tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30132707
Tiểu thuyết
01.11.2019
Constant Virgil Gheorghiu
Cơ may thứ hai

VIII

Trong khi Ion Kostaky và những người lánh nạn khác đi về phía rừng, thì ở văn phòng ủy ban nhân dân xã, tên người Nga cùng với bọn vệ binh nhân dân tổng ôn tập lại kế hoạch nhằm chặn bắt những người có tên trong sổ đen đúng với chỉ thị đã nhận được.


- Việc thực hiện chương trình đày ải bọn phản động được bắt đầu tại Piatra. - Severin nói - Các đồng chí phải hãnh diện về quyết định này. Ngày mai đồng chí Boris Bodnariuk sẽ đến đây để nhận định tiến trình của công việc.


Những tên vệ binh nhân dân được trang bị đầy đủ: áo choàng, nón sắt, súng trường. Serghei Severin đọc lại lớn tiếng một lần nữa chỉ thị:


“Việc chặn bắt những người có tên trong danh sách bị đày ải sẽ bắt đầu khoảng từ hai giờ sáng đến bốn giờ sáng. Công việc phải tiến hành nhanh. Những người vệ binh sẽ đột nhập vào nhà không gây tiếng động để khỏi làm hàng xóm láng giềng chú ý. Tù nhân sẽ được dẫn ra khỏi địa phương một cách bí mật. Việc sử dụng súng không được khuyến khích. Dùng mưu mẹo để dụ đối tượng ra khỏi nhà mà không cần tuyên bố là họ bị bắt”.


Serghei Severin cho lệnh khởi hành. Những tên vệ binh bước ra đường. Đèn vẫn cháy sáng trong văn phòng ủy ban nhân dân xã. Trời mưa, Severin đi trước, theo sau là mười hai thanh niên. Đến trước nhà của Pierre Pillat chúng dừng bước.


- Các đồng chí hãy bước lại gần nhà, người này sau người kia, ở khoảng cách một bước. - Severin ra lệnh - Hãy vây nhà lại chúng ta phải nắm chúng một cách bất ngờ.


Những tên vệ binh thi hành lệnh. Trước mỗi cửa sổ được bố trí một người có vũ khí để ngăn chặn Pierre Pillat và Marie trốn thoát. Từ cửa chính Serghei Severin lắng nghe động tĩnh.


Người ta nghe thấy tiếng đàn bà khóc than bên trong.


- Coi chừng. - Hắn nói nhỏ và mở cửa ra.


Hắn chiếu sáng gian phòng với cây đèn bấm của hắn.


Ileana đang quỳ gối khóc trước bàn thờ. Mục sư Skobai thì ngồi hai tai tì lên gối. Ông ta không nhìn thấy ánh sáng phát ra từ cây đèn bấm của tên người Nga, bởi vì những ngọn lửa của ngôi thánh đường bốc cháy còn mạnh hơn đang ngập đầy đôi mắt của ông.


Từ thềm nhà Severin chiếu sáng mục sư, rồi đến Ileana đang khóc mỗi lúc mỗi lớn tiếng, và vẫn tiếp tục cầu nguyện.


Hắn quan sát những bức tường rồi đến chiếc giường ngủ.


Những người kia đâu hết rồi? - Hắn hỏi.


- Đi rồi. - Ileana trả lời.


- Không có một mưu đồ nào mà không có một người cầm đầu - Serghei Severin nói - Những tên phát xít đâu rồi? Tụi nó đi lúc nào và về phía nào?


Mục sư không có tên trong danh sách những người bị đày ải, nhưng ông ta đã tự động đứng về phía những kẻ bị tình nghi.


Serghei Severin xích hai tay gầy guộc của vị mục sư lại.


- Chúng nó chạy trốn lúc nào và ở đâu? - Severin hỏi.


- Họ đi rồi, cách đây một tiếng đồng hồ.


- Đi đâu?


- Tôi không biết. Chỉ một người biết thôi.


- Ai? - Serghei Severin hỏi.


- Chúa. - Mục sư trả lời - Chỉ có Chúa mới biết được điều đó. Nhân Chứng này thì Serghei Severin không thể hỏi được.


Hắn lại càng không thể bắt hoặc nhất Nhân Chứng này được.


Hắn dùng nắm tay đấm vào khuôn mặt gầy gò của vị mục sư.


- Tao sẽ tra tấn mày cho đến khi mày nói chúng nó đi đâu. Bởi vì mày biết đều đó. - Sevenri nói.


Những giọt máu chảy xuống trên chòm râu trắng của Thomas Skobai. Bọn vệ binh nhân dân lục soát nhà. Chúng tìm khắp nơi. Ileana cũng bị xích tay lại. Ba tên vệ binh nhân dân bước vào nhà của Ion Kostaky, nhưng chúng cũng chẳng tìm thấy ai.


Severin nhớ lại là sáng sớm ngày mai, Boris Bodnariuk sẽ ghé qua đây để xem công việc có diễn tiến tốt đẹp không.


Việc chạy thoát của Pillat, Kostaky và Marie làm cho hắn tức đến chết được. Hắn lại đánh vị mục sư, hỏi ông ta những người chạy trốn ở đâu, nhưng vị mục sư không trả lời nữa. Ông ta nhận lãnh những cú đánh mà tâm trí hướng về Chúa, và mắt nhìn về ngôi thánh đường đang bốc cháy của ông ta.


- Hai người dẫn tội nhân về ủy ban nhân dân xã và nhốt chúng dưới hầm rượu. - Severin ra lệnh.


Vô ý hắn đã làm đổ cây đèn dầu đặt trên bàn. Ngọn lửa lan ra với một tốc độ khủng khiếp. Những tên vệ binh nhân dân chạy đi kiếm những chậu nước.


- Hãy dẫn tên mục sư và mụ già về ủy ban nhân dân xã. - Severin ra lệnh - Cứ để lửa cháy, đừng đụng vào.


Trong khi Ileana và vị mục sư bị dẫn về ủy ban nhân dân xã với đoàn hộ tống, ngọn lửa đã lan ra các cửa sổ. Nhà của Pillat lại làm toàn bằng gỗ như mọi nhà khác tại Piatra. Ngọn lửa lan ra một cách nhanh chóng.


- Đi bắt những tên khác. Chúng ta sẽ tính sổ với những tên chạy trốn sau.


Severin sắp rời khỏi sân nhà Pillat, nhưng trước mắt hắn, ngoài đường, tất cả nông dân đang tụ tập lại. Họ đã nhìn thấy đám cháy, và đàn bà, đàn ông, trẻ con đã vội vã chạy đến.


