tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30161042
Tiểu thuyết
24.10.2019
Vlastimil Podracký
Sodoma & Gomora


Người anh họ Shemesh ngồi bên bàn, tay ôm đầu. „Chúng ta làm thế nào đây? Thực ra hạt lúa mì ở đây chưa chín. Điều đó chắc sẽ diễn ra sau hơn hai tuần nữa.“


Kesulot ngồi đối diện bên tách trà. "Nhưng ở Tlapo sẽ là sau năm ngày. Tôi cần thợ gặt và tay súng. Trước khi ở đây lúa chín, họ sẽ quay lại. Vụ thu hoạch không kéo dài quá sáu ngày.“


"Vậy thì đi ngay thôi."


"Chà, có lẽ là không, để ngày mai đi."


"Được rồi, đến lúc đó có thể thu xếp được," Shemesh thêm vào. "Tôi sẽ giao cho ông người của mình, nhưng ông phải thỏa thuận với các tay súng, Dân tường nỉ."


Ở Soár mọi thứ lại khác. Thành phố bố trí các đội tuần tra trên cánh đồng, Shemesh đặc biệt lưu tâm đến việc này. Đồng ruộng của Kesulot đang an toàn. Shemesh bảo đảm cho Kesulot cả việc thu hoạch. Một phần mùa màng ông giữ lại thay cho dịch vụ.


Người Bédy, Dân tường nỉ là một bộ lạc miền núi sống trong lều trại du mục, người Soár thuê làm vệ sĩ. Họ bảo vệ thành phố và cả ruộng đồng. Một số di chuyển bằng ngựa. Người Soár không xuất lúa mì qua biển, họ cung cấp cho các bộ lạc miền núi. Những người này sống khá gần, trên một cao nguyên trong nội địa nơi nhiều cỏ mọc. Ở đó, người ta chăn gia súc của mình, di chuyển nhà với những bức tường nỉ. Thay vào đấy người Bédy cung cấp gia súc, mà sau đó không phải nuôi dưỡng tại Soár. Người Bédy gọi cư dân thành phố là Dân vườn rào đá.


Kesulot tuyển thành công đội tuần tra bốn kỵ sĩ Béd cưỡi ngựa. Ông trả cho thủ lĩnh của họ khoản tiền tạm ứng bằng vàng. Phải mất hai ngày đoàn xe kéo mới bắt đầu cuộc hành trình. Hai tay súng cưỡi ngựa phía trước, hai phía sau. Ở giữa nhóm mười người ngồi trên các xe kéo. Những chiếc xe trống rỗng, chúng sẽ được sử dụng để vận chuyển ngũ cốc.


Khi vượt qua hẻm núi và bắt đầu xuất hiện cánh đồng, thủ lĩnh Jaro dừng đoàn xe. Anh ta nhảy ra và đi kiểm tra hạt lúa, dứt từng bông lúa, vò nát lấy hạt, nhai nát trong miệng. "Chà, nó chưa hoàn toàn chín, nhưng chắc có thể gặt được." Anh ta chỉ về phía trước mình, hướng thành phố: „Dưới kia sẽ chín hơn. Ở đó chắc chắn được.“


Họ đi xuống thấp nữa, Kesulot nhận thấy, bên bờ biển người ta đã bắt đầu thu hoạch. Ruộng của ông nằm đâu đó quãng giữa.


Đoàn xe kéo vào đến thành phố. Một số người Soár hoàn toàn không biết Tlapo, những người khác hồi nào đó đã lâu từng đến đây. Họ ngạc nhiên làm sao thành phố lại tan hoang vậy. Tất cả dừng lại ở quảng trường. Trong thành phố họ không còn đơn độc. Ở bến cảng có một nhóm người, những thợ gặt từ các thị trấn xung quanh, hẳn là từ xứ Gomorrah, nhưng cũng có người Dázár bên bờ đối diện. Trong bến cảng một số tàu neo đậu.


Thợ gặt chào nhau: "Salamo... salamo... salamo," tiếng chào vang lên trên những con đường, đột nhiên đông đúc người.


 


Kesulot cho người của mình ở trong nhà máy xay cũ và với ba tay súng, đánh xe đến nhà viên quản lý. Lần đầu tiên ông trên lưng ngựa sau tay súng, túm chặt anh ta như con ve. Với cú phi nước đại họ đến ngôi nhà vừa lúc Nasada bước ra. Tay súng nhảy ra, giúp Kesulot tụt xuống.


Nasada giật mình thốt lên. "Ông đến đây quá sớm vậy... "


"Đó là một bất ngờ, phải không?"


"Bắt lấy hắn ta và trói lại," Kesulot ra lệnh.


Hai tay súng túm chặt Nasada. "Tại sao, tại sao vậy, cho tôi giải thích... tôi đâu muốn, họ đã ép tôi."


Người vợ cùng những đứa trẻ chạy ra. "Còn cô và lũ trẻ biến đi!" Kesulot hét lên. "Biến ngay lập tức!"


Lần đầu tiên Kesulot nhìn thấy vợ Nasada không có nụ cười. Mặt cô xị xuống: "Ông Kesulot ơi, ông Kesulot ơi, chúng tôi chẳng thể làm gì được!" Cô ngã qụy xuống. „Chúng tôi biết đi đâu đây? Xin ông. Hãy thương xót chúng tôi.“


"Hãy đến với lũ người đã hứa trả công để phản bội và gặt hái lúa mì của tôi trước khi chúng tôi đến kịp."


Người đàn bà khóc lóc. "Chúng tôi đã luôn phục vụ ông một cách trung thực, trong một thời gian dài."


"Các người đã được trả tiền cho việc đó."


Nasada bị trói, nằm trên mặt đất. Mồm đầy chặt lông cừu, buộc bằng một chiếc khăn quàng cổ. Anh ta không thể di chuyển cũng không thể nói chuyện. Cô vợ nhìn anh trong nước mắt.


Kesulot một lần nữa ra lệnh: "Cô ngay lập tức đưa bọn trẻ rời khỏi mảnh đất của tôi."


Người phụ nữ lồm cồm đứng dậy, định quay trở lại nhà.


"Không được vào đó!" Kesulot nắm lấy cánh tay cô. „Hãy cút ngay lập tức! Đi theo lối này," ông chỉ vào dòng kênh tưới tiêu. "Và hãy biến mất nhanh nhất có thể!" Ông quay sang các tay súng: „Anh đi kèm cô ta theo dòng kênh đến cuối cùng.“


"Vâng, thưa ngài," tay súng đáp, rút ra cây gậy dài và bắt đầu thúc đẩy gia đình. Người phụ nữ bế một đứa con vào lòng, đứa kia dắt tay. Họ đi dọc kênh, tay súng cưỡi theo sau lưng. Trước khi biến mất trong ruộng lúa, Kesulot bắt gặp ánh mắt căm thù khi cô ta ngoái nhìn lại. Tay súng đâm cây gậy vào mông thúc đi tiếp.


