu hơn.


Nếu không thì đó là một thành phố tuyệt vời, rộng lớn, chắc chắn hơn xứ Sodom. Những ngôi nhà cao chắc chắn, dân cư rất đông. Đường phố nhộn nhịp xe kéo, lạc đà, ngựa và người trong một mớ tùm lum. Dù không phải ở khắp nơi, nhưng ở đây đã được lát đá, trên quảng trường và các đường phố liền kề. Tuy vậy không hề có hệ thống công rãnh, nước dường như có rất ít. Chỉ trong một vài đài phun nước, đủ để ăn uống và lau rửa cho trẻ con. Lũ trẻ được thấy ở khắp mọi nơi, chúng chơi trên đường phố và lang thang giữa những chiếc xe, trong vòm những ngôi nhà và thậm chí chạy trên những mái nhà thẳng được bọc phủ bằng da.


Kesulot ở trong một căn phòng lớn với rất nhiều người khác. Căn phòng ở trên lầu, vì vậy họ phải đi trên những tấm ván bị dằm mẻ đóng đinh trên dầm gỗ. Không khí ấm áp xuyên từ dưới lên qua các vết nứt, đúng hơn là hơi hôi thối. Nhưng Kesulot mừng vì ít nhất được ấm áp, bụi bẩn đã không còn làm ông khó chịu.


Nóc trần nhà thật kỳ lạ và rất ngạc nhiên bởi kỹ thuật xây dựng này, nơi những viên đá hoặc gạch dần dần thu nghiêng vào khỏi bức tường tạo ra trần nhà vòm. Ông tò mò trần nhà như vậy sao không tụt xuống, nhưng khi suy ngẫm nguyên tắc, ông thừa nhận nó không thể sập xuống được, bởi những viên đá không hoàn toàn thẳng, mà được đẽo trượt xiên, nêm vào nhau. Ngoài ra, nó chống mưa tốt hơn nhiều so với mái nhà phủ bọc bằng da.


Ngày hôm sau việc buôn bán diễn ra. Các thương nhân ở Medin cố gắng mua lại càng nhiều ngũ cốc càng tốt, để mang đi bán tiếp đi. Medin là thành phố đầu tiên và nhiều đoàn lữ hành đã bán mọi thứ ở đó rồi trở về nhà. Razim vẫn thuyết phục những người khác đừng bán. Anh ta muốn những con lạc đà của mình bao hàng ở chặng tiếp theo hành trình và bản thân nhận được tiền dịch vụ. Không thể để những con lạc đà đi không và sẽ không phải cho chúng ăn một cách vô tích sự.


Kesulot tự hỏi, liệu có nên bán tất cả mọi thứ và đợi chờ đoàn lữ hành nào khác quay trở lại. Hiển nhiên thu nhập vậy dường như là không đủ, ông sẽ nhận được nhiều hơn so với Emor, nhưng nếu tính đến chi phí, nó sẽ không có lợi. Đó là lý do tại sao ông chỉ bán một phần. Nhét vàng vào túi ví bên thắt lưng, ông che lại bằng nếp gấp quần áo.


 


Sau vụ lúa mì, ông đi vào thành phố. Buổi trưa, thời tiết xấu dịu đi một chút, vì vậy thật dễ chịu đi lại trong bộ quần áo ấm. Thành phố không khác mấy so với Azaj, tuy nhiên những ngôi nhà rất cao, đếm tới năm tầng. Chúng không được làm bằng đá mà bằng gạch đất sét phơi dưới mặt trời. Đá chỉ bao bên ngoài những bức tường, rất cao. Kesulot cảm thấy thành phố dường như bất khả xâm phạm. Ông đã không còn cảm nhận được mùi thối khắp nơi, sự hỗn độn, phân lạc đà, ngựa và người dần bị loại bỏ bằng cách đốt hủy. Một số lượng đáng kinh ngạc trẻ nhỏ bẩn thỉu trong những đồ quần áo rách rưới. Đàn ông, đàn bà đều quấn vải từ đầu đến chân. Đám phụ nữ trong những bộ quần áo dài quét tung bụi trên đường phố, nhưng đó có lẽ là vì họ không có giày ấm và phải che chân bằng quần áo. Đàn ông đội khăn xếp. Kesulot ngạc nhiên tự hỏi, sao những người phụ nữ che kín cả mặt, mặc dù gió không thổi thậm chí cát không bay.