Qua ánh sáng của ngọn lửa đang thiêu hủy căn nhà, Serghei Severin nhìn thấy đám đông. Một nhóm nông dân tay xách những thùng nước đi ngang qua bên cạnh hắn mà chẳng thèm nhìn hắn, tiến thẳng về phía ngôi nhà đang bốc cháy.


- Không được ai đến gần. - Tên người Nga lớn tiếng la.


Những người nông dân tay xách nước dừng lại. Mọi con mắt đều chăm chú nhìn Severin và những tên vệ binh mang vũ khí đang đứng bao quanh hắn. Dưới ánh sáng của đám cháy, người ta nhìn rõ như ban ngày.


- Trong nhà này có một âm mưu của bọn phát xít. - Severin nói lớn tiếng.


Mưa vẫn rơi lất phất. Những người nông dân chờ đợi, những thùng nước trên tay, mắt căm phẫn.


- Tôi kêu gọi nông dân giúp sức để bắt tụi phản động. - Severin nói.


Hắn nhận thấy là đám đông sôi sục tức giận.


- Chúng ta hãy giập tắt lửa đã. - Một người đàn bà nói - Rồi hẵng lo đến bọn phản động sau. Chúng ta có đủ thì giờ.


- Ngôi nhà này phải bị thiêu hủy. - Severin nói - Đó là sào huyệt của bọn phát xít.


- Ngôi nhà không tham dự vào âm mưu phản động. - Người đàn bà lại lớn tiếng nói - Tại sao lại phải thiêu hủy nó?


Từ đường cái người ta đã cảm thấy sức nóng của ngọn lửa.


Những người nông dân từ từ đi lại gần ngôi nhà. Severin chĩa mũi súng vào đám đông, những tên vệ binh cũng bắt chước theo. Những người nông dân dừng bước. Họ thụt lùi lại một vài bước.


- Đồ chó Cộng sản, chúng mày muốn bắn cả mẹ ruột chúng mày sao? - Một nông dân la lớn tiếng về phía bọn vệ binh nhân dân đang chĩa súng vào đám đông.


- Nếu tụi bay vì nhân dân, tại sao tụi bây lại để căn nhà và những đồ vật bên trong bị thiêu hủy. Tại sao không cho nhân dân. - Một người đàn bà la lớn.


- Ngôi nhà và tất cả những gì bên trong đã bị bọn phát xít làm ô nhiễm. - Severin lớn tiếng trả lời - Người đầu tiên lại gần ngôi nhà sẽ bị bấn chết. Chính quyền nhân dân sẽ cho nông dân nhà cửa và bàn ghế, nhưng cái gì bị nhiễm độc đều phải đốt đi. Chúng tôi biết rằng nhân dân cần bàn ghế, đồ đạc, nhưng ở đây tất cả đều bị Ô nhiễm, phải thiêu hủy tất cả.


Ngọn lửa đã cháy đến mái nhà. Sức nóng đã đến cao độ.


Những người nông dân lùi lại. Severin hiểu rằng ngọn lửa là đồng minh của hắn. Ngọn lửa lên cao, buộc những người nông dân phải giữ một khoảng cách. Vả lại những gàu nước chắc sẽ không đủ sức dập tắt được ngọn lửa. Trận hỏa hoạn đã thiêu hủy tất cả. Chỉ còn lại một đống tro tàn.


- Hỡi các nông dân, cùng với ngôi nhà này, vi trùng của âm mưu phản động cũng đã bị thiêu hủy. Kỷ niệm nhục nhã của những tên tội phạm cũng đã bị thiêu hủy. Vi trùng của tội ác chính trị phải bị thiêu hủy. Ở đâu có bọn phát xít là ở đó có những vết tích, có máu của nhân dân. Đừng lại gần đó.


Những người nông dân làng Piatra lặng lẽ nhìn lửa cháy.


Không ai để ý nghe những lời của Severin. Họ nhìn đám cháy và những họng súng đang hướng về họ.


- Tôi ra lệnh cho nông dân theo tôi để đến bắt bọn tội phạm. Không ai được phép về nhà. Tất cả theo tôi.


Severin bước đi. Bỗng hắn chợt nhìn thấy một bóng người đằng trước hắn, núp giữa những lùm cây. Hắn nổ súng. Bọn vệ binh cũng bắn theo. Chúng tràn vào vườn và tiến về phía trước, giữa những lùm cây ẩm ướt. Bọn vệ binh la lớn tiếng:


- Bọn tội phạm đang ở đây, bắt lấy chúng. Chúng nó chạy về phía ngọn đồi xuyên qua những khu vườn. Đám đông theo sau một khoảng cách. Họ đi theo không để truy bắt những tội phạm mà vì tính hiếu kỳ. Trên đường họ đã đổ hết những gàu nước, và tiếp tục đi theo Severin và bọn vệ binh nhân dân.


IX


Bảy người đào tẩu đi đến đỉnh của một ngọn đồi. Họ đã bước đi một cách khó nhọc, như thể dưới chân họ mang nặng những khối chì. Họ dừng chân để nhìn lại làng cũ.


Vào lúc đó họ bỗng nhìn thấy một ngôi nhà trong làng bốc cháy.


Ngọn lửa cao vút trời. Mỗi người đều nghĩ đến ngôi nhà của mình và trong bóng tối mỗi người đều thử đoán xem nhà ai đang cháy.


- Đúng là nhà tôi rồi. - Kostaky nói.


Ông ta run lên. Những giọt mồ hôi chảy dài trên trán ông.


Ông cởi bỏ chiếc túi, giao lại cho Marie. Rồi ông chạy bổ về phía làng, về phía ngôi nhà đang bốc cháy. Những người khác muốn giữ ông lại, họ đã gọi ông nhưng vô ích. Kostaky chạy về phía nhà của mình. Ông nhìn ngọn lửa và cúi đầu chạy.


Những người khác tiếp bước theo ông ta. Marie bị té. Pillat dừng chân để đỡ nàng dậy. Trong thời gian đó Kostaky đã chạy xa. Ông ta đã biến mất trong đêm tối. Ông băng qua những khu vườn. Bây giờ thì ông ta có thể nhìn rõ. Chính là ngôi nhà của Pillat đang bốc cháy. Ông đi càng nhanh hơn. Khi ông đến gần, ông nhìn thấy lửa đã cháy đến mái nhà. Những người nông dân thì tụ tập đằng trước nhà và đứng nhìn. Chẳng ai buồn ra tay dập tắt lửa.


- Không thể thế được. - Kostaky la lên - Không thể thế được. Cả làng nhìn thấy nhà ta cháy mà chẳng ai thèm đến gần để chữa cháy. - Kostaky đưa tay lên dụi mắt, ông ta không thể tin được những gì ông đang nhìn thấy.