Kesulot lục soát ngôi nhà mà ông biết rất rõ. Ngôi nhà của mình. Ông từng xây dựng nó, khi còn người quản lý cũ. Trong bếp tất cả đều được sắp đặt đúng chỗ, nhưng trong các phòng mọi thứ đã được đóng gói. Các đống chăn, màn và quần áo nằm đó. Ông nhìn vào các ngăn kệ trên tường và bên dưới bàn, mở rương, tìm kiếm những thứ thiết yếu. Cuối cùng ông đã tìm thấy những gì đang tìm kiếm. Nó nằm trong một cái rương nhỏ ở căn phòng. Vàng. Đúng rồi, đó là những khoản tiết kiệm. Nhưng nhiều hơn những gì ông đã từng cho Nasada. Rõ ràng Nasada còn có thu nhập nào khác.


Kesulot đậy nắp rương lại, túm lấy quai xách được trang trí, đi ra ngoài. Ở đó ông buộc chặt vào thắt lưng. Từ xa vẳng lại tiếng kêu thét. Khả năng tương đối xa, có lẽ trên cánh đồng nằm sát biển nơi đang diễn ra mùa thu hoạch. Ông hỏi bâng quơ: „Đồng đội của các anh đâu?“ Mọi người chỉ nhún vai và mỉm cười với nhau.


„Thôi được“, Kesulot chỉ vào Nasada, ra lệnh. „Hãy bốc hắn lên“. Tay lính vũ trang túm lấy hắn như túm bao bột quẳng ngang lưng ngựa. Kesulot vẫn còn thời gian, vì thế đi thêm vòng nữa quanh nhà. Mọi đồ đạc được sử dụng cho đám thợ gặt đến ở, sau đó cũng cho họ luôn. 


Ông lại đi ra ngoài, ngạc nhiên thấy sao tay lính vũ trang không quay trở lại. „Có lẽ chúng ta nên đi tìm cậu ta,“ ông thốt lên, lo lắng cho người lính kia. Hai người còn lại cứ lắc đầu quầy quậy, mỉm cười. „Không cần thiết đâu. Chắc chắn sẽ quay lại thôi, hắn có việc gì khác nữa đấy mà.“


Kesulot ngạc nhiên nhưng cũng không muốn hỏi han thêm gì. Sau một lát thì người lính kia thực sự trở lại. „Tôi đã tống tiễn họ ra tới tận kênh chính“. Mặt người này thấy đỏ ửng. Mọi sự đã rõ, hắn ta hiếp người phụ nữ, tiếng kêu trước đó chính là bằng chứng khẳng định.


Liền đó hắn đỡ Kesulot lên lưng ngựa, cả đoàn trở về Tlapo. Kesulot để lại một người lính vũ trang cho việc canh phòng và lại cử người thứ hai từ Tlapo quay trở lại. Những người này có nhiệm vụ trông giữ ngôi nhà và cánh đồng quanh đó.


Nasada vẫn nằm trên lưng ngựa, thỉnh thoảng cọ quậy.


„Hãy đi theo tôi“, Kesulot chỉ đường. Người lính vũ trang dẫn con ngựa vào sân nhà. „Hãy ném hắn ở đây trước cái cửa này“. Người lính vũ trang ném Nasada xuống như ném bao bột mì.


Kesulot tổ chức chỗ ở cho cả đoàn trong tòa nhà. Ông chia người vào từng phòng và chỉ cho đám phụ nữ chỗ bếp nấu ăn.


Sau bữa tối, ông cầm bó đuốc rồi mở cửa đi xuống nhà kho ở tầng ngầm, túm lấy áo quần của Nasada, kéo lê sền sệt trên các bậc cầu thang xuống „Mày sẽ ở đây cho đến khi nào nói hết cho tao biết mọi thứ“. Ông kéo cái khăn ra khỏi mồm hắn. Nasada khạc nhổ những sợi lông trong miệng. „Hãy nói đi!“


„Tôi chẳng có gì để nói cả. Họ rất thô bạo đối với tôi. Những người quản gia khác đều có người bảo vệ còn tôi thì không...“


„Ta hiểu, nhưng kẻ đó là ai?“


„Hắn ta tên là Zen.“


„Thế nó từ đâu đến, có đồng ruộng ở đây sao?“


„Không ạ, hắn là chỉ huy của toán vũ trang.“


„Những kẻ đó ta không thèm quan tâm. Ai là kẻ tổ chức?“


„Tôi không biết. Tôi chỉ biết có mỗi Zen mà thôi.“


„Thế mày cũng bảo thằng Zen đến để giết ta phải không?“


Nasada câm bặt, điều này chắc chắn làm hắn kinh ngạc. „Hãy trả lời mau! Tại sao mày lại nói với nó rằng hình như tao thẩm tra tụi bay“. Nasada không biết trả lời điều này thế nào.


„Hãy nói đi không tao sẽ để cho mày chết rũ xác ở đây!“


„Họ nghĩ rằng sẽ là nguy hiểm... rằng đơn giản, đơn giản là...“


„Là sao?“


„Chưa bao giờ tôi muốn họ giết ông. Trong mọi trường hợp có thể, tôi đều bảo vệ ông. Họ muốn thu hoạch mùa màng trước khi ông tới.“


„Và vì thế mà chúng muốn giết ta sao?“


„Có lẽ họ không giết ông đâu, tôi không biết, không biết họ muốn gì... Đơn giản là khi mọi việc vỡ lở, họ đã nghĩ rằng... đơn giản là...“


„Tại sao mày lại phản tao? Tại sao mày lại xỏ mũi tao về việc lúa mì chín? Tại sao mày lại nói với chúng nó, rằng vợ mày đã tiết lộ điều gì đó và rằng tao có linh cảm?“


„Cái này do họ, do họ bắt buộc tôi, họ đe dọa tôi.“


„Không, không, Nasada này, không, không đâu. Chúng hứa cho mày tiền và cũng đã đưa cho mày một ít rồi phải không? Chúng không có mặt khi ta ở chỗ các người. Các người đã khai cho chúng biết mọi thứ. Đơn giản là các người đã phục vụ bọn chúng. Mày là thằng phản bội!“


„Xin hãy hiểu cho, tôi đã không thể làm khác được.“


„Có thể được chứ. Mày có thể nói hết với tao và lẽ ra tao sẽ bảo vệ cho mày... Thế còn chuyện nhà xay bột thì sao?“


„Chúng đã thiêu hủy cái đó trước khi ông đến khoảng một tháng.“


„Ngay việc này lẽ ra mày cũng phải báo cho tao biết chứ!“


Nasada nín bặt. Kesulot thầm nghĩ: Nếu như có gửi thư mật thông báo thì chắc chắn hắn sẽ khoe ra rồi để thanh minh cho bản thân. Như vậy nó hoàn toàn không biết về vụ đó. Có lẽ tin do người trông nom cối xay hoặc ai khác đó ở Tlapo gửi đi.


