tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30161160
Tiểu thuyết
24.10.2019
Vlastimil Podracký
Sodoma & Gomora


Vì ngăn chặn việc bán nhà máy xay bột, Kesulot đã trả giá cho chiếc ghế của mình trong Hội đồng. Thị trưởng Eber cũng ra đi. Người ta đã không bỏ phiếu cho lẽ phải. Nhà máy được bán cho Denasár, người đã di chuyển gia đình dòng tộc Dudan ra và bảo đảm công việc bằng dân Dázár. Để xay bột, bây giờ người ta phải trả hơn rất nhiều tiền. Nhưng không phiền phức quá nhiều vì người dân thành phố gần như không trồng trọt gì nữa. Ai vẫn còn đất, không đủ khả năng trả mức giá cao như vậy cho việc xay bột, đành bán đất là tốt hơn. Denasár có quá nhiều đất đến nỗi nhà máy cũng không còn đủ cho anh ta nữa. Việc bán nhà máy xay xát thị trấn đã kết thúc việc mua bán đất thừa kế. Kesolut không bận tâm lắm, ông có nhà máy xay xát riêng của mình ở Tlapo.


Ông bước sau vợ dọc theo bậc cầu thang đá cẩm thạch xuống tầng trệt. Phía trước, cô gõ đôi guốc đế gỗ lên từng bậc. Ông tự hỏi, liệu có nên chia sẻ với cô nỗi khốn khổ của mình không. Ông nắm mẩu cuộn giấy nhỏ trong túi, luôn nghĩ về nó, đề tài mối lo lắng của mình. Sự khẩn thiết nóng ran trong tay ông.


Bữa trưa được chuẩn bị trong bóng rợp của vòm hành lang. Người phục vụ đặt bát, đĩa lên bàn, phân chia đồ ăn. Đó là vợ của Zazimat. Kesulot bố trí Zazimat làm quản lý nhà và gia đình anh ta sống trong căn hộ ngoài phố. Mặc dù Zazimat nguyên là người bán thịt và là thành viên của Tiểu Hội đồng, nhưng sau khi phải bỏ môn bài kinh doanh, thực chất không còn bất kỳ công việc nào. Người ta phát hiện nợ nần một số nhà cung cấp nào đấy, vì vậy đất đai gia đình bị tịch thu. Kesulot nhận anh ta về làm quản gia từ khốn khổ bần cùng.


Mẹ của Shura, bà Zela, ngồi vào bàn. Bà ấy trẻ hơn Kesulot hai tuổi, đeo đầy trang sức, tô điểm, thơm phức. Shura nện gót đôi guốc không quai tới chỗ của mình, ngồi cạnh mẹ, đưa tay lên lắc lắc những chiếc vòng vàng từ trên cổ tay tới khuỷu. Kesulot ngồi đối diện.


"Tôi sẽ không ngồi đây với một người đàn ông không ăn mặc chỉnh tề cho bữa trưa", Zela khó chịu. Ý bà nói đến Kesulot. Nó diễn ra hàng ngày, chỉ vì ông không khoác đồ đàng hoàng theo thị hiếu của cả hai người phụ nữ.


"Mẹ làm ơn đi," Shura cố gắng xua đi cơn bão đang đến gần. „Chính con đã đưa cho anh ta chiếc áo dài đó. Nếu không anh ta lại dùng cái cũ rích, tả tơi.“ Cô gườm nhìn Kesulot nghiêm khắc.


Lời giải thích đã đủ cho bà mẹ cô.


Cuối cùng, viên quản lý Zazimat cũng ngồi xuống. Ông là người duy nhất trong số những người hầu có thể ngồi với chủ. Thức ăn được dọn ra. Sau khi ăn bát súp, Zela phàn nàn: "Zazimat này, anh quản lý kinh khủng thế sao. Không biết, anh có thể ở đây được nữa không, tôi lại không có cái chăn ren trên giường là sao.“


"Đã xảy ra sự không chu đáo, thưa bà, tôi sẽ trực tiếp xem lại điều đó."


Kesulot nháy mắt sang Zazimat. Anh ta biết rằng chừng nào Kesulot còn ở đó, sẽ không có chuyện gì xảy ra. Anh chỉ không được chống lại, phải luôn phục tùng và thừa nhận lỗi lầm, ngay cả khi không thế. Đó là một trò chơi, đã có thỏa thuận với Kesulot.


Khi ăn uống xong, Zazimat đứng lên, cúi đầu và thăm hỏi: "Ông bà còn có nguyện vọng gì không ạ? Phòng ốc đã được dọn dẹp chu tất từ buổi sáng."


"Chà, chà, anh nên cho thay bộ đồ trải giường và rèm cửa đi..." Bà Zela nói với giọng trịch thượng.


"Nhưng đây là một quy trình bình thường," Kesulot lên tiếng kháng lại.


Qua đó nhận về một cái nhìn kiêu kỳ.


"Có gì đặc biệt đâu với chúng ta," Shura tóm lại và ra hiệu, để anh ta tốt hơn là rút đi. Zazimat cũng rất vui vẻ làm đúng như vậy.


Kesulot cắn miếng bánh ngọt. Khi nuốt qua miệng, ông nhận xét: "Tôi còn phải thỏa thuận nốt việc xây dựng với Azelan và chăm sóc doanh nghiệp của mình. Vụ thu hoạch đang đến gần, phải sửa chữa nhà máy xay xát ở Tlapo, cũng như hoàn tất thương lượng hợp đồng với phía bên kia," anh hất đầu hướng về biển.


"Tại sao anh lại làm điều này, hả Kesulot?" Zela nói một cách ngạo mạn. "Nó chẳng để làm gì cả. Hãy bán đồng ruộng đi và xây dựng một ngôi nhà ở phía đối diện của mảnh đất."


Đó luôn là chủ đề các cuộc hội thoại của Zela. Có lẽ bà ấy thậm chí trong mỗi cơ hội không nói bất cứ điều gì khác. Tất nhiên, Kesulot không thích thế. Thế này, ông có tự do, làm những gì mình muốn. Nếu không, sẽ cứ phải ngồi với mấy con rối tinh vi này trong hành lang, nghe lời ra tiếng vào của họ.


"Nhưng mẹ sẽ ở đây dự lễ trăng mới chứ?" Shura ướm hỏi.