- Ngay cả nhà của kẻ thù cháy, người ta cũng chạy lại cứu chữa, người ta dám nhảy vào lửa để cứu vãn tất cả. Ta chẳng là kẻ thù của ai cả, ấy thế mà những người nông dân, bạn bè của ta lại cứ để cho nhà ta cháy.


Kostaky nhảy qua một bờ rào để đến nhanh hơn, nhưng vào lúc đó, ông nghe đạn bay vèo vèo chung quanh ông. Bọn vệ binh đã nổ súng. Người ta đã bắn vào Kostaky. Tiếp theo ông nghe giọng của những thanh niên la lên:


- Tên tội phạm đang ở trước mặt chúng ta. Bắt lấy nó.


Rồi trước tiên là bọn vệ binh, tiếp đến là những người nông dân, tất cả nông dân làng Piatra đã chạy băng qua những khu vườn, về phía Kostaky. Bọn vệ binh nhân dân thì bắn xối xả về phía ông.


- Ta là một-tên-tội phạm à? - Kostaky tự hỏi - Những người nông dân của Piatra đã gọi ta là tên tội phạm à?


Một viên đạn xẹt qua trong cành lá của cây bồ đào cạnh đó Kostaky bỗng cảm thấy một vết cháy nóng bỏng trên ngực, bên trên quả tim. Một thứ hôn mê đang xâm chiếm cả thân xác ông. Ông nhẹ nhàng buông mình xuống bãi cỏ ẩm ướt. Tai ông trước đó đã nghe thấy rõ ràng tiếng la thét của những người nông dân đuổi theo ông và la lớn tiếng: “Chính nó, kẻ sát nhân”. Giờ đây chẳng còn nghe thấy gì nữa.


Tai của Ion Kostaky chỉ còn nghe một tiếng gầm thét, như tiếng gầm thét của một chiếc chong chóng phát xuất từ đầu óc ông ta và càng lúc càng nhỏ dần lại.


Kostaky tự hỏi:


- Chính mình là tội phạm ư? Chính mình mà cả làng đã săn đuổi đó ư? Chính mình mà người ta đã muốn bắn hạ ư?


Vào lúc đó thân xác của Kostaky nằm duỗi ra đất, trong vũng bùn. Ông ta giãy giụa. Ion Kostaky muốn biết phải chăng chính ông mà cả làng đã đuổi theo vừa lớn tiếng la: “kẻ tội phạm đây rồi”, Ion Kostaky muốn biết tại sao nông dân làng Piatra lại để cho nhà ông cháy. Ông ta muốn biết tại sao cả làng lại săn đuổi ông như một tên sát nhân thật sự. Đó là ý nghĩ độc nhất trong khi thân xác ông còn giãy giụa. Kostaky cảm thấy hơi sức của mình đã tan biến cùng với máu của mình. Ông ta nằm sóng sượt trong vũng bùn, má phải úp xuống đất ẩm ướt. Hơi mát của đất làm cho ông cảm thấy dễ chịu. Đất làm thành một miếng băng trên má phải Kostaky. Ông cảm thấy miếng băng này bao choàng cả ngực và vai mình. Thân xác ông đấu tranh, giãy giụa như để càng lún sâu hơn xuống mảnh đất mát mẻ và dễ chịu. Đó là đất của làng Piatra, quê hương ông, một thứ đất có mùi vị lành lạnh và tươi mát. Mảnh đất đã in hình thái bộ mặt và hai bên thái dương của Kostaky như thể để chẳng bao giờ quên. Mảnh đất đã in và giữ lại dấu vết của đầu, vai, cằm và mắt của Ion Kostaky. Những dấu vết đã được đào sâu xuống đất, trộn lẫn với máu. Mảnh đất không muốn quên ông ta; nó muốn giữ lại hình hài đang giãy giụa đã được in sâu xuống đất. Và Kostaky ngất đi, mọi ý nghĩ của ông đều hướng cả về ngôi nhà đang bốc cháy của ông, mà chẳng ai làm gì để cứu chữa, về những người nông dân đang chạy trước mặt ông vừa la lớn: “Tên tội phạm đây rồi” và chẳng còn gì nữa.


X


Khi tỉnh dậy Ion Kostaky nhớ lại lời cầu kinh của mục sư Thomas Skobai, lúc nhóm bảy người của ông ra đi, lúc họ dừng chân trên đỉnh đồi, ngôi nhà bốc cháy, lúc ông hối hả trở về băng qua những khu vườn. Tất cả những sự kiện đó đều có thật. Tiếp theo ông nhớ những tên vệ binh đã bắn xối xả vào ông và những người nông dân đuổi theo ông vừa la lớn: “Tên sát nhân đây rồi”.


- Chuyện này thì không thể là sự thật được. - Ông tự nhủ - Ta nằm mơ rồi.


Ông cảm thấy vết thương, vết thương thì có thật. Ông nghĩ đến nhà ông bị cháy mà chẳng ai buồn cứu chữa.


- Không thể thế được, không thể thế được, ta đã nằm mơ những chuyện đó thôi.


Trong bóng tối, ông lết đi trên cỏ. Ông bò lết đi. Ông nhìn thấy ngôi nhà của ông nhưng nhà của Marie thì đã biến mất. Chỉ còn lại một đống tro tàn.


“Vết thương có thật. Nhà của ta cũng cháy thật”. Ông buồn bã. “Thế thì tất cả đều có thật. Những người nông dân đuổi theo ta miệng la lớn: “Tên tội phạm đây rồi” cũng có thật”.


“Đúng là sự thật rồi. Tất cả. Đáng ra tất cả những sự kiện đó không thể là sự thật, nhưng lại là thật một trăm phần trăm”.


Kostaky suy nghĩ một lúc.


“Những người nông dân Piatra đã đốt nhà của con ta và đã săn đuổi để giết ta. Họ gọi ta tên tội phạm”.


Kostaky quay mình trườn về phía sau và hướng vào rừng.


Tất cả những vết thương của ông đều lở lói và chảy máu, nhưng vết thương lòng của ông càng chảy máu nhiều hơn.


Một ý nghĩ chợt đến trong đầu ông.


“Giờ này Marie và Pillat đang ở đâu? Cả Vornik và những người anh em bà con của ta đang ở đâu? Còn Ileana đang ở trong tình trạng nào đây?”


Ion Kostaky trườn mình về phía rừng. Ông không muốn trở lại cái làng đã đốt nhà và săn đuổi để hãm hại ông.


Mặt trời đã mọc. Kostaky vẫn tiếp tục bò vào rừng.


