tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30132712
Tiểu thuyết
25.10.2019
Virginia Woolf
Những lớp sóng


Vài đoạn cuối của Những lớp sóng (The Waves)


Người dịch: Nguyễn Thành Nhân


“Nhưng làm sao mô tả thế giới được nhìn thấy nếu không có bản ngã? Không có từ nào. Xanh lơ, đỏ - thậm chí khi chúng phân tán, thậm chí khi chúng ẩn nấp với độ dày thay vì để cho ánh sáng xuyên qua. Làm sao mô tả hoặc nói bất cứ điều gì với những từ lưu loát thêm lần nữa? – ngoại trừ rằng nó mờ dần, ngoại trừ rằng nó trải qua một sự biến đổi dần dần, trở thành, thậm chí trong quá trình của một bước đi ngắn, thường lệ - cảnh tượng này cũng vậy. Tình trạng đui mù quay trở lại trong lúc người ta di chuyển và một chiếc lá lặp lại một chiếc lá khác. Vẻ đáng yêu quay trở lại khi người ta nhìn, với toàn bộ đoàn tàu ma của những cụm từ. Người ta hít vào và thở ra những hơi thở thật sự; đoàn tàu lao xuống thung lũng, băng qua những cánh đồng mờ khói.”


 


“Nhưng trong một khoảnh khắc tôi đã ngồi trên bãi cỏ ở một nơi nào đó cao bên trên dòng chảy của biển và âm thanh của khu rừng, đã nhìn thấy ngôi nhà, khu vườn và những lượn sóng vỡ tung. Người vú nuôi già lật trang sách ảnh đã dừng lại và nói: ‘Nhìn này. Đây là sự thật.’”


 


“Tôi đã suy nghĩ như thế khi đi dọc Đại lộ Shaftesbury đêm nay. Tôi nghĩ về trang đó trong cuốn sách ảnh. Và khi tôi gặp ông ở nơi người ta tới để treo áo khoác lên, tôi tự nhủ: ‘Mình gặp ai không quan trọng. Tất cả những chuyện nhỏ nhặt về ‘sự tồn tại’ này đã kết thúc. Mình không biết người này là ai; cũng không quan tâm; bọn mình sẽ ăn tối với nhau.’ Thế là tôi treo áo khoác lên, vỗ vai ông và nói, ‘Ngồi với tôi nhé.’”


 


“Giờ bữa ăn đã kết thúc; xung quanh chúng ta là những vỏ trái cây và vụn bánh mì. Tôi đã cố ngắt chùm quả này và đưa nó cho ông; nhưng tôi không biết liệu có vật chất hay sự thật trong đó hay chăng. Tôi cũng không biết chính xác chúng ta đang ở đâu. Mảng trời đó đang nhìn xuống thành phố nào? Nơi chúng ta ngồi có phải là Paris, hay London, hay một thành phố phía nam nào đó, nơi những ngôi nhà màu hồng nằm dưới tán cây bách, dưới những ngọn núi cao, nơi đại bàng bay lên? Tôi không cảm thấy chắc chắn vào khoảnh khắc này.”


 


“Giờ tôi bắt đầu quên đi; tôi bắt đầu nghi ngờ về tính chất cố định của những cái bàn, thực tế ở đây và bây giờ, và gõ mạnh khớp ngón tay trên các cạnh của các vật thể rõ ràng rắn chắc và nói, ‘Mày có cứng không?’ Tôi đã nhìn thấy rất nhiều điều khác nhau, đã tạo ra rất nhiều câu khác nhau. Tôi đã lạc lối trong quá trình ăn uống và dõi mắt dọc theo những bề mặt của lớp vỏ ốc mỏng manh, cứng, nơi linh hồn, khi còn trẻ, đã tự nhốt mình vào - ở đó có sự hung tợn, những cú mổ của cặp mỏ tàn nhẫn của tuổi trẻ. Và bây giờ tôi hỏi, ‘Tôi là ai?’ Tôi đã nói về Bernard, Neville, Jinny, Susan, Rhoda và Louis. Tôi có phải là tất cả bọn họ không? Tôi có phải là một và khác biệt? Tôi không biết.


 


Chúng ta ngồi đây với nhau. Nhưng giờ Percival đã chết, và Rhoda đã chết; chúng tôi bị chia rẽ; chúng tôi không có ở đây. Thế nhưng tôi không thể tìm thấy bất kỳ trở ngại nào chia cách chúng tôi. Không có sự phân chia giữa tôi và họ. Khi nói chuyện với họ, tôi cảm thấy ‘Tôi là bạn’.”