Kesulot không khoái những lễ kỷ niệm liên tục này. Ông không biết phải làm gì với họ. Shura phóng khoáng, cô để đám đàn ông ngưỡng mộ và thi thoảng tận hưởng với ai đó, thậm chí bây giờ đã có bạn gái, đôi lúc ở lại phòng với cô ta qua đêm. Mẹ cô uống một bát rượu vang, bắt đầu luyên thuyên rồi ngủ gật. Những vị khách khác tỏ vẻ khó chịu, đành cố ăn, uống rồi bỏ đi. Kesulot và Shura không có bạn bè thực sự, những người ban đầu thay vì chọn họ đã né tránh và thậm chí cả hai bên cũng không tìm kiếm nhau. Kesulot thi thoảng ngồi quán rượu với Manasúr và Gileád. Gileád vẫn còn ở trong Hội đồng, nên cung cấp cho họ tin tức.


"Tôi không biết," Kesulot trần tình. Ông cần nhanh chóng chuyển đặt hàng cho anh bạn Azelan của mình để đám đàn bà không vô tình đưa nó cho người khác, sau đó đi Tlapo. Nơi đấy, ông cảm nhận sự tự do giữa đồng ruộng của mình, ngủ trong căn phòng nhỏ cùng người quản lý, lắng nghe tiếng chim hót trên cành cây lúc chập tối.


Nhưng tất nhiên, lúc này ông băn khoăn trong quyết định có nên thổ lộ với vợ mình nỗi lo lắng hay không. Khi cô muốn đứng dậy rời khỏi bàn, ông nhẹ nhàng giữ cô lại. Họ ngồi thế cho đến khi Zela đứng dậy, rời đi. Chỉ thế, ông mới có thể nói chuyện với Shura trong yên tĩnh. "Anh phải nói với em điều này," anh bắt đầu ngại ngùng.


"Có chuyện gì xảy ra hay sao hả anh?"


"Vài ngày trước, một người đàn ông đã nhét vào tay anh mẩu giấy này trên đường phố." Ông xòe bàn tay với một cuộn giấy nhỏ.


Shura cầm lấy rồi mở ra. Cô chậm rãi đọc: "Kesulot à, đừng đến Tlapo. Bạn thân của anh, Ad-miral." Cô nhìn chằm chằm vào nó một lúc, rồi tiếp lời: "Trò đùa gì vậy đây?"


„Anh không biết đó có phải là một trò đùa không. Nó có thể là bất cứ điều gì: trò đùa, cảnh báo hoặc ý đồ.“


"Em đã nói với anh, bán số đất ở Tlapo đó đi."


"Chà, Anh sẽ không bán nó dưới áp lực hay trượt giá đâu. Em nghĩ gì đấy?"


Shura lấy tay ôm đầu. Nhận rõ cô đang suy ngẫm. „Tại sao anh lại phải đến đó? Vụ bán mùa màng vẫn còn trên cánh đồng.“


"Anh sẽ chẳng nhận được gì từ đó."


"Thế thì em không biết, nhưng em lo lắng cho anh."


"Anh cũng vậy."


"Em thực sự không biết," Shura kết luận. "Hay là anh cử một người ủy quyền thay thế mình."


„Anh ta sẽ chẳng giải quyết được gì cả. Tụi đó sẽ túm anh ta.“


"Đừng đến đó, thực sự đừng đến đó...," cô đột ngột mếu máo như khóc. "Em không muốn mất anh." Ôm chầm lấy ông, mi mắt rưng rưng, cô vòng hai tay lên vai ông và nhìn vào đôi mắt, nước mắt tuôn trào.


"Được rồi, anh sẽ xử lý các mảnh đất ở Gomorrah, ở đây không có gì bị đe dọa, các đội tuần tra thu hoạch sẽ bảo vệ. Sau đó ở Soár. Cuối cùng, anh sẽ xem xét có thể làm được gì tại Tlapo. Ở đấy có nhà máy xay, vấn đề then chốt. Trong lúc đó, chúng ta sẽ còn bàn bạc thêm."


Shura bình tĩnh lại, thở dài: "Được rồi, anh hãy cẩn thận nhé."


 


Kesulot đến nhà anh bạn thân, Azelan. Ông tìm thấy anh ta trên công trường, không xa nhà. Đợi đến khi đã rỗi, ông đi cùng với anh ta về nhà.


"Thế này nhé, Azelan, tôi có ủy quyền của vợ. Anh chỉ phải khẳng định đơn hàng giá đắt như của nhà Nastak.“


"Nhưng không thể rẻ thế được... Không thì lỗ vốn mất. Tôi thà mất hợp đồng còn hơn.“


„Bình tĩnh nào, anh Azelan. Shura có đủ tiền. Nhưng tôi chẳng thể giải thích nó chỉ vì mẹ cô ấy. Không ai trong số họ có cái nhìn thông thoáng về giá cả. Chúng ta hoàn toàn cứ để đắt hơn hai phần mười so với nhà Nastak.“


"Tôi thật ngốc..."


"Thời đại này tồi tệ thế đấy, Azelan này, chúng ta phải giúp nhau chứ... Shura có rất nhiều tiền để có thể sống mười cuộc đời, không có con cái, cô ta làm gì với nó đây?"


"Tôi biết ơn ông, Kesulot à."


Azelan soạn thảo hợp đồng còn Kesulot vọt về đưa cho Shura ký. Cô thực hiện nó trên lan can cầu thang, ngay nơi đang chép danh sách khách mời cho bữa tiệc. Đôi giày nằm dưới cầu thang còn chân chống vào lan can. Nếu nhìn thấy, chắc mẹ cô sẽ mắng mỏ cô là người phụ nữ không biết cư xử, một tấm gương xấu cho những người giúp việc. Nhưng từ phòng bà ta đã vang ra tiếng ngáy, Shura do đó đã lợi dụng để không phải cư xử thận trọng.


 


Buổi chiều, Kesulot ra quán rượu với bạn bè, Gileád và Manasúr. Ông cần tìm hiểu có gì đang xảy ra trong Hội đồng.


Ngày nghiêng dần về tối, ba người bạn ngồi với nhau dưới mái vòm quán rượu. Một vài bàn có khách ngồi xung quanh. Rượu vang được mang ra phục vụ.


