tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30132714
Tiểu thuyết
29.10.2019
Constant Virgil Gheorghiu
Cơ may thứ hai


VIII


Nhiều tháng trôi qua. Một hôm người ta nhận được lệnh: “Chỉ duy nhất cho phép những người gốc gác Ba Lan được hồi hương. Sẽ không còn những chuyến hồi hương nào khác! Tất cả các đơn đều bị hủy. Những tù nhân khác phải ở lại Liên Xô”.


Thoạt tiên Eddy Thall không muốn tin. Sau đó, nàng muốn phản đối. Cuối cùng thì nàng nằm lăn ra giường mà khóc nức nở. Rồi nàng hỏi những bức tường, hỏi minh, hỏi Ivan vì nàng không còn biết hỏi ai khác nữa.


- Người ta còn giữ chúng tôi lại đây cho đến bao giờ? Tôi còn phải ở lại đây cho đến bao giờ?


- Sẽ là hạnh phúc lớn nếu như cô còn được ở lại chỗ này! - Ivan nói, cân nhắc từng chữ - Tình thế sẽ không trở thành nghiêm trọng nếu như cô còn được ở lại đây... Ngày mai tôi sẽ đi nơi khác. Tôi chuyển về một trại khác ở Sibérie. Bọn lính gác chúng tôi, người ta chuyển đi đâu phải đi đấy.


- Anh muốn đi đâu tùy anh! - Eddy Thall thét - Tôi, tôi chỉ muốn biết người ta còn giữ tôi lại đây bao lâu nữa. Vậy thôi! Không gì khác!


- Đây là phòng ở của người gác văn phòng. - Ivan nói - Ngày mai sẽ có một người lính gác khác. Còn tôi, tôi phải đi!


Eddy Thall nhìn hắn kinh hoàng.


- Có những vấn đề khác, quan trọng hơn vấn đề hồi hương. - Ivan nói - Người thay tôi sẽ dọn tới đây ngày mai. Cô sẽ làm gì?


Ivan đứng lên và đặt chiếc mũ lưỡi trai lên đầu.


- Nếu cô ra mỏ, cô sẽ chết! - Hắn nói - Chỉ vài tuần thôi, cô sẽ chết. Chết! Tình thế là như vậy!


Ivan chờ đợi một câu trả lời.


- Cô có muốn tôi nói với người thay tôi cứ để cho cô ở đây không? - Điều anh phải nói ra quả thật là chua xót, nhưng vẫn cứ phải nói ra - Tôi có thể nói với anh ta. Đúng là tôi có thể. Nhưng mà cô, cô phải hiểu cho tôi. Anh ta sẽ ngủ ở buồng này. Anh ta sẽ không chịu ngủ trên bàn như tôi đâu! Cô nói đi: cô sẽ làm gì? Tình thế là như vậy đó!


Eddy Thall đứng lên. Nàng hết choáng váng rồi. Nàng không mệt mỏi nữa. Cơn sốt đã qua. Nàng mặc áo vội vàng.


- Cô định làm gì? - Ivan hỏi.


Nàng tiếp tục mặc quần áo vội vàng, như có đám cháy đang xảy ra.


- Cô muốn ở lại với anh ta, hay là ra mỏ. Cô lựa chọn chưa?


Eddy Thall đứng sừng sững trước mặt hắn, răng cắn chặt vào nhau, nét mặt gân guốc.


- Cái chết! - Nàng đáp.


Rồi nàng cắn chặt môi và cắn chặt hai hàm răng, biến mất, cửa để ngõ, để lại Ivan, các bức tường với những tấm ảnh cắt trong báo ra, chiếc giường và âm thanh của câu nói thốt ra qua làn môi cau có: “Cái chết!”


IX


Eddy Thall chạy giữa những hàng cột quấn dây thép gai, trên những tấm tà vẹt. Ngọn gió lạnh buốt cắt ngang hơi thở của nàng, như một lưỡi dao. Nàng không nghĩ gì nữa. Nàng cứ hai tay ôm ngực mà chạy. Rồi nàng ngã xuống trên một đống mỡ bò đóng băng và lại nổi cơn ho. Nàng nằm bất động, không chờ đợi một cái gì nữa.


Có ai đó đụng vào vai nàng, gọi tên nàng. Rồi những cánh tay nhấc nàng lên, mang nàng đi.


- Sao cô lại khóc?


Nàng mở mắt. Nàng đang ở trong một căn lán làm bằng ván ghép, nằm trên một cái giường. Hai người đàn ông đứng kề bên - hai tù nhân. Đó là ông bác sĩ và anh hậu cần.


Họ ở lán quản trị hành chính.


-Sao cô lại khóc?


- Vì tôi là người Do Thái! - Eddy Thall đáp, rồi nàng càng khóc to hơn nữa.


- Chúng tôi cũng là người Do Thái.


- Vì sao người ta lại đưa chúng ta ra mỏ sau khi đã chiến thắng? Hàng triệu sinh linh chết trong chiến tranh còn có tác dụng gì nếu như trong ngày chiến thắng mà các nô lệ không được giải phóng? Vì sao Churchill đã uống sâm banh trước những tay nhiếp ảnh?


- Cô hãy bình tĩnh! Chúng ta sẽ được giải phóng! - Ông bác sĩ nói.


- Người ta không thể trả tự do cho những cái xác chết! - Eddy Thall đáp.


Tôi sẽ tiêm cho cô một ống thuốc. - Ông bác sĩ nói. Nó sẽ giúp cô ổn định lại tinh thần.


Câu đề nghị của Ivan khuyên cô làm “tình nhân của người lính gác” trở lại trong trí nhớ của nàng. Nàng ôm trán trong hai bàn tay nắm chặt và nhào ra cửa.


- Tôi không muốn tiêm! Tôi không muốn người ta sỉ nhục, đánh đập, chà đạp dưới chân! Tiêm cho tôi? Để làm gì? Tôi không muốn bị ô nhục Một mũi tiêm, được cái gì?


Eddy Thall lại ngã lăn ra nhà trong một cơn ho. Miệng nàng ứ đầy máu. Cái ấm áp duy nhất mà nàng cảm nhận được lúc này chính là cái ấm áp của dòng máu chính mình. Ông bác sĩ tù nhân tiêm cho nàng một mũi. Nàng lại mở mắt ra và nàng hiểu rằng ngoài máu của mình ra vẫn có một thứ khác cũng ấm áp trong hoàn cảnh nô lệ: đó là máu của những người anh em chị em cùng nòi giống.


- Chúng ta có một tổ chức lo cứu chữa những người cùng tôn giáo của ta ở những nước khác. - Ông bác sĩ nói - Chỉ riêng những người Do Thái ở Ba Lan được phép hồi hương. Vài hôm nữa, đoàn hồi hương đó sẽ lên đường. Chúng tôi được quyền mang vợ con theo. Cô có muốn làm một đám cưới, hoàn toàn chính thức, với một người Do Thái Ba Lan để có điều kiện rời bỏ nơi này không?


