tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30953113
Tiểu thuyết
15.01.2020
Constant Virgil Gheorghiu
Cơ may thứ hai


II


Boris Bodnariuk bị đưa vào nhà tù xây bằng gạch đỏ của Molda. Qua song cửa sắt, anh có thể nhìn thấy sân bay Piatra - nơi anh đã lên máy bay đi tiêu diệt tên Thống soái người Slaves phương Nam và cũng là nơi mà Anatole Barsov bỏ trốn. Boris nhìn tất cả những cái đó bằng một con mắt. Con mắt kia, mắt trái, chết rồi. Anh nhớ tới Paris, nhớ tới sứ quán Xô Viết mà anh không làm sao bắt liên lạc được sau khi trở về, đến những cố gắng của anh nhằm có mặt tại vụ án Bucarest mà anh đã đến quá muộn màng. Anh đã được Rajk thay thế. Vụ án đã được xử tại Budapest chứ không phải tại Bucarest. Boris hiểu tất cả những điều đó, nhưng có một điều anh không làm sao hiểu nổi là việc Bucarest đã bỏ rơi anh ở đây, trong cái làng quê hẻo lánh này cho một tên cảnh sát tùy nghi hành hạ?


“Đây là một sự lầm lẫn!” Bodnariuk tự nhủ. “Nếu ta bị tình nghi chuyện gì thì người ta phải dẫn ta về Bucarest và thẩm vấn. Ta sẽ phải xét xử và kết án chứ. Rõ ràng có một sự nhầm lẫn, không nghi ngờ gì nữa!”


Bodnariuk nhìn ra sân bay Piatra. Anh rất muốn biết mình đã sai phạm điều gì. Anh có cảm giác tội lỗi nhưng không tìm ra cái tội của mình.


Bodnariuk nghĩ rằng giờ đây anh đã được ghi tên vào sổ tù dưới cái tên thật của anh, Boris Bodnar. Người ta đã cách chức anh, lột hết mọi quyền hạn, lột hết cả quân hàm, ngạch bậc của anh. Người ta đã tước đi của anh cái tên Bodnariuk.


Bây giờ tên anh là Boris Bodnar như lúc anh ra đời. Chính với cái tên ấy mà anh đã trốn sang Nga. Bây giờ cũng như thuở trước đó, anh trở lại rách rưới, như hệt khi anh bị đuổi khỏi trường quân sự Kichinev. Hoàn toàn y hệt như vậy.


Tất cả mọi công trình xuất sắc của anh như cải tạo khí hậu, thành lập đạo quân du kích, Cộng sản hóa Rumani, cải tạo lại quân đội... đều do Bodnariuk thực hiện hoàn thành. Anh có cảm giác Bodnariuk là một con người nào khác, một con người xa lạ. Anh đã trở lại là Boris Bodnar, tức chính bản thân anh lúc đầu Anh đã trở lại với những bộ áo quần tả tơi anh đã từng mặc trước khi anh trở thành Bodnariuk, trở lại với chuyện bị đuổi học trước khi là Bodnariuk, với sự cô đơn trước kia. Anh đã lấy lại cái tên của anh trước ngày anh làm nên cả một thiên huyền thoại. Thực ra, Bodnariuk chỉ là một ảo ảnh. Còn anh, anh là Boris Bodnar. Trong hầm tối của anh, cô độc, rách rưới, bị mọi người xua đuổi, ốm đau, bị đánh đập, anh chỉ còn lại là một con người. Boris Bodnar là một con người. Anh cảm thấy mình già. Anh đau đớn trong cơ thể của anh. Anh cũng đau cả trong tâm hồn.


Trước kia, chỉ có Boris Bodnar là thực - anh nghĩ - và khi mình chết thì chính là Boris Bodnar sẽ được đem đi chôn, bởi vì Bodnariuk sẽ không chết bao giờ. Bởi Bodnariuk là một huyền thoại. Nó đã xuất hiện chứ không phải sinh ra và sẽ không thể nào chết được.


Anh đã tranh đấu suốt đời cho vinh quang của Bodnariuk.


Và chẳng làm gì cho Boris Bodnar.


Anh nghe thấy những tiếng kêu ở xà lim bên cạnh. Anh lắng tai nghe. Hai người đàn bà đang gây chuyện cãi cọ nhau, một người còn trẻ, giọng the thé quả quyết, và một bà già. Họ đánh nhau. Boris nghe tiếng bọn gác tù mở cửa xà lim hai người đàn bà.


- Bà ta muốn để ngỏ cửa sổ xà lim! - Giọng trẻ nói.Từ sáng nay, từ lúc tôi vào, bà ấy không chịu đóng cửa sổ.


- Nếu đóng cửa sổ lại, tôi sẽ tự tử. - Bà già trả lời. - Hàng bao nhiêu năm nay trong tù, tôi có bao giờ bị đóng băng chút nào đâu? Chị ta còn trẻ và chỉ mới vào đây vài tiếng đồng hồ. Chị ta cũng sẽ chẳng đóng băng đâu mà sợ, dù mọi cửa sổ có mở toang ra.


Bà già khóc.


Bodnariuk nghe tiếng bọn gác tù muốn đóng cửa sổ lại.


Chúng bảo rằng quy chế nhà tù bắt phải đóng cửa sổ. Bà già liền lăn xả vào bọn gác. Chúng đánh bà, bà ngã xuống. Bà lại đứng lên và lại toan mở cửa sổ. Bà lại bị đánh nữa. Bà kêu lên.


Bodnariuk nghe tiếng đấm thùi thụi, những cái tát vào mặt và những tiếng gào. Sau đó, người ta lôi bà ra khỏi xà lim.