Manasúr cũng không còn trong Hội đồng, hiện anh đang làm việc cho doanh nhân Dula, người đang giao dịch buôn bán đất đai và bất động sản. Manasúr đo đạc đồng ruộng cho ông và đưa dữ liệu lên bản đồ, đồng thời đo vườn tược và lên dự án nhà. Ông thích công việc và cả tiền cũng vậy.


Gileád là một thanh niên già, sở hữu con tàu biển và vận hành vận tải. Lúc này anh ta than thở: "Denasár đã dành hết mọi hoạt động giao thông, vận tải. Nhiều lần anh ta muốn tôi bán con tàu. Thật là ngốc ngếch, tôi đã không làm điều đó. Tôi chẳng có gì để chuyên chở, không thể cạnh tranh với giá của anh ấy. Tôi gần như suy sụp rồi."


"Cớ gì lại như vậy, hả?" Kesulot ngạc nhiên. „Tại sao anh không thể có cùng giá? Anh có những người chèo thuyền giống như anh ấy mà.“


"Người chèo thuyền không thành vấn đề, mà là lệ phí cảng."


"Cái đó có lẽ cũng như nhau chứ, thành phố thu thế nào ở đây thì cũng thu ở bên kia như vậy."


„Ở Azaji vẫn còn tạm. Thành phố giám sát các khoản phí và về cơ bản với tất cả mọi người như nhau. Nhưng ở đây thì hoàn toàn khác. Thành phố đã bán quyền thu phí cảng cho Zenár. Lão ta thu phí và đã tăng nó một cách quá đáng.“


"Nhưng chắc phải tăng với tất cả chứ?"


„Đâu có vậy. Denasár gần như không trả gì, những người khác bị tống tiền một cách tệ hại.“


"Sao lại có thể như vậy nhỉ?"


Đơn giản là họ liên kết với nhau thế nào đó. Tôi nghĩ, Denasár nắm vụ này trong tay, điều khiển anh ta bằng cách nào đó...“


„Thế thành phố nói gì? Tôi hy vọng anh đã kiến nghị với Hội đồng!"


„Thành phố không còn như trước đây, ông Kesulot ơi. Ông đang sống ở đâu vậy?" Gileád thở dài thốt lên.


"Nhưng chắc Hội đồng phải bằng cách nào đó..."


"Không phải làm gì cả và cũng không thể làm gì được, ngay cả nếu muốn. Hội đồng không muốn, vì ở đó đã không còn những công dân xứ Gomorrah độc lập, tôi có lẽ là người cuối cùng, còn lại chỉ những nhân viên của các doanh nhân lớn và người hầu của họ, Denasár, Dula, Nastak v.v... Họ thỏa thuận và không chống lại nhau thế nào đó. Nói chung là chia nhau quyền lực.“


Manasúr lắng nghe, nhưng không nói gì. Kesulot quay lại anh ta: "Vậy sao đây, Manasúr à, anh nói gì đi chứ? Sao im lặng như cá dưới nước thế."


"Tôi biết điều đó đấy chứ?"


„ Tại sao anh lại im lặng? Như vậy có đúng không?“


Manasúr quay lại và quan sát những người ở các bàn khác. "Các anh không thể nói về chuyện gì khác sao?"


"Thế nói về cái gì đây?"


"Nói chung là về cái gì khác."


"Vậy thì hãy tự nói về cái gì đi!"


Manasúr phản ứng giận dữ: "Sao chúng ta cứ phải bàn luận về chính trị thôi ư?"


Kesulot tức giận đáp: "Chúng ta luôn nói về nó đấy thôi. Về cơ bản, chúng ta chẳng bao giờ có chủ đề gì khác. Nói cho cùng cả ba chúng ta đã từng trong Hội đồng.“


"Bây giờ chúng ta không còn trong đó nữa, có lẽ chúng ta có thể thay đổi chủ đề."


"Vậy thì anh thay đổi đi!" Gileád thách thức Manasúr.


Anh ta vặn vẹo. „Tôi muốn sống ở đây. Tôi không muốn mắc mớ. Tôi chỉ không nghĩ mình lại phải chỉ trích tình huống nào khi không có gì sai với ai cả. Tất cả chúng ta đều sống tốt, không có gì xảy ra với bất cứ ai. Gileád nên bán con tàu, anh ta sẽ có nhiều vàng cho đến hết đời. Anh ấy không hiểu thời cuộc, vì vậy đã không làm, đó là chuyện của anh ấy. Anh ấy vẫn còn có thể làm điều đó.“ Manasúr đanh mặt lại.


"Bây giờ bán đi chắc tôi sẽ chỉ nhận được chút ít ỏi."


Manasúr vẫn tức giận. "Ít hoặc nhiều. Anh có thể có một công việc. Denasár chắc chắn sẽ cho anh làm hoa tiêu, có khi kiếm được nhiều hơn với con tàu kia. Vậy thì vấn đề là gì?“


"Vấn đề là," Kesulot tham gia trở lại, "Như vậy chúng ta không còn quyền tự chủ nữa. Người khác sẽ định đoạt. Chúng ta phải ăn nhờ từ tay họ, tôi cũng cảm thấy thế. May mắn thay, tôi có bà vợ giàu có.“


"Là thời đại mới, các anh không thấy sự phát triển sao. Những người giàu lớn đã bắt đầu sản xuất trong các nhà xưởng lớn với chi phí thấp, hàng hóa rẻ. Mọi người đều mua nó, ngay cả người nghèo trước kia. Về cơ bản không ai sống tồi tệ hơn trước, hầu hết sống tốt hơn nhiều.“


Narval ngồi vào tham gia cùng họ. Anh ta là hàng xóm của Gileád, đôi khi nói chuyện với họ trong quán rượu. Anh lắng nghe cuộc tranh luận của họ và muốn tham gia vào. "Chúng tôi sống ổn mà," anh nói. „Thực sự tốt hơn trước, nhưng tại sao? Tôi sẽ nói với các anh. Chúng tôi đã bán đồng ruộng được thừa kế từ thế hệ này sang thế hệ khác. Với số vàng, chúng tôi có thể sống đủ cho đến hết đời. Chúng tôi không sống theo cách hoang phí, vì vậy là đủ cho bản thân. Nhưng tiếp theo sẽ là gì?"