Eddy Thall nhìn ông bác sĩ với con mắt mở rộng vì ngạc nhiên.


- Hàng trăm phụ nữ Do Thái của Rumani, Hungary và mọi quốc tịch khác sẽ rời bỏ được hầm mỏ bằng cách thức này. Anh bạn Isaac Salomon của tôi còn độc thân. Cô sẽ cùng anh ấy làm một cuộc hôn nhân giả. Và cô sẽ được đi. Cô đồng ý không?


- Xin bác sĩ nói lại! Eddy Thall nói.


- Đây chỉ là một hình thức, một thủ tục đơn giản để rời khỏi đất nước này thôi. Mỗi người đàn ông Do Thái Ba Lan có thể bằng cách ấy cứu thoát một người cùng tôn giáo của mình ra khỏi lao động hầm mỏ. Cô có đồng ý không?


Eddy Thall bỗng đầm đìa nước mắt.


- Sao cô vẫn khóc hoài như vậy?


- Bao nhiêu lâu rồi không một ai hỏi tôi có đồng ý hay không. Đây là lần đầu tiên từ nhiều năm nay cái điều ấy mới đến với tôi. Mỗi người ai muốn làm gì tôi tùy ý, không bao giờ hỏi ý kiến của tôi. Người ta không bao giờ hỏi bọn nô lệ có đồng ý hay không. Nếu có người đặt cho tôi câu hỏi đó, có nghĩa là tôi không còn là một con nô lệ nữa! Tôi đồng ý, đồng ý, đồng ý!


X


Eddy Thall lấy Isaac Salomon và dọn qua ở lán của những người Ba Lan. Bây giờ nàng đã là công dân Ba Lan và chờ ngày về xứ sở.


Vào lúc anh bị đày sang Nga, cách đây năm năm, Isaac Salomon là sinh viên. Đó là một chàng trai tóc hung, giàu tình cảm. Trong các trại giam Nga, anh vẫn luôn luôn giữ được tính vui tươi của tuổi vị thành niên.


Isaac, Eddy Thall và hàng ngàn người Ba Lan tháng tháng cứ phải di chuyển trại này sang trại khác. Họ xích dần tới địa phận Ba Lan, nhưng chuyện hồi hương thì cứ kéo dài. Họ đành chờ đợi. Những cuộc hôn nhân thuần túy hình thức ấy, trong những tháng ngày chờ đợi, đã biến thành những cuộc hôn nhân tình yêu. Nhưng chuyện hồi hương vẫn không có được. Mà là một đứa con. Eddy Thall trở thành người mẹ. Họ đặt tên cho con là Orly, một cái tên dịch từ tiếng hêbrơ, có nghĩa là “Ánh sáng của tôi”.


Trong cuộc sống ăn đợi nằm chờ, Orly đã trở thành ánh sáng của họ thật. Khi Orly được bốn tháng, thì những đoàn dân Ba Lan đã từng sống sáu năm trong các hầm mỏ Xô Viết đặt chân lên mảnh đất quê hương. Eddy Thall ôm chặt Orly vào lòng mà khóc vì sung sướng, cũng như mọi người Ba Lan khác khi mảnh đất quê hương đã thật sự ở dưới chân mình.


Các tù nhân về tới nhà là quên hết mọi đau thương đã chịu. Eddy Thall cũng quên hết bao nhiêu nỗi đau thương khổ nhục của nàng.


Được là người Ba Lan quả là một đặc ân.


Những tù nhân khác còn ở lại trong các hầm mỏ Xô Viết.


Nàng xuống Varsava, về nhà bà con với Orly và chồng.


Lúc trời tối, họ lại sum vầy với nhau trong một căn buồng chật hẹp nghèo nàn. Dù sao, đây là đêm đầu tiên sau bao nhiêu năm nay họ được nằm ngủ ở một nơi không phải trại tù nhân, trong một căn buồng không có lính canh trước cửa.


- Đừng nói cho ai biết các cháu là người Do Thái. - Bà dì của Salomon bảo - Phải hết sức thận trọng.


Trên bàn, có một chiếc bếp cồn để đun nước pha trà. Orly nằm ngủ. Trong buồng, cái giường mà họ được nằm nghỉ đêm đầu tiên được tự do từ ngày thắng trận, có vẻ nhỏ hẹp nhưng đó là chiếc giường nằm của những con người tự do chứ không phải của tù nhân.


Mỗi sáng, người ta tìm thấy những người Do Thái bị giết trong đêm, ngoài đường cái, giữa sân, bất cứ đâu, từ đầu này đến đầu kia của đất nước Ba Lan.


Bà dì của Salomon rót trà. Bà ta đầm đìa nước mắt, nhưng mà bà chịu đựng.


- Hãy thận trọng! - Bà nói - Rất thận trọng!


- Chẳng phải người ta đã tiêu diệt chủ nghĩa phát xít rồi sao? Thế Chính phủ làm cái gì?


Ba Lan là một nước bị đóng đinh trên cây thập tự. Khi quân quốc xã rút đi, chúng chỉ để lại có hoang tàn, mỗi nấm mồ mỗi bước. Ba Lan đáng thương! Một nghĩa địa bị phá hủy. Quân Xô Viết vào. Họ lấy nốt những cái gì còn lại: đường sắt, tuổi trẻ, cả những cái lò trong nhà bếp. Tất tần tật. Ba Lan tội nghiệp, đáng thương. Vì sao Chính phủ lại để cho người ta tàn sát người Do Thái? Hãy thận trọng? - Bà già nói - Nguy hiểm lắm đó! Rất!


Isaac Solomon đứng lên. Anh lại để tách trà xuống. Anh biết rằng ở Ba Lan là sự đói khổ nghèo nàn. Rằng người Nga cướp bóc những thứ mà quân Đức không cướp hết. Nhưng anh không thể hiểu rằng người ta giết người Do Thái ngay trên đường cái. Có những bộ trưởng Do Thái, những sĩ quan Do Thái, những lãnh tụ chính trị là người Do Thái. Chính phủ phải bảo vệ người Do Thái mới đúng chứ?


“Người dân Ba Lan đói khát đã bị săn đuổi để lưu đày sang Nga, đang tìm cách trốn tránh. Núi rừng đầy rẫy những nơi ẩn nấp của họ. Họ bỏ nhà cửa, tất cả để trốn đi. Những người đi trốn thường đi vào những lúc ban đêm như những con sói đói. Họ lăn xả vào người Do Thái bởi vì họ biết Chính phủ mà người Nga áp đặt cho họ là Do Thái, rằng những tay trưởng trại là Do Thái. Họ tin rằng người Do Thái đang nắm giữ quyền hành và đang phạm nhiều tội ác tày trời. Nhưng ngược lại, chẳng những không trả thù xuống đầu người Nga mà dân chúng lại trút xuống đầu người Do Thái tất cả, bởi vì chẳng khó khăn gì. Các cháu thấy đó. Và các cháu cần phải hết sức thận trọng”.