Bà là Ileana Kostaky. Bao giờ bà ta cũng chỉ có một mình trong xà lim của bà tại Molda. Đó là một nữ tù nhân yên tĩnh, không gây chuyện với bọn lính gác bao giờ. Bà ta cầu nguyện và nhẫn nhục chờ đợi. Đêm vừa rồi lại có thêm những vụ bắt bớ mới và người ta đã đưa một người đàn bà khác vào xà lim của Ileana Kostaky vì trại giam thiếu chỗ.


Bodnariuk lắng nghe giọng nói của người đàn bà phân trần với bọn lính gác. Bà già nói rằng chồng bà ta đã trốn vào rừng. Bà không hy vọng gì còn được gặp chồng vì bà ta đã bị kết án tù mười lăm năm và bà ta biết mình sắp chết trong nhà tù. Nhưng ngay từ hôm đầu tiên bà ta để cửa sổ mở cả ngày đêm. Bà ta tưởng tượng rằng nếu chồng bà chết thì linh hồn ông sẽ đến với bà dưới dạng một con chim câu để cùng bà nói lời vĩnh biệt. Bà để cửa sổ ngỏ để hồn của chồng bà vào được trong xà lim.


Người ta đưa bà già vào trở lại. Người ta đã đánh đập bà.


Người ta đã trói cả chân tay bà để bà khỏi bò ra cửa sổ.


- Tôi phải mở cái cửa sổ này ra. - Bà ta thét. - Nếu chồng tôi chết, hồn ông không thể nào vào được tại đây để vĩnh biệt tôi. Và tôi sẽ không biết là chồng tôi đã chết vì hồn ông vẫn ở trên đời.


Bà Ileana cầu xin người bạn trẻ mở cửa ra cho bà. Chị ta từ chối.


Bọn lính gác trói bà vào giường.


- Tôi đã mở cửa sổ trong bao nhiêu năm nay và tôi có chết rét đâu, kể cả những ngày giá lạnh đến nứt nẻ đá. Tôi không muốn cho người ta đóng cửa sổ. Tôi không muốn bị cách ly với chồng tôi, ít nhất trong lúc chồng tôi chết tôi muốn chồng tôi đến được với tôi. Tôi chờ chồng tôi. Nếu cửa sổ đóng, chồng tôi không vào được. Tôi phải chờ chồng tôi. Nếu có gì xảy ra cho chồng tôi, tôi phải biết. Các người không có quyền gì chia rẽ tôi với chồng tôi!


Bọn lính gác cười. Ileana Kostaky bị trói vào giường.


Người nữ tù nhân trẻ cũng cười.


- Tôi phải đợi chồng tôi bên cửa sổ để ngỏ. - Ileana gào lên. Nếu các người đóng lại thì chồng tôi không vào được.


Boris Bodnariuk ngả mình ra giường. Anh không muốn nghe những tiếng kêu gào của người đàn bà nhà quê nữa; nhưng anh nghe những tiếng gõ ở buồng bên cạnh. Dễ chừng đã hơn hai tiếng đồng hồ Ileana bị trói và cửa sổ buồng bị đóng.


- Bà già chết rồi! - Người nữ tù nhân trẻ kêu lên và gọi bọn lính gác. - Tôi không muốn ở cùng xà lim với người chết.- Tôi sợ.


Ileana đã chết vào lúc bọn lính gác đóng hẳn cánh cửa sổ lại. Bà là vợ và sứ mệnh bà là phải đợi chồng. Và bởi bà không còn hy vọng được trông thấy chồng khi chồng còn sống, nên bà đã mở cửa sổ ra để đợi chồng sau khi chồng chết. Khi cánh cửa sổ bị đóng lại cũng là Ileana Kostaky nhắm mắt lìa đời, bởi bà không còn chuyện gì làm trên đời này nữa. Bởi cuộc đời bà đã trở thành vô ích khi bà không còn có thể đợi chờ chồng ở giây phút lâm chung. Sứ mệnh làm vợ của bà đã chấm dứt.


Bọn lính gác đã lôi xác bà Ileana đi và đem chôn dưới lớp đất giá băng ngay cạnh cái nhà tù chật ních những người. Linh hồn bà - nếu thực tế có như lòng bà mong ước - đã rời bỏ cái lồng ngực già nua của bà để băng qua núi cao biển rộng đi tìm Ion Kostaky và nói với nhau những lời vĩnh biệt trên trái đất này. Nhưng chẳng ai biết sự thật về những câu chuyện trên đây. Không một người nào, không một linh mục nào biết được.


Tất cả những gì mà những người chứng kiến và bọn lính gác biết được về cái chết của Ileana Kostaky chẳng có bao nhiêu. Họ chỉ biết rằng thi hài lạnh giá của bà được cởi xiềng và đặt xuống trong lòng đất lạnh giá, và trên cái xác không hòm ấy người ta đã ném lên một vài nắm đất trộn tuyết và băng... Rằng những chiếc xiềng xích tay chân Ileana Kostaky đã được lau chùi và cất đi cẩn thận trong phòng gác, treo trên một chiếc đinh để lại đem dùng cho một tù nhân khác. Tất cả chỉ có thế, nhưng mà quá ít. Quá ít để nói là tất cả.