Tại làng Piatra, những người nông dân suốt đêm không ngủ, nhìn thấy chiếc xe hơi của Boris Bodnariuk xuất hiện. Với đôi ủng màu đen, chiếc áo choàng bằng da và chiếc khăn quàng cổ màu đỏ, hắn bước vào văn phòng ủy ban nhân dân xã chẳng thèm nhìn ai, và cũng chẳng thèm trả lời trước những câu chào hỏi.


Hắn thản nhiên nghe Serghei Severin báo cáo tình hình.


Boris Bodnariuk không tỏ ra tức giận về những gì đã xảy ra hôm qua.


- Những kẻ chạy trốn rồi sẽ trở về lại. - Hắn nói - Và chúng ta sẽ bắt giữ họ. Những người nông dân luôn tìm về làng của mình. Nông dân là loại thú vật đần độn nhất trong vũ trụ. Họ là tôi mọi của chính đất đai của mình. Họ không thể sống xa chúng được.


- Đồng chí muốn tra hỏi tên mục sư không? - Severin hỏi.


- Không cần thiết.


- Còn Ileana Kostaky?


- Giải họ đến nhà giam thành phố Molda. Họ sẽ bị truy tố về tội giúp đỡ kẻ thù. Họ sẽ phải chết rục xương trong tù.


Những người nông dân nhìn thấy hai tên vệ binh nhân dân dẫn mục sư Thomas Skobai và Ileana Kostaky ra khỏi văn phòng ủy ban nhân dân xã. Hai tay bị còng, họ đi bộ hướng về phía thành phố. Mục sư bước đi, đầu ngẩng cao, bởi vì ông ta chẳng nhìn thấy gì cả, bên phải cũng không mà bên trái cũng không. Đi bên cạnh ông bà Ileana thì không ngớt khóc than, bởi vì cũng giống như vị mục sư, ông ta chỉ nhìn thấy ngôi thánh đường của ông, bà Ileana cũng chỉ nhìn thấy Ion Kostaky, Marie và Pierre. Bà là một người đàn bà. Tất cả những gì hiện hữu trên trái đất, Ileana Kostaky chỉ còn nhìn thấy ngôi nhà, chồng và các con của mình. Vị mục sư đui mù bên cạnh bà chỉ nhìn thấy ngôi nhà của Chúa, còn bà một người đàn bà yếu ớt, bà chỉ nhìn thấy ngôi nhà của chính mình.


Vị mục sư đui mù có thể mang theo mình vào chốn ngục tù ngôi nhà của Chúa Tối Cao mà không sợ ai bắt ông phải vứt bỏ lại đằng sau. Còn Ileana Kostaky thì mỗi bước chân đã làm cho bà phải rời xa ngôi nhà thân yêu của mình. Chính vì thế mà sự ra đi khỏi làng đã làm cho bà đau đớn như một vết thương trên chính thân xác mình vậy. Xiềng xích của bà thật nặng nề.


Đằng sau những chiếc cửa sổ nhà mình, những người nông dân lặng lẽ nhìn, sợ hãi. Những người đàn bà đã không cầm được nước mắt. Chỉ trong khoảng thời gian một đêm và một buổi sáng mà ba nông dân đã biến khỏi làng Piatra, và một số khác đã trốn thoát, không biết ở nơi đâu trong rừng núi.


Ion Kostaky đã biến mất. Ileana và mục sư Thomas Skobai bị dẫn đi khỏi làng, hai tay bị xiềng khóa. Marie và Pierre Pillat cũng biến mất vào rừng.


o O o


- Đồng chí để xe gắn máy lại cho người đến thay thế đồng chí. - Boris Bodnariuk nói với Serghei Severin vừa bước ra khỏi văn phòng ủy ban nhân dân xã - Bởi vì đồng chí sẽ không còn cần đến nữa. Tại quê hương của chúng ta, người ta sẽ bố trí cho đồng chí công việc đơn giản hơn, ít phức tạp hơn, bởi lẽ đồng chí cũng không hoàn thành công tác đày ải tội nhân.


Và những người nông dân đã nhìn thấy Serghei Severin ra đi không có chiếc xe gắn máy.


Đêm hôm đó, trẻ con của làng Piatra đã khóc trong giấc ngủ. Trong đêm khuya, một con mèo xuất hiện không biết là từ nơi đâu. Nó đến trên nền nhà cũ của Pierre và Marie Pillat. Nó dừng lại trong khoảnh khắc, nhưng tro tàn hãy còn nóng bỏng và con mèo vừa thoát khỏi cuộc tàn sát không biết bởi phép lạ nào, biến mất trong đêm tối.


TẬP SÁCH NÓI VỀ NHỮNG TỦI NHỤC


Pierre và Marie Pillat nhìn thật lâu chiếc xe tải lớn chở Ante Petrovici và những người tị nạn khác thuộc các quốc gia đồng minh rời khỏi trại. Hai người bỗng cảm thấy cô đơn trong một xứ sở xa lạ mà ở đó họ không quen biết ai, cũng như chưa bao giờ đặt chân đến. Nỗi sợ hãi xâm chiếm họ. Họ không có tiền, cũng không có chỗ trú ẩn.


- Chúng ta đã tính sai khi rời bỏ cánh rừng. - Pierre thốt lên - Bây giờ thì chúng ta đi đâu và làm gì đây?


Chàng cho tay vào túi áo và tìm thấy hai tờ giấy bạc một trăm đồng Mark. Chàng biết rõ xuất xứ của chúng. Trước khi ra đi, tiến sĩ Ante Petrovici đã nhét chúng vào túi áo chàng. Số tiền này đã giúp chàng lấy lại can đảm. Họ tiến về nhà ga và nghiên cứu bản đồ. Thành phố được biết đến nhiều nhất và gần nhất là thành phố Heidelberg [1]. Và thế là họ leo lên tàu hỏa.


- Heidelberg là một trung tâm văn hóa. - Pillat nói - Anh sẽ tìm được việc làm ở trường đại học, cũng có thể trong một thư viện, hay một nơi nào đó, điều đó không mấy quan trọng.


Họ lại tiếp tục nói về Ante Petrovici. Trông họ tràn trề hy vọng. Vừa đến Heidelberg, họ đã có một lô dự tính về tương lai. Họ dừng chân bên bờ sông Neckar, ở đây người ta đang xây cất một cây cầu.


- Anh sẽ đến đó xin một chân thợ. - Pillat nói - Ngay ngày hôm nay. Chúng ta không nên để mất một phút nào cả. Còn những chuyện khác chúng ta sẽ ráng thu xếp sau.


Chàng để Marie ngồi lại trên một chiếc băng dài, rồi một mình đi xuống xưởng xây cất nằm trên bờ sông. Lúc bấy giờ là buổi chiều.