Orly thét lên một tiếng trong khi em ngủ.


Những giọt nước mắt chảy trên má bà dì của Isaac Salomon và rơi xuống tách trà.


- Dì sợ quân phát xít từ tận trong dòng máu! - Salomon nói - Dì sợ ngay cái bóng của mình. Thế là quá sức! Ngày nay, chúng ta sẽ xem. Cháu tin chắc rằng không phải tất cả các băng nhóm phát xít hoặc S.S (quốc xã) đều đã được diệt sạch đâu! Dì chớ quên rằng Chiến thắng là có thật. Chúng ta có một Chính phủ bù nhìn thân Xô Viết, nhưng không phải là một Chính phủ phát xít. Còn lại là chuyện phóng đại cả thôi.


Isaac và Eddy Thall mở chăn ra cho bé Orly. Đôi má mát mẻ của bé bây giờ đỏ bừng. Cả người bé nóng bỏng. Isaac ghé tai vào người bé để nghe nhịp đập của trái tim, rồi nói với Eddy Thall:


- Orly mới được bốn tháng. Đi đường xa mệt nhọc là chuyện tất nhiên. Khóc trong giấc ngủ hoặc nhiệt độ lên cao cũng là chuyện thường. Nhưng nó không lên cơn sốt. Nó không bị gì cả. Nếu em muốn, ta thử kiếm cái cặp nhiệt độ xem.


Eddy ôm chặt bé Orly vào lòng và nàng nựng bé bằng tiếng Rumani, gọi nó là “Luminitza” - ánh sáng nhỏ của tôi.


Orly khóc. Má bé đỏ bừng như đóa hoa hồng. Eddy và con gái của nàng - ánh sáng của nàng - ở lại một mình trong khi Salomon và bà dì đi tìm cái cặp nhiệt độ. Nhưng Isaac trở lại, vẻ hài lòng.


- Trong ngôi nhà này, có một ông bác sĩ, ở lầu sáu. Ta lên đó xem. Ông ta sẽ cặp nhiệt độ và sẽ khám cho Orly, ánh sáng của chúng ta. Rồi em xem, nó chẳng có sao đâu. Chỉ hơi mệt chút thôi.


Isaac trèo lên lầu sáu, tay cầm một cây nến và chú ý không để cho gió thổi tắt. Eddy theo sau, tay ôm Orly. Cầu thang rất hẹp. Một người đàn ông rất trẻ mở cửa buồng áp mái.


- Tôi là bác sĩ. - Ông ta nói - Xin cứ vào và miễn thứ cho cái nghèo khổ của tôi.


Ông ta mời Eddy Thall cùng bé Orly và Isaac Salomon vào một căn buồng nhỏ xíu. Không có giường. Chỉ có tấm chăn trải ngay ra sàn nhà, trong góc. Và cũng ngay giữa sàn nhà là từng chồng sách, những lọ thuốc, một cái đèn dầu. Đây là một bác sĩ trẻ. Những mớ tóc hung rũ xuống trên đôi mắt to đỏ ngầu vì sốt. Ông ta có vẻ đau đớn.


- Nhà không có ghế, xin thông cảm. - Ông ta nói.


Ông ta nhìn Eddy Thall, cháu bé và Isaac Salomon để đoán xem ai trong ba người bị bệnh. Ông lại xin lỗi lần nữa:


- Tôi rất tiếc là không có nổi một cái ghế, chỉ một cái ghế thôi cũng không. Không phải lỗi của tôi. Chính phủ đã lấy nhà của tôi, tiện nghi của tôi, phòng khám của tôi, sách của tôi, tất cả, sạch sành sanh, ngay hôm tôi ở tù về. Chỉ trong hai giờ, tôi bị tống ra hè phố.


Bác sĩ ôm lấy bé Orly trong tay, cởi áo bé và đặt nằm trên chồng sách thay bàn. ông ta khám cho bé rất cẩn thận. Ông bắt mạch và cặp nhiệt độ cho bé.


- Tôi không có những thứ thuốc cần cho cháu. - Ông ta bảo - Nhưng mà không có gì nghiêm trọng đâu. Không! Không nghiêm trọng chút nào! Ngày mai sẽ khỏi thôi.


Ông lại mặc quần áo vào cho cái thân hình bé bỏng của Orly. Sau đó, ông xắn tay áo và hơ cái ống tiêm lên ngọn đèn cồn để vô trùng.


- Sau Ngày Chiến thắng, tôi ở Đức về. Người ta bảo tôi: “Quân Đức đã giết sạch những người chống phát xít. Chỉ có những cộng tác viên là còn sống”. Anh hiểu nghĩa là thế nào không?


Bàn tay của ông bác sĩ run run trên ngọn đèn cồn đang vô trùng hóa dụng cụ của ông ta.


- Chỉ việc “còn sống” thôi cũng đủ là một tội ác rồi? Và bởi vì tôi vẫn còn sống và trở về sau bốn năm tù đày, cho nên người ta đã tịch thu nhà cửa, phòng khám, sách vở của tôi, tất tần tật! Chính phủ Do Thái - Xô Viết Ba Lan cho rằng bất cứ người Ba Lan nào không bị bọn nazi tiêu diệt đều là phát xít, cần phải thủ tiêu. Đó là cái lôgic thông thường Do Thái Xô Viết.


Nhưng ngày nay, chúng ta đã thanh toán xong bọn phát xít rồi, người Ba Lan chúng ta phải thống nhất lực lượng để tiếp tục đấu tranh chống lại bọn Do Thái và Cộng sản.


Ông bác sĩ lau trán. Ông ta đang bị cơn sốt. Ông ta đang bị giày vò trăm ngả, nào bệnh tật, nào căm ghét, nào khát vọng trả thù.


- Tôi bị ho lao ở giai đoạn cuối. Nhưng tôi chưa muốn chết trước khi tôi tự tay diệt trừ ít nhất cũng một tên trong những tên Do Thái - Xô Viết đang giết chết Tổ quốc Ba Lan. Tôi muốn tự tay tôi bóp ngạt hơi thở của chúng nó!


Orly khóc. Bàn tay nhợt nhạt của ông bác sĩ run run. Bàn tay ấy nhẹ nhàng chạm vào người bé Orly âu yếm vuốt ve.


- Trước kia tôi cũng từng mơ ước có một đứa con, nó là ánh sáng trong cuộc đời một con người (ông ta nhìn bé Orly âu yếm). Tên nó là gì? Cô thiên thần bé con này? - Ông ta hỏi.


- Orly! - Eddy Thall nói, trong khi ông bác sĩ nhìn chăm chắm vào nàng.