„Vậy thì mày sẽ ngồi chờ chết nơi đây cho tới khi nào nói ra, ai là người đứng sau vụ này“. Ông tiến sát tới và lại định nhét cái cục lông cừu vào miệng hắn.


Nasada rên rỉ: „Ngài Kensulot, ông Kensulot ơi, đừng làm điều đó. Bọn họ rất quyền thế. Chúng đâu có phải là những kẻ trộm cắp bình thường. Bọn họ sẽ trả thù. Đứng sau chúng không phải là người đơn giản đâu. Khi ông giết tôi, họ sẽ tiêu diệt ông. Ông không thể ngăn cản được đâu“.


„Vậy ta phải làm gì?“


„Hãy thả tôi ra.“


Kesulot bật cười „Ta là thằng ngu sao? Hãy nói cho ta biết, ai là kẻ giật dây và ta sẽ thả mày ra. Số vàng của mày ta sẽ thu đổi cho sự phản bội này.“


„Tôi không biết, thực sự không biết mà.“


„Nhưng mày biết. Hẳn mày đã đàm phán với chúng nhiều lần rồi. Chắc chắn các người đã nói về điều đó.“


Kesulot nhét cục lông đầy mồm Nasada, dùng chiếc khăn quàng cổ thắt chặt và kiểm tra lại dây trói. Ông còn quay lại đó hai lần và dùng cả sợi dây đai bằng da để trói hắn. Tay lính vũ trang giúp ông làm việc này cũng như đưa ra lời khuyên. Cuối cùng ông đóng cửa lại và đẩy một cái bồn đá to, vốn nằm ở tiền sảnh, chặn cửa từ phía ngoài.


 


Buổi sáng cả đoàn kéo nhau ra cánh đồng. Kesulot quyết định để Nasada lại một mình trong tòa nhà. Cuối cùng thì hắn cũng chẳng phải là tên tù quan trọng gì cho lắm. Một kẻ phản bội vì tiền dưới sự đe dọa. Nếu có ai đó giải thoát cho hắn thì cũng chẳng làm sao.


Họ đi vòng quanh ranh giới ruộng cùng những người lính vũ trang và thợ cả đội gặt. Để cho chắc ăn ông còn lấy cây gậy cắm xuống, trao cho người thợ cả chỉ huy việc thu hoạch mùa màng và cùng một người lính vũ trang trở lại Gomorrah.


Đi bằng ngựa mới khỏe re làm sao! Hành trình kéo dài gần cả ngày nay rút xuống còn nửa. Đấy là chú ngựa còn có lúc phải nghỉ ngơi vì nó mang trên mình những hai nhân mạng.


Tới trưa họ đã có mặt ở Gomorrah. Nơi đây ngựa là con vật rất hiếm, mọi người đều phải quay lại nhìn theo. Cuối cùng Kesulot đã về tới nhà và để cho Shura ôm choàng lấy. Tất nhiên là ông chỉ nói vắn tắt những điều cơ bản.


 


 


Cuộc chiến giành ngũ cốc


 


            Kesulot xử lý xong một số việc quan trọng tại Gomorrah. Mặt khác ông đàm phán với Gileád về thời điểm cho tàu cặp cảng, gặt hái, đập lúa mì trên các cánh đồng ở Gomorrah, sao cho tất cả lúa mì từ Gomorrah và Tlapo tập trung tại cảng Tlapo. Ông cũng làm một chuyến đi ngắn tới Azaj gặp Emor nhằm bảo đảm cho việc ông này chắc chắn sẽ mua số lúa mì và nhận số tiền tạm ứng trước như lệ thường.


Buổi tối ông trở về nhà. Shura ngồi ngoài tiền sảnh cùng với lính có vũ trang người Béd dưới ánh đuốc. Cô mặc trên mình chiếc áo ngắn hở bụng và chiếc váy ngắn. Chú ngựa đang gặm cỏ trong sân vườn. Trong hai ngày vừa qua, gần như đã căng bụng. „Nó đã xơi sạch số rơm khô và vì thế em phải để cho nó tự gặm cỏ,“ cô nói khi Kesulot tiến tới ngồi cạnh họ.


„Nhưng ngày mai chúng ta lại phải lên đường.“


„Vậy là chúng ta lại không được thấy nhau...“ Shura buồn bã nói.


Tay Béd nhìn sang anh chồng cười mỉm. Cách suy nghĩ của Dân vườn rào đá với anh ta bao giờ cũng là bí ẩn. Thế nhưng ở hai người này sự xao xuyến lại là hiểu được.


„Hãy tưởng tượng rằng Nald,“ cô chỉ sang người lính vũ trang xứ Béd đang ngồi đối diện bên cạnh bàn,  „Anh ta sống trong căn lều nỉ và có chín đứa con... Thậm chí còn nói, sẽ làm cho em một đứa con nếu ông chồng không có khả năng làm điều ấy. Thế nhưng anh phải đồng ý việc này, Nald là người có nguyên tắc, không làm bất cứ điều gì sau lưng...“ Có cảm giác cô hơi thất vọng.


„Nhưng đó là đề nghị tốt đấy chứ. Em có thể thử đi và biết đâu đấy lại thành công thì sao?“


„Anh nghĩ thế thật à?“ cô nói như đùa.


Mắt Nald sáng hẳn lên. Hắn ta đã nghĩ tới việc anh chồng sẽ đồng ý. Nhưng làm sao hiểu nổi cuộc nói chuyện đầy vòng vo và những câu nói nước đôi từ nền văn hóa của dân xứ Gomorrah.


„Giờ thì nghiêm chỉnh đây, bao giờ anh trở lại?“


„Như thường lệ thôi. Anh phải trông nom vụ thu hoạch và chuyên chở ngũ cốc đến Azaj cho ông Emor. Em biết rồi đấy. Sẽ không có chuyện xay bột, vì thế thời gian ngắn hơn nhiều. Anh tính sau độ hai tuần.“


Shura thấy yên lòng. Họ còn ngồi nán thêm ít phút bên bó đuốc, Nald kể về cuộc sống miền núi, trên vùng đồng cỏ và việc hắn ta có hai cô vợ ra sao. Thỉnh thoảng họ đi canh phòng cho các thành phố miền đồng bằng hoặc hộ tống theo các đoàn buôn bán. Rất khó hiểu nổi việc liên tục phải chuyển ngôi nhà sinh sống của mình. Nhưng đó là những ngôi nhà nhẹ, vì vách được làm bằng nỉ. Tuy vậy dân thành phố vẫn không thể nào tưởng tượng nổi.