 


“Sự khác biệt mà chúng tôi tạo ra rất nhiều này, bản sắc mà chúng tôi thiết tha yêu quý này, đã bị đánh bại. Phải, kể từ khi bà cụ Constable giơ miếng bọt biển lên và đổ nước ấm lên người tôi, bao phủ da thịt tôi, tôi đã rất nhạy cảm. Ở đây trên trán tôi là cú đánh tôi nhận được khi Percival ngã xuống. Ở sau gáy tôi là nụ hôn Jinny trao cho Louis. Mắt tôi đong đầy nước mắt của Susan. Tôi nhìn thấy ở xa xa, run rẩy như một sợi chỉ vàng, cây cột Rhoda mà nhìn thấy, và cảm nhận được đường bay gió thốc của cú rơi của cô ấy khi cô ấy nhảy xuống.”


 


“Do vậy, khi tôi định hình ở đây, trên chiếc bàn này giữa hai bàn tay của tôi, câu chuyện về cuộc đời tôi và đặt nó trước mặt ông như một điều hoàn chỉnh, tôi phải nhớ lại những điều đã đi xa, đi sâu, chìm vào cuộc sống này hoặc cuộc sống kia và trở thành một phần của nó; cả những giấc mơ, những thứ xung quanh tôi và những bạn bè thân, những bóng ma xưa cũ luôn đi về lui tới cả ngày lẫn đêm đó; những kẻ trăn trở trằn trọc trong giấc ngủ, những kẻ thốt lên những tiếng kêu bối rối, những kẻ giơ những ngón tay ma quái của họ ra và túm chặt tôi khi tôi cố gắng trốn thoát – những cái bóng của những người có thể từng hiện hữu; những bản ngã chưa được sinh ra. Cũng có cả tên vũ phu già nua, tên man rợ, gã đàn ông lông lá nhúng những ngón tay vào những khúc ruột; và nhai ngấu nghiến và ợ hơi; kẻ mà lời nói của y phát ra từ yết hầu, từ nội tạng – phải, y đang ở đây. Y ngồi xổm trong tôi. Đêm nay y đã được thưởng thức món chim cút, rau trộn dầu dấm và bánh ngọt. Giờ y đang cầm trên bàn tay móng vuốt một ly rượu mạnh lâu năm. Y hoàn tất bữa ăn, kêu rừ rừ như mèo và bắn những cảm giác ấm áp xuống khắp cột sống của tôi khi tôi nhấm nháp rượu. Quả thật, y có rửa tay trước bữa tối, nhưng chúng vẫn đầy lông lá. Y cài nút trên quần và áo ghi lê, nhưng chúng chứa các cơ quan giống nhau. Y lẩn tránh nếu tôi buộc y chờ đợi bữa ăn tối. Y không ngớt nhăn nhó, chỉ ra với cử chỉ khá ngốc nghếch của mình sự tham lam và thèm khát những gì y mong muốn. Tôi đảm bảo với ông, đôi khi tôi gặp khó khăn lớn trong việc kiểm soát y. Gã đàn ông lông lá, giống vượn đó, đã góp phần mình vào cuộc đời tôi. Y đã trao một ánh sáng xanh hơn cho những thứ màu xanh, đã cầm cây đuốc với những ngọn lửa đỏ, những cuộn khói dày, đằng sau từng chiếc lá. Y đã thắp sáng cả khu vườn mát mẻ. Y vung ngọn đuốc của mình trên những con đường nhỏ âm u nơi những cô gái dường như đột nhiên tỏa sáng với một màu đỏ trong mờ làm người ta say sưa. Ồ, y đã ném ngọn đuốc của mình lên cao! Y đã dẫn tôi tới những điệu nhảy điên cuồng!”