Rồi đôi mắt to đang cơn sốt lại nhìn sang Isaac.


- Orly! - Ông nói - Một cái tên tuyệt đẹp. Orly, một cái tên đẹp cực kỳ!


Bàn tay của bác sĩ không run nữa. Nó vuốt ve làn da thịt của cháu bé một cách tin tưởng. Trán ông ướt đẫm mồ hôi, nhưng bàn tay không run nữa.


Giọng Nga của Eddy Thall, khuôn mặt của Salomon, cái tên Orly... thế đủ rồi! Ông ta đang tiếp xúc với những người Do Thái đây. Bây giờ thì ông ta chắc chắn lắm rồi. Ông ta đặt mũi kim tiêm, bơm hết ống thuốc cho Orly với một bàn tay vững vàng.


- Từ đây đến sáng mai, tất cả sẽ trở lại trật tự. Ngày mai, các người lại đến. Nhưng tôi nghĩ sẽ không cần thiết.


Ông bác sĩ nhận điếu thuốc của Isaac mời và tiếp tục nhìn anh ta rất chăm chú. Bây giờ ông ta chắc chắn lắm rồi. Ông ta đã không lầm. Trước mặt ông ta, đúng là những người Do Thái!


Các người sẽ thanh toán thù lao cho tôi ngày mai. - Ông ta bảo - Vì ngày mai các người sẽ còn tới tìm tôi.


Ông ta vẫn để ngỏ cửa cho đến khi tiếng chân của Eddy Thall và Isaac Salomon đã tắt đi hoàn toàn.


XI


Đêm ấy Eddy Thall thức dậy nhiều lần để theo dõi tình hình của Orly trong khi bé ngủ. Nhịp thở của bé nhè nhẹ, đều đều.


- Anh đã bảo em không có chuyện gì nghiêm trọng cả mà! - Isaac Salomon nói. Anh ôm hôn vợ - Chúng mình sẽ có một cuộc sống đẹp. Chúng mình sẽ hạnh phúc. Đây là lần đầu tiên từ năm 1939 anh được trở lại quê hương xứ sở của mình và được nằm ngủ trong một ngôi nhà thật sự, nhà của bà con mình. Tại thành phố của anh, tại nhà người thân của anh.


Chiến thắng được chính thức công nhận từ bao lâu rồi, cuối cùng cũng đã đến với họ. Tốt biết bao được nằm ngủ sau Chiến thắng, tự do giữa gia đình! Đây là một giấc ngủ mà người ta có thể buông thả mình một cách thoải mái an toàn.


Khi Eddy Thall bừng tỉnh dậy thì thấy Isaac Salomon đang đứng ôm chặt bé Orly vào lòng.


- Orly không còn nữa! - Anh kêu to - Orly chết rồi!


Cánh cửa mở ra. Bà dì của Isaac Salomon xuất hiện, theo sau bà là bà gác cổng và xóm giềng. Người ta chở Eddy đi bệnh viện. Nhà đầy những người. Có cả những cảnh sát mặc thường phục và những cảnh sát mặc đồng phục. Salomon nhắc lại những câu nói của ông bác sĩ, và gào to rằng con gái của anh đã bị giết.


- Buộc tội người ta như vậy là vô căn cứ - Viên cảnh sát trưởng nói - Đó là một tội ác kinh tởm. Chưa bao giờ có một hành vi man rợ như vậy ở Varsava. Ngay cái giả thiết tiêm thuốc chết người cũng chưa bao giờ được đặt ra. Vả lại cuộc khám nghiệm sẽ cho chúng ta những bằng chứng chính xác.


- Chúng ta sẽ thực hiện một cuộc điều tra tại chỗ! - Viên cảnh sát nói.


Họ ghi tên Eddy Thall và Isaac Salomon rồi lập một biên bản về cái chết của bé Orly. Họ ghi nhận những lời khai của bà gác cổng và những người láng giềng.


Họ giúp Isaac trèo lên sáu tầng nhà mà anh đã trèo lên đêm hôm qua cùng với vợ và con gái anh. Cửa buồng áp mái không đóng. Các viên cảnh sát cứ để cửa mở như vậy. Buồng của ông bác sĩ trống rỗng. Chỉ có những bức tường và sàn nhà trần trụi. Salomon nhìn mọi sự qua dòng nước mắt. Anh bị cơn choáng. Các viên cảnh sát đỡ lấy anh.


- Chúng tôi đã đến chỗ này đây.


Anh cố nhận ra những bức tường, cái cửa sổ, chỗ anh đã đứng hôm qua.


- Hôm qua cũng trống trải như bây giờ à?


- Hôm qua có thêm một vài thứ. - Isaac Salomon nói - Sách, thuốc men, chăn màn, một cây đàn.


- Làm sao ông ta có thể đi mà bác không nghe thấy? - Một cảnh sát viên rất trẻ và đầy tự tin hỏi người gác cổng.


- Anh thấy là có thể được lắm chứ! - Người gác cổng đáp. - Tôi, tôi không nghe thấy gì hết.


- Chúng ta sẽ đăng ảnh hắn lên mọi tờ báo. Có thể hắn là một tên khủng bố hoặc một tên S.S. Việc hắn bỏ đi trốn chứng tỏ lương tâm hắn không yên. Hắn mất tích, đó là đầu mối của chứng lý.


- Eddy đâu? Eddy đâu rồi? - Isaac hỏi - Tôi muốn gặp nàng. Ít ra nàng...


- Ông có thể tin tưởng rằng chúng tôi sẽ tóm cổ được hắn ta.


- Muộn quá mất rồi! Orly chết rồi! - Salomon nói - Cháu là ánh sáng của chúng tôi và giờ đây ánh sáng đã bị tắt.


Vai trò của cảnh sát là bắt bọn sát nhân, và chúng tôi sẽ làm được! - Viên cảnh sát nói.


- Eddy đâu rồi? - Salomon hỏi. - Tôi muốn gặp Eddy!


Và lần đầu tiên trong đời mình, Isaac Salomon khóc.


Từ năm 1939, anh đã chịu mọi đau thương, gian khổ và nhục nhã một cách kiên nhẫn. Bây giờ anh hết chịu nổi rồi.


- Tôi muốn gặp Eddy! - Anh kêu xin.


Ba ngày sau, Isaac Salomon và Eddy Thall lại lên đường đi sang phía Tây lần nữa, với hai tay không và tâm hồn tê dại hơn bao giờ hết.


Họ rời bỏ Ba Lan. Phương Tây không thể trả lại Orly cho họ. Không trả lại được máu mà Eddy Thall đã mất. Phương Tây không chữa nổi những vết thương của họ ngày xưa, nhưng có thể để họ cứ sống với những vết thương, nỗi khổ, với những dấu vết của sự hành hung.


Ba Lan không thể nào ở được nữa, mặc dầu họ đâu có đòi hỏi gì hơn đâu!