- Chúng tôi đang cần công nhân. - Ông chủ xưởng nói - Chúng tôi trả tiền công hậu. Ngoài tiền lương công nhân còn được ăn xúp và hút thuốc lá. Anh có thể đến làm ngay sáng mai.


Pillat rất sung sướng. Chàng cho rằng đã gặp được nhiều may mắn.


- Anh chỉ cần mang cho tôi giấy chứng nhận cư trú tại Heidelberg là đủ. Chỉ có thế và tôi sẽ nhận anh vào làm việc.


Pillat cảm ơn ông ta và vội vàng chạy đi báo cho Marie biết tin vui ấy.


- Ta đi thôi em. Chúng ta đi xin giấy chứng nhận cư trú. - Chàng nói - Văn phòng cấp giấy cư trú gần đây thôi.


Marie lại mang túi xách hành lý lên.


Họ phải đợi một lúc trước khi được ông trưởng phòng tiếp.


Ông ta lịch sự mời họ ngồi và họ bỗng cảm thấy lại được thâm nhập vào cuộc sống.


- Anh sẽ có giấy chứng nhận cư trú ngay. - Người trường phòng nói - Nhưng anh phải có giấy xác nhận đã có việc làm.


- Tôi đã thưa chuyện với ông trưởng xưởng xây cất cầu. - Pillat nói - Ông ta cho biết là sẽ nhận tôi vào làm ngay sau khi có giấy chứng nhận cư trú.


- Anh phải có giấy xác nhận đã có việc làm. - Người nhân viên nói.


- Việc làm thì tôi đã tìm được rồi, người ta có thể cho tôi giấy xác nhận. Tôi sẽ mang giấy đó lại cho ông trong vòng mười phút thôi. - Pillat nói.


- Tôi không thể cấp cho anh giấy cư trú nếu anh không có giấy chứng nhận đã có việc làm.


Người nhân viên văn phòng cư trú là một người tị nạn Đức, thuộc vùng bị người Nga chiếm đóng. Ông ta hiểu rõ sự mệt mỏi và nỗi thất vọng của Pillat và Marie.


- Anh chị không thể tìm được việc làm nếu không có chứng chỉ cư trú. - Ông ta nói - Nhưng không có giấy chứng nhận đã có việc làm thì người ta không cấp giấy cư trú, không cấp thẻ lương thực, không cấp chỗ ở, không cấp gì hết.


- Người ta cấm chúng tôi cư ngụ tại đây sao? Tại Heidelberg sao?


- Trên lý thuyết người ta không cấm, nhưng trên thực tế, việc anh chị xin cư ngụ tại đây là việc không thể được. Tại sao anh chị không thử tìm những thành phố khác? Heidelberg là một thành phố quá đông người. Người ta chỉ cho những người cư ngụ tại đây có công việc làm mà thôi. Tóm lại chừng nào anh mang lại cho tôi giấy xác nhận đã có công việc làm, thì tôi mới cấp cho anh giấy chứng nhận cư trú.


- Tôi thử lại xưởng xây cất một lần nữa xem sao. - Pillat nói. Chàng lại xuống bờ sông Neckar sau khi để Marie ngồi lại trên chiếc ghế dài.


Người tổ trưởng của nhóm nhân công xây cầu không có mặt tại văn phòng. Pillat ngồi đợi ông ta trong cái lều bằng gỗ.


Marie mệt mỏi. Khi Pillat đi rồi, nàng ngồi dựa đầu vào lưng ghế, tay phải nắm chặt chiếc xách hành lý để sát bên cô vì sợ bị kẻ gian đánh cắp. Nàng thiu thiu ngủ. Marie bỗng cảm thấy một bàn tay sờ vào vai mình. Nàng run rẩy và muốn đứng lên, nhưng bàn tay giữ chặt lấy cô.


Đó là những viên cảnh binh người Đức, với găng tay bằng da, giày bốt bằng da và súng ngắn trong những chiếc túi bằng da. Một trong những cảnh binh giật lấy chiếc túi xách của Marie và liệng lên một chiếc xe cam nhông. Rồi họ kéo tay Marie, đẩy nàng lên theo. Marie muốn gọi Pierre, nàng nhìn về phía xưởng cầu, nhưng chiếc xe chở cô đã bắt đầu nổ máy.


Marie la lên. Bàn tay mang găng da bịt miệng nàng lại, nàng muốn cắn nó để có thể la, nhưng bàn tay của người cảnh binh cứng như sắt vậy. Trên xe còn có những người phụ nữ khác nữa.


Họ còn trẻ và môi son đỏ choét. Họ nhìn Marie với vẻ tò mò.


Marie cảm thấy sức nặng bàn tay không chỉ trên miệng mà trên cả toàn thân mình. Nàng cảm thấy bàn tay đeo găng đè nặng trên toàn thân mình nhưng nhất là trên hai cái vú.


Chiếc xe dừng lại trước sân của một ngôi nhà. Cảnh binh dẫn những người đàn bà vào nhà trong một phòng trống. Marie thì khóc nức nở.


- Chị đến bệnh viện lần đầu tiên à? - Một cô trong đám hỏi Marie.


- Đây là bệnh viện à? (Marie lau nước mắt). Tại sao người ta đưa tôi đến bệnh viện?


- Nếu chị không bị gì cả, người ta sẽ thả chị về.


Marie ngồi sát vào hai túi xách hành lý. Chúng chứa đựng những gì vợ chồng nàng có được. Chúng có mùi da thịt của nàng và chồng nàng. Trong nhiều tháng qua vợ chồng nàng đã dùng chúng để gối đầu. Giờ đây Marie ôm chặt chúng vào lòng và khóc. Nàng nghĩ đến chồng nàng với vẻ mặt hốt hoảng lo âu khi không tìm thấy nàng trên chiếc ghế dài trên bờ sông.


Nàng muốn van xin người ta cho nàng đi khỏi đây, nhưng không còn ai làm việc cả. Và suốt đêm nàng chỉ còn biết ôm chặt hai chiếc túi xách mà khóc.


Sáng sớm hôm sau, những người đàn bà sắp thành hai hàng và người ta dẫn đi tắm.


- Thôi đừng khóc nữa. - Một người đàn bà đứng cạnh chị nói lớn - Tôi cũng có hai cháu hiện đang ở nhà một mình vậy, mà tôi có khóc đâu. Phải can đảm mới được.


- Tại sao chúng ta lại bị bắt? - Marie hỏi.


- Chúng ta không bị bắt. Đây chỉ là một cuộc bố ráp. Chị chưa bao giờ bị bắt trong một cuộc bố ráp sao?