 


“Nhưng không còn nữa. Đêm nay, ngay bây giờ, cơ thể tôi vươn lên từng tầng một như một ngôi đền mát mẻ với sàn trải thảm và những tiếng thì thầm nổi lên và những bàn thờ tỏa khói; nhưng ở bên trên, ở đây trong cái đầu thanh thản của tôi, chỉ xuất hiện những làn giai điệu du dương, những lượn khói trầm hương, trong lúc lũ bồ câu đi lạc kêu rền rĩ, và những lá cờ run rẩy trên những ngôi mộ, và những làn gió tối tăm lúc nửa đêm rung chuyển những cây cối bên ngoài những ô cửa sổ mở. Khi tôi nhìn xuống từ trạng thái siêu việt này, ngay cả những mảnh vụn bánh mì cũng đẹp làm sao! Những cái vỏ lê đã gọt tạo thành những đường xoắn ốc tuyệt điệu làm sao - mỏng và lốm đốm như trứng của một loài chim biển nào đó. Ngay cả những cái nĩa đặt thẳng cạnh nhau cũng có vẻ sáng suốt, hợp lý, chính xác; và đầu mút của những ổ bánh mì mà chúng ta bỏ lại được tráng men, mạ vàng, cứng. Thậm chí tôi có thể tôn thờ bàn tay của mình, với những cái xương hình rẻ quạt được viền bởi những đường gân bí ẩn màu xanh và vẻ ngoài đáng kinh ngạc của sự đúng chỗ, mềm dẻo và khả năng cuộn tròn mềm mại hoặc bất ngờ nghiền nát - sự nhạy cảm vô hạn của nó.”


 


“Tiếp nhận đến mức vô cùng, nắm giữ mọi thứ, run rẩy với sự tròn đầy, thế nhưng rõ ràng, chứa đựng - dường như bản thể của tôi là thế đó, giờ niềm khát khao thôi thúc nó không còn ở bên ngoài và xa cách nữa; giờ sự tò mò đó không còn nhuộm cho nó cả ngàn màu nữa. Nó nằm sâu, không có thủy triều, miễn nhiễm, giờ y đã chết, gã đàn ông mà tôi gọi là 'Bernard', gã đàn ông giữ trong túi một cuốn sổ tay mà trong đó y viết những ghi chú – những cụm từ cho mặt trăng, những ghi chú về các đặc điểm; trông mọi người như thế nào, quay đi như thế nào, thả rơi cái đót thuốc lá của họ ra sao; bên dưới mục từ B, bột bướm, bên dưới mục từ D, những cách đặt tên cho cái chết. Nhưng giờ hãy để cánh cửa mở ra, cánh cửa kính mãi mãi xoay trên bản lề của nó. Hãy để cho một người phụ nữ đến, để cho một chàng trai trẻ mặc lễ phục với bộ ria mép ngồi xuống: có bất cứ điều gì họ có thể nói với tôi không? Không! Tôi cũng biết tất cả những điều đó. Và nếu cô ấy đột nhiên đứng dậy và bỏ đi, “Cô thân mến,’ tôi nói, ‘cô không còn buộc tôi phải chăm sóc cho cô nữa.’ Sự chấn động của lượn sóng rơi vốn đã âm vang suốt cuộc đời tôi, vốn đã đánh thức tôi để cho tôi nhìn thấy cái khoen vàng trên tủ quần áo, không còn làm cho thứ mà tôi nắm giữ run rẩy nữa.”


 


“Vì thế, giờ đây, khi đã chấp nhận sự bí ẩn của mọi thứ, tôi có thể đi như một điệp viên mà không cần rời khỏi nơi này, không cần nhúc nhích trên chiếc ghế của tôi. Tôi có thể đến thăm những rìa xa hẻo lánh của vùng đất sa mạc nơi những kẻ man rợ nằm bên đống lửa trại. Ngày lên; cô gái nhấc những viên ngọc làm bằng nước có lửa bên trong lên trán mình; mặt trời rọi thẳng những tia sáng vào nhà trọ; những lượn sóng nhấn những vật chướng ngại xuống sâu hơn; chúng tự quăng mình lên bờ; thổi tung bọt nước về phía sau; quét làn nước của chúng quanh chiếc thuyền và cây nhựa ruồi biển. Lũ chim chóc hót một khúc đồng ca; những đường hầm sâu chạy giữa các cuống hoa; ngôi nhà được nhuộm trắng; kẻ đang ngủ duỗi thẳng người; dần dần tất cả mọi thứ trỗi dậy. Ánh sáng tràn ngập căn phòng và đẩy hết bóng tối này tới bóng tối khác tới nơi mà tại đó chúng treo mình trong những nếp gấp không sao nhìn thấu. Bóng tối ở giữa nắm giữ cái gì? Một cái gì đó? Không có gì? Tôi không biết.”