 


TẬP SÁCH NÓI VỀ CHIẾN THẮNG


Đối với Pierre Pillat ngày Chiến thắng là ngày quân đội Xô Viết chiếm đóng thủ đô Bucarest. Lính Nga tràn vào nhà dân. Dân chúng ẩn nấp dưới những hầm chứa rượu, trong những vựa thóc. Những người khác tìm cách trốn thoát. Đàn bà bị hãm hiếp, cửa hàng bị đập phá, dân chúng bị bắn chết trên đường phố.


Pillat tìm cách cứu lấy thân, và người vợ tương lai của mình, một cô gái gia đình nông dân, đã từng theo học một vài năm ở một trường trung học phổ thông. Cô ta đã theo anh đến mọi nơi ẩn náu, và họ đã cùng nhau chờ đợi cơn sốt của những ngày đầu của Chiến thắng chấm dứt, để lại được nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Họ đã ẩn núp như bất cứ ai khi thấy cuộc sống của mình bị nguy cơ. Một tuần sau đó, Marie và Pillat đã có thể ra ngoài đường phố. Họ muốn mua một ít bánh mì. Trước những tiệm bánh mì dân chúng sợ sệt, chui từ những chỗ ẩn núp ra, đang sắp từng hàng dài chờ đợi. Nhưng chỉ có những người có giấy chứng minh nhân dân được công nhận hợp pháp mới được quyền mua.


Trước trụ sở công an, những hàng người khác đang chờ đợi.


Trên tường dán đầy danh sách những người đang bị công an truy lùng. Những danh sách này thật là dài. Người nhân viên từ chối đóng dấu vào giấy chứng minh nhân dân của Pierre Pillat. Đoàn thể pháp quan của giai cấp tiểu tư sản mà anh là thành viên đã hết thời, giờ đây công lý do “Tòa án nhân dân phụ trách”.


Pillat tiếc là đã không mua được bánh mì. Họ cảm thấy cơn đói cồn cào dữ dội.


- Anh chẳng làm gì bậy cả. - Marie nói - Tại sao họ lại từ chối hợp pháp hóa giấy chứng minh nhân dân của anh chứ?


Pillat âu yếm nắm lấy bàn tay người yêu, và muốn rời khỏi sở công an, nhưng cánh cửa phòng đã được đóng lại rồi. Người ta xô đẩy họ sang gian phòng bên. Ở đây người ta đang xem xét lại giấy tờ của những người bị từ chối quyền mua thực phẩm.


Không khí ở đây thật nặng nề. Người ta muốn tìm tên Pillat trong danh sách những người tội phạm chính trị, và họ đã không tìm thấy. Người cán bộ đã gạch chéo bằng mực đỏ lên tấm giấy chứng minh nhân dân của Pillat, rồi đưa trả lại chàng.


- Chừng nào ra khỏi đây, chúng ta sẽ có bánh mì. - Pillat thì thầm vào tai người yêu - Anh sẽ bán chiếc đồng hồ đeo tay của anh.


Anh tiến bước về phía cửa ra. Người cán bộ ra lệnh bảo anh dừng bước.


Những người không nghề nghiệp không có quyền có chỗ ở trong thành phố. Anh bị buộc phải rời khỏi nhà anh, và giao chìa khóa nhà lại cho phòng trưng tập, từ đây cho đến sáu giờ chiều là hạn chót.


Pillat nghĩ là từ ngày Chiến thắng, chàng và người yêu đã sống dưới hầm rượu. Chẳng ai có can đảm sống trong nhà mình, vì đêm bọn lính Nga vẫn thường hay cướp phá. Nhà cửa vì thế đã trở nên nguy hiểm.


- Vâng, tôi hiểu. - Anh vừa nói vừa tiếp tục tiến về phía cửa, nhưng người cán bộ lại bảo anh dừng bước.


- Anh không được phép mang đi bất cứ thứ gì trong nhà đấy nhé. Nếu không anh sẽ bị truy tố về tội ăn cắp tài sản của cộng đồng đấy.


Pillat biết rằng nhà của mình đã nhiều lần bị quân Nga cướp phá, và những gì không bị cướp đã bị đập phá tan tành.


Chẳng còn gì để lấy cả.


- Vâng, tôi hiểu. - Anh nói, tin chắc là mọi chuyện đã kết thúc - Còn điều này nữa. Những người không công ăn việc làm bị nghiêm cấm tạm trú trong phạm vi 60 cây số chung quanh thủ đô.


- Vâng, tôi sẽ đi xa thủ đô. - Pillat nói.


Anh nắm chặt lấy bàn tay người yêu, nghĩ rằng họ sẽ về sống với gia đình cha mẹ vợ.


- Nhờ quân đội Xô Viết, - người cán bộ nói tiếp - nước Rumani đã trở thành một nước Xã hội chủ nghĩa, trong đó mọi người công dân đều phải lao động.


- Tôi sẽ kiếm việc làm. - Pillat nói. Tôi biết rằng trong một nước Xã hội chủ nghĩa, mọi người đều phải làm việc.


- Chính quyền sẽ bảo vệ mọi công dân chống lại nạn thất nghiệp. Chữ thập đỏ trên giấy chứng minh nhân dân là một điều có lợi cho anh đấy. Trường hợp nếu anh không tìm thấy được việc làm, thì nhờ chữ thập đỏ mà người cán bộ công an bảo vệ trật tự công cộng biết để giúp đỡ anh, bằng cách gửi anh đến một trong những trung tâm lao động Xã hội chủ nghĩa. Bây giờ thì anh có thể đi được rồi đấy.


Pillat và Marie bước ra khỏi phòng. Nỗi lo sợ bị gọi lại làm cho họ cảm thấy nghẹt thở.


- Chúng ta trở về Piatra thôi. - Anh nói - Chúng ta phải rời khỏi thủ đô càng nhanh càng tốt.


Vào lúc đó một người đặt tay lên vai Pillat. Anh nghĩ là mình đã bị bắt, và nỗi sợ hãi đã làm cho toàn thân anh như tê cóng lại.


- Đừng sợ. Tôi là Motok đây mà. Tôi chỉ muốn nói với anh hai câu thôi.


Người trưởng toa Motok kéo Marie và Pillat đến một nơi cách hàng người đói khát và sợ sệt đang chờ đợi trước sở công an vài thước.


Daniel Motok, không cà vạt, chỉ còn đúng một chiếc áo và một cái quần. Mặt mày anh ta đã thay đổi không còn nhận ra được, mắt phải còn dấu bầm tím.


- Ngày Chiến thắng, tôi bị bọn chùi ống khói đảng viên Cộng sản chặn bắt. Chúng nó đã hành hạ tôi mãi cho đến sáng hôm nay đấy. Tôi thật sung sướng được gặp lại các bạn để nói lời từ biệt. Thôi, tôi đi đây. Pillat như còn muốn giữ lại bàn tay bạn mình, nhưng Motok đã rụt tay về, và vội vã chào Marie.