"Nó sẽ là gì?" Manasúr nói. "Đơn giản không có gì sất, ta sẽ chết và sẽ như vậy. Sau cái chết sẽ là gì, đằng nào cũng không ai biết. Tại sao phải bàn đến nó?"


„Đồng ruộng đem đến cuộc sống ổn định. Vàng chỉ là tạm thời.“


"Các anh cũng là tạm thời."


„Điều đó không đúng. Con cháu sẽ tiếp tục...“


"Anh có con đấy chắc?"


Không, tôi không có, nhưng những người có con thì sao. Tôi không có ý chỉ nghĩ đến mình, khi nói điều đó.“


"Tại sao anh phải quan tâm?"


"Chỉ đơn giản bởi tôi không cho nó thế nào cũng được."


„Ai trong chúng ta thực sự có con? Chỉ có tôi,“ Manasúr nói. "Và tôi sẽ bảo đảm cho chúng. Đó là lý do tại sao tôi làm việc và không chơi bời.


Tất cả đều im lặng. Trên thực tế, Manasúr đã đúng, không có gì để tranh cãi.


Cuối cùng, đã đến lúc Kesulot tuốt ra những lo lắng của mình, ông chìa mẩu giấy, đưa cho Manasúr. Anh này mở ra và đọc nó.


"Đó có phải là một trò đùa cợt không nhỉ?"


Gileád nhìn chằm chằm qua vai anh, cau mày. Khi Kesulot nhìn lại, anh ta nhún vai, bổ sung thêm. "Khó nói được gì."


Manasúr xác nhận trong quan niệm, rằng đó chỉ là một trò đùa. Nhưng đâu đó trong góc sâu tâm trí, có một mối quan tâm tới bạn của mình. "Hãy chú ý tới bản thân, hãy đưa các tay súng theo," Gileád khuyên. Manasúr lí nhí. "Để chắc chắn, nó sẽ tốt hơn."


Họ ngồi im lặng một lúc, rồi Gileád bắt đầu: "Maranida lại tham gia Hội đồng. Bà ta sẽ có buổi diễn thuyết vào ngày mai tại quảng trường. Chắc chắn tất cả phụ nữ sẽ đến ủng hộ bà ấy.“


"Nhưng tôi đâu có biết, tôi sẽ đi nghe."


 


 


Phụ nữ, người đại diện cho tiến bộ


 


Kesulot và Shura đi qua khu vực Dázár cũ. Bây giờ trông hoàn toàn khác. Sự bừa bộn biến mất, nhiều xưởng sản xuất lớn xuất hiện ở tầng trệt của những ngôi nhà. Qua các cửa chớp mở có thể dõi thấy được tất cả mọi hoạt động như sản xuất giày, đúng hơn là guốc. Nhà xưởng ở tầng trệt của năm ngôi nhà, bây giờ được kết nối bằng cách đục thông lối đi. Phía trên là ký túc xá công nhân. Công nhân không phải thợ thủ công mà chỉ là nhân công cho từng công đoạn. Ban đầu, những khúc gỗ mang từ rừng núi được xếp thành đống tại tiền sảnh một trong những ngôi nhà. Công nhân cưa ngắn thành các đoạn tương ứng với chiều dài của guốc. Một thợ thủ công Gomorrah trước đây làm cho họ nhãn hiệu lên sản phẩm và điều hành công việc sao cho tận dụng được gỗ tốt nhất. Thỉnh thoảng anh ta thúc giục công nhân nào đó bằng cây gậy. Không được phép quá tàn nhẫn, không được để lại hậu quả nào vì người lao động có thể khiếu nại. Khi ai đó liên tục không chịu tuân thủ sẽ bị sa thải. Ở đây nhân công làm việc là những người không thể sử dụng được ở nơi khác, thường là những người chuyên môn thấp nhất và không đủ năng lực nhất.


Tiếp theo, các mảnh cắt được chẻ ra. Ở đây người ta sử dụng nêm và búa. Công việc này do những người thợ có kinh nghiệm hơn và thợ thủ công xứ Gomorrah thực hiện vì cần tận dụng tốt nhất vật liệu. Guốc có một số kích cỡ, việc chia tách phải tiến hành  thực sự có kỹ năng. Tiếp theo đế gỗ được gia công bằng dao, liên tục mài trên đá sắc ngọt. Một số dao lớn nêm vào giữa những viên đá để người công nhân cầm chiếc guốc trên tay và cố gắng tạo cho nó hình dạng phù hợp theo quy định và được chạm khắc trên đá như hình mẫu. Có một vài kích cỡ. Đế guốc sau đó chuyển đến một căn phòng khác, nơi quai da sẽ được đóng vào.


Ở đó hầu hết là phụ nữ làm việc, họ đóng tiếp quai vào đế gỗ. Các quai này hoặc là đơn giản hoặc được trang trí với các mẫu khác nhau, có trường hợp dát kim loại. Theo đó xác định giá phù hợp. Ngoài ra guốc được phân loại để những đôi mỏng và đẹp hơn được phân loại sản phẩm tốt hơn. Shura có trên chân một sản phẩm chất lượng như vậy với quai da dát vàng và với đế gỗ gõ bồm bộp vào nền đá trên đường phố. Sản phẩm này thậm chí còn được bổ sung dây buộc quấn quanh chân, giữ phía sau mắt cá, vì vậy không bị tuột. Ngoài ra, đế gỗ được tạo hình và chế tác rất phù hợp với bàn chân. Những đôi guốc này được sản xuất theo đơn đặt hàng, giá gấp một vài lần giày dép cỡ trung bình.


Theo cách tương tự, hàng nhu yếu phẩm và cả đồ trang sức mĩ ký khác được sản xuất tại khu phố này. Các sản phẩm may mặc thời trang có một số thiết kế, ngoài ra chúng cũng được may theo đơn đặt hàng. Một diện tích lớn chiếm bởi các máy khung dệt. Len chuyển đến từ vùng núi, chất liệu lông cừu. Hầu hết nhân công là phụ nữ.


 


Vào thời điểm Kesulot và Shura đi qua khu phố, phụ nữ đã nghỉ việc và chuẩn bị đến Cuộc gặp gỡ toàn dân. Số đong trong họ xếp các công cụ, đồ nghề đặt vào các rương khóa lại. Đốc công, thợ thủ công Gomorrah, kiểm tra xem có ai lấy gì không. Đàn ông bảo vệ các xưởng máy, họ không đi họp và công việc của họ vẫn tiếp tục.