“Ồ, nhưng có gương mặt của ông. Tôi bắt gặp ánh mắt của ông. Tôi, kẻ đã nghĩ rằng bản thân mình quá rộng lớn, một ngôi đền, một nhà thờ, toàn thể một vũ trụ, không bị giới hạn và có khả năng hiện diện khắp mọi nơi, trên bờ vực của mọi thứ và cả ở đây, giờ không là gì cả ngoài những gì ông nhìn thấy - một gã đàn ông lớn tuổi, khá nặng nề, bạc tóc ở hai bên thái dương, kẻ (tôi nhìn thấy mình trong tấm gương) đang chống một khuỷu tay trên bàn, và cầm trong tay trái một ly rượu mạnh lâu năm. Đó là cú đấm ông đã nện vào tôi. Tôi đã từng va vào trụ thư công cộng trong lúc bước đi. Tôi quay từ bên này sang bên kia. Tôi đặt tay lên đầu. Mũ của tôi không có ở đó - tôi đã đánh rơi cây gậy của mình. Tôi đã xử sự một cách ngu xuẩn kinh khủng và bị chế nhạo một cách chính đáng bởi bất kỳ khách qua đường nào.”


 


“Trời, cuộc sống thật kinh tởm làm sao! Nó chơi khăm chúng ta với những trò bẩn thỉu làm sao, thoát được vào một khoảnh khắc này, ở khoảnh khắc kế tiếp, là trò này. Ở đây chúng ta ở giữa những mẩu vụn bánh mì và những tấm khăn ăn hoen ố một lần nữa. Con dao đó đã dính đầy dầu mỡ. Sự hỗn độn, sự bẩn thỉu và sự đồi bại bao quanh chúng ta. Chúng ta đã đưa vào miệng của mình xác của những con chim chết. Chúng ta phải phát triển bản thân chính với những vụn bánh mì dính đầy dầu mỡ, những tấm khăn ăn đầy nước dãi và những xác chết nhỏ bé. Nó luôn luôn bắt đầu một lần nữa; luôn luôn có kẻ thù; những đôi mắt bắt gặp ánh mắt của chúng ta; những ngón tay giật mạnh những ngón tay của chúng ta; cố gắng chờ đợi. Gọi người phục vụ. Thanh toán hóa đơn. Chúng ta phải kéo mình ra khỏi ghế. Chúng ta phải tìm áo khoác của mình. Chúng ta phải đi. Phải, phải, phải – cái từ đáng ghét. Một lần nữa, tôi, kẻ đã nghĩ rằng mình được miễn nhiễm, kẻ đã nói: ‘Bây giờ tôi đã thoát khỏi tất cả những thứ đó’, nhận ra rằng lượn sóng đã xô tôi ngã quỵ, lộn nhào, phân tán những tài sản của tôi, mặc cho tôi thu lượm, tập hợp lại, chất đống lên, tập trung toàn bộ sức lực của mình, đứng lên và đối đầu với kẻ thù.”


 


“Thật kỳ lạ khi chúng ta, những kẻ có khả năng chịu đựng quá nhiều đau khổ, lại gây ra quá nhiều đau khổ. Thật kỳ lạ khi gương mặt của một người mà tôi hầu như không quen biết ngoại trừ việc tôi nghĩ chúng tôi đã gặp nhau một lần trên cầu tàu của một con tàu đi đến Châu Phi - một phác họa đơn thuần của đôi mắt, hai gò má, hai lỗ mũi – lại có khả năng gây ra sự xúc phạm này. Ông nhìn, ăn, mỉm cười, chán ngán, hài lòng, khó chịu - đó là tất cả những gì tôi biết. Tuy nhiên, cái bóng vốn đã ngồi cạnh tôi trong một hoặc hai giờ này, cái mặt nạ từ đó đôi mắt trộm nhìn ra này, có sức mạnh để đẩy tôi lùi lại, để trói chặt tôi trong số tất cả những gương mặt khác, để nhốt tôi trong một căn phòng nóng; để cuốn tôi lao đi như một con thiêu thân từ ngọn nến này sang ngọn nến khác.”