Tại một cổng trong các bức tường, ông nhận ra một vòm cung tương tự như cổng Tlapo quê nhà. Nó thậm chí còn lớn hơn, cả cánh cổng cũng lớn hơn. Trên đó có những nhân vật tương tự. Ông nhận ra các thợ thủ công khác nhau, thậm chí cả hai nhân vật vô danh. Nhưng không chỉ có thế. Trên cùng đỉnh là hình ảnh một vị vua, mà trên cổng Tlapo bị đục bỏ. Kesulot rất quan tâm, đó là bí ẩn thời thơ ấu của mình, khái niệm về diện mạo nhà vua ra sao, điều mà ở xứ Gomorrah ông chỉ biết được từ những câu chuyện cổ tích. Tại đây, nhà vua đã vượt ra ngoài kích thước so với các hình ảnh khác. Tại sao họ lại thể hiện nhà vua ở đây? Nói đúng ra, Medin không có vua, Hội đồng điều hành  thành phố này, tại sao họ không đục bỏ đi?


Đó là hình một người, chỉ hiển thị phần trên. Hai tay duỗi thẳng về phía trước, như thể bảo vệ thứ gì đó. Quanh đầu ông ta là một vòng tròn và những tia sáng từ đó tỏa ra, như thể mặt trời mọc lên sau đầu ông. Thật là kỳ lạ. Một vị vua sẽ trông như thế này sao? Theo truyện cổ tích, Kesulot tưởng tượng đó là một nhà cai trị với một thanh kiếm. Nhưng nhân vật này không có kiếm.


Cần tìm hỏi ai đó về những nhân vật mà mình chưa biết, ông dừng một cụ già mà nghĩ rằng có thể giải thích được.


Ông tự giới thiệu: „Salamo. Tôi là Kesulot từ xứ Gomorrah, tôi đến thành phố của ông lần đầu tiên. Các ông có một cánh cổng đẹp. Ông làm ơn giải thích cho tôi các nhân vật thể hiện trên đó không?“


Ông lão chống dựa vào cây gậy, nhìn chằm chằm lên vòm. „Những người thợ nghề thủ công khác nhau. Nhưng tôi không nhìn thấy nữa để giải thích cho anh. Tôi biết tất cả họ, khi còn là một cậu bé, các cha cố đã dạy chúng tôi, nhưng, anh biết đấy, đã lâu quá rồi...


"Ông ơi, thế hình nhân trên đỉnh cao nhất của vòm cung, người đàn ông với mặt trời quanh đầu là ai?"


"Không phải là mặt trời," cụ già cười. "Đấy là hào quang của sự thánh thiện."


"Cái gì vậy?"


"Điều đó các amán phải giải thích cho ông."


"Còn người đàn ông với sự hào quang đó là ai?"


"Chúa trời đấy thôi. Không biết sao? Chẳng lẽ ở xứ Gomorrah ông không biết Chúa trời à?"


Kesulot sững sờ, không thể trả lời ngay được, sau đó lẩm bẩm để bằng cách nào đó kết thúc: "Chúng tôi có biết, nhưng có lẽ chúng ta thể hiện khác nhau." Cảm ơn ông...  Salamo.“ Ông cúi đầu.


"Salamo," trong giọng nói ông già tỏ vẻ nghi ngờ, bước đi khập khiễng.