Trên Quảng trường hạ đã không còn chợ, hoàn toàn trống rỗng. Tất cả mọi thứ được bán trong các cửa hàng. Không có cảnh nông dân quanh vùng đi, đến. Ngay cả thịt và bánh mì đều bán trong các cửa hàng, hoặc giao đến nhà. Thành phố thậm chí chính thức hủy bỏ chợ và không cho phép những người nông dân tiểu thương còn lại lập quầy hàng. Cơ hội duy nhất cho họ là bán hàng trong nhà hoặc giao hàng dựa trên đơn đặt hàng. Phần lớn người ta chỉ cung cấp cho bạn bè và người thân, không có khách hàng họ không thể tồn tại.


Đột nhiên Kesulot dường như cảm thấy Quảng trường hạ rộng ra. Một bên là cảng nơi đang neo đậu những chiếc thuyền chèo lớn, nhưng hàng hóa không đến các quầy hàng trong quảng trường mà đến các nhà kho và cơ sở sản xuất. Quảng trường hạ bây giờ phục vụ cho cái gì? Quả thực chỉ cho những cuộc tụ họp lớn không chứa nổi trên Quảng trường thượng.


Shura và Kesulot kiếm chiếc ghế gần khán đài được xây dựng cho những mục đích như vậy làm từ đá. Không có nhiều chỗ ngồi, ban tổ chức đã dành trước cho những cư dân có tên tuổi của thành phố. Shura và Kesulot không còn thuộc nhóm đó nữa vì Kesulot không có chân trong Hội đồng, nhưng nhà tổ chức là người quen của Kesulot, khi xưa cũng ngồi trong Hội đồng, do đó cho họ vào. Trong lúc, ngay phía sau, quảng trường chật kín phụ nữ từ các nhà máy. Xung quanh các ngôi nhà, một số gia đình Dázár đông con tìm kiếm chỗ, tất nhiên ngày nay, người  Dázár không còn bị nhắc nhở nữa bởi cả nam và nữ đều có quần áo từ các nhà xưởng và rất kiệm vải. Chỉ tính theo số lượng lớn trẻ em mới có thể cảm nhận được đấy là dân Dázár.


Các nhà hùng biện, diễn giả bước lên diễn đàn khi quảng trường ngập đầy. Chỉ có hai, thị trưởng mới, Sezam và nữ thủ lĩnh, Maranida. Quảng trường náo nhiệt, mọi người bắt đầu reo hò.


Đầu tiên là Sezam. Ông ta mặc chiếc áo dài đến đầu gối, dát những sợi vàng. Cả quảng trường im lặng. "Kính thưa các nam nữ công dân của thành phố xinh đẹp và tiến bộ nhất thế giới – xứ Gomorrah." Tiếng vỗ tay rào rào.


 


Thị trưởng tiếp tục: "Các bạn đã đến đây, tại quảng trường này để chào mừng cuộc sống mới, cuộc sống của mình trong thành phố ước mơ, thành phố của sắc đẹp, thành phố của nhịp sống vui tươi." Nhiều năm trước đã nổ ra một phong trào, xác định việc con người quay trở lại thiên đường. Nó xác định sự phát triển sao cho đời sống con người hướng đến niềm vui, hưởng thụ và tách biệt khỏi những đau khổ và rắc rối không cần thiết. Con đường trở lại thiên đường là có thể. Con người bằng những nỗ lực sẽ lấy lại được thiên đường của mình.“ Ông im lặng. Trước khi những tràng pháo tay vang lên, ông tiếp tục: "Tất nhiên, không thể loại bỏ hoàn toàn công việc. Không lao động chúng ta không thể vượt qua được ngay cả ở trong thiên đường của mình. Nhưng đó là công việc vui vẻ, bởi vì chúng ta biết sau đó mình sẽ nhận được một phần thưởng, mang lại cho chúng ta niềm vui. Lời nguyền của Chúa tới con người không thể xóa bỏ được hoàn toàn – trong giọt mồ hôi trên khuôn mặt, bạn sẽ chinh phục được bánh mì của mình. Cả chúng ta cũng đổ mồ hôi khi lao động. Nhưng có những điều mà phải chăng cả Chúa trời cũng không muốn. Ngài không muốn chúng ta làm việc vất vả vô ích nhiều hơn mức cần thiết. Chúng ta đang phấn đấu cho nó và tạo ra cuộc sống dễ chịu nhất có thể. Đó là lý do tại sao tôi mong muốn tất cả các bạn có một cuộc sống ngày càng tươi đẹp hơn trong thành phố này, chỉ tùy thuộc vào bạn, vào công việc của bạn.“ Tiếng vỗ tay vang lên.


 


Tiếp đó bà Maranida bước lên sân khấu. Không phải là một phụ nữ xinh đẹp lắm, khó có thể tìm thấy bất cứ điều gì làm cho đàn ông hấp dẫn. Nhưng nhìn từ xa, trông khá dịu dàng, bà mặc chiếc váy ngắn táo bạo, tuy để lộ đôi chân cong, mà có thể che đậy khá tốt bằng thái độ của mình. Chiếc áo ngắn cũng để lộ vòng bụng nhỏ và eo thon, nên khá nữ tính.