 


“Nhưng đợi đã. Trong khi họ cộng hóa đơn ở phía sau bức bình phong, hãy đợi một lát. Giờ đây, khi tôi đã sỉ vả ông về cú đánh khiến tôi lảo đảo giữa những vỏ trái cây đã lột, những vụn bánh mì, và những miếng thịt còn thừa, tôi sẽ ghi lại bằng những từ có một âm tiết rằng dưới cái nhìn với sự ép buộc đó của ông đối với tôi, tôi bắt đầu nhận ra điều này, điều nọ, điều kia. Cái đồng hồ kêu tích tắc; người phụ nữ hắt hơi; người phục vụ đến - có một sự đến với nhau dần dần, hòa vào thành một, tăng tốc và hợp nhất. Hãy lắng nghe: một tiếng còi vang lên, những bánh xe lăn vội, cánh cửa rít lên trên bản lề. Tôi lấy lại cảm giác về sự phức tạp và thực tế và cuộc đấu tranh, mà vì điều đó tôi cảm ơn ông. Và với một sự thương hại nào đó, một sự đố kị nào đó và nhiều thiện chí, tôi nắm lấy tay ông và chúc ông buổi tối tốt lành.


 


“Xin tạ ơn Trời vì được ở một mình! Bây giờ tôi đang ở một mình. Kẻ hầu như vô danh đó đã đi khỏi, để bắt một chuyến tàu, bắt một chiếc taxi, đi đến một nơi nào đó hoặc để gặp một người nào đó mà tôi không biết. Gương mặt nhìn tôi đã biến mất. Áp lực được loại bỏ. Đây là những cốc cà phê rỗng. Đây là những chiếc ghế quay nhưng không ai ngồi lên chúng. Đây là những chiếc bàn trống và đêm nay không còn ai đến dùng bữa tối nữa.”


 


“Giờ hãy để cho tôi cất lên bài ca vinh quang của mình. Tạ ơn Trời vì sự cô độc. Hãy để cho tôi được ở một mình. Hãy để cho tôi vất bỏ bức màn hiện hữu này, đám mây thay đổi với hơi thở nhẹ nhất này, đêm và ngày, và cả đêm và cả ngày. Trong khi ngồi đây tôi đã thay đổi. Tôi đã quan sát bầu trời thay đổi. Tôi đã thấy những đám mây che phủ những ngôi sao, rồi thả những ngôi sao ra, rồi lại che những ngôi sao. Giờ tôi nhìn vào sự không còn thay đổi nữa của chúng. Giờ không ai nhìn thấy tôi và tôi không còn thay đổi nữa. Xin tạ ơn Trời vì sự cô độc vốn đã loại bỏ áp lực của con mắt, sự xúi giục của cơ thể và mọi nhu cầu đối với những lời dối trá và những cụm từ.”


 


“Cuốn sổ của tôi, nhồi nhét đầy những cụm từ, đã rơi xuống sàn. Nó nằm dưới gầm bàn, để bị quét đi bởi người phụ nữ giúp việc theo giờ khi cô ta mệt mỏi đi vào lúc bình minh tìm kiếm những mảnh giấy vụn, những vé xe điện cũ, và đây đó một tờ giấy bị vo tròn và bỏ lại trong mớ rác rưởi sẽ được quét dọn. Cụm từ cho mặt trăng là gì? Và cụm từ cho tình yêu nữa? Chúng ta gọi cái chết bằng cái tên nào? Tôi không biết. Tôi cần một thứ ngôn ngữ giản đơn như thứ ngôn ngữ mà những cặp tình nhân sử dụng, những từ có một âm tiết mà trẻ em nói khi chúng bước vào phòng và tìm thấy mẹ chúng đang may vá và nhặt lên một mẩu len sáng, một cọng lông chim hoặc một mảnh vải hoa. Tôi cần một tiếng hú; một tiếng kêu. Khi cơn bão lướt qua đầm lầy và quét qua tôi tại nơi tôi đang nằm và bị lãng quên trong cái hào, tôi không cần tới những từ. Không có gì ngăn nắp. Không có gì đi xuống với những bàn chân của nó trên sàn nhà. Không có gì trong số những tiếng vọng và những âm vang đáng yêu vốn vỡ ra và ngân lên từ dây thần kinh này đến dây thần kinh khác trong ngực của chúng ta, tạo ra thứ âm nhạc điên rồ, những cụm từ sai. Tôi đã xong việc với những cụm từ.”


 


“Sự thinh lặng tốt hơn biết bao nhiêu; với cái cốc cà phê, cái bàn. Ngồi một mình như con chim biển đơn côi đang giang rộng đôi cánh trên cây cọc gỗ thì tốt hơn biết bao nhiêu. Hãy để cho tôi ngồi đây mãi mãi với những thứ trần trụi này, cốc cà phê này, con dao này, cái nĩa này, những thứ tự thân là chúng, tôi là chính mình. Đừng đến và làm tôi lo lắng với gợi ý của ông rằng đã đến giờ quán đóng cửa và tôi hãy biến đi. Tôi sẵn sàng cho hết số tiền của mình để ông không làm phiền tôi mà sẽ cho phép tôi ngồi và im lặng, một mình.”


