tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30942035
Lý luận phê bình văn học
25.10.2019
Mạc Yên (Phạm Thành Hưng)
Có một cuốn sách hay đang giảm giá


gửi Vũ Dương Nguyen Ngoc Nam


Cái tên Neruda đọc thoáng qua dễ khiến người ta nhầm sang tên Pablo Neruda – người nhận giải Nobel văn học năm 1971. Thật ra, vì yêu thích cả văn lẫn tên tác giả, nhà thơ Chile đã mượn luôn tên nhà văn châu Âu của thế kỷ trước làm bút danh cho mình.


Cả cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Séc Jan Neruda (1834-1891) nằm gọn trong thế kỷ 19. Vì những biến động lịch sử hơn 100 năm của thế kỷ 20, mãi tận hôm nay, sang thế kỷ 21, độc giả Việt Nam mới biết đến nhà văn Séc nổi tiếng này. Tập truyện Những câu chuyện về khu phố nhỏ ven sông (Nguyễn Thị Bình và Dương Tất Từ cùng dịch, NXB Văn học) là tác phẩm đỉnh cao trong sự nghiệp văn học của ông. Đối với những độc giả thích ngốn ngấu những truyện ly kỳ, lắt léo, thích trải nghiệm những tình huống truyện bất ngờ, cuốn sách của J. Neruda dễ gây cảm giác thất vọng. Những câu chuyện không nhiều kịch tính trong cuốn sách của ông đòi hỏi một lối đọc chậm, một lối đọc bình tĩnh, thậm chí đọc trong trạng thái cô đơn, như đọc thơ vậy.


Truyện ông viết là những câu chuyện đời thường dung dị, xảy ra ở một khu phố cổ ven sông, nhưng chất thơ của câu chuyện vẫn toát lên bởi những suy ngẫm thâm trầm lịch sử về những kiếp sống nhân sinh. Những câu chuyện được kể ít nhiều đều có tính tự thuật, vì chúng gắn liền với kỷ niệm tuổi thơ tới lúc thiếu thời của Neruada, từ khi tác giả chào đời và gắn bó với khu phố Malastrana thân thương đó suốt một phần tư thế kỷ. Ký ức tuổi thơ sâu lắng gắn liền với cách nhìn của một nhà báo và một nhà văn hiện thực đã làm cho những câu chuyện ven sông ấy hiện lên như một không gian tự sự sống động, ám ảnh những linh hồn người sau từng con chữ. Chuyện là chuyện xứ người, đất khách, mà độc giả Việt Nam vẫn cảm thấy gần gũi như chuyện người mình, đất nước mình một thời đâu đó. Những câu chuyện đó rất dễ làm người đọc quên đi rằng: đó là những câu chuyện đã trôi qua từ giữa thế kỷ 19.


Như một hướng dẫn viên du lịch, cuốn sách dắt độc giả trở về thăm lại Malastrana 150 năm trước. Trong truyện Một tuần lễ trong ngôi nhà yên tĩnh độc giả có thể bắt gặp hàng chục nhân vật với những mảnh đời dung dị, với những nét tính cách độc đáo, từ viên sỹ quan, người chủ hiệu tạp hóa, người giúp việc đến những gã ăn mày. Sự yên tĩnh của ngôi nhà chỉ là vẻ ngoài, còn bên trong, ngay trong cả giấc mơ của nhân vật cũng vẫn không thôi náo động, xôn xao những nỗi niềm, thân phận. Những cư dân của chung cư “yên tĩnh” thuộc đủ các thành phần xã hội, nghề nghiệp khác nhau, nhưng có thể gói chung vào tầng lớp thị dân với mức sống hạ lưu, gần chạm đáy. Mỗi nhân vật đều sống với những trăn trở, hy vọng riêng. Có những nhân vật trước sau vẫn giữ vững các nguyên tắc ứng xử cứng nhắc, gần như bất biến trước mọi tác động của thời cuộc. Những thói quen cũ, quan niệm cũ của những người thuê trong ngôi nhà này làm cho cuộc sống trở nên trì trệ, bảo thủ. Chỉ khi nào họ nhìn cuộc đời bằng đôi mắt ấm áp, thực sự con người, họ mới dễ dàng thoát tục, vượt lên khỏi những định kiến cũ mà tha thứ cho nhau. Thế giới người ấy sống trong tâm trạng chán nản, bế tắc cùng những mơ ước âm thầm. Tác giả chỉ trình bày những gương mặt đời sống mà không cắt nghĩa nguyên nhân thực trạng bi kịch của chúng. Sự khám phá của độc giả - du lịch trong tay tác giả đã trở thành cuộc du lịch xã hội học.