Vậy đó chính là Chúa! Đúng rồi, nhưng những gì trên vòm ở xứ Gomorrah ông đâu có biết, có thể ở đó là một vị vua ngự trị. Tốt hơn, ông không hỏi han thêm về các nhân vật khác nữa để không làm người dân địa phương bối rối và không bị coi là một thằng ngốc.


 


Đoàn lữ hành tập trung trước thành phố, hướng tới một hành trình khác. Lần này đường đi dễ chịu hơn. Trời giá lạnh, chỉ thỉnh thoảng mặt trời mới rọi sáng, Kesulot thấy Medin thực sự nằm ở đầu vùng đất màu mỡ của đồng cỏ. Người dân thích nuôi gia súc hơn là trồng bất cứ thứ gì. Có lẽ ngay cả kết quả của nông nghiệp đối với khí hậu cũng không đáng để duy trì một hệ thống tưới tiêu đắt tiền. Tuy nhiên, bên những dòng nước vẫn là những ốc đảo lúp xúp cây chà là và ô liu.


Sau vài ngày vượt qua những khó khăn với một vài thung lũng và khe núi họ tiến đến cao nguyên tiếp theo tương tự như Medin, trung tâm là thành phố Melk. Kesulot đã quen với các thành phố này, về cơ bản đều giống nhau. Melk giống như Medin cũng như các thị trấn nhỏ đi qua. Nó chỉ lớn hơn một chút. Ngay cả chỗ ở trọ cũng giống nhau.


Ngày thứ hai buôn bán diễn ra. Trong việc này, tình hình ở Melk có khác. Thương nhân từ các quốc gia khác đã chờ đợi trên quảng trường. Một số có làn da rất sẫm màu, số khác nhỏ bé, da hồng đào. Chỉ đôi khi họ hiểu sai ngôn ngữ Aram, như tất cả người dân trong khu vực, kể cả người Sodom và Gomorrah, gọi như vậy. Kesulot không nhận thấy việc có ai đó nói khác trong suốt hành trình của mình. Chỉ khi gặp những người khác nhau, nói theo cách khác nhau, ông mới nhận ra, tất cả cư dân địa phương đều giống hệt nhau về hình thức và ngôn ngữ.


Kesulot hỏi Razim cách kinh doanh và cách giao dịch của tất cả những người xung quanh. Đổi lại ông sẽ không dừng ở Medin và anh ta sẽ kiếm được tiền từ chuyến đi tiếp theo của ông.


"Những người da đen," Razim bắt đầu, "họ đến từ phía bên kia biển. Ở đây bên dưới những ngọn núi cũng là biển, rộng như Tiểu biển, nhưng dài hơn nhiều. Bên đó là những người màu đen. Họ vận chuyển qua lại trên biển và mua ngũ cốc ở đây."


"Hừm, hừm" Kesulot trầm ngâm thể hiện. "Tôi cho rằng, ở đây họ bị lạnh... Tại sao không đến Medin, họ sẽ mua được rẻ hơn."


„Tại sao họ không đến Medin, tôi không biết, nhưng có lẽ nó không thể tiếp cận được từ biển. Họ cũng không có lạc đà.“


"À, chính là vậy."


"Và những người khác nữa, họ đến từ một khoảng cách rất xa, trên những con tàu từ những vùng đất tít tắp bên vùng biển lớn, nơi trời mưa và mọi thứ đều xanh ngát, cây cối, dừa, quýt mọc khắp nơi.“


"Thế họ đang làm gì ở đây?" Kesulot không thể hiểu tại sao người ta lại rời bỏ một thiên đường như vậy, dấn thân vào những vùng lạnh lẽo, khô cằn và hôi thối như thế này.