III


Boris Bodnariuk đã đạt được sự bình yên và thư thái tâm hồn của những kẻ từ bỏ cuộc sống trần gian để hướng về một lý tưởng. Anh biết tất cả những cái gì của một người Cộng sản đều thuộc về Đảng. Dù người ta có lột đi mọi thứ của anh vì lầm lẫn hay vì chủ định, cái đó không có gì quan trọng: Đảng có quyền lấy đi tất cả - còn anh thì không có quyền kêu khổ vì Đảng đã lấy đi tất cả mọi cái của anh. Lúc đầu, anh cũng hơi ân hận vì không còn được mang cái tên Boris Bodnariuk nữa. Bây giờ thì anh lấy chuyện đó làm tự hào. Anh từng chứng kiến bao nhiêu cái tên bị tước đoạt. Chỉ có những cái tên nổi tiếng mới bị tước đoạt đi. Khi các anh hùng Cộng sản Đức, Pháp, Tây Ban Nha đến Nga, người ta tịch thu những cái tên anh hùng của họ trước hết. Họ được nhận những cái tên khác thay vào. Những cái tên chiến thắng và vinh quang của họ không phải là của cá nhân nào mà là của Lịch sử và Tập thể.


Những kẻ mới đến là những con người bằng xương bằng thịt, có thể say rượu, có thể gây ra những xì-căng-đan, có thể sinh sự với nhau như tất cả mọi người. Sẽ là vô lý và bất công nếu như cứ để họ mang những cái tên anh hùng và cho phép họ phạm tội lỗi với những cái tên anh hùng đó. Vậy thì cái tên phải được tước đi, để riêng ra trên các ngăn tầng của Lịch sử. Con người mang những tên đó có thể già đi và làm bất cứ việc gì, với những cái tên khác, không thể với cái tên của một anh hùng.


Bodnariuk tự hào vì tên anh được giữ gìn trong Lịch sử, còn bản thân anh thì cứ tiếp tục cuộc đời với một cái tên tầm thường, một cái tên không có huyền thoại.


Có người nào đó thì thầm ngoài cửa buồng anh:


- Người ta vừa bắt Thánh Angelo!


Bước chân đi xa và giọng nói nhắc lại cái thông báo ở các cửa xà lim khác.


- Thánh Angelo đã bị bắt!


Giọng nói vọng đến nhỏ dần trước cửa những xà lim ở cuối hành lang.


Boris biết rằng tất cả những người bị giam trong cái nhà tù gạch đỏ của Molda đều là những kẻ thù của các Xô Viết.


Anh không muốn tham gia vào cuộc sống của họ. Họ là những kẻ thù của anh và anh muốn đứng xa họ ra.


“Đây là một khẩu hiệu của bọn phản động trong nhà tù đây!” Anh tự bảo.


Giọng nói một lần nữa lại vang đến trước cửa anh, và lần này nó nói thầm qua lỗ khóa rằng “Thánh Angelo đã bị bắt”.


Bodnariuk chú ý lắng nghe, tai dán chặt vào tường. Trong xà lim bên trái, có nhiều tù nhân, nhưng người ta chỉ nghe có một giọng nói:


- Thưa cha, cha có nghĩ rằng linh hồn của Ion Kostaky sau khi chết sẽ về dưới hình dạng một con chim bồ câu để vĩnh biệt vợ mình trong hầm kín giam bà ta không? Nhà Thờ có dạy những điều như vậy hay không?


- Ileana tin như vậy. - Linh mục Thomas Scobai đáp.


- Lòng tin ấy có hay không có căn cứ, thưa cha? Hay nó là một tà thuyết dị giáo? - Người tù nhân hỏi.


Bodnariuk muốn biết xem ông linh mục sẽ trả lời phải hay không phải.


- Lòng tin sắt đá của Ileana rằng linh hồn chồng bà sẽ tới tìm bà trước khi rời xa trái đất, cái ý chí của bà sẽ đợi và thức chờ với cái cửa sổ để ngỏ, ngày nào cũng như ngày nào, mùa hè cũng như mùa đông, đã bắt nguồn từ lòng yêu mến chồng, từ lòng thủy chung và bổn phận làm vợ của bà, bổn phận đó là chờ đợi, chịu đau khổ và không để cho sự lãng quên chiến thắng được mình.


Đó là những đức tính cao đẹp nhất của người đàn bà. Nếu như niềm tin xuất phát từ những đức tính đó là giả tạo thì Chúa phép tắc vô cùng cũng sẽ tha thứ cho bà vì bà tin vào một điều sai do quá yêu thương, do quá trung thành và quá nhẫn nhục.


Vị linh mục nói tiếp:


- Cầu xin Chúa ban ơn lành cho Ileana Kostaky và cho linh hồn bà được lên thiên đường, nơi chẳng có bóng đêm và nước mắt, mà chỉ có cuộc sống vĩnh hằng bất tận. A men!


Trong xà lim của mình, Boris Bodnariuk đã quyết định nhẫn nhục chịu đựng, chấp nhận tên mới của mình và không phản kháng nữa. Trong trường hợp mà tất cả mọi sự việc không hay đã xảy đến cho anh từ hôm anh trở về Rumani là hậu quả của một sự lầm lẫn, thì nhất định các Xô Viết sẽ gọi anh trở lại và sẽ sửa chữa sai lầm. Trong trường hợp mà mọi sự đều đã được sắp đặt như vậy, có nghĩa là do lợi ích của Lịch sử yêu cầu, thì anh sẽ tiếp tục phục vụ dưới cái tên mới và trong tình thế mới của anh, cũng với một dạ trung thành như vậy và cuối cùng rồi anh cũng sẽ thắng như anh đã thắng trước kia.


Nhưng những giọng nói mấy phút trước đây chỉ thì thầm với nhau rằng Thánh Angelo bị bắt, giờ đây không còn là những tiếng thì thầm nữa. Giờ đây người ta đã nói to lên.


Quần chúng đã tập hợp lại.


- Nông dân đang đến giải phóng cho vị Thánh. - Người ta la lớn ở các hành lang.


Có tiếng ồn ào của rất đông người; những nông dân phẫn nộ, những phụ nữ chạy, những người chen chúc xô đẩy nhau.