Nói chuyện riêng với phụ nữ, bà chỉ tay vào bờ biển đối diện và nói: "Có một số linh mục ở đâu đó trong những ngọn núi đã giải thích sai mục đích của Thiên Chúa đối với con người. Họ tuyên bố rằng con người phải chịu đựng. Tại sao vậy? Đó không phải là sự thật. Chúa trời không muốn thế. Ngài yêu cầu chúng ta sống tốt để tận hưởng. Chúng ta được tạo ra bởi Chúa trời. Ngài tạo ra chúng sinh để vui mừng, không để đau khổ. Rằng tổ tiên của chúng ta đã bị đầy ải ra khỏi thiên đường? Đó chỉ là một lời giải thích tồi tệ. Thiên Chúa đã chỉ định cho chúng ta sử dụng tất cả các loại trái cây của trái đất. Cả trái đất sẵn dành cho con người. Nằm trong tay chúng ta, có thể sử dụng trái cây của trái đất như thế nào tùy ý chúng ta. Quả trái đầu tiên mà một người đàn ông ăn chính là quả táo. Nhưng nó không hẳn chỉ là một quả táo, mà có thể là bất cứ thứ gì mà thiên nhiên ban tặng. Chúa trời đã ban phát không chỉ chính quả táo, mà còn cả những gì thể hiện trong ý nghĩa được chuyển giao, đó là việc sử dụng các loại trái cây đem đến cuộc sống chung cho đàn ông và đàn bà. Tận hưởng tất cả những niềm vui mà mối liên quan này mang lại. Do đó, chúng ta không phải lo lắng về mối quan hệ theo bất kỳ cách nào, không có gì sai ở đây cả. Eva chỉ có Adam, còn chưa có nhiều đàn ông. Nhưng ngày nay, đàn ông đông lên, chưa thấy ở đâu người ta nói một người phụ nữ không thể có nhiều đàn ông, rằng cô ta không thể thay đổi một người chồng và phải sống chỉ với một người. Phụ nữ là người tự do, có thể làm bất cứ điều gì cô ta muốn, không bị ràng buộc vào bất cứ ai. Nếu không muốn có con, họ sẽ không phải sinh con. Không ở đâu Chúa trời tuyên bố người phụ nữ phải có con cái. Tại sao cô ấy phải ràng buộc vào đàn ông và con trẻ? Tại sao cô ấy phải sống cuộc sống của mình qua những lần sinh nở và khó khăn liên tục mà việc nuôi dạy trẻ em đưa đến. Cô ta sẽ dễ dàng sử dụng tiền kiếm được cho bản thân, quần áo và giày dép, cho sắc đẹp cá nhân và cuộc sống an nhàn. Trên họ chỉ có Chúa trời, người tán thành hành sự của cô. Nếu Ngài không hài lòng, chắc chắn sẽ có ý kiến phán xử của mình.“ Bà ta dừng lại, xem có ai phản đối không. Điều đó đã không xảy ra. Thay vào đấy, những hàng trên bắt đầu tán thưởng, dần dần tới những phụ nữ trước đó còn thờ ơ ở phía sau, có thể bị choáng váng bởi bài phát biểu này và không biết phản ứng ra sao, họ bị bứt ra bởi làn sóng hoan nghênh nhiệt liệt. Cuối cùng, các gia đình ở gần bức tường cũng vỗ tay.


Những lời nói của Maranida khiến Shura nghẹn ngào, cô vỗ tay vui vẻ. Đó là suy nghĩ mà cô đã sống theo nó cả đời. Mặc dù không thay đổi ông chồng, nhưng bên cạnh đó cô hoàn toàn làm theo những chỉ dẫn này. Bây giờ, sau bài phát biểu, cô hưởng ứng nhiệt tình. Kesulot cũng vỗ tay, nhưng không thích thú lắm. Ông không có gì chống lại việc để phụ nữ hưởng thụ, nói cho cùng là việc thích đàn ông, từ đó chỉ có vui thú mà thôi. Nhưng từ một thời điểm nào đó, với ông có gì đấy không ổn. Phải chăng Lot đã tác động lên bằng quan điểm của mình? Ông không biết, đơn giản là không thích thế...


 


Họ trở về trong đám đông nữ công nhân. Phần lớn là nữ Dázár, như để ý thấy qua giọng nói, nhưng đối với một số không thể nhận biết được, có lẽ vì họ đã sống ở xứ Gomorrah thời gian dài hoặc là người Gomorrah từ những gia đình nghèo hơn. Nhiều người đi guốc, vì vậy đường phố vang động tiếng gõ và âm thanh phản hồi từ các bức tường nhà. Trước đây, phụ nữ Dázár đi chân đất, váy áo dài loạt soạt, bây giờ chỉ còn một vài người chân trần, có lẽ chưa kiếm được tiền mua guốc dép.


Các cô gái dần biến mất trong các nhà xưởng, nơi họ phải ngồi trở lại máy dệt hoặc đóng quai da vào guốc. Họ thoáng nghe hai cô gái đằng sau. Một cô, mạnh mẽ hơn chút, nói: "Chị sẽ không quay lại bờ bên kia. Chồng chị vẫn liên tục gửi tin nhắn bảo về nhà. Nhưng chị sẽ ở lại đây, không muốn về. Nếu không sẽ thật là ngu ngốc.“ Cô kia, hơi trẻ hơn chút, không tán thành: "Nhưng chị từng nói khi kiếm được sẽ quay về... Chị sẽ làm thế nào với thằng cu Konak, ai sẽ nuôi nấng nó cho chị?"


"Ông chồng cùng bố mẹ anh ấy... Ở chỗ họ thật tồi tệ, chị mừng vì đã quyết định chạy trốn lên tàu. May mắn thay, việc chuyên chở sang đây không phải trả phí. Mẹ chồng hay bắt nạt, hành hạ chị lắm. Với bà, chị chẳng làm được việc gì ra hồn. Hàng ngày phải dọn dẹp toàn bộ ngôi nhà, kể cả phòng của bà ấy, như một con sen. Ở đây chị là một phụ nữ tự do, độc thân... Ông chồng muốn có tiếp đứa con nữa. May chị đã chạy trốn kịp thời. Trước đấy, chị nghĩ rằng mình có thai, nhưng rồi cảm thấy nhẹ nhõm khi nhận ra điều đó không xảy ra."


"Chị có nhớ chồng không?" Người phụ nữ trẻ hơn, rõ ràng là người xứ Gomorrah, hỏi.


„Chị không yêu anh ấy lắm. Các ông bố bà mẹ tổ chức đám cưới cho thôi.“


Cô gái trẻ phản ứng: "Em không có vấn đề như vậy, em chưa kết hôn và không có con. Cha mẹ đặt cho em một con sâu cái từ khi còn ở trường."


"Chị cũng có đấy," cô gái để lại đứa con cho bố mẹ chồng nuôi, nói.


Chủ lao động thường tạo điều kiện đặt cho nữ nhân viên sâu cái với chi phí nho nhỏ. Bây giờ đã có phương pháp mới, không bắt buộc phải là vàng, mà chỉ cần một loại đá gì đấy mịn xay từ thạch anh.


"Chị có thể mang bé sang đây, đưa vào nơi trú nghỉ và thăm nom. Trẻ em không được ở trong khu tập thể đâu."