„Họ mua với giá rẻ, nhưng chủ yếu không phải là ngũ cốc, họ chỉ có nó khi trên đường về... Mua chủ yếu là các nhà buôn Melk, những người có kho lớn và lúa mì được bán cho các ốc đảo gần đó. Ở đây không thể nhìn thấy, họ chui rúc trong các kho của mình. Ông thấy những người khác đi đâu, hãy chạy theo họ.“


Các kho dần được nạp đầy từ những bao tải lúa mì trên lưng lạc đà. Kesulot bán theo giá đồng nhất tương đương với những người khác, chủ yếu đã được thỏa thuận. Phần của Kesulot không đáng kể so với những người khác, tất cả đều ngạc nhiên tại sao ông ta lại vì một chút hàng, thực hiện một chuyến đi như vậy. Kesulot tuyên bố, ông muốn thăm ngắm các thành phố xinh đẹp của họ và muốn trả phí đi đường bằng lúa mì. Mọi người thích thú, vỗ vỗ vào lưng ông. Họ chưa nhìn thấy một người xứ Gomorrah nào, vì vậy thích trao đổi một vài lời với ông nếu khối lượng công việc cho phép. Bên ngoài, Razim đứng đợi, nhận phí đi đường rồi chia tay nhau. "Kesulot này, nếu ông muốn quay về với chúng tôi, ta sẽ ra về sau một tuần nữa." Kesulot gật đầu.


Kesulot dồn vàng vào ví rồi quay lại thị trấn. Melk có một vài quảng trường lớn. Tất cả đều xây đài phun với dòng nước dẫn đến, nước thải luôn được chảy đi bằng con phố nào đấy xuống dưới. Đã là buổi trưa, trời khá ấm áp. Kesultot muốn đi tắm, nhưng không dám. Ông sẽ phải mặc lại bộ quần áo bẩn thỉu. Giặt rũ không phải là một lựa chọn, thậm chí ông không biết sẽ sắp xếp nó như thế nào và sẽ mặc gì. Đồ thay thế chỉ có một chiếc áo dài và nó hầu như không đủ cả trong phòng.


Ông vừa đi vừa ngắm người. Họ giống nhau trên khắp vùng đất và không khác gì so với Medin. Phụ nữ quấn khắp người, bao gồm cả đầu và đôi khi là khuôn mặt. Trên quảng trường giữa đám đông, một người đàn ông đội khăn xếp, cầm cuộn giấy trong tay đứng trên hòn đá lớn, đang giảng cái gì đó. Kesulot dừng lại, lắng nghe.


"... Con người cần cư xử với nhau đồng cảm. Những gì mình không thích, không nên làm với người khác..." Ông chỉ vào cuộn giấy được viết rõ ràng, rồi vung tay và diễn giải: "Nhưng tất cả các vị đứng đây đang làm gì? Trong khi bếp núc nhà mình đã được dọn dẹp, các vị ném rác qua cửa sổ sang nhà hàng xóm...“


Rõ ràng amán, linh mục khi khuyên răn, nhắc nhở mọi người khiến Kesulot suy nghĩ. Sau một lúc, ông định rời đi thì ai đó tiến đến diễn giả. "Đang truyền bá gì ở đây, ông Talim này, những điều vô nghĩa đó là gì? Nó có trong cuộn giấy đâu...“


Đó hẳn là một amán thực sự, một chuyên gia thư tịch, trông khác hẳn. Ông ta không đội khăn xếp, mà là một cái mũ gì đó. Dấu hiệu rõ ràng của phẩm giá.


"Vậy, ông nghĩ họ có thể ném rác sang sân nhà hàng xóm?"


"Tôi không nói vậy, nhưng những cuộn giấy không nói gì về nó."


Talim đánh dấu được vị trí trong các cuộn giấy, giải thích: "Nó đây thôi."


Amán nhìn vào đó rồi bắt đầu cười. "Talim ơi, Talim ơi, ông thật điên rồ. Đấy là chương thứ tư về tầm nhìn Thiên Chúa trong ta... Hãy chỉ xem những gì được viết ở đó?“


Cả hai nhìn vào cuộn giấy. Amán lên tiếng: "Đây là một cách giải thích việc trong chúng ta có gì từ Thiên Chúa và cách Ngài hiện thân. Nó thể hiện ở sự thánh thiện trái tim. Việc chúng ta phải đối xử tốt với người khác...“


"Vậy thì chúng ta có thể vứt rác?"