- Nếu tôi còn ở lại đây, chúng nó sẽ giết tôi mất. - Anh ta nói - Tôi biết bốn ngoại ngữ, có thể tôi sẽ kiếm được việc làm ở Tây Âu. Xin Thượng đế phù hộ cho các bạn.


Người trưởng toa Motok khóc. Anh ta lẩn vào đám đông, áo quần anh vấy đầy máu đã khô cứng, và hai chân anh không vớ trong một đôi dép quai. Lưng anh ta còng lại, chẳng thể nào nhận ra được. Những sự hành hạ đã làm cho anh ta hoàn toàn biến đổi. Tội nghiệp Motok. Chẳng biết anh ta đang ở trong tình trạng như thế nào nữa! Thật đáng thương! Vậy mà chỉ mới có bảy ngày kể từ ngày Chiến thắng thôi đấy.


Trên công trường, trước sở công an, những chiếc máy phóng thanh đang phát đi một bài diễn văn, Pillat đưa mắt nhìn theo Motok nhưng anh ta đã biến dạng. Bài diễn văn xoáy vào tai chàng với những âm thanh the thé:


“Tinka Neva tượng trưng cho vị nữ anh hùng của giai cấp vô sản. Cho đến sáu mươi tuổi đời. bà đã bị bà chủ bắt phải sống trong một phòng bếp không lớn hơn một phòng giam, thiếu không khí, thiếu ánh sáng. Ở tuổi sáu mươi, con người vô sản đang ngái ngủ trong bà đã thức tỉnh, và sẵn sàng chiến đấu. Bà đã leo lên những mái nhà cao nhất thành phố, và bằng cây đèn bấm của bà, bà đã chỉ cho những người phi công Xô Viết con đường Chiến thắng. Bà đã tìm thấy cái chết trên những chướng ngại vật cao nhất...”


- Chúng ta đi thôi. - Pillat nói Tụi Nga muốn dựng đầy những huyền thoại và chết chóc. Tinka Neva là một người đàn bà đáng mến thật. Đâu phải là bà phù thủy đêm đêm dạo chơi trên mái nhà. Bà ta chỉ là một hư cấu mà bọn Nga muốn gán cho những người mà chúng đã thủ tiêu. Chúng ta đi thôi.


Một vài giờ sau đó, Pillat và Marie đã đến nhà ga. Sợ hãi, họ đáp tàu đi về miền núi xứ Moldavia. Họ không ngừng nghĩ đến Motok. Hình ảnh của anh ta đã theo họ suốt cuộc hành trình. Trên sân ga, những chiếc máy phóng thanh khác đang kể lại cuộc đời của bà Tinka Neva.


- Tội nghiệp Motok. - Pillat nói - Chúng ta may mắn còn có chỗ nương thân.


Ngồi sát bên nhau trong toa tàu, tay trong tay, họ nghĩ đến Piatra. Đó là một làng nhỏ gồm khoảng một trăm nóc nhà, trong vùng núi Néamtz là quê hương của Marie, vợ chàng.


II


Sau Chiến thắng, Boris Bodnariuk xin được trở về lại với công việc biến đổi khí hậu, và cây trồng của vùng sa mạc, nhưng đơn xin của hắn không được chấp thuận. Người Xô Viết đang cần hắn tại Rumani để cải tạo nước này thành một nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa. Công tác này xem ra khó khăn. Thiếu cán bộ, chẳng có ai để thực hiện mệnh lệnh.


Boris Bodnariuk quyết định đến tận nơi, địa phương này đến địa phương khác để tổ chức chính quyền Cộng sản. Trước khi rời khỏi văn phòng, người thư ký đã trao cho hắn một bức thư riêng.


- Bức thư do một nhà tu hành tên là Angelo trao, và ông ta tự giới thiệu là em ruột của đồng chí. Thư có kèm một bức ảnh.


- Người Cộng sản chúng ta không có anh em ruột thịt. - Boris la lớn tiếng - Anh em của chúng ta là những người lao động trên toàn thế giới.


Hắn không thèm nhìn ngay cả bức ảnh của đứa em ruột, mà năm hắn lên ba đã móc hết một mắt. Angelo báo cho hắn biết là đã đi tu, đã cầu nguyện nhiều cho hắn, và cảm ơn Thượng đế đã gìn giữ Boris được yên lành.


Bodnariuk để tấm bản đồ của nước Rumani vào túi áo khoác ngoài bằng da, và quấn chặt lại chiếc khăn quàng cổ màu đỏ. Một vài ngày sau, dưới sự hướng dẫn của một chức trách địa phương, đôi bốt màu đen của hắn đã giẫm lên dải đất ẩm ướt của một làng phía bắc vùng Moldavia.


- Này Serghei Severin, làng này tên gọi là gì nhỉ? - Bodnariuk hỏi.


Severin là một người gốc Nga, sinh trưởng tại Rumani, người cao lớn, với một cái đầu tròn trĩnh. Đôi bốt của Bodnariuk cố tránh những vũng bùn trên đường bao nhiêu, thì Serghei Severin lại giẫm ngay đôi bốt của mình xuống những vũng bùn, không tránh né, tự nhiên như những con thú vật.


- Thưa đây là làng Piatra. - Severin nói.


Severin để một mình Bodnariuk bước vào sân của ủy ban nhân dân xã. Tất cả nông dân đã có mặt đầy đủ. Họ đứng dọc theo hai bên đường, nón cầm tay, gập mình trước người mặc áo khoác ngoài bằng da, với chiếc khăn quàng cổ màu đỏ, và đôi bốt đen đang đi về phía họ, mắt chẳng thèm nhìn ai. Bodnariuk bước vào văn phòng ủy ban nhân dân xã. Hắn ngồi trên một chiếc ghế bằng gỗ, trước một chiếc bàn được phủ bằng một tấm vải giấy màu xanh, bàn làm việc của chủ tịch xã. Từ cửa sổ, người ta nhìn thấy những ngôi nhà ẩn mình giữa những lùm cây, và những người nông dân đứng thành hàng dài đang im lặng chờ đợi dưới mưa.


Bodnariuk nhìn họ đầy thù hận. Giai cấp nông dân là một chướng ngại đối với việc hình thành quốc gia Cộng sản. Trên tường người ta dán đầy những hình ảnh được cắt từ những tạp chí. Bodnariuk nhìn một cách căm hờn ảnh của vị thống soái các quốc gia Slaves phương Nam. Vị thống soái du kích này có một con chó mà ông ta rất mực yêu thương. Người đảng viên Cộng sản mà có một đam mê nào đó, ngay cả đam mê đối với một con chó, thì cũng là người có nhược điểm rồi.