Trong truyện Đẩy ăn mày đến chỗ chết (Přivedla žebráka na mizinu - 1875) có thể dịch sát hơn là Mụ ăn mày gieo họa) chúng ta có thể cảm thông với thân phận hai nhân vật hành khất. Lão Vojtíšek – nhân vật chính, là một gã ăn mày khỏe mạnh, hiền lành, dễ mến. Sáng sáng mỗi ngày lão vui vẻ gõ cửa từng nhà, nhận tiền bố thí, hồn nhiên như nhân viên đi thu ngân và đến ăn trưa trong những quán hàng hảo tâm. Cả phố Malastrana ai cũng mến, thậm chí viên cảnh sát cũng rất thân tình, coi lão như bạn. Mọi người đoán lão còn thừa sức ăn mày hai chục năm nữa mới mỏi chân. Đời lão đang trôi đi trong an bình thì không may lão gặp mụ ăn mày ngồi cố định trên các bậc thềm khu phố cổ. Mụ thấy lão đang còn là đàn ông khỏe mạnh bèn ngỏ ý kết bạn, mặc dù mồm mụ chỉ còn một chiếc răng. Bị Vojtíšek từ chối, mụ cay cú, tung tin là lão rất giàu có, giả vờ nghèo đói để đi ăn xin, kiếm tiền. Lời vu cáo lan truyền đã làm dân cư Malastrana bắt đầu nghi ngờ, dần dần ruỗng rẫy Vojtíšek. Không đủ sức thanh minh trước sự ghẻ lạnh của mọi người, chỉ vài tháng sau, Vojtíšek chết đói bên vệ đường.


Thủ phạm trực tiếp trong cái chết của Vojtíšek dĩ nhiên là mụ ăn mày với lời tung tin độc địa. Nhưng nguyên nhân sâu xa ở đây lại thuộc về dân tình Malastrana. Cái chết này là bi kịch của lòng tin. Dân phố Malastrana không tin Vojtíšek nữa, tức là đã đến lúc con người không còn đủ sức tin vào những điều tốt đẹp, chân thật ở đời. Người đời rất dễ tin những điều giả dối, tin cái ác nhiều hơn tin cái thiện.


Từ những câu chuyện ngoại ô Malastrana của Jan Neruda vang lên lời kêu gọi đấu tranh giải phóng con người, mà theo nhà văn tâm sự, đó là cuộc chiến đấu lâu dài, vì những giá trị không chỉ giới hạn trong phạm vi giai cấp, dân tộc mà ở bình diện giá trị con người. Người ta có thể chấp nhận, trong chừng mực nào đó, sự đói nghèo, nhưng không bao giờ chấp nhận sự trống vắng nhân phẩm.


13 truyện ngắn và truyện vừa đoản thiên (nuvela) trong tập sách này là những truyện tác giả đã công bố rải rác trên các tạp chí Květy, Národní listy, Podřipan, Lumír suốt 20 năm, từ năm 1867 ( Týden v tichém domě ) đến 1877 (Figurky). Tuy là một cuốn sách không dày nhưng trong lịch sử văn học cận đại Séc, tập truyện có ý nghĩa văn hóa đặc biệt lớn lao. Nếu như trường ca Tháng Năm (Máj) của K.H. Macha ghi nhận độ chín của ngôn ngữ thơ ca Séc, thì Những câu chuyện về khu phố nhỏ ven sông thực sự là cột mốc xác định bước phát triển mang tính kiến tạo của ngôn ngữ văn xuôi tự sự Séc. Ngay trong những thập niên này, đọc Những câu chuyện về khu phố nhỏ ven sông người dân Séc có cảm giác: sau Jan Neruda, ngôn ngữ tự sự Séc “không thể nhích lên bao xa“. Độc giả đương thời yêu thích Những câu chuyện về khu phố nhỏ ven sông không chỉ vì tư tưởng và hình thức nghệ thuật bên trong, mà còn vì những ý nghĩa ngoài văn bản. Tập truyện ngắn này là một hình thức đối thoại ngầm với những ký giả đồng nghiệp và với các nhà văn Séc viết tiếng Đức lúc bấy giờ. Qua tập truyện, Jan Neruda như muốn nói to lên rằng: Ngôn ngữ Séc hoàn toàn có khả năng trở thành ngôn ngữ nghệ thuật. Lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân Séc đã mặc nhiên thành công cụ của nghệ thuật ngôn từ.


Jan Neruda là một nhà báo sớm tạm biệt các tờ báo tiếng Đức để trở thành người viết báo bằng tiếng Séc đầu tiên. Cùng với các tập thơ Những bông hoa nghĩa địa (Hřbitovní kvítí - 1858) Những dòng thơ (Knihy veršů - 1867), Bài ca vũ trụ (Písně kosmické -1878) Những khúc balat và những bản tình ca (Balady a romance -1878–1883) Những nguyên cớ giản đơn (Prosté motivy -1883) Những bài hát thứ sáu (Zpěvy páteční - 1896), các tiểu thuyết và truyện ngắn Các tiểu phẩm (Arabesky - 1864) Người đời (Různí lidé ), Những người rách nát (Trhani ), Cuộc sống Praha (Pražské obrázky), Paris muôn mặt (Pařížské obrázky), Những câu chuyện về khu phố nhỏ ven sông đã góp phần ngăn chặn xu hướng German hóa (poněmčování) trong đời sống văn hóa xã hội Séc.