"Không, không phải vậy, nhưng không nói rằng, chúng ta không được phép làm điều gì đó mà chúng ta không làm cho chính mình, nhưng lại làm cho người khác. Đây không phải là lời giải thích đúng.“


„Giải thích không rõ ràng này có ích gì cho chúng ta. Chúng ta phải coi người khác ngang hàng với chính mình, vì vậy chúng ta không thể phạm tội với họ, không thể khác được."


"Chúng ta không được phép làm điều ác", amán kết luận. "Vậy là, chúng ta cũng không thể vứt rác sang sân hàng xóm. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta có thể coi người khác là chính mình...“


Với Kesulot quá phức tạp. Ông không thích những cuộc cãi vã như vậy, việc tranh luận từ vựng thật khó chịu. Rõ ràng không được phạm tội với người khác. Nhưng để người kia giống như ta, trong thiện, ác làm điều tương tự, ở Gomorrah là điều hiển nhiên. Ở đây họ đang tranh luận, nhưng xứ Gomorrah, sau tất cả đã thiết lập luật lệ bình đẳng cho con người. Câu hỏi là việc duy trì của họ đối với những người có quyền lực.


Kesulot đi tiếp qua thành phố và trở về mệt mỏi hơn bao giờ hết. Ông đi ngủ sớm.


 


Sáng ra Kesulot thức dậy thấy đầu và cổ đau nhức. Ông nghĩ đó là mảnh thừa thức ăn nào đấy, nhưng không thể khạc ra được. Thật lạ, gần như bị nghẹt thở. Ông nhận thấy, một số người xung quanh cũng đang ho. Nhưng chủ yếu họ đứng dậy, mặc quần áo vào rồi rời đi. Song Kesulot bị đau đớn toàn thân, nằm tiếp trên giường. Dưới tấm chăn thấy nóng, vì vậy ông mở ra. Một lát sau ông bị lạnh đến nỗi bắt đầu run rẩy. Ông quấn mình trong chăn, nhưng răng vẫn lập cập vào nhau. Ông đắp thêm lên chăn bằng quần áo, chẳng ích gì. Ông nghĩ trời có thể đã lạnh như vậy. Nhưng những người khác ăn vận khá nhẹ, thậm chí bên ngoài mặt trời chiếu sáng.


Không lâu sau thấy ấm lên, ông ngủ thiếp đi. Tỉnh dậy trong trạng thái tốt hơn, ông đi xuống uống nước nhưng nước lạnh và bị ho. Ông bèn đi đến sân vườn nơi có quán rượu, gọi trà ấm. Lúc đó ông mới được sưởi ấm, tuy nhiên sự thay đổi nóng, lạnh và run rẩy từng đợt diễn ra. Ông ăn thêm thịt với bánh mì rồi từ từ leo lên cầu thang. Ở bên dưới, ông nhận thấy một số người mắt long lanh, ho hoắng. Có lẽ họ giống mình. Ngoài ra, nhiều người hơn đang nằm ngủ trên giường. Hẳn là do thời tiết, với mùa Đông này, ông nghĩ, có thể họ bị lạnh.


Ngày hôm sau mọi thứ lặp lại, cơn đau ở khớp không ngừng. Ông hầu như khó đi ăn được, sau đó nằm trên giường cả ngày. Một số bên cạnh cũng vậy. "Ông cũng bị thế à?" Người đàn ông mà ông chỉ biết sơ qua từ đoàn lữ hành nói.


"Tôi không biết nó là sao?"


"Đây là một bệnh do thời tiết lạnh. Thêm một ngày nữa là chúng ta sẽ ổn thôi. Cần nằm nghỉ và uống trà.“


Kesulot rất mừng có một người bạn trong run rủi, vì vậy nói chuyện thêm một lúc, rồi ngủ thiếp đi.