Cửa các xà lim bị mở tung. Các bức tường kêu răng rắc. Người ta nghe tiếng cả một quần chúng đông đảo đang đổ tới giải thoát cho Thánh Angelo. Bodnariuk không biết gì về vị Thánh ấy cả. Anh chỉ nghe thấy tiếng chìa khóa xoay trong ổ khóa buồng anh. Có những người đàn ông bước vào và nói với anh rằng anh đã được tự do. Anh khó khăn lắm mới chen được ra ngoài. Các hành lang của nhà tù Molda đã bị nông dân chiếm hết. Người bên ngoài muốn vào nhưng không còn chỗ. Không thấy bóng dáng một tên lính gác nào, một tên cảnh sát nào. Chỉ có quần chúng, lớp lớp, tầng tầng xô tới như những đợt sóng lớn, phá cửa, đập tường bằng những lưỡi cuốc. Những người bị giam ra khỏi xà lim. Các nông dân liền kéo đổ các cánh cửa với những bức tường ngăn. Quần chúng đã chiếm nhà tù và triệt hạ nó đi. Nhà tù không có tầng gác. Nông dân đã phá đổ hết các bức tường.


Họ đi ra, bê những chồng gạch dưới tay và bỏ lên xe của họ.


Bodnariuk chui qua một cái lỗ phá ở tường mà ra. Anh cố len lỏi tìm một lối đi. Mắt anh quen ước lượng số người dự trong các cuộc hội nghị, tính ra có thể đến khoảng một vạn người nông dân tấn công vào nhà tù Molda. Họ khuân tất cả những gạch, đá, gỗ, ván của cái nhà tù bị phá và mang đi.


- Thánh Angelo đã được giải thoát rồi! - Một người nào đó kêu lên.


Cả đám đông liền quỳ gối như dưới một sự điều khiển chung, ngay tại chỗ, với những gạch, đá của nhà tù trong tay.


Quần chúng đã giải thoát khỏi nhà tù một tu sĩ trẻ. Nông dân công kênh vị tu sĩ lên vai và rước ra xe. Đó là Vị Thánh - Thánh Angelo - chính vì vị Thánh đó mà các làng mạc đã nổi dậy và chạy đến cứu thoát cho Người. Bodnariuk rất muốn nhìn thấy mặt vị Thánh lắm, nhưng các nông dân đang rước Người đi cho nên thánh Angelo lúc này quay lưng lại với Bodnariuk.


- Chúng tôi không còn ai để chữa bệnh cho người ốm của chúng tôi. - Một người đàn bà bên cạnh Bodnariuk nói - Thánh Angelo an ủi linh hồn chúng tôi, chữa bệnh tật cho người ốm chúng tôi và cầu nguyện cho chúng tôi. Bao nhiêu năm nay, Thánh Angelo là nguồn an ủi động viên duy nhất của nông dân. Các Xô Viết đã tới bắt Người trong tận rừng sâu.


Thật quá quắt lắm rồi. Chúa Kitô thể nào dung thứ được. Giờ đây, Thánh Angelo đã trở lại tự do.


Sau khi vị Thánh đi qua, quần chúng đứng dậy và đi theo Người. Vị tu sĩ ngồi trên một chiếc xe thắng những con ngựa trắng. Chiếc xe bắt đầu từ từ chạy trên con đường rừng chật hẹp.


Bodnariuk bị xô đẩy cả bốn phía. Một mình anh là tay không. Một mình anh không lấy một viên gạch nào của nhà giam. Mọi người đều lấy cả.


- Anh cũng phải lấy chứ! - Một người đàn bà bảo. Bà ta đưa một viên cho Bodnariuk. - Những viên đá nhà tù đã giam giữ Thánh Angelo sẽ mang may mắn. Anh cứ đặt nó trước nhà anh hoặc trong một bức tường nhà.


Bodnariuk cầm lấy viên gạch đỏ. Những viên gạch các bức tường nhà giam cứ vợi dần đi trông thấy. Nếu như mỗi người nông dân mang đi một viên gạch và một tảng đá thì trong vài tiếng đồng hồ cái nhà giam của Cộng sản ở Molda ấy chỉ còn lại một mảnh đất bị giẫm nát.


Bodnariuk buông mình vào trong biển người theo sau chiếc xe của vị Thánh. Anh cứ để cho người ta lôi cuốn anh đi, tay vẫn cầm viên gạch, trong dòng thác những người nông dân hát vang những khúc thánh ca.


Đoàn người đi về phía rừng. Không còn bóng một tên lính gác nào. Không còn một ai để ngăn cản cuộc nổi dậy của nông dân. Đoàn người tiến vào trong rừng núi.


Boris Bodnariuk được người ta mời lên một chiếc xe: Anh bước lên, và chiếc xe của anh đi theo những chiếc xe khác tiến sâu vào trung tâm khu rừng. Dọc đường đi, anh được nghe kể lại rằng nhà thờ các làng đã lần lượt bị đóng cửa cái nọ sau cái kia. Ở những nhà thờ còn mở thì các linh mục toàn là linh mục Cộng sản. Nông dân đua nhau vào rừng tìm đến với Thánh Angelo, một vị tu sĩ trẻ có khả năng làm phép lạ. Đây là một sự đổi mới trong tinh thần sùng đạo của quần chúng muốn giữ vững đức tin. Và khi các Xô Viết bắt giam vị Thánh trẻ, thế là toàn bộ các làng đã nổi lên và chạy tới giải thoát cho Người.


- Phép lạ chính là không có một người lính Nga nào cản bước chúng ta. - Người đàn bà đánh xe bảo. - Đúng là một phép lạ thật sự của Chúa lòng lành. Chỉ có một tên lính gác tại nhà giam. Ở Molda, chúng tôi không gặp lấy một tên lính, một tên cảnh sát nào. Chúa đã cách li chúng nó thật xa để chúng ta giải thoát cho Thánh Angelo được trót lọt.