Jan Neruda nổi tiếng với tư cách một nhà thơ, rồi nhà báo trước khi là một nhà văn. Điều này được phản ảnh rất rõ trong quan niệm thể loại của ông về thể loại truyện của tập sách này. Ông là một trong số những người tổ chức và dẫn dắt nhóm văn học Những người Tháng Năm ( Májovci). Các tập niên giám Tháng Năm (Almanach Máj) mà ông cùng các nhà văn Karren Sabina, Vítezslav Hálek, Karolina Svetla xuất bản đã tạo cho nền văn học cận đại hậu kỳ Séc một diện mạo hiện đại. Tuy vậy trước sự thúc ép của đời sống chính trị Séc trong khuôn khổ của nhà nước phong kiến chuyên chế Áo – Hung (Uherské království – 1000 – 1918)cùng những yêu cầu bên trong của chủ nghĩa hiện thực, ông cùng nhiều người trong nhóm Tháng Năm đã phải giải quyết mối bất hòa giữa văn chương nghệ thuật và văn thông tấn – báo chí. Vốn là một nhà thơ nhưng khi phải quya ra viết văn xuôi về các vấn đề xã hội, ông lại sử dụng thể tiểu phẩm (fejeton) – một thể loại báo chí. Ông chính là người đã cố làm mờ cái ranh giới vốn được đặt ra rất máy móc, khắt khe giữa báo chí và văn học bấy giờ. Đọc Những câu chuyện về khu phố nhỏ ven sông, ta có thể nhận ra hai thể văn chủ yếu là truyện ngắn và truyện vừa đoản thiên (novela). Nhưng ông lại định danh thể loại chung cho cả tập truyện là thể “arabeska“, tức là thể nằm giữa tiểu phẩm và truyện ngắn.


Nhắc đến tên Jan Neruda, độc giả châu Âu có thể nghĩ đến một nhà cách tân thi pháp thể loại; nhưng chủ yếu là người ta nghĩ đến một nhà văn dân tộc Séc có công chống trả lại xu hướng Đức hóa nền văn hóa văn học Séc. Bằng các thành tựu thơ ca và truyện kể arabeska, ông đã chứng minh rằng, ngôn ngữ dân tộc nào cũng có thể trở thành ngôn ngữ của thi ca, ngôn ngữ nghệ thuật.


Vì những giới hạn lịch sử của thời kỳ chiến tranh lạnh và cuộc đấu tranh tư tưởng hệ, sự giao lưu và tiếp nhận văn học Séc ở Việt Nam lâu nay thường mang tính ngẫu hứng và nhiều khi phải đi qua bình lọc chính trị. Nhiều tác phẩm tác giả có thể xếp sau nhưng chúng ta lại ưu tiên đón trước. Chúng ta chỉ biết tới một nền văn học quốc gia, văn học của một thể chế, mà không biết tới một nền văn học dân tộc. Jana Neruda không phải là nhà văn của nước cộng hòa Séc. Lúc sinh thời, ông là nhà thơ, nhà báo và nhà văn của Vương quốc Áo – Hung. Khi ông qua đời rồi, gần ba mươi năm sau Cộng hòa liên bang Séc và Xlovaky mới được thành lập. Những câu chuyện về khu phố nhỏ ven sông và tác giả của nó đến với độc giả Việt Nam như một sứ giả muộn màng, nhưng chắc chắn sẽ có chức năng như một bản “quốc thư nghệ thuật“ cổ kính nhất mà lâu nay ta mong đợi. Bản quốc thư đó là thông điệp thẩm mỹ đích thực về một Praha thời tiền hiện đại, một bản thông điệp về tâm hồn Séc với vẻ đẹp toát lên từ những tình tự, vui buồn dân tộc Séc.


MY.


Nguồn: mạc yên facebook ngày 24-10-2019


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà văn Triệu Xuân với tác phẩm Sống & Viết - Hương Thanh 18.01.2020
Lưu Quang Vũ và một mảng đời, mảng thơ thường bị quên lãng - Vương Trí Nhàn 13.01.2020
Ký ức ám ảnh - Hải Đường 30.12.2019
Nguyễn Hải yến, một cây bút đầy sức ám ảnh - Nguyễn Khắc Phê 29.12.2019
Lệ rưng rưng cõi truyện ngắn Nguyễn Hải Yến - Nguyễn Thị Minh Thái 29.12.2019
“Kiến, chuột và ruồi” của Nguyễn Quang Lập trong dòng chảy của văn xuôi đương đại Việt Nam - Lã Nguyên 25.12.2019
“Khổ vì trí tuệ” hay là bi kịch Hamlet của W. Shakespeare - Lã Nguyên 25.12.2019
Du Tử Lê, ngôn ngữ tình yêu (tiếp & hết) - Nguyễn Đức Tùng 23.12.2019
Du Tử Lê, ngôn ngữ tình yêu (1) - Nguyễn Đức Tùng 23.12.2019
Tiểu thuyết Sóng lừng (VN. MAFIA) qua Từ điển và một số bài nghiên cứu phê bình - Nhiều tác giả 05.12.2019
xem thêm »