Ngày tiếp sau người bên cạnh đứng dậy, đi lại bình thường. Kesulot bị đau các khớp đến nỗi khó mà xuống được đi ăn. Người nằm bên khi trở lại vào buổi tối, ngạc nhiên: "Tôi đã khá khỏe rồi mà, chỉ hơi mệt, nhưng còn ông thì sao vậy?"


"Anh thấy đấy, cơn đau họng đã qua, nhưng tôi không thể đứng dậy."


"Tôi có nên gọi thày thuốc không?"


"Tạm thời chưa."


Ngày hôm sau, tình trạng của Kesulot không được cải thiện và khi người nằm bên trở lại vào buổi chiều, anh ta lo lắng. "Anh phải khỏe mạnh rồi chứ, ngày mai chúng ta sẽ rời đi."


Kesulot ngồi xuống khó nhọc: "Tôi không thể đi như thế này..."


Anh bạn nằm bên không lưỡng lự, chạy tìm thày thuốc.


Anh ta là một người đàn ông nhỏ bé, đội khăn xếp với khuôn mặt hẹp, gần như gầy nhom. Nhìn vào mắt Kesulot, anh ta cầm tay sờ nắn những khớp xương đau đớn. "Thế này sẽ không khỏi được vào ngày mai, khả năng phải sau một tuần, ai biết được..."


Người nằm bên nói: "Phải nói với ông Razim, chắc ông ta sẽ không thích đâu..."


Thày thuốc ra lệnh nghỉ ngơi và uống trà, không cử động gì cả. Anh ta cũng bảo quản gia mang đồ ăn uống đến bên giường. Anh ta ôm đầu Kesulot trong tay một lúc và giữ nó, nhìn ra xa, lẩm bẩm, rồi hứa sẽ quay lại vào ngày mai.


Sáng sớm Razim đến: "Thật đáng tiếc, ông Kesulot à, hành trình trở về sẽ thú vị. Nhưng biết làm thế nào bây giờ? Tôi có phải chuyển lời gì không?“


"Nếu ông đến Azaj, hãy nói với các thủy thủ đi Gomorrah rằng Kesulot sẽ quay lại sau. Để họ nhắn lại cho Shura, vợ ông ấy."


"Được rồi, tôi sẽ thu xếp, nhưng sẽ không sớm hơn trước hai tháng..."


"Không thành vấn đề."


"Salamo, Kesulot à, hãy sớm khỏe lại nhé..."


"Salamo, Razim, tôi chúc các anh một chuyến đi tốt đẹp, về nhà mà không gặp vấn đề gì."


Razim qua cầu thang vẫn còn vẫy tay rồi biến mất ở tầng dưới. Đột nhiên Kesulot một mình trong phòng. Trước khi đoàn lữ hành mới đến, nhà trọ có thể sẽ trống. Tuy có vài tiếng nói nào đó ở phía dưới, nhưng ông không hiểu họ. Đó là những người nhỏ bé da vàng với khuôn mặt tròn và chiếc mũi nhỏ. Ở quê nhà họ chỉ có ấm áp và mưa, nên có lẽ không biết cái lạnh. Nhưng nghe nói một người cũng bị ho. Chắc chắn, anh ta chưa từng trải qua một mùa lạnh như vậy.


Ngày hôm sau, người quản gia chuyển Kesulot đến căn phòng nhỏ ở tầng trệt với người đàn ông da vàng bị ho. Bà ta đốt sưởi bằng phân lạc đà ở góc nhà nơi có chiếc ống gì đó bắt khói, tuồn qua lỗ tường ra ngoài. Nhiệt tỏa ra từ góc phòng.


Thày thuốc đến. Đầu tiên anh ta thăm bệnh người đàn ông da vàng, yêu cầu ngồi dậy, đặt lòng bàn tay lên hai bên cổ, giữ một lúc, lẩm bẩm, rồi chỉ định uống trà và nằm nghỉ.