- Anh hãy quỳ gối xuống! - Người đàn bà bảo. - Thánh Angelo đang đọc kinh cầu nguyện cảm tạ Chúa lòng lành đã cứu thoát Người ra khỏi nhà tù Cộng sản!


Bodnariuk vâng lời. Anh xuống xe và quỳ gối cùng với hàng ngàn nông dân trên bụi đất của con đường rừng nhỏ hẹp.


“Không thể cả một phong trào quần chúng sâu rộng như vậy xảy ra mà các Xô Viết không có biện pháp đề phòng về mặt an ninh xã hội”. Bodnariuk nghĩ bụng. “Đây quả thật sự là một cuộc cách mạng”.


- Anh hãy giữ kỹ lấy viên gạch của anh! - Một người đàn bà nào đó nói với Bodnariuk. - Mất đi là không lấy lại được đâu. Người ta đã nhặt đến cả những hòn đá cuội của nhà tù. Không còn một cái gì nữa cả. Anh hãy giữ nó cẩn thận! Mất đi là uổng lắm đó. Anh không thể tìm lại được một hòn nào khác nữa đâu!


Bodnariuk cầm lấy viên gạch. Chưa bao giờ anh được chứng kiến một phong trào quần chúng mãnh liệt như thế. Mọi người như một. Hoàn toàn.


IV


Ion Kostaky và Pierre Pillat làm cuộc hành trình từ Đức về Rumani bằng cách đi đêm xuyên đường rừng để khỏi bị lính Nga bắt gặp. Một lần nữa, họ đang ở khu rừng cao nhìn xuống Piatra. Họ vừa mới đến. Trời chưa rạng Ion Kostaky muốn tiếp tục đi xuống để về làng, nhưng con rể ông không cho.


- Anh yêu cầu bố dừng lại ở đây mà không xuống làng là anh chẳng hiểu lòng bố chút nào cả. - Ion Kostaky nói. - Anh tưởng bố có thể đứng đây nhìn về mà không xuống làng sau khi đã vượt cả đại dương để về lại Piatra sao? Anh tưởng bố cam lòng chỉ đứng xa xa mà nhìn về thôi sao?


- Bố hãy đợi đến tối! - Pierre nói - Bây giờ thì nguy hiểm vô cùng. Bố thừa biết. Từ Heidelberg, chúng ta chỉ đi vào ban đêm. Bố hãy kiên nhẫn thêm chút nữa. Còn hai giờ nữa thôi là trời đã sáng hẳn.


Ion Kostaky nhìn những ngôi sao buổi sáng. Ông biết ngày sắp đến rồi. Thời tiết đang giữa xuân. Trong ánh phơn phớt màu xanh của ban đêm, qua những cây thông cao, người ta nhìn thấy làng Piatra dưới thung lũng, bao phủ một làn mây trắng trong suốt như tấm khăn che mặt của cô dâu.


- Anh tưởng bố có thể đứng đây cả một ngày ròng mà nhìn về làng từ xa à? - Ion Kostaky hỏi. - Anh muốn bố chỉ nhìn từ xa về cái nhà của bố, về ruộng vườn của bố à? Anh tưởng bố đã băng qua tất cả những đất nước kia, tất cả những núi rừng kia như một con chó, như một thằng kẻ trộm, chỉ để được có vậy thôi ư?


Làng Piatra đang trải ra dưới chân họ. Nhưng vì ở Piatra có người Nga, có dân quân, có cảnh sát và có bọn dân phòng, nên họ đã quyết định đợi tối hôm sau mới xuống làng.


Nhưng giờ đây, khi mà họ đang ở ngay phía trên làng, đã thấy làng ngay dưới chân họ thì Kostaky không làm sao kiên nhẫn được nữa. Tay phải ông cầm một chiếc gậy to tướng. Ông lấy hết sức bình sinh ôm chặt nó vào người.


- Xuống làng ban ngày là liều lĩnh, thiếu thận trọng. - Pillat nói. - Con biết phải đợi đến tối là một việc khó khăn, nhưng nếu xuống chúng ta sẽ bị tóm cổ ngay, bố ạ. Chúng ta sẽ bị tóm cổ ngay tức khắc. Con hiểu bố đang sất ruột muốn xuống lắm. Con cũng vậy, cũng rất sốt ruột. Đất đai mình, nơi sinh quán của mình, nhà cửa của mình, bao nhiêu thứ là bấy nhiêu cục nam châm thu hút chúng ta. Sự khôn ngoan cũng bất lực so với những sức hút đó. Con biết chúng ta có thể khôn ngoan và không xuống những làng xa lạ ban ngày. Nhưng khi đó là làng xóm của ta, là nhà cửa của ta, thì khó lòng mà chịu nhịn không đi xuống được, khó lòng mà đứng đó từ xa nhìn về! Nếu bố muốn vậy, con sẽ theo bố cùng xuống, nhưng làm như thế không khôn ngoan chút nào!


- Bố sẽ đi một mình. - Kostaky bảo. - Bố giao chiếc túi của bố lại cho anh. Bố chỉ xuống làng với một chiếc gậy trong tay, nhưng bố đi một mình. Chỉ cần nhìn cái làng, cái nhà một cái và bố sẽ trở lên ngay trước lúc trời sáng. Anh hãy đợi bố chỗ này!


- Bao nhiêu năm tháng nay, bố con ta chưa một lần nào tách rời nhau cả. - Pillat nói - Bây giờ nữa, chúng ta hãy đi với nhau.