"Chị cũng đã cân nhắc rồi, nhưng làm thế nào bây giờ? Chồng và bố chồng chắc sẽ phát điên lên ấy, thể nào họ cũng bắt cóc đứa trẻ. Chắc không được đâu.“


Hai nữ công nhân rẽ vào xưởng của mình, tiếng guốc mộc câm bặt. Không ai đi sau Shura và Kesulot. Chỉ còn tiếng gõ lọc cọc từ guốc Shura.


 


 


Sự im lặng của nhà tiên tri


 


Kesulot không quên lời hứa với Lot về chuyện tìm chú rể cho con gái của anh ta. Ông bàn bạc với Béla, một thợ thủ công kim hoàn lớn tuổi, có hai đứa con trai cùng độ tuổi với con gái nhà Lot. Các chàng trai ngồi gù lưng hàng ngày trên các sản phẩm của mình, đúc, gò, mài từ vàng thành những hình vật và dây chuyền. Đó là công việc rất chuyên nghiệp, vì vậy Béla vẫn có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên, anh ta có vấn đề về tài chính, vì người ta không còn mua nhiều vàng khi đá cẩm thạch và các sản phẩm gỗ quý có sẵn. Béla vui mừng đón nhận đề xuất của Kesulot, bởi vì liên kết với một gia đình nổi tiếng ở xứ Sodom là cần thiết và các chàng trai thích được chiêm ngưỡng thế giới đôi chút, nơi họ hầu như không biết đến. Nói đơn giản là bị cha giữ. Họ chỉ đến những nơi giải trí mà phần lớn là gái Dázár, nhưng ông bố lại không muốn cho các cô gái nghèo vào công xưởng của mình.


 


Kesulot lên đường đến xứ Sodom với cả hai cậu Bél và Faset. Chúng là những chàng trai khá to con, quen lao động, Lot chắc sẽ vui mừng. Họ đi trên chiếc xe kéo về phía dải núi ngăn cách hai thành phố. Lên cao chú lừa không thể kéo được cỗ xe vượt dốc, các cậu bèn nhảy xuống, đẩy chiếc xe suốt con đường lên tới đỉnh đồi. Nhờ vậy, vượt qua được độ cao giữa hai thành phố cho đến khi ngồi trở lại, họ đã nhìn thấy xứ Sodom. Thành phố tỏa sáng với những tòa nhà màu trắng dưới ánh mặt trời lặn như một nắm sợi dây chuyền vàng. Dừng lại một lúc, họ cho xe đi xuống. Mặt trời lặn và từ từ nhòa dần. Họ đi xuống thấp hơn nữa, nơi có cỏ. Tại đây, tháo gông cho lừa ăn cỏ. Bél buộc nó vào một sợi dây dài. Họ nằm lên cỏ khô trên xe, nhìn lên bầu trời. Mặt trăng đầu tháng, chỉ nhìn thấy một hình lưỡi liềm hẹp. "Chắc là mùng năm," Kesulot đoán.


„Hôm qua chúng cháu đã khắc dấu ấn mùng tám trên các sản phẩm rồi,“ Bél cho biết.


Họ am hiểu hơn Kesulot nhiều, có thể đánh giá chính xác ngày tháng hơn. Bởi mặt trăng không tỏa sáng đều và việc đoán ngày là nghệ thuật. Tại các thành phố, người ta giải quyết bằng cách một chuyên gia công bố ngày đầu tháng. Sau đó, ngày được tính theo. Tuy nhiên, cái chính là ông ta phải thông báo ngày cuối tháng, vì các ngày không đồng chính xác, một số tháng có 31 ngày, một số chỉ 30, đôi khi ít hơn.


Kesulot nhắm mắt lại, từ từ cố gắng ngủ. Đột nhiên, tiếng sột soạt mạnh mẽ và hí vang của lừa bứt ông ra khỏi cơn gật gù, khiến ông giật mình. Nhưng cả hai chàng trai đã bật dậy. Tay nắm dao sau thắt lưng, họ nhảy khỏi xe đuổi theo con lừa. Kesulot nhìn chằm chằm vào bóng tối, chẳng thấy gì cả.


Thoáng sau, nhận ra dưới ánh trăng hai cậu đang dắt lừa, ông thở ra. "Chuyện gì xảy ra vậy?"


Các chàng trai đến gần hơn. Bél thì thầm thông báo: "Chúng cháu không biết, ai đó đã tháo dây và định dắt nó đi." Hắn ta đã thất bại, chú lừa chống lại."


"Một vài tên trộm nào đó. Khi đã chạy thoát, chắc sẽ không còn nguy hiểm.“


Chúng buộc con lừa vào sợi dây ngắn trong khi Kesulot lên tiếng: "Bác sẽ trông chừng. Các cháu cần ngủ đi, ngày mai các cô gái sẽ đợi đấy.“


Các chàng trai cười khì, nhưng họ đồng ý.


Kesulot không thể ngủ sau vụ việc, các chàng trai thở đều trong giây lát. Kesulot quan sát chú lừa gặm cỏ. Ông chợp mắt một lúc rồi lại tỉnh dậy. Mặt trăng luôn nhảy lên trong hành trình của mình trên bầu trời đêm. Chú lừa ăn no rồi nằm xuống gần xe. Kersulot buộc chặt hơn, trở lại xe, ngủ thiếp đi. Ông tỉnh dậy khi mặt trời chiếu sáng. Hai chàng trai vẫn ngủ say. Ông kiểm tra con lừa, lại buộc vào một sợi dây dài hơn để gặm cỏ.


Sáng ra, sau khi ăn sáng họ từ từ xuống thung lũng Sodom. Ngũ cốc ở đây đã chín hơn so với các thành phố khác xung quanh. Xứ Sodom luôn bắt đầu trước tiên vụ thu hoạch. Khu vực này ấm nhất vì nước tưới tiêu không lạnh mà một phần là nước nóng. Trên cao, bên những vách đá, có thể nhìn thấy nguồn nước khoáng Sodom nổi tiếng. Nước tuôn lên từ hồ, ấm đến mức không dúng được tay. Ở đó, người lớn tuổi thường tắm để giảm đau sơ khớp, nhưng đôi khi có cả các tác dụng lâu dài, nhiều người chữa lành hoàn toàn bệnh. Điều này có ý nghĩa như quà tặng của Chúa, không phải nước thông thường. Người dân các thị trấn xung quanh đến nguồn khoáng phải trả tiền cho Sodom để tắm gội. Ngoài các nhà máy sản xuất muối, đây là thu nhập lớn thứ hai cho ngân quỹ thành phố. Nước nóng từ nguồn tắm sau đó hòa với nước từ suối lạnh vào các kênh tưới tiêu. Đặc biệt bằng việc tưới tiêu buổi tối, đất ấm lên và vào những đêm lạnh, nó đặc biệt quan trọng.