„Chúng tôi đưa vợ mình ra dâng cho khách,“ Nald dãi bày, mắt hắn ta lấp lánh trong ánh sáng rọi ra từ bó đuốc.


„Tôi biết, anh Nald à,“ Kesulot nói với giọng cảm thông,  „tôi biết, một số dân tộc có phong tục này thế nhưng ở chỗ chúng tôi không như vậy“.


„Khi ông chủ nhà không muốn thì đành phải chấp nhận thôi“, Nald nói một cách buông xuôi. „Ở chỗ chúng tôi, không được làm điều này nếu trái ý của người chồng ngay cả khi người vợ muốn“. Anh ta nhìn sang Shura trong khi cô đang cụp mắt xuống.


Cô làm như thể không chống lại điều đó, nhưng Kesulot không muốn thế. Họ chia tay nhau rồi đi ngủ.


Kesulot biết, những người Béd tôn trọng các qui tắc của mình. Những điều này không thay đổi từ thế hệ này qua thế hệ khác và họ trừng trị rất nghiêm mọi vi phạm. Họ có quyền hãm hiếp vợ của kẻ thù. Sự không chung thủy sẽ bị trừng phạt rất khắc nghiệt. Về cơ bản nó chỉ xảy ra khi có sự đồng ý của người chồng và ở trường hợp đó không bị coi là ngoại tình. Khi người chồng đồng ý, cô vợ có thể sống cả với người đàn ông khác, thế nhưng không cho phép ly hôn. Khi người chồng cho phép, các cô vợ thường được chào mời cho khách một đêm. Tuy nhiên qua tấm vách tường nhà làm bằng nỉ, cái để họ dễ dàng di chuyển từ đồng cỏ này sang đồng cỏ khác, mọi tiếng động đều nghe rõ mồn một. Kesulot cười thầm ý nghĩ của mình.


Mệt mỏi nhưng mãi chẳng thể ngủ được, ông lại trở dậy, đi ra chỗ lối hành lang. Trăng chỉ còn non nửa nhưng vẫn tỏa sáng rực rỡ. Trong tòa nhà mới này các phòng ngủ được tách biệt ra. Ông ngó về phía cửa phòng ngủ của Shura – cánh cửa vẫn mở.


Kesulot nhận ra bóng hình cô đang ngồi trên giường. „Kesulot ơi,“ cô nói thầm thì.


Ông bước vào vương quốc của nàng. Ở đây bầu không khí khó miêu tả nổi của căn phòng phụ nữ ngự trị. Hương thơm các loại dầu, nước hoa và sau đó là cả những thứ gì khác nữa, không thể định nghĩa được, nói tóm là là môi trường đặc trưng của đàn bà. Shura buông xõa tóc, mang áo ngủ.


Kesulot quì xuống trước cô, ôm lấy chân nàng. Ông hôn đầu gối trong khi cô xoa lên tóc ông.


„Anh xin lỗi“, Kesulot thốt lên, „Có lẽ anh nên để em làm tình với cái cậu Nald kia mới đúng. Dù sao em cũng là đàn bà...“


„Không, xin lỗi anh, anh đã làm đúng. Em không phải con rối để bất cứ ai cũng có thể định đoạt. Chúng ta sẽ không tuân theo những phong tục man rợ. Em tự quyết định lấy...“


„Thế nhưng thế này...“


„Không, xin lỗi anh, Em đã quá ngốc nghếch. Em đã bị chi phối bởi bùa phép trong giây lát. Em đã xử sự quá đáng...“


„Với anh điều đó là không thích hợp. Ngay đàn bà cũng có những ham muốn của mình. Đáng lẽ anh nên có sự thông cảm hơn nữa.“


Shura xoa nhè nhẹ quanh bờ vai lên cổ ông. „Kesulot à, anh biết không... Em rất kính trọng anh. Anh là người rất có khả năng, khỏe mạnh và là người đàn ông mạnh mẽ, anh làm được rất nhiều việc. Tất nhiên cũng có những việc nhất định mà anh làm không được, thế nhưng điều đó làm sao tránh nổi. Cái đó chỉ là tiểu tiết, không làm ảnh hưởng gì tới mối quan hệ của chúng ta“. Cô đưa chân đặt lên vai ông.


„Anh Kesulot ơi, hãy trở về với em bình an, mạnh khỏe nhé!“ Shura vui vẻ nói lời nói chia tay vào buổi sáng hôm sau. Những lo âu của cô từ trước đó đã biến mất. Cô ôm lấy ông, lần này không khóc và cũng không có những linh cảm xấu.


Nald đỡ Kesulot lên ngựa trước sau đó mới tự nhảy lên lưng ngựa. Họ ra đi. Shura còn đứng dõi theo một lát rồi mới trở vào nhà. Kesulot sẽ trở về sau hai tuần, sẽ còn kịp đến buổi liên hoan tối với bè bạn.


 


Sau năm giờ đồng hồ họ lại có mặt ở Tlapo. Nald định ra cánh đồng nhưng Kesulot hướng cậu ta tới chỗ cối xay bột của mình. Ông chợt nhớ ra việc, mình phải tới kiểm tra xem tình hình của Nasada ra sao. Ông dự đoán những tên đồng bọn đã giải thoát cho hắn vì chúng đã theo dõi họ ngay từ đầu. Vợ Nasada chắc chắn phải nói hết ra rồi.


Khi tới cối xay bột, Kesulot rất ngạc nhiên thấy cái bồn đá vẫn nằm chắn trước cửa. Họ đẩy ra còn Kesulot chạy nhanh xuống hầm kho. Nasada vẫn co quắp. Hắn đã cố gắng bò được tới đó để có thể dựa vào tường. Hắn chỉ không làm thế nào cởi được dây trói mà thôi. Mùi nước đái xông lên nồng nặc. Kesulot lắc lắc người hắn. Nasada rên ư ử.


Kesulot chạy nhanh ra ngoài, vớ lấy cái túi da dê đựng nước, chạy xuống kho, đưa vào miệng Nasada. Hắn uống một ngụm. Sau một lát mới uống nổi. Mãi sau khi thấy hắn đã uống đủ và bắt đầu tỉnh dần, ông mới cho hắn ăn mấy mẩu bánh mì. Sau khi được ăn, đầu hắn trở lại ngay ngắn


„Thế nào hả Nasada? Mày đã nghĩ lại chưa?“


„Đấy là Ad-miral“, Nasada nói yếu ớt. „Còn bây giờ ông giết tôi đi thì hơn, đừng để tôi chết dần mòn ở chỗ này.“


„Mày phải giải thích rõ hơn một chút. Ai là Ad-miral?“


„Đó là thủ lĩnh, người cầm đầu mọi việc.“


„Đấy là tên lóng à?“


„Tôi không biết nhưng đằng nào tôi cũng sẽ nói với ông...“


„Vậy người đó là ai?“ Kesulot gằn giọng.