- Bố xuống một mình! - Kostaky nói, giọng quả quyết như một mệnh lệnh. - Bố chỉ liếc mắt qua một cái thôi, và chúng ta sẽ trở lại cả hai người trong đêm sắp tới. Anh nói có lý. Nên đi ban đêm thì hơn. Bây giờ thì anh hãy đợi bố ở đây. Bố đi xuống cánh đồng một lát để cảm giác được mảnh đất mình đang ở dưới chân mình, để được nhìn thấy ruộng nương, bờ giếng, được thở cái không khí trong lành của quê hương.


Phải thế, anh hiểu không? Ta đã tưởng không còn bao giờ được bước đi trên những nẻo đường làng. Chúa thật vô cùng cao cả vì đã ban cho ta cái ân huệ cuối cùng của cuộc đời ta: đặt chân lên những con đường nhỏ hẹp của cái làng Piatra nhỏ bé của ta này!


Kostaky đi một lát đã thấy mệt. Trước kia, bao giờ cũng là ông đưa ra ý kiến nghỉ chân đầu tiên. Bây giờ thì có thể nói ông đã nghỉ đủ rồi, ông không muốn dừng nữa, không cả ngồi nghỉ lấy một giây nào nữa.


- Bố thuộc đường - Kostaky nói. - Nếu có quân tuần tiễu thì bố không vào làng. Bố sẽ gặp lại anh ở chỗ này đây. Một giờ thôi, bố sẽ trở lại. Ion Kostaky đi.


Có thể bố sẽ mang về một chút gì để ăn. - Ông nói - Biết đâu! Nhưng không, bố sẽ không nói với bất cứ ai điều gì. Tạm biệt. Bố chỉ liếc qua làng một cái thôi.


Ion Kostaky rảo bước xuống làng. Ông đi như chạy, chiếc gậy to tướng trên tay. Kostaky đi thẳng người, như một cây thông.


Bước chân ông trên đường xuống làng là bước chân của một thanh niên. Mảnh đất Rumani đã trả lại cho ông sức cường tráng của những ngày chưa di tản. Pillat đứng nhìn theo bước ông đi.


Bóng dáng Ion Kostaky khuất xa trên nẻo đường mòn giữa những hàng cây. Nó xuất hiện trở lại với cái dáng trẻ trung của một con nai cái vội vàng, khao khát.


Ion Kostaky giờ đây là một con người khác chứ không phải Kostaky ngày ở Canada hoặc ở Hungary. Không phải Kostaky ghi trong sách “nhóm trung kiên”, cặn bã của xã hội Mỹ. Mà là một Kostaky đi hiên ngang như một chúa đất. Bước đi của ông chạm lên mặt đường một cách quen thuộc như cái quen thuộc của người nghệ sĩ trên dây chiếc vĩ cầm.


Ông lại khuất đi sau những lùm cây và nhảy qua các vật chướng ngại. Rồi khuất hẳn. Đường về Piatra không xa. Chỉ phải luôn luôn luồn rừng đi xuống.


Pillat ngả mình trên cỏ. Anh ân hận đã không đi theo Kostaky. Nhưng Kostaky thì cả quyết chỉ đi một mình. Đó là ý muốn của ông. Bây giờ đây, chắc chấn ông đã đặt chân về làng rồi.


Pillat vuốt ve những ngọn cỏ còn ngậm sương. Anh ngắt một nắm cỏ và áp mặt mình lên. Anh rất mệt nhưng không sao ngủ được. Chỉ cứ việc nằm mà ngửi mùi thơm của đất cũng là nghỉ ngơi rồi. Tai anh luôn luôn lắng nghe xem có tiếng súng nào nổ dưới thung lũng hay không, bởi Cộng sản không một giây phút nào ngừng việc tuần tiễu các làng và bảo vệ các con đường. Chỗ nào cũng nhan nhản những nhân viên cảnh sát.


Pierre lắng nghe như thể mong muốn được nghe tiếng chân Kostaky lại dội lên trên con đường Piatra.


Đáng lẽ mình cũng đi mới phải! Ai lại để bố đi một mình.


V


Ion Kostaky đi sâu vào các con đường nhỏ của Piatra.


Ông dí đầu ngón chân lên bụi đất như để kiểm tra xem người ta có thay đổi gì con đường hay không. Vẫn con đường ấy và mảnh đất ấy. Ông bước đi, vui vẻ vì đã tìm thấy lại con đường, tựa hồ như tiếp xúc nó không phải bằng đôi chân mà bằng con tim. Ông định cởi cả giày ra và đi chân không, nhưng không cần thiết. Qua những chiếc giày đinh Đức thô kệch ông vẫn cảm thấy dưới gan bàn chân mình là đất của những con đường Piatra, đất của làng mình, và bước đi của ông không như trước nữa. Đó là đất của ông. Kostaky đi tới. Ông nhìn ngôi nhà đầu tiên. Vẫn y nguyên như ngày xưa. Không có gì thay đổi cả. Ông nhìn các mảnh sân. Hàng rào không còn nữa, nhưng vẫn là những mảnh sân ấy. Giữa làng có một cái giếng. Ion Kostaky mong ước được uống một hớp nước của nó. Ông bỗng dưng thấy khát cái nước của làng, nước của cái giếng này. Ông đành chỉ đặt bàn tay âu yếm sờ lên thành giếng như sờ lên lưng một người đàn bà. Ông nhìn cái cần múc nước rồi lại tiếp tục bước đi. Trước kia, bên cạnh giếng có một cây liễu rũ. Kostaky dừng lại. Cây liễu không còn, Kostaky thấy lòng bực bội.


- Vì sao chúng nó lại chặt mất cây liễu? - Ông tự hỏi mình. Chắc nó bị khô héo nên người ta mới chặt nó đi chăng?