 


“Nhưng bây giờ, viên trưởng nhóm phục vụ, kẻ đã dùng xong bữa ăn của mình, xuất hiện và cau mày; ông ta lấy cái khăn choàng cổ trong túi ra và sẵn sàng để đi một cách phô trương. Họ phải đi; phải đóng những cánh cửa sập lại, gấp gọn những tấm khăn trải bàn và lau dọn những gầm bàn.”


 


“Mẹ kiếp ông. Tuy nhiên, đã vượt qua chướng ngại và xong việc với tất cả những thứ này, tôi phải tự lôi mình đứng lên và tìm cái áo khoác cụ thể thuộc về tôi; phải đẩy đôi cánh tay tôi vào hai tay áo; phải hòa mình lần nữa vào bầu không khí đêm và rời khỏi quán. Tôi, tôi, tôi, mệt mỏi như tôi, đã rũ rượi như tôi, và gần như kiệt sức với việc cọ xát mũi dọc theo bề mặt của mọi thứ này, ngay cả tôi, một người đàn ông lớn tuổi, khá nặng nề và không thích gắng sức, phải tự ép mình bước đi và bắt chuyến tàu cuối cùng.”


 


“Một lần nữa tôi nhìn thấy trước mặt mình con đường quen thuộc. Cái mái vòm của nền văn minh đã cháy rụi. Bầu trời tối đen như một bộ xương cá voi được đánh bóng. Nhưng có một ánh sáng le lói trên bầu trời, dù là ánh đèn hay ánh bình minh. Có một sự khuấy động nào đó – lũ chim sẻ trên những cây tiêu huyền ở đâu đó kêu chiêm chiếp. Có một cảm giác về khoảnh khắc rạng đông. Tôi sẽ không gọi nó là bình minh. Bình minh trong thành phố là gì khi một người đàn ông lớn tuổi đứng trên đường choáng váng nhìn lên bầu trời? Bình minh là một dạng màu trắng của bầu trời; một dạng làm mới lại lần nữa. Một ngày khác; một Thứ sáu khác; một ngày hai mươi tháng Ba, tháng Một hoặc tháng Chín khác. Một sự thức tỉnh chung khác. Những vì sao rút lui và tắt lịm. Những vật chướng ngại chìm sâu giữa những lượn sóng. Màn sương mù dày đặc trên những cánh đồng. Một màu đỏ tập hợp lại trên những bông hồng, thậm chí trên những bông hồng nhợt nhạt trên những tấm rèm cửa sổ phòng ngủ. Một con chim kêu chiêm chiếp. Những thôn dân thắp lên những ánh nến sớm. Vâng, đây là sự đổi mới vĩnh cửu, sự dâng lên và rơi xuống không ngừng và rơi xuống và dâng lên trở lại.”


 


“Và những lượn sóng trong tôi cũng dâng lên. Nó phình ra; nó cong lưng lên. Một lần nữa tôi nhận thức được một khao khát mới, một thứ gì đó trỗi dậy bên dưới tôi như con ngựa kiêu hãnh mà tay kỵ sĩ trước tiên thúc cái đinh thúc ngựa rồi ngã người ra phía sau. Kẻ thù nào chúng ta nhận thấy đang tiến lên chống lại chúng ta, ngươi, con ngựa mà ta đang cưỡi lúc này, khi chúng ta đứng trên vỉa hè này, có biết không? Đó là cái chết. Cái chết là kẻ thù. Đó là cái chết mà để chống lại nó tôi cưỡi trên lưng ngựa với ngọn giáo vắt ngang và mái tóc bay ngược về phía sau như mái tóc của một chàng trai trẻ, như mái tóc của Percival, khi cậu ấy phi nước đại ở Ấn Độ. Tôi thúc đinh vào con ngựa của tôi. Để chống lại ngươi, ta sẽ lao tới trước, bất khả chiến bại và bất khuất, hỡi Cái chết!”


Những lượn sóng vỡ tung trên bờ biển.


Virginia Woolf.


Rút từ Những lớp sóng (The Waves)


Nguyễn Thành Nhân


Khởi dịch: 21/9/2017; chỉnh sửa lần cuối: 22/10/2019.


Mục lục:
1.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 05.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
xem thêm »