„Hãy để tôi giải bày, tôi sẽ nói ra tất cả và sau đó ông hãy giết tôi đi... Điều mà họ định sẽ làm đối với ông không đơn thuần là vụ trộm đâu. Nó như một lời thách thức. Thách thức tất cả các chủ đồng ruộng độc lập. Với họ không phải là chuyện mấy bao lúa mạch mà vì cái lớn hơn. Cũng vì thế họ đưa vàng cho tôi. Sau đó tôi phải chơi trò người bị trộm, tôi sẽ phải kêu la lên những gì sẽ xảy ra khi mọi người không chịu nghe lời chúng.“


„Họ là người xứ Gomorrah sao?“


„Còn ai vào đây? Ở Tlapo này làm gì còn ai nữa...“


„Thế ai là cái tên Ad-miral kia? Hắn có gì liên quan tới biển ở đây hả trời?


„Tôi không rõ, đó là nhân vật ở hậu trường. Tóm lại là thủ lĩnh của họ.“


Kesutot ngồi im lặng. Ông cân đối lại mọi thứ trong đầu.


Nasada tiếp tục: „Kesulot ơi, thưa ông, nếu cuộc sống đối với ông là tốt đẹp, hãy đừng làm gì chống lại họ. Hãy rút khỏi Tlapo và tốt nhất là đi đâu đó thật xa. Những gì ông vừa làm với họ, họ sẽ không để vậy đâu. Họ có thế lực và sẽ hủy diệt ông. Ông hãy để mọi việc như vậy, chút ngũ cốc chẳng đáng là bao... Đó là tất cả, bây giờ hãy giết tôi đi.“


Kesulot suy nghĩ. Cứ như vậy, để có thể biết được gì hơn, ông hỏi: „Chúng liên lạc với anh bằng cách nào, lên tiếng ra sao, khi nào?“


„Đã từ năm ngoài. Khi hết vụ thu hoạch mùa màng, ông ra về và để số phận lại cho gia đình, chúng bắt cóc con gái tôi, sau đó bắt đầu đàm phán. Chúng trả lại con gái với điều kiện, tôi sẽ hợp tác. Tôi chẳng có cách nào tự vệ. Tôi phải làm gì lúc bấy giờ?“


„Và anh đã hợp tác như thế nào?“


„Báo cáo mọi động thái sau đó chuẩn bị thu hoạch.“


„Sao anh không bỏ trốn? Vì những lý do giống vậy đã có rất nhiều người bỏ trốn khỏi Tlapo.“


„Tôi biết đi đâu đây? Khi có ít vàng quá. Ở đâu họ chắc cũng tìm ra thôi.“


Kesulot cởi trói cho Nasada. “Đây là bình nước và bánh mì. Khi hoàn hồn được một chút, cậu có thể đi đến nơi nào muốn vì lợi ích của mình, nhưng nên làm sớm đi."


"Cảm ơn ông," Nasada nói.


"Dù sao chúng cũng sẽ giết cậu, vì vậy chỉ còn là vấn đề thời gian thôi." Kesulot nhặt dây thừng, thắt lưng da rồi rời đi. Nald đứng trong sân cùng ngựa: "Đã xử lý xong chưa?" Hắn nói, thay vì một câu hỏi.


Kesulot gật đầu. Nhưng tất nhiên mỗi người đều nghĩ gì đó khác nhau…


 


            Kesulot lại để đưa lên ngựa và phóng ra cánh đồng. Ở đó vụ thu hoạch đã đến gần cuối. Buổi tối ông đi dạo cánh đồng, vòng quanh đường ranh địa giới. Chỉ còn lại phần tồi tệ nhất, khoảng một phần năm tổng diện tích. Sẽ thu hoạch vào ngày mai. Khi trời sập tối, ông ngồi xuống mép kênh, lên kế hoạch sẽ làm gì với đám ruộng. Có lẽ không làm gì, nếu như sẽ phải trải qua giống trong năm nay, ông sẽ không tưới tiêu cho cánh đồng vào năm tới, sẽ không gieo hạt gì nữa. Để rồi xem sao.


Khi đang ngồi như vậy, ông nghe thấy ai đó đang đến gần theo dọc kênh. Nước không chảy qua đó nữa, nhưng một vài nơi vẫn còn những vũng lầy. Ông nghe thấy tiếng khua chân trong bùn và tiếng nước bắn lên khi đi qua vũng bùn. Phải chăng hàng xóm đi xem đất? Phía sau kênh đã có gì thu hoạch đâu.


Ông không biết lúc này mình hàng xóm với ai, Họ luôn thay đổi. Lúc đầu là những người từ Tlapo. Họ có nhà ở ngay ngoại ô thị trấn. Kesulot ngồi với họ vài lần trong nhà hành chính, cùng nhau ăn mừng kết thúc thành công mùa màng. Lúc bấy giờ Tlapo trông còn khác, có tới một nửa dân số ở lại đó. Người ta tổ chức ăn mừng lễ hội thu hoạch. Các cặp vợ chồng trẻ mặc váy trang trí, đeo vành hoa ngũ cốc trên đầu đi qua thành phố, họ nhảy múa và chung vui.


Dần dần mọi thứ mất đi. Ai đó từ xứ Gomorrah đã mua phần đất bên cạnh. Ông từng đàm phán với họ vài lần. Như việc dùng chung xe chở lúa mì, Kesulot đảm bảo việc vận chuyển cho họ tới tàu Gileád. Rồi được biết việc họ đã bán đất, chẳng biết cho ai nữa. Ở Gomorrah ông lại đến đàm phán với họ các hoạt động chung, nhưng họ thậm chí không mời ông vào nhà. Ngay tại cửa, họ thông báo rằng đã bán cánh đồng. Họ không muốn nói chuyện với ông ta. Đối với Kesulot, họ chỉ là đối tác kinh doanh, không có mối quan hệ gì thân thiết hơn. Tuy nhiên, điều đó không hề phù hợp, bình thường phải mời ông vào uống trà, nói chi tiết, ví dụ, ai đã mua nó, nơi họ sống, cảm ơn vì sự hợp tác của họ cho đến nay... Nhưng bây giờ đã là kỷ nguyên mới và con người đã thay đổi. Kesulot không thể hiểu nổi, hay có lẽ vì ông đã già...