Ông tiếp tục đi tới nữa và lại cảm thấy buồn buồn. - Nếu chúng nó chặt cây liễu đi thì ít ra phải trồng một cây khác thay vào. Bao giờ ở cái làng Piatra này, sự việc cũng đều theo thông lệ ấy. Cạnh cái giếng là một cây liễu rũ.


Ion Kostaky siết chặt chiếc gậy của mình. Ông nhìn thoáng qua các ngôi nhà một cách vội vàng. Ông ngửi mùi hương của cỏ. Tất cả các cửa sổ đều chìm trong bóng tối. Có lúc ông đã toan gõ vào một cái cửa kính, nhưng rồi ông nghĩ lại không nên để ai trông thấy mình thì hơn.


- Ta đã hứa với Pierre ta sẽ chỉ liếc mắt qua nhà một chút thôi. Đêm sau trở lại, lúc đó sẽ đi gặp tất cả bà con ta.


Bước chân ông càng bước tới càng nhanh nhẹn. Bỗng ông nhìn thấy những bức tường trắng mà ông tìm kiếm, những bức tường của nhà mình. Ông nhìn xung quanh ông. Phía sau có một khoảng trống, một khoảng trống xấu xí, một khoảng trống có thể nhìn thấy từ xa. Tại đó, ngày xưa là cái nhà của Pillat và Marie. Căn nhà đã cháy.


- Chúng ta sẽ xây cái khác. - Kostaky nói. Nhưng ông nhớ lại rằng Marie không còn ở đó nữa.


Qua những cây hồ đào, ông nhìn thấy những bức tường, đôi mái nhà màu xám, những chiếc cửa sổ con con của ngôi nhà ông. Một nếp nhà nép mình dưới ba gốc hồ đào. Một ngôi nhà, giống y như một thực thể sống. Trái tim của Kostaky đập mạnh. Ông quên căn nhà bị cháy. Ông quên những người Nga. Ông ngắm nghía ngôi nhà của mình và bước tới bên cạnh.


- Có lẽ Ileana đang ngủ. - Ông tự bảo. Rồi ông nghĩ rằng Ileana có thể không ở nhà nữa, bà có thể còn ở trong tù hoặc một nơi nào đó chỉ có Chúa mới biết được. Có thể người ta đã lấy mất nhà của ông.


Kostaky đi vào mảnh sân không có hàng giậu. Ông buồn rầu quan sát. Cạnh ngôi nhà ngày trước có một cái chái làm chỗ cất chứa những dụng cụ của ông, cái cày, cái bừa, chiếc xe. Cái chái đó nay không còn nữa. Kostaky cáu kỉnh.


- Ai đã phá mất cái chái của ta? - Ông tự hỏi, thái độ bất bình. Không ai có quyền được thay đổi bất cứ cái gì. Chính ông là người chủ, ông, Ion Kostaky. Và chính vì vậy mà ông đâm cáu; ông nghĩ: có thể nhà ông đã bị cộng đồng tịch thu. Mà cộng đồng thì muốn thay đổi cái gì tùy ý nó. Ion Kostaky nghiến răng ken két. Ông nhìn những bức tường. Nó vừa được quét vôi lại trắng xóa. Chính ông đã cùng với Ileana quét vôi những bức tường đó, mỗi mùa xuân, trước Pâques, trong Tuần lễ thánh, để có những bức tường mới chào mừng ngày lễ Phục Sinh. Ông sờ tay lên tường.


- Có thể Ileana đang ở nhà và chính bà quét vôi các bức tường cũng nên. - Ông tự bảo mình.


Ông đi đến bên cửa sổ.


- Chúa vẫn làm nên những phép lạ. Có thể Ileana còn ở nhà và bọn chúng không đuổi bà đi chăng? Có thể bà đang ngủ...


Bàn tay ông mân mê bức tường như đang mân mê thân thể một con vật sống, một con ngựa hay một con bò. Tay để trên bức tường do chính ông đã xây dựng lên, ông đưa mắt tìm cái chuồng bò, nhưng ở chỗ chuồng bò xưa kia bây giờ chỉ còn là một khoảng trống.


- Mình không còn lấy một con súc vật nào nữa cả. - Kostaky tự nói với mình, rồi ông nghĩ chẳng nên bực bội làm gì. Nếu trở lại, ta sẽ lại xây dựng lần nữa. Chẳng sao. - Ông nghĩ tới hai con ngựa hồng của ông, tới con bò cái giống Thụy Sĩ của ông, tới những con lợn của ông và ông lại nổi giận lần nữa.


- Chúng nó phải trả lại cho ta! Không ai được cướp đoạt của ta cả. Đó là những con vật do tay ta nuôi, bằng mồ hôi của ta. Ta cau có mà làm gì ư? Làm sao ta lại không cau có được? Cho đến bây giờ, ta không nghĩ đến chuyện đó. Ta cũng đoán chừng chúng nó đã chiếm đoạt ngôi nhà của ta, nhưng chưa bao giờ cái đó khiến lòng ta phiền muộn cho bằng bây giờ.


Nhưng mà... cũng có thể chúng nó không lấy nhà ta chăng?


Ông nhón chân nhìn qua cửa kính về phía trong nhà. Bàn tay ông vẫn mân mê bức tường. Mắt ông đẫm lệ. Ông biết rằng bên cửa sổ trước kia có một chiếc tủ bằng gỗ hồ đào. Ông không thấy nữa. Trong nhà tối om. Ông toan gọi Ileana, nhưng ông thấy rằng làm như vậy là thiếu thận trọng. Ileana có thể không có mặt ở nhà.


Bọn Cộng sản đã tịch thu nhà cửa của bất kỳ ai vắng mặt.


Ông đi quanh nhà, tay vẫn mân mê bức tường.


Đất đai ông, ba hecta bao quanh nhà bị bỏ hoang. Người ta đã xây dựng lên ở đó những chiếc lán cao ngang với nhà thờ.