Anh ta tiến đến Kesulot: "Vậy còn khớp thì sao? Có đau không?“


"Nó vẫn thế," Kesulot phàn nàn.


"Tốt thôi. Nếu xấu đi, nó sẽ tồi tệ hơn. Như thế này ông sẽ có hy vọng...“


Lần này chăm sóc ông rất cẩn thận, anh ta nắn tất cả các khớp đau nhức và dùng tay tác động vào hai bên, lại chỉ định trà và nằm nghỉ.


Kesulot đánh giá cao những nỗ lực của bác sĩ với một số đồng tiền xu, anh ta hứa sẽ trở lại vào buổi sáng.


Sáng ra, anh chàng da vàng bắt đầu khò khè. Kesulot mò dậy, gặp quản gia để gọi thày thuốc. Ông nhận ra mình đã có thể đi được. Mặc dù các khớp đau, nhưng bước đi không đau. Người quản gia chạy đi đâu đó, một lát sau xuất hiện cùng hai người da vàng nữa. Họ ngồi xuống bên người đồng loại của mình và nói với anh ta bằng ngôn ngữ của họ. Kesulot cố gắng vô vọng để nhận biết một từ quen thuộc nào đó, nhưng gần như không thể hiểu được gì hết. Chỉ nhận ra từ quán hàng và quản gia.


Người bệnh bỗng dưng bắt đầu nghẹt thở. Anh lật người ra khỏi giường và run rẩy. Những người đồng loại ghì chặt anh ta, nhưng không quá sợ hãi. Người đàn ông đập đạp kinh hoàng. Họ đặt anh lên giường, đắp lại chăn.


Kesulot muốn đưa ra lời khuyên, vì vậy nói: "Hãy đắp thật kỹ, để anh ấy ấm lên." Ông đã có tâm trạng tốt hơn.


Một trong những người đó trả lời: "Không phải là lạnh... Đó là akan xứ chúng tôi. Căn bệnh này, ở đây không mắc."


„Ở nước các anh cũng có bệnh tật sao? Nghe nói ở đó rất đẹp, mọi thứ đều xanh và đầy hoa quả trong vườn. Không cần tưới tiêu gì cả...“ Người đàn ông mỉm cười. "Đó là đúng nhưng còn là căn bệnh. Các ông không có bệnh ở đây. Chúng tôi có bệnh...“


"Nó được điều trị như thế nào?"


"Chúng tôi đã biết... Quay trở lại khi giấc ngủ xong."


Đến tối, họ mang đến một loại thuốc mỡ gì đó và bôi cho người bệnh. Họ cũng cho anh ta uống trà, nhưng có vị thơm khác.


Thày thuốc còn đến khám cho Kesulot thêm vài lần, cuối cùng khuyên nên nằm hai ngày nữa và uống trà. Kesulot trả cho anh ta một khoản khá hậu hĩnh. Ông ngạc nhiên việc vị bác sĩ đã chữa được lành bệnh cho mình mà không cần thuốc mỡ và thảo dược. Bác sĩ không trả lời câu hỏi đó.


Người đồng bệnh của ông cũng được chữa khỏi. Cơn sốt rét đã qua, ông có thể đi lại, nhưng gầy gò và đôi mắt long lanh.


(còn tiếp)


Nguồn: Sodoma & Gomora. Tiểu thuyết giả tưởng của nhà văn CH Séc Ing. Vlastimil Podracký (Sci-fi 2009). Xuất bản dưới sự bảo trợ của Hội nhà văn Cộng hòa Séc; Đại sứ quán Cộng hòa Séc tại Việt Nam và Hội hữu nghị Việt Nam – Séc. Những người dịch: Nguyễn Kim Phụng (Azis Nektar),Đỗ Ngọc Việt Dũng, MSc. (Do.honza) và Ngô Khánh Vân, DrSc. Nhà xuất bản Hội Nhà văn. 2019.


Dịch giả Đỗ Ngọc Việt Dũng gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 05.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
xem thêm »