- Chưa. - Marie nói - Tại sao lại bị bắt trong một cuộc bố ráp?


- Tất cả phụ nữ đều bị bắt. Đó là chuyện bình thường, nhằm đề phòng họ không truyền bệnh sang cho binh sĩ Mỹ. Bất cứ người phụ nữ nào ở ngoài đường cũng có khả năng truyền bệnh cho binh sĩ Mỹ. Tôi bị tóm bốn lần rồi. Còn chị? Chưa bao giờ à? Tại sao?


Marie bỗng cảm thấy gần như có lỗi vì nàng chưa bao giờ bị bắt giữ trong một cuộc bố ráp.


- Tôi không ở thành phố này. - Marie trả lời.


Bây giờ họ đang ở trong gian phòng của tầng lầu một.


- Nếu chị ở lại thành phố này, chị sẽ có dịp trở lại nơi này. Lần tới chị sẽ không khóc nữa.


Sau khi tắm xong, họ được dẫn đến một hành lang. Lần lượt từng người được gọi tên vào phòng khám. Marie nghe gọi đến tên mình. Nàng bước vào một căn phòng, có hai người đàn ông mặc áo blu trắng đang khám cho một người đàn bà nằm trần truồng trên một chiếc bàn trắng.


Những người đàn ông tay mang găng cao su. Họ có vẻ không hài lòng.


- Tại sao cô chưa cởi quần áo ra? - Một trong hai người đàn ông hét lớn. (Ông ta có một giọng nói thô bạo và đanh đá mà Marie chưa bao giờ nghe thấy) Cởi quần áo ra ngay.


Marie muốn bị đánh đập hơn là nghe mệnh lệnh này.


Nàng cảm thấy bàn tay cô y tá đặt lên vai mình. Tiếp theo là một bàn tay khác nữa. Hai cô y tá cởi bỏ áo quần nàng ra vừa mắng mỏ. Họ mắng nàng lớn tiếng. Marie nhắm mắt lại và cố trì người xuống. Nhưng họ kéo nàng đứng lên, đè nàng nằm dài trên bàn. Marie trần truồng, nàng bắt đầu la hét, chống cự hết sức mình. Những bàn tay xa lạ đã đè nàng xuống, làm cho nàng không còn cử động được. Marie khép chặt hai chân và chống trả mãnh liệt. Những người đàn ông thì giận dữ. Nhiều người đàn bà khác chạy lại. Marie phải chống trả lại với vô số bàn tay. Tiếp đến nàng bỗng cảm thấy một làn mây lạnh tỏa xuống mặt nàng. Nàng không còn chống trả nữa. Thân xác nàng đã thuần phục theo ý muốn của những bàn tay xa lạ. Khi nàng rời khỏi bàn khám, nàng có cảm giác như mới hồi tỉnh.


Nàng cố tìm cách che giấu để khỏi trần truồng trước những người đàn ông xa lạ kia. Nhưng khi nàng cố tìm cách che dấu sự trần truồng của mình, thì tay nàng sờ đúng những gai gốc lởm chởm ngay chỗ chùm lông mịn màng và mềm mại như những sợi chỉ tơ. Người ta đã cạo nhẵn nhụi. Thay vào chỗ những sợi lông mượt mà là những mũi nhọn châm chích vào lòng bàn tay. Marie, tuyệt vọng, mặc quần áo vào.


- Cô có thể đi được rồi. - Cô y tá nói.


Nàng cầm lấy hai chiếc túi xách và cúi đầu đi ra cửa.


Nàng cảm thấy hai chiếc túi xách nặng như những tảng đá cối xay. Và mỗi bước nàng đi như có những mũi kim chích. Những cơn khóc nức nở làm thắt nghẹn cổ họng. Nàng có cảm giác như xuyên qua áo quần nàng đang mặc người ta đã nhìn thấy nàng bị cạo nhẵn nhụi. Marie tự cảm thấy mình là người đàn bà bị sỉ nhục nhất trần gian.


Nàng muốn kêu cứu, nhưng chẳng biết kêu ai. Ngay cả việc nghĩ đến chồng nàng, nàng cũng không thể làm nổi nữa.


Nàng đi về phía sông Neckar như một người máy. Nàng muốn trầm mình xuống đó. Những chân lông đâm vào da thịt nàng như những gai nhọn.


- Em đã ở đâu? - Pierre hỏi - Anh tìm em suốt cả đêm. - Em đã đi đâu? - Giọng chàng rất khắc nghiệt.


- Em không thể nói cho anh nghe được, anh Pierre à.


(Nàng bắt đầu khóc và cảm thấy những chân lông bị cạo nhẵn nhụi.) Em muốn chết hơn là nói cho anh nghe điều đó.


Pierre cầm lấy tay nàng.


- Em trở về lại Piatra thôi. - Nàng nói - Em không muốn ở lại đây nữa.


II


Pierre Pillat và Marie rời khỏi Heidelberg. Họ không có quyền ở lại thành phố. Họ đi tàu đến Stuttgart. Ante Petrovici đã tiếp đón họ như những người bạn thân. Họ chỉ mới vừa quen biết nhau trong thời gian một đêm, có những cuộc hội ngộ ngắn ngủi, nhưng lại có giá trị hơn cả một cuộc đời sống bên nhau.


Petrovici mời họ ăn bánh mì, thịt hộp và hút thuốc lá. Tổ chức quốc tế của những người tị nạn thuộc phe Đồng Minh, cấp cho họ lương thực và nhà ở. Mặc dù vậy, Ante Petrovici ngày càng khập khiễng hơn, điều đó nói lên rằng ông ta đau khổ và tâm hồn đang bị xao động mạnh.


- Trong bất cứ thành phố nào của nước Đức, anh chị sẽ không thể nào được cấp giấy phép cư trú khi không có giấy chứng nhận có công ăn việc làm. - Ông ta nói - Và ngược lại, anh chị sẽ không thể nào kiếm được công ăn việc làm khi không có giấy phép cư trú. Đó là một vòng lẩn quẩn. Trên thực tế, anh chị không được phép cư trú tại đây, nhưng anh chị cũng không có phép rời khỏi nơi này. Mỗi thước đất tại biên giới Đức đều có xe tăng canh giữ. Người ta đóng biên giới bằng dây kẽm gai. Anh chị chỉ còn cách là sống trong không khí. Đáng tiếc là con người không thể sống bằng không khí và trong không khí được.


Để được sống còn, phương Tây đã bán đứng phân nửa châu Âu cho người Xô Viết. Nhiều người của những nước bị bán đứng cho người Nga đã trốn chạy sang phương Tây để thoát khỏi cái chết và nỗi kinh hoàng.