Boris nhìn thấy những người nông dân bước vào, nón cầm tay. Họ ngồi xuống những chiếc ghế dài đối diện với hắn, tay tỳ lên gối, mắt chăm chú nhìn hắn chờ đợi, như những chú bé ngày đầu năm học.


- Đưa danh sách dân làng đây. - Boris ra lệnh.


Hắn nhanh nhẹn giở từng trang của cuốn tập học trò, mà trên bìa có ghi: Piatra, thuộc quận Néamt 150 dân. Trên những trang giấy vở, tên, họ, tuổi của mỗi người dân làng Piatra đều được ghi rõ.


- Danh sách được phân hạng đâu? - Bodnariuk hỏi.


Chủ tịch xã đứng lên. Tóc ông ướt đẫm vì đã đứng đợi Boris dưới mưa.


- Làng chúng tôi không có ai thuộc thành phần thứ nhất cả Chúng tôi không có ai là tá điền, tư sản, đại điền chủ.


Thành phần thứ nhất không có trong làng Piatra.


Boris Bodnariuk không hài lòng. Trong mỗi lần xuất hiện, hắn có thói quen đưa ra trước dân làng được tụ họp lại, một đại điền chủ, mà hắn chửi rủa nhục mạ công khai.


Sau đó hắn ra lệnh tịch biên tài sản để phân phát cho nông dân. Làm như thế, đám đông dân làng thụ động sẽ bị kích động, và nhờ đó sự căm thù giai cấp mới bộc phát được.


Đưa danh sách của những người thuộc thành phần thứ hai đây. - Boris ra lệnh.


- Chúng tôi cũng chẳng có ai thuộc thành phần thứ hai. - Chủ tịch xã đáp.


Thành phần thứ hai bao gồm những nông dân có từ năm mẫu trở lên. ở Piatra chẳng có ai lại có nhiều đất đến thế.


Trên những chiếc ghế dài bằng gỗ, những người nông dân cảm thấy sung sướng khi nghe chủ tịch xã tuyên bố là trong làng không có người giàu hay tá điền gì cả. Họ chờ đợi sự khen ngợi của người mặc áo khoác ngoài bằng da, với vết sẹo dài trên trán.


Danh sách thứ hai bao gồm cả những chủ lò xay bột, chủ quán trọ, những cảnh binh trước đây, tất cả những người đã bóc lột nhân dân dưới chế độ tư sản.


- Người cảnh binh trước đây không phải dân làng. - Chủ tịch xã nói - Hắn đã biến mất từ ngày Chiến thắng. Ở Piatra chẳng có một chủ lò xay bột, vì chẳng có cối xay nào cả. Làng chúng tôi là một làng nghèo. Chúng tôi phải mang lúa và bắp đến làng khác thuê xay. Cà phê thì mua ở xứ kế cận đây.


Giọng nói của Bodnariuk trở nên nghiêm khắc. Hắn muốn khám phá kỳ được kẻ thù của nhân dân.


- Đưa cho tôi danh sách những thành viên của những tổ chức tiểu tư sản trước đây, và những xã trưởng cũ.


- Chúng tôi chỉ có một xã trưởng trong suốt hai mươi năm nay. Ông ta chết rồi. Chúng tôi đã đưa đám ông ta chỉ mới ba tuần trước đây thôi. Cầu Chúa phù hộ cho ông ta.


Trong sa mạc cát, Bodnariuk đã phải phấn đấu để chiếm ngự và cải tạo từng tất đất khô cằn. Thế mà công việc của một người lãnh đạo Cộng sản trong một làng thuộc nước Rumani còn cực nhọc hơn cả việc canh tác sa mạc. Như những làng khác của nước Rumani, làng Piatra đang ở trong trạng thái bất động, và sự bất động là kẻ thù nguy hiểm nhất của tiến bộ. Đã từ ba ngàn năm nay, người nông dân nước Rumani đã dùng cái quán lực này để đương đầu. Để làm cho họ khởi động, người lãnh đạo Cộng sản buộc phải ghim sâu lưỡi dao đến tận xương tủy. Họ giống như đất cát khô cằn của sa mạc, người ta không thể trồng gì trên đó cả. Bodnariuk nhìn với một vẻ căm hờn những người nông dân ngồi trên những chiếc ghế dài, đối diện với hắn, tay họ để tựa trên đầu gối.


Hắn lại giở từng trang cuốn tập. Thành phần thứ nhất: địa chủ: không có. Thành phần thứ hai: phú nông: không có. Những kẻ giúp việc cho thành phần tiểu tư sản: không có. Những người khai thác, bóc lột nhân dân: chủ tiệm cà phê, chủ lò bột, cảnh binh: không có. Những người đã du hành ra nước ngoài: không có. Những người có thân nhân ở ngoại quốc: không có.


Piatra không có một tên tuổi nào có thể gây được sự uất hận, và sự nổi dậy, đủ khả năng đưa dân làng ra khỏi trạng thái bất động này. Chỉ có một tờ giấy rời ghi: Mục sư. Thomas Skobai và trong ngoặc đơn: mù và 78 tuổi. Tiếp theo: dân mới ngụ tại làng: Pierre Pillat, nguyên thẩm phán, đã có gia đình, đảng viên Cộng sản địa phương.


Vành trán và đôi mắt của Bodnariuk bỗng rực sáng lên.


Hắn cảm thấy hài lòng. Hắn biết là chỉ cần một cây quẹt đủ để thiêu hủy cả một căn nhà. Chỉ cần một người có tội đủ để thiêu hủy cả làng. Trong đôi mắt của Boris Bodnariuk phảng phất niềm vui sướng của một thám tử, sau nhiều tuần điều tra, và nhiều đêm không ngủ được, đã tìm thấy dấu tay trên một tấm kính soi mặt, trên một chiếc ly, hay trên trái nắm của cánh cửa.


Dấu tay này đủ để đưa ra ánh sáng một tội ác, và bắt giữ những kẻ giết người.


Hắn liên tưởng đến những chỉ thị đã được chuyển cho từng chủ tịch xã: “Lập danh sách có đủ tên tuổi, nghề nghiệp của mỗi công dân, sắp xếp dân chúng theo thành phần xã hội, truy nã và khởi tố những giai cấp thượng lưu. Lập thành hồ sơ, và bản cáo trạng cho từng đối tượng thuộc hai thành phần đầu”.


Bodnariuk đã căn dặn phải lục tìm quá khứ của từng công dân thuộc những thành phần bị kết tội, vì rằng ai cũng có thể bị tố cáo vì một lỗi lầm gì đó. Tá điền nào mà đã không một lần tát tai người giúp việc của mình trong suốt cả cuộc đời.