Lúc này ông ngồi, chờ xem ai nổi lên từ ruộng lúa. Nhưng rồi ông lo sợ. Sao ông lại thực sự ngu ngốc như vậy và trong sự trầm tư với quá khứ không nhận thức ra, thời đại đã thay đổi một cách cơ bản... Ở xứ Gomorrah còn tồn tại chút an toàn với quán tính nào đó, nhưng Tlapo nằm trong tay kẻ cướp, một Ad-Miral nào đó.


Giấu mình trong ruộng lúa, ông chỉ nhìn thấy bốn cái đầu di chuyển trên lòng kênh, chìm xuống, trồi lên theo độ cao của đáy mương mà họ đi qua. Ông rạp mình xuống đất. Trong khe lối đi nhỏ từ lúa mì tạo ra, ông chỉ thấy một phần nhỏ của con kênh. Xuất hiện một nhân vật, trang bị vũ khí. Tay này có một ngọn giáo kết thúc bằng một mũi sắt nhọn và con dao dài ở thắt lưng. Hắn ta đi thận trọng và nhìn xuống chân mình. Tuy nhiên, địa hình không cho phép quan sát xung quanh! Con đường xuyên qua kênh đào đầy phức tạp. Bước đằng sau hắn ta là một người đàn ông nhỏ bé mập mạp, trông giống như một quái nhân, cái mũi lớn nổi lên từ khuôn mặt ngập da thịt. Người này không mang theo thứ gì, thay vào đấy là những chiếc nhẫn vàng lớn trên tay. Kesulot không thể nhìn thấy chân. Hình như là một kẻ giàu có, trang chủ đất mới. Đằng sau lại một tay súng nữa. Ngay sau đó, họ hầu như biến mất sau tầm nhìn, một người lên tiếng, có lẽ là tay đàn ông giàu có: "Tên khốn Kesulot, hắn sẽ phải nốc nó."


Kesulot có nhiều tình huống phải nghe những gì không muốn. Sao ông không biết mình đang gặp nguy hiểm, điều này có cần phải ai đó từ phía bên kia nhắc nhở đâu?


Nhưng rồi ông sững người, nhận ra mình đã nhìn thấy bốn cái đầu. Tạm thời ba nhân vật đã đi qua. Ông cẩn thận nhìn lên, quan sát xung quanh xem có ai di chuyển trong ruộng mì không. Nhưng chỉ có những cơn gió nhẹ gợn lên. Người đàn ông đó đang ngồi bên mép bờ kênh chờ đợi. Tại sao? Có lẽ hắn phải canh gác ở đây.


Kesulot đứng lên, nhìn xung quanh. Quả thực nhìn thấy đầu một người đàn ông từ phía sau. Ông định hướng, quay lại con đường ngắn nhất dẫn đến ngôi nhà rồi chạy qua ruộng lúa mì. Nó không xa lắm.


Ông ngay lập tức điều hai tay súng, hiện chưa có việc làm đang chơi xúc xắc, đi qua kênh cùng với họ vòng quanh cả khu đất. Không ai còn ở đó.


 


Sáng ra, họ thu hoạch nốt phần lúa mì còn lại, đập lúa kết thúc vào ngày hôm sau. Các hạt mì đã nằm trong túi. Trước đây, nó có nghĩa là nghỉ ngơi, nhưng lúc này chỉ là khởi đầu của mọi lo lắng. Chất những chiếc túi lên xe kéo và mang đến cảng, họ đã phải đi lại khoảng năm lần trước khi chuyên chở hết mọi thứ.


Kesulot đi trên chiếc xe cuối cùng. Ngoái nhìn chia tay ngôi nhà viên quản gia, ông biết sẽ không gặp lại anh ta nữa. Có lẽ đối thủ sẽ thiêu chết cậu ta. Tâm trạng hoài cổ đè nặng lên ông. Ông thích nơi này làm sao! Đó là niềm tự hào của ông. Ông đã cho thừa kế tất cả các tài sản khác, nhưng chỗ này ông mất công xây dựng nó bằng nỗ lực của riêng mình. Ông thích đi qua cánh đồng của mình làm sao, để được nghe tiếng chim hót vào buổi chiều tối. Thích thú làm sao ngồi dưới vòm hành lang và xem ngắm lúa vàng gợn sóng. Uống rượu vang thích thú như thế nào. Còn sướng hơn nữa là sau vụ mùa. Mọi thứ đều trần trụi nhưng thật hài lòng. Vụ mùa an toàn, không mưa, bão cát hay gió to đe dọa. Đột nhiên, mọi thứ gần gũi, hạt lúa mì không cản trở hoạt động, mọi người đến thăm nhau, truyền đạt các cảm nhận, kế hoạch và tự tổ chức đón tiếp nhau.


Họ đến cảng, nơi đây đông đúc người. Ngũ cốc đã được xếp lên các con tàu. Kesulot có cầu tàu riêng, ở đấy các tay súng của ông đang phòng thủ. Kesulot nhận thấy còn hai tay súng bảo vệ các túi hạt khác vẫn đang trên lưng ngựa. Ông thăm dò họ từ xa, tự hỏi liệu chúng có phải là những người theo đuổi ông trên đường đến Soár. Nhưng lần đó không chú ý đến họ lắm. Tuy nhiên một con ngựa dường như có dải lông trắng quanh chân dưới phía sau. Ông đã thấy nó ở đâu đó trước đây. Có lẽ ở trên cao, sau hẻm núi. Có lẽ là họ. Bây giờ họ tỏ vẻ không quan tâm. Ở đây rất nhiều người khác nữa, thậm chí là cả cư dân Tlapo, họ có ruộng và bây giờ đang cố gắng vận chuyển ngũ cốc để bán.


Kesulot đợi Gileád. Chúa ơi, không nhẽ có gì bất ổn với anh ta sao? Nhưng không thể làm gì khác được. Trong trường hợp tệ nhất ông có thể yêu cầu người vận chuyển khác. Ở đây có một vài người, nhưng đang bận rộn và sẽ phải chờ cho đến khi chở xong hạt cho người khác. Các con tàu ra khơi và quay vòng hai lần một ngày. Các bao tải biến mất khỏi bến tàu, những bao khác lại được xe mang tới.


Kesulot cho thợ gặt về nhà, không còn giữ được họ nữa. Thật đáng tiếc, vì họ đáng ra phải bốc các bao tải lúa mì lên tàu. Nhưng tàu không đến và vụ thu hoạch ở Soár đang bắt đầu. Nhà Shemesh cần họ cho vụ thu hoạch của mình. Chỉ còn lại các tay súng.