Kesulot tìm đất ruộng của mình. Ông nhận ra chúng theo hình dạng các kênh thủy lợi. Từ trên cao, ông có thể dễ dàng thấy lúa mì đang dần chín và vụ thu hoạch có thể bắt đầu trong vòng vài ngày. Ở xứ Sodom tồn tại hiệp hội các chủ sở hữu nhỏ chuyên chăm sóc đồng ruộng của các hội viên. Lot là chủ tịch của hiệp hội này, con người trung thực, không nhận hối lộ và dũng cảm bảo vệ lợi ích của các chủ sở hữu nhỏ. Nhờ anh, hiệp hội mới thực sự tồn tại.


Kesulot không phải chăm sóc đất ruộng của mình ở Sodom. Cuối vụ nhận được bột và đó là tất cả. Ông thường giao lại cho Lot, anh ta trả dần tiền khi bán được. Bây giờ Kesulot chỉ đến xem đất cát của mình và thỏa thuận thêm với Lot chi tiết cho vụ mùa sau. Đất cát ổn, hẳn được bảo vệ bởi các nhân viên từ hiệp hội.


Họ đi trên con đường giữa cánh đồng, được theo dõi bởi các đội tuần tra từ các trạm trên cao. Do đó, không cần phải ra tận các mép ruộng hoặc chạm vào hạt vì có thể bị hiểu là trộm cắp. Nhân dịp này, Kesulot nhớ lại câu chuyện từ thời thanh niên, khi còn là một cậu bé, cùng cha mẹ mình trước vụ thu hoạch ra thăm đồng của họ sau xứ Gomorrah. Ông lội vào ruộng, giẫm nát mấy cụm lúa. Đội tuần tra lúc đó vẫn do thành phố quản lý thổi còi, lính canh lao tới. Họ vung gậy còn Kesulot chạy bạt mạng. Khi bị bắt, để không phải ăn đòn cha ông đã cầu xin, cam kết trả tiền thiệt hại. Nhưng sau đó ông phải quỳ ở góc nhà để nhớ rằng không được mò vào đất người lạ và không được phép dẵm lên hạt lúa.


Mấy bác cháu rất hài lòng khi vào được thành phố nơi không còn ai theo dõi. Đi qua đám đông, Kesulot thường phải la hét để họ né xe kéo của mình, dần tiến đến rìa đối diện của thành phố, nơi trú ngự của gia đình Lot, dân chúng cùng xe kéo thưa dần. Faset xoa xoa tay mong đợi. Cậu ta rõ ràng rất hồi hộp để gặp các cô gái. Bél phủi cỏ khô bám vào người sau đó rút đôi ủng của mình vỗ vỗ bụi, nhìn ngó đôi chân bẩn thỉu. Kesulot đoán ra sự lo lắng của cậu. "Đừng sợ, các chàng trai, các cậu có thể tắm tát ở nhà Lot."


 


Cuối cùng họ cũng dừng lại trước cửa nhà Lot. Kesulot nhảy xuống, định buộc con lừa vào cọc trước nhà. Vừa lúc ông nhận ra hai người đứng ở bức tường đối diện đang theo dõi nhà Lot. Chắc chỉ là mấy kẻ tò mò, thóc mách.


Ông gõ cửa. Lot đi ra, vẻ u uất, thậm chí không cười, chào máy móc: "Salamo."


Kesulot cảm thấy căng thẳng, nên không hỏi. Ông giúp Lot mở cánh cổng, dẫn lừa cùng cỗ xe vào bên trong, đóng cửa sau lưng họ.


Liền đó, người giúp việc xuất hiện tiếp quản chiếc xe. Cả ba im lặng theo Lot vào tiền sảnh.


Vợ Lot đang đợi họ ở đó. Nhưng trên khuôn mặt của cô không có biểu hiện gì lo lắng, cô mỉm cười: „Vậy đây là các chàng thợ khéo tay xứ Gomorrah?“


Các chàng xấu hổ: "Salamo," họ chào. Người phụ nữ dẫn đường đưa họ đến bể bơi tắm tát. Trên lối đi hành lang các cô gái xuất hiện. "Salamo," họ vẫy tay chào các cậu.


"Salamo," các chàng trai cũng vẫy tay đáp lại. Áo chẽn sạch sẽ đã được đặt bên mép bể bơi.


"Gì đấy, có chuyện sao?" Kesulot dừng lại, nhìn Lot.


"Tôi sẽ giải thích cho anh mọi thứ, sau khi tắm ta sẽ ngồi với nhau."


„Nghe bí ẩn thế. Có gì đó dường như xảy ra trước nhà...“


"Không nên để đám thanh niên kia sợ... Hãy để chúng chuyện trò đã."


Kesulot tụt xuống bể bơi, gội đầu, tắm tát.


Ông bước ra, lau khô, mặc chiếc áo dài sạch sẽ. Trông rất sốt ruột. Các chàng trai không biết gì, họ đang lặn ngụp trong bể bơi, huých đùa nhau, trình diễn trước mặt các cô gái đang cười nhạo họ từ hành lang.


(còn tiếp)


Nguồn: Sodoma & Gomora. Tiểu thuyết giả tưởng của nhà văn CH Séc Ing. Vlastimil Podracký (Sci-fi 2009). Xuất bản dưới sự bảo trợ của Hội nhà văn Cộng hòa Séc; Đại sứ quán Cộng hòa Séc tại Việt Nam và Hội hữu nghị Việt Nam – Séc. Những người dịch: Nguyễn Kim Phụng (Azis Nektar),Đỗ Ngọc Việt Dũng, MSc. (Do.honza) và Ngô Khánh Vân, DrSc. Nhà xuất bản Hội Nhà văn. 2019.


Dịch giả Đỗ Ngọc Việt Dũng gửi www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 05.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
xem thêm »