Thằng cha trưởng giả nào lại không cách này hoặc cách khác chòng ghẹo cô nấu bếp của mình. Nghiệp chủ nào đó với chiếc xe hơi của mình lại chẳng có lần cán nhầm con chó của một người đáng thương nào đó. Tất cả những dữ kiện này sẽ phải được khám phá và biến thành những khoản tố cáo giai cấp. Bất cứ một xã trưởng nào cũng có khả năng phạm phải một điều bất công, và bất cứ chủ lò xay bột nào cũng là một thứ bóc lột, bởi lẽ họ đã buộc người nông dân phải tăng thêm chi phí cho mùa màng. Tất cả đều là những bất công xã hội. Mọi mục sư đều là người lợi dụng giai cấp công nhân, bởi lẽ họ không có những sinh hoạt chính trị. Họ có một cuộc sống ăn bám. Tất cả cái đó phải được dùng đến trong những phiên tòa truy tố những kẻ áp bức để đày ải hoặc tiêu diệt chúng.


Những phiên tòa như thế là một trường học cần thiết cho sự sáng tạo tinh thần chiến đấu của giai cấp.


Từ cửa sổ, Bodnariuk nhìn thấy những người nông dân đứng thành hàng, im lặng chờ đợi dưới mưa như những hình tượng bằng đất sét. Từ ngày Chiến thắng đến nay đã bốn tháng rồi mà hắn chưa làm được gì cả. Mỗi một làng được xem như một gia đình. Cái khối người nhu nhược cấu thành làng xã này phải được làm nổ tung ra, đập bể thành từng mảnh, chia thành từng loại.


- Đồng chí sắp phải học hỏi cách để làm nổ tung một làng. - Bodnariuk nhẹ nhàng nói với Serghei Severin - Đồng chí cứ dùng kỹ thuật đó áp dụng cho những làng khác trong khu vực của đồng chí. Không khó đâu.


Bodnariuk nhìn Pierre Pillat một cách chăm chú. Pillat định đến chào hỏi hắn khi hắn vừa bước xuống xe. Lúc bấy giờ anh muốn nói chuyện với hắn. Anh đã chào hắn, nhưng hắn đã tảng lờ như không nhìn thấy. Ngay cả khi Pillat đến ngồi trên chiếc ghế băng, ở hàng đầu, giữa những người nông dân, Bodnariuk cũng không thèm để ý đến anh. Nhưng lúc này đây hắn đang chăm chú nhìn vào mắt anh.


- Chúng ta đã từng là bạn học ở Học viện hoàng gia Kichinev. - Bodnariuk nói.


Pillat đứng lên. Bên cạnh chàng là Marie, vợ chàng. Một nông dân sạm nắng với đôi mắt lanh lợi ngồi bên cạnh Marie.


Đó là Ion Kostaky, bố vợ chàng. Ông già cảm động, xem việc con rể của ông là bạn hữu của một nhân vật quan trọng như một huy chương danh dự vậy.


Đáng lẽ Pierre Pillat muốn nói là cuộc gặp gỡ này đã làm cho chàng sung sướng biết bao, đáng lẽ chàng muốn nói với Boris Bodnar mà hôm nay người ta gọi là Boris Bodnariuk, là cái kỷ niệm của ngày chia tay, những điếu thuốc lá phì phèo trong giờ ra chơi, chiếc ảnh của cô nữ sinh trường quốc gia âm nhạc tên là Eddy Thall, vẫn còn sống động trong ký ức của chàng...


- Tôi đã tìm kiếm anh khá lâu. - Pillat nói.


Boris Bodnariuk cởi bỏ chiếc áo choàng bằng da ra. Hắn mặc một chiếc áo kaki, một chiếc thắt lưng với khẩu súng ngắn. Hắn tháo khẩu súng ngắn để trên bàn cùng với chiếc khăn quàng cổ màu đỏ. Pillat đợi cho hắn xong xuôi mọi thứ.


- Tôi đã cưới vợ ở Piatra. (Marie đứng lên chào). Đây là bố vợ của tôi. (Chàng giới thiệu Ion Kostaky). Bố vợ tôi còn có một ngôi nhà ở kế cận nhà của ông. Hiện nay tôi đang sống ở đó. Chúng tôi cùng làm nghề nông.


Những người nông dân mỉm cười sung sướng, tim họ rạo rực vui mừng như thánh đường ngày lễ Phục Sinh, khi người ta hát bài “Chúa đã phục sinh”. Thật là hạnh phúc khi nhìn thấy ai đó đã nói năng đầy nhân tính với Boris Bodnariuk. Hắn giống như người bằng đá, và chẳng ai có thể thân cận hắn được Và lúc này đây mọi nỗi sợ sệt đều biến mất. Pillat đã nói với hắn như với một người bằng xương bằng thịt. Những người nông dân nghĩ là nhờ ở tình bạn này mà làng Piatra sẽ có thể nhận được hạt giống, tiền cứu trợ, và gỗ để sửa sang lại những cây cầu đã bị phá hủy.


- Sẽ không có một ngoại lệ nào với anh cả. - Boris Bodnariuk nói với Pillat. - Anh đã hành động như những người tư sản phản động. Đến ngày chiến thắng anh đã về ẩn núp trong làng. Tôi báo cho anh biết là đối với những tên phản động, sẽ không có chỗ dung thân bất cứ nơi đâu, ở trong làng lại càng không thể được. Không có chỗ bất cứ nơi đâu cho kẻ thù của nhân dân.


Những người nông dân rướng cổ lắng nghe. Họ cứ tưởng là đã nghe nhầm.


- Tôi đấu tranh cho công lý của nhân dân. - Boris Bodnariuk nói tiếp. Bây giờ thì hắn nhìn về phía những người nông dân. - Tôi không muốn phản bội những người lao động nông thôn, và đây là một bằng chứng. Tôi đã từng là bạn hữu của người này. Hắn đã trở thành người trí thức tiểu tư sản, hắn đã phục vụ cho giai cấp bóc lột, như những trí thức tiểu tư sản khác. Vậy nên hắn phải lãnh nhận hình phạt dành cho hắn. Sự kiện hắn là bạn cũ của tôi không là điều quan trọng. Tôi sẽ không phản bội giai cấp nông dân nước Rumani vì một người bạn học cũ, đã trở thành đày tớ của những tên tư sản. Tôi hứa với các đồng chí là sẽ loại hắn ra khỏi làng.


(còn tiếp)


Nguồn: Cơ may thứ hai. Tiểu thuyết của Constant Virgil Gheorghiu. Hoàng Hữu Đản dịch. In theo bản thảo mà Giáo sư Hoàng Hữu Đản gửi nhà văn Triệu Xuân, Trưởng Chi nhánh NXB Văn học - năm 2002. Triệu Xuân đã biên tập hoàn chỉnh để in ấn, nhưng không được cấp Giấy phép xuất bản (vì tác giả này chống Liên Xô)! Mãi đến năm 2010, GS Hoàng Hữu Đản gửi in tại NXB Công an nhân dân.


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 05.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
xem thêm »