- Phương Tây là vận may thứ hai của mỗi người dân thuộc các nước đang bị người Nga chiếm đóng. Những kẻ trốn chạy từ những quốc gia này đi ngang qua nước Đức, và tại đây họ đã bị bắt và bị nhốt vào các trại tập trung. Họ không thể nào ra khỏi đây.


- Anh có nghĩ là không còn lối thoát nào nữa không? - Marie hỏi - Chúng tôi không đòi hỏi điều gì to tát cả. Chúng tôi chỉ muốn làm việc. Chỉ có thế thôi. Tôi biết chắc chắn là chúng tôi không thể nào có lại nhà cửa và cuộc sống xưa kia, nhưng xin hãy để chúng tôi sống cách nào cũng được.


- Tôi không phải là nhà tiên tri. - Ante Petrovici nói - Nhưng tôi cho rằng không còn lối thoát nào khác. Châu Âu không còn nữa. Chỉ còn châu Mỹ và nước Nga, và họ đang chia nhau châu Âu. Cả hai, Liên Xô và Hoa Kỳ đều muốn áp đặt cách sống của họ trên toàn cõi địa cầu. Và để thực hiện điều đó, họ muốn xóa bỏ cá nhân. Liên Xô tiêu diệt hàng triệu con người, nhiều giai cấp xã hội. Nước Mỹ không tự tay tiêu diệt những nạn nhân của mình, mà đem họ biếu cho người Nga để họ bị tiêu diệt. Giống như các giáo sư của trường đại học Coimbre, châu Mỹ tưởng là có thể tránh khỏi thảm họa bằng cách thường xuyên thiêu sống một số người nào đó. Họ đã thiêu sống nhiều tù binh người Nga trước mắt chúng ta chỉ vì muốn tránh một cuộc xung đột ngoại giao với những người Xô Viết. Nước Mỹ đã dâng hiến cho người Nga các nước Lithuani và Esthonie để tránh cuộc xung đột chính trị với những người Xô Viết. Nước Mỹ đã hy sinh nước Ba Lan cùng với nhân dân và gia súc của họ để tránh một sự bất đồng ý kiến với nước Nga. Sau đó nước Mỹ đã hy sinh Rumani và những người sống ở đó. Nước Mỹ đã lần lượt hy sinh Tiệp Khắc rồi Hungary.


Marie đã khóc một cách thầm lặng.


- Sự hiểm nguy đã trở nên quá lớn lao đối với mỗi cá nhân, mỗi giai cấp, mỗi dân tộc cho đến nổi phải tự lừa dối cả chính mình. Thời gian không để một sự trì hoãn nào, không biết đến một sự ngưng đọng nào, không thể có một mưu mô hay một sự ruồng bỏ xảo quyệt nào. Chỉ những người mơ mộng mới có thể tin vào những xảo kế mà thôi.


Lạc quan là một phần nào hèn nhát. Chúng ta được sinh ra trong thời đại này, và chúng ta phải can đảm đi theo con đường đã được vạch sẵn, không còn con đường nào khác. Nhiệm vụ bắt buộc phải tồn tại, ngay cả trong những tình huống xấu nhất, không còn một chút hy vọng nào. Phải kiên trì như người lính La Mã kia mà hài cốt đã được tìm thấy trước cửa thành Pompéi. Anh ta đã chết chỉ vì người ta đã quên đổi phiên gác khi núi Vesuve bắt đầu phun lửa.


Duy nhất chỉ có cái chết vinh quang ấy là người ta không thể cướp đi của con người.


- Các bộ phận chính yếu của cơ thể con người, như tim, phổi đều hoạt động một cách tự nhiên. - Pillat nói - Sự khao khát sống, sự hy vọng cũng hoàn toàn tự nhiên. Chấp nhận cái chết chỉ là một điều dối trá trong văn chương chữ nghĩa mà thôi. Người lính La Mã của nhà văn Spengler đã chờ cho nham thạch chôn vùi thân xác mình chỉ là một hư cấu không mấy thật. Khi những người Nga bất đầu tràn vào đất nước chúng ta như những dòng nham thạch, và khi chúng ta hiểu được rằng họ muốn hủy diệt chúng ta, thì chúng ta đã trốn chạy. Đó là một hành động hết sức tự nhiên của con người trước hiểm họa chết chóc. Chúng ta đã may mắn thoát khỏi những dòng nham thạch nóng bỏng úp chụp xuống chúng ta, thoát khỏi những người Xô Viết, và chúng ta cũng sẽ tìm cách để ra khỏi cái làn lửa này, đó là nước Đức. Nếu không nói đến những gì anh đã suy nghĩ trên cương vị của một con người, thì anh có tìm cách để tự cứu lấy mình, để thoát khỏi nơi đây không? Anh hãy thành thật trả lời đi, anh Ante Petrovici.


- Tôi cũng thế thôi, tôi cũng đang cầu may đây. - Ante Petrovici trả lời.


Ông ta chỉ những bình mực nhỏ, những cục tẩy, những con dấu ở trên bàn.


- Tôi cũng thế, tôi đang tìm cách để thoát khỏi nơi đây, bằng lối thoát duy nhất là đi đâu. Các nước bên kia Đại Tây Dương đã gởi những đoàn đại diện kinh doanh đến nước Đức để tuyển chọn lao động trong số hàng trăm ngàn người tị nạn.


Họ tuyển chọn người cũng như mua súc vật, họ chỉ giữ lại những thứ hàng hóa hảo hạng thôi. Họ thích những người trẻ.


Tôi đã vượt qua giới hạn tuổi trẻ rồi. Tôi phải làm khai sinh giả, và đó là những gì tôi đang làm đây. Tôi bị khuyết tật. Dưới lòng bàn chân phải của tôi bị thiếu vài ly. Tôi thấp bé hơn một người thuộc loại lý tưởng, loại này phải cao ít nhất là một thước sáu. Tôi theo đạo Hồi. Một người thuộc loại lý tưởng phải theo đạo Thiên chúa. Tôi sẽ phải sửa chữa tất cả những thứ đó. Tôi sẽ làm giấy tờ giả. Tôi rất phân vân. Nhưng cái khó thật ra là cái khác kia. Cái khó là tôi sẽ xa nấm mồ châu Âu.


Châu Âu đã chết. Cũng giống như những người trí thức tư sản, tôi tôn thờ những ngôi mộ. Tôi đau đớn khi phải rời xa nó.


Châu Âu bắt đầu chết cùng lúc với sự xây dựng những trại tập trung của Đức quốc xã.


Châu Âu đã chết với từng người tù binh đã bị Đức quốc xã thiêu hủy, nó đã chết phần nào với sự thiêu hủy Lidia, vợ tôi.