Khi đã chờ hết một ngày, Kesulot quyết định đàm phán với một trong những người vận chuyển. Ông đi tìm anh ta. Đột nhiên nhận thấy một con tàu trống đang đến, ông nhìn chăm chú, tim đập thình thịch. Đó là tàu của Gileád. Ông lập tức vẫy lá cờ như đã thỏa thuận. Bằng cách đó dẫn tàu đến phần của mình trên bến tàu.


Gileád thực sự đứng ở mũi lái. "Gì thế, anh ở đâu vậy?" Kesulot hỏi trước khi tàu cập hẳn. Gileád nhảy lên bờ, kéo chiếc thuyền bằng một sợi dây. "Tôi sẽ nói với ông ngay lập tức, tôi đã rất may mắn..."


Họ cùng kéo con tàu lại buộc neo phía trên cầu tàu. Các tay chèo hạ mái chèo, lên bờ. Họ ngồi trên các bao tải, chia bánh mì. "Chết tiệt, ở đây các anh không có nước à?"


"Nó kia kìa," Kesulot nói, chỉ vào cái thùng lớn ngày hôm qua đã mang từ đài phun nước tới. Các tay chèo chỉ có một cái bát, họ phải thay phiên nhau dùng. Rõ ràng họ đang mong đợi một bữa chiêu đãi nào đó, như đã quen. Nhưng ở đây tại Tlapo không có gì giống như những nơi khác.


Trong khi các tay chèo nghỉ ngơi, Gileád giải thích cho Kesulot sự chậm trễ của mình. „Tôi muốn đi sáng hôm qua, nhưng khi ra đến cảng thì tàu bị hư hại."


"Nhưng, có chuyện gì đã xảy ra?"


"Có một cái lỗ trên đó và thuyền đầy nước. Tôi đã phải sửa chữa. Cái lỗ mới khoan.“ Gileád neo trên bến của mình tại Gomorrah, nên không ra vào tự do được. May mắn thay, không có gì chìm trong biển này được. Kể cả người cũng không, thực tế không ai có thể chết đuối, chỉ buộc tắm thoải mái.“


"Có ai đột nhập vào đó không?"


"Không, hình như ai đó đã chèo thuyền con đến."


Kesulot biết, một bến tàu như vậy có thể dễ dàng đi lại. Con tàu được bao quanh ở đó từ đất liền, nhưng không phải từ biển.


Ông thở dài. "Thật khủng khiếp. Tôi đã giải thích vấn đề của tôi cho anh. Không tiếp tục như vậy được.“


Khi đã khỏe lại, các tay chèo bắt đầu xếp bao tải hàng. Còn lại khoảng một phần ba. Sẽ phải đi lại ba lần, trong hai ngày. Các tay chèo làm công việc gấp đôi. Họ phải chèo và vận chuyển hàng và vì vậy buộc phải nghỉ ngơi nhiều hơn.


Tàu Gileád, cũng giống như những con tàu khác, được xếp thành tháp nhọn bao tải. Các con tàu trông giống như những kim tự tháp nổi, thuôn dài. Chúng được xếp tải theo kích thước tối đa để các túi không rơi xuống nước. Một số tàu có thành mạn xếp được đầy hơn. Độ chìm của con tàu nhỏ. Khi một chiếc bao tải rơi xuống biển, cũng không có gì xảy ra. Nó sẽ không chìm, chỉ cần vớt lên.


Gió Tây nhẹ nhàng thổi qua, biển lặng yên. Khi có gió, vấn đề sẽ lớn hơn, những con tàu bồng bềnh, không thể xếp quá tải. Phụ thuộc vào hướng gió. Gió Tây rất thuận lợi, đẩy các con tàu nhanh hơn sang bờ bên kia, các tay chèo ít vất vả hơn.


Kesulot ngồi trên bao tải, Gileád phía trước mũi tàu. Anh phải ra lệnh cho các tay chèo. Con tàu không có bánh lái nên hướng tàu được duy trì bằng sự ăn khớp của các tay chèo. Họ ra khơi.


Trên biển nhiều tàu thuyền đi lại. Một số đầy ắp, một số khác trống rỗng. Tàu đầy trườn chìm sâu hơn, tàu rỗng nhảy lên những gợn sóng nhẹ nhàng, bay về phía trước như mũi tên.


Gió quay về hướng Tây Bắc trên biển và bứt nhẹ con tàu về phía Nam. Gileád là một thủy thủ giàu kinh nghiệm. Mũi tàu hướng về một điểm phía bắc Azaj, anh yên tâm đang đi theo con đường ngắn nhất và sẽ không phải điều chỉnh hành trình gần bờ biển. Gió càng mạnh và càng hướng Bắc hơn, mũi thuyền càng phải được quay về phía Bắc. Tàu di chuyển chậm nhưng chắc chắn gần tới Azaj. Kesulot thỏa thuận một kho chứa, nhưng cảm thấy không chắc chắn. Có thể cái gì đó thay đổi. Không có gì là chắc chắn trong sự hối hả này, khi các thành phố không còn bất kỳ lựa chọn pháp lý nào, khi mỗi người đều làm những gì họ muốn. Tuy vậy trật tự vẫn còn ở Azaj. Chắc chắn tốt hơn ở xứ Gomorrah, không buồn đề cập đến Tlapo.


Chợp mắt một lúc trên những chiếc bao tải và khi tỉnh dậy, họ từ từ tiến vào Azaj, hướng đến điểm quen thuộc ở bến tàu. Có lẽ hầu hết các thành phố đang bận rộn với việc bốc vác lúa mì. Các nhà kho ven bờ mở rộng cổng, dòng người qua lại tấp nập. Kesulot dịch chuyển giữa các bao tải tiến về phía đầu mũi thuyền ngay khi tàu vào bến, ông chạy tới người quản trị đang đứng trong bộ áo dài và mũ khăn xếp trên đầu trên bến. Ông hét lên gọi anh ta: "Kesulot đây, Kesulot đây!"


Các quản trị viên nhìn vào cuộn giấy kiểm tra lát sau, nói: "Vâng, hãy đi theo tôi."


Kesulot vẫy Gileád: "Đừng chậm trễ, hãy chuyển đi. Các anh sẽ nghỉ ngơi sau nhé.“


Đám đàn ông miễn cưỡng vác những chiếc bao tải trên lưng đi theo ông. Họ xếp chúng ở nơi được chỉ định. Chẳng mấy chốc, tất cả đã được chuyển hết.


Sau đó, họ tắm rửa dưới đài phun nước và ngồi xuống thuyền ăn uống, rồi nghỉ ngơi. "Các anh sẽ nghỉ ngơi trên biển," Gileád nói. "Chúng ta không thể làm vướng víu ở đây." Các tàu khác đã lại vào cảng. Thời gian đậu ở bến tàu phải trả phí.