- Có những hàng rào dây thép gai. - Đây là sân bay đây! - Kostaky tự bảo - Đất chết, bị bỏ hoang, bỏ hóa. Đất của ta chỉ còn dùng cho máy bay Nga hạ cánh. Đây là loại đất thượng hạng của Piatra, một loại đất đen. Ngô trồng ở đây cao tới hai mét. Kostaky quay lưng lại với sân bay.


Ông lại đến bên cạnh cửa sổ. Ông không muốn xa chỗ đó ra.


Một mảng vữa trên tường rơi xuống. Kostaky nổi cáu.


- Chúng nó bỏ cho ngôi nhà hoang tàn? Vữa tường của ta trước kia không bao giờ sứt mẻ ra cả. Ông dùng ngón tay dí nát mảng vữa tường màu trắng rồi thử mở cánh cửa.


Vẫn cái quả xoay ngày xưa, nhưng cửa đóng khóa. Ông nhìn qua cửa sổ. Ông sờ lên tấm kính lạnh. Cửa sổ đóng từ bên trong.


- Nếu ta ở lại thêm nửa giờ, trời sẽ sáng, và ta có thể nhìn rõ bên trong. - Ông tự nói với mình, nhưng ông lại vội nhận ra rằng đó không phải một lý do để ở lại trong làng đợi trời sáng.


- Ta sẽ trở lại ngày mai.


Ông nhìn làng. Mọi sự đều yên tĩnh. Không một con mèo, con chó, còn gà, con người nào cả.


- Có lẽ nhà không ai ở chăng? - Kostaky suy nghĩ. - Ta vào thử xem?


Xúc động, ông gõ gõ vào cửa kính.


- Có ai ngoài cửa sổ ấy! - Một giọng đàn bà nói từ bên trong.


Đó là một giọng nói lạ.


Kostaky đứng tựa vào tường. Người ta nghe có một giọng đàn ông. Có những người lạ trong nhà. Và điều ấy làm ông khó chịu. Nhà của ông mà ông cứ phải đứng bên ngoài cửa khóa không sao vào được.


- Ai đó? - Người đàn ông hỏi.


Kostaky nhìn qua cửa sổ thấy một người đàn bà đứng lên và thắp đèn. Tất cả mọi tiện nghi trong nhà đều lạ. Người đàn bà thắp đèn là một người lạ. Không nhìn thấy được mặt bà ta.


Người đàn ông ở trên chiếc giường sắt là một người lạ. Chiếc giường cũng lạ, và lạ cả cái đèn.


- Ai đó? - Người đàn ông hỏi.


Hắn đã đứng lên và vớ lấy một chiếc búa. Hắn mặc sơ mi, đi tới cạnh cửa sổ.


- Hãy cẩn thận? - Người đàn bà nói.


Người đàn ông nắm chiếc búa trong tay. Hắn nhìn ra cửa sổ Trong giây lát, Kostaky đã có cái ý định toan đánh nhau một trận với những người trong nhà và đuổi chúng đi.


Thật là phi lý? Dù ông có đuổi họ đi chăng nữa thì ông đâu có thể trở về ở trong ngôi nhà của mình? Bọn lính gác sẽ lại đuổi ông đi.


Kostaky đành nhẫn nhục. Ông đi xa ra rồi lại quay trở lại.


Trong nhà có ánh sáng. Người đàn ông cầm búa vẫn đứng kề cửa sổ.


- Hãy nghe. - Kostaky nói.


Người đàn ông giơ cao chiếc búa, sẵn sàng tự vệ.


- Đừng có sợ! - Kostaky nói. - Chẳng có ai muốn giết hoặc cướp cái gì của anh đâu?


- Ông là ai? - Người đàn ông hỏi.


- Tôi là Ion Kostaky, người đã dựng lên ngôi nhà này. Tôi là chủ sở hữu của ngôi nhà. Anh hiểu không? Ông chủ Ion Kostaky!


- Chúng tôi không biết! - Người đàn bà nói - Nhà này là của chúng tôi.


- Các người hiện nay đang ở đây, tôi hiểu, nhưng đây là ngôi nhà của tôi, Ion Kostaky.


- Ông điên rồi! - Người đàn bà thét.


- Em im đi! - Người đàn ông nói.


Đoạn y hỏi Kostaky:


- Ông nói ông là...?


- Tôi là Ion Kostaky. Các người chưa bao giờ nghe nói tên tôi à?


- Chưa bao giờ? Ông muốn gì?


- Tôi là Ion Kostaky. Tôi là ông chủ sở hữu của ngôi nhà này.


Người đàn ông nói với người đàn bà:


- Chắc là tên Kulăc ở ngôi nhà này trước chúng ta.


- Bảo ông ta cút xéo đi! - Người đàn bà nói - Đừng có mang vạ vào thân! Nếu đúng là tên Kulăc, có nghĩa là hắn đã bỏ trốn đi. Ngày mai cảnh sát sẽ đến và nếu họ biết tên Kulăc đã có mặt ở đây thì họ sẽ bắt chúng ta. Bảo hắn xéo ngay đi!


- Ông muốn nói gì thì nói đi, ông già ạ! Rồi cút ngay đi cho tôi nhờ! - Người đàn ông bảo.


- Anh có thể cho tôi biết hiện vợ tôi ở đâu không? - Kostaky hỏi - Anh không biết Ileana Kostaky ở đâu à?


- Em đã bảo anh đúng nó đã bỏ trốn đi mà! - Người đàn bà nói - Thôi hãy tắt đèn đi. Nếu có ai thấy chúng ta nói chuyện với hắn, chúng ta sẽ phải trả giá đắt đó.


- Ông hãy tới