Nhưng thật ra Châu Âu đã trút hơi thở cuối cùng tại Torgau. Tại nơi đó người ta sẽ tìm thấy ngôi mộ của Châu Âu. Đó là một thành phố nhỏ bé trên bờ sông Elbe, ở đó quân đội Nga và Mỹ đã gặp gỡ nhau năm 1945. Chính tại nơi đây, trên thi thể của Châu Âu, những người lính Nga và những người lính Mỹ đã ôm hôn nhau, và đã uống rượu Whisky và Vodka. Bữa tiệc tang của Châu Âu đã được thiết đãi bằng những thứ rượu ngoại chứ không phải rượu của Châu Âu, đó là Whisky và Vodka. Cũng giống như anh và vợ anh, các bạn sẽ không thấy thoải mái bất cứ ở đâu ngoài làng Piatra ở Rumani. Tôi cũng thế thôi, tôi chỉ cảm thấy thoải mái ở Châu Âu mà thôi. Chính vì tất cả những lý do đó mà tôi xem cái cơ may mà người ta dành cho tôi ở đâu đó và vì nó tôi đã đấu tranh, đã giả mạo giấy tờ, như một cơ may không kỳ lạ. Sự lưu đày ra khỏi xứ sở của tôi đã là phần đầu của cuộc lưu đày ra khỏi Châu Âu.


Một người đàn ông thanh lịch xách chiếc cặp da bước vào phòng. Ông ta bắt tay Ante Petrovici, lạnh lùng chào Marie và Pierre.


- Tôi vừa được bầu làm cố vấn chính trị về những vấn đề thuộc bán đảo Balkan cho bộ tư lệnh Mỹ tại Châu Âu.


Với tất cả những lời chúc mừng của tôi. - Ante Petrovici nói. Tiếp theo ông giới thiệu người mới đến với Marie và Pillat. - Một trong những người đồng hương của anh chị, ông Aurel Popesco.


- Rất hân hạnh. - Popesco nói - Tôi rất hân hạnh được biết ông bà.


Nói xong Popesco nhanh chóng rời khỏi phòng, nhưng đến ngưỡng cửa ông ta quay lại.


- Hội đồng Canada sẽ đến ngày mai, thưa ngài tiến sĩ. - Ông ta nói - Và việc tuyển mộ những người di dân sẽ bắt đầu vào lúc tám giờ sáng. Nếu ngài muốn đến trình diện, xin hãy thức dậy sớm.


- Aurel Popesco thuộc thành phần của những công dân được ưu đãi - Ante Petrovici nói - Ông ta có thể là nạn nhân phát xít, và do đó ông ta được bầu làm cố vấn cho bộ tư lệnh Mỹ. Ông ta là một trong những thủ lãnh của phong trào phát xít tại Rumani. Chắc chắn anh phải biết ông ta. Ông ta đã phạm nhiều tội ác và có nhiều hành động man rợ, vô nhân đạo, ông ta phải trốn qua Đức. Người Đức đã bắt nhốt ông ta vào ngục Buchenwald cùng với những tên phát xít khác đã trốn khỏi Rumani. Người Mỹ đã giải thoát tất cả tù binh của ngục Buchenwald và cấp cho họ thẻ “nạn nhân phát xít”. Trong chủng loại này có những tội phạm vì quá lạm dụng chủ nghĩa phát xít. Đó là trường hợp của Aurel Popesco.


Ante Petrovici ngừng kể và nói với Pillat.


- Ngày mai anh phải đến trình diện đúng giờ trước hội đồng Canada. - Ông nói - Tôi không thể đến đó, tôi chưa ngụy tạo đầy đủ các giấy tờ cho tôi. Tôi rất tiếc vì không biết bao lâu nữa mới có hội đồng kế tiếp, nhưng anh thì anh phải đến đó. Anh sẽ ngủ lại đây và ngày mai tôi sẽ dẫn anh đến đó.


III


Bảy giờ sáng hôm sau, Pillat và vợ đã có mặt trong hàng người đứng đợi trước hội đồng Canada. Những ứng viên làm thành một khối xám xịt gồm những người đàn ông tuyệt vọng, đủ mọi lứa tuổi, thuộc mọi quốc tịch. Tất cả họ chỉ có chung một mơ ước: trở thành người tiều phu ở Canada.


Đó là những người xưa kia cũng có nhà, có nghề nghiệp, có gia đình như bao nhiêu người khác. Ngày Chiến thắng, quê hương của họ bị những người Xô Viết chiếm đóng. Và họ buộc lòng phải trốn đi, phải bỏ lại tất cả, nhà cửa, gia đình, súc vật.


Bây giờ thì họ đã trở thành một thứ giai cấp vô sản chính hiệu nhất của thế giới. Và những người vô sản như thế đó hiện có hàng trăm triệu trên các nẻo đường. Mắt nhìn xuống đất, họ chờ đợi cơ may được tuyển chọn đi Canada, nhưng thật là khó khăn. Giữa hàng trăm triệu người vô sản đang mơ ước đợi chờ, những người Canada chỉ chọn những người lý tưởng nhất.


Đến chín giờ, đoàn xe của hội đồng Canada xuất hiện.


Những chiếc xe rộng và to như những con bò, vừa di chuyển vừa kéo còi inh ỏi giữa đám người vô vọng đang đợi chờ.


Liền sau đó việc gọi tên những ứng viên bắt đầu. Người ta gọi từng nhóm mười người. Khi bước vào phòng, Pillat ngửi thấy mùi nước hoa, mùi thuốc lá thơm và mùi xà phòng thơm.


Đó là dấu hiệu của sự hoàn hảo của những tên lái buôn này.


Ba tên người Canada nhìn một cách xoi mói từng ứng cử viên từ chân đến đầu như thể người ta quan sát một con ngựa được đem bán vậy. Những người lái buôn sẽ trả tiền vận chuyển cho mỗi người di trú.


- Quốc tịch của ông?


- Tôi là người Rumani. - Pierre Pillat nói.


(còn tiếp)


Nguồn: Cơ may thứ hai. Tiểu thuyết của Constant Virgil Gheorghiu. Hoàng Hữu Đản dịch. In theo bản thảo mà Giáo sư Hoàng Hữu Đản gửi nhà văn Triệu Xuân, Trưởng Chi nhánh NXB Văn học - năm 2002. Triệu Xuân đã biên tập hoàn chỉnh để in ấn, nhưng không được cấp Giấy phép xuất bản (vì tác giả này chống Liên Xô)! Mãi đến năm 2010, GS Hoàng Hữu Đản gửi in tại NXB Công an nhân dân.


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 05.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
xem thêm »