Những người đàn ông miễn cưỡng ngồi xuống mái chèo. Họ chèo lái, đưa con tàu đến bờ đối diện. Sau bến cảng họ dừng lại và đặt mái chèo lên boong, nghỉ ngơi.


Tuy nhiên, sau khoảng một giờ, họ thấy gió đang đẩy thuyền trở lại bờ. Không muốn phải chèo một cách không cần thiết, vì vậy họ đã chèo sang phía bên kia.


Thuyền cập bến vào buổi tối. Tất cả tắm rửa, nằm trên các bao tải ngủ. Các tay súng thay phiên nhau canh gác.


Sáng ra con tàu đầy hàng khác lại ra khơi. Kesulot và hai tay súng đi kiểm tra cánh đồng tại Gomorrah. Họ sớm vượt qua khoảng cách trên những con ngựa, Kesulot nhìn thấy từ trên cao cánh đồng của mình gần như đã thu hoạch xong, chẳng còn là bao và chỉ có một mái che để tuốt lúa.


Người quản đốc dừng lại một chút, khi nhìn thấy con ngựa, nhưng không biểu hiện gì. "Sẽ hoàn thành vào ngày mai", ông ta nói. "Tôi thấy các anh đã vất vả rồi," ông chỉ vào những chiếc tải. Vậy, chúng tôi có thể đi. Hai chiếc xe lớn chờ ở chỗ mái che. Những chú lừa đang ăn cỏ khô. "Thế thì, xếp hàng, đưa ách lên và chúng ta có thể khởi hành."


Quản đốc gọi người đàn ông đập lúa và ra lệnh xếp hàng. Một số bao tải vẫn còn nằm lại.


Họ rời đi. Hai người đàn ông điều khiển xe kéo từ từ vượt lên đỉnh đèo hướng tới Tlapo. Chập tối họ tới phía sau đỉnh, dừng lại ở đó nghỉ đêm. Các tay súng hướng dẫn dồn những chiếc xe lại với nhau như thế nào để tự vệ khi bị tấn công và ngồi trên quan sát. Họ thay phiên nhau canh gác.


Đám đàn ông xứ Gomorrah nhìn ngó thao tác với sự ngạc nhiên, "Đây có thể là cuộc chiến sao?"


"Gần như là có," Kesulot thêm vào, nằm trên bao tải cạnh họ. Mười ngày qua ông đã được ngửi mùi hạt mì, vị hương tuyệt vời của vùng quê mùa Hè. Nhưng bây giờ thậm chí không được tận hưởng. Ông luôn tỉnh táo, không có tâm trạng để mơ màng. Mặt trăng khuyết hơn chút nữa. Ông nhận ra vụ thu hoạch năm ngoái lớn hơn. Đây là vụ thu hoạch chín sớm hơn, hoặc có sự không chính xác nào đó trong việc tính thời gian thường phải được bù đắp bằng cách trừ đi một số ngày từ một số tháng? Ông dần chìm vào giấc ngủ khi nghĩ về chu kỳ của mặt trăng và tính đếm thời gian mà ông vẫn chưa hiểu rõ. Tại sao mặt trời và mặt trăng không có chu kỳ lồng vào nhau? Tại sao chí điếm mỗi lần lại khác, tại sao liên tục di chuyển? Chết tiệt, sao mặt trời và mặt trăng không thể thỏa thuận với nhau nhỉ? Cây trồng chín theo mặt trời, nhưng thời gian được tính theo tháng.


Nửa đêm Nald nắm lấy tay ông. Lạ thay Kesulot không bật lên rơi ra khỏi đống bao tải. "Pssss, im" Nald nhắc nhở. Kesulot ngồi dậy, lắng nghe. Có tiếng sột soạt từ bụi cây. Đó có thể là bất cứ gì. Trời ạ, tại sao trời tối vậy, ít nhất phải như năm ngoái. Việc thu hoạch đáng ra vào lúc trăng tròn để nhìn rõ hơn. Nhưng tiếng sột soạt cũng đến từ phía bên kia. Điều đó nghiêm trọng hơn. Nald đánh thức tay súng kia. Họ nhảy ra khỏi xe, tháo cương ngựa chùm lên chúng quân trang đầy đủ. Họ trườn quanh khu vực vài lần. Những chú lừa đứng dậy, nhìn ngó vào đêm tối.


Tiếng sột soạt không còn nghe thấy. Các tay súng giữ dây cương, để thoải mái hơn ngồi chễm chệ trên đống bao tải, chờ đợi. Mãi sau khoảng một giờ tiếng sột soạt lại vang lên, xa dần. Ai đó trườn thật nhanh ra khỏi khu vực. Chỉ sau đó mới có thể dành lại được vị trí ban đầu. Ngựa và lừa được giấu giữa xe kéo để không ai có thể sát thương chúng bằng lao, kiếm.


Rạng sáng, họ tiếp tục cuộc hành trình, đến bến cảng khi Gileád đã trở lại. Họ chuyển các bao tải trực tiếp từ xe kéo lên để không phải dịch chuyển hai lần.


Cũng buổi sáng, Kesulot lại cùng các tay súng và hai chiếc xe kéo đến xứ Gomorrah để trở lại vào ngày hôm sau với những hạt lúa mì cuối cùng. Còn hai chuyến tàu đến phía bên kia nữa và đó là tất cả.


Kesulot chia tay các tay súng Béd trở về Soár và với dân làng xứ Gomorrah hướng về nhà. Ông lên thuyền cùng Gileád và các tay chèo với chuyến hàng cuối cùng. Con thuyền không còn đầy nữa.


Chỉ lúc này Kesulot mới được tận hưởng chuyến đi. Ông ngồi trên kim tự tháp bao tải cao so với mặt biển. Đúng, bây giờ ông đã cảm thấy mình như một Ad-miral - người cai trị biển, hoặc một cái gì đó tương tự. Nhưng Ad-miral là ai?


(còn tiếp)


Nguồn: Sodoma & Gomora. Tiểu thuyết giả tưởng của nhà văn CH Séc


Ing. Vlastimil Podracký (Sci-fi 2009). Xuất bản dưới sự bảo trợ của Hội nhà văn Cộng hòa Séc; Đại sứ quán Cộng hòa Séc tại Việt Nam và Hội hữu nghị Việt Nam – Séc. Những người dịch: Nguyễn Kim Phụng (Azis Nektar),Đỗ Ngọc Việt Dũng, MSc. (Do.honza) và Ngô Khánh Vân, DrSc. Nhà xuất bản Hội Nhà văn. 2019.


Dịch giả Đỗ Ngọc Việt Dũng gửi www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 05.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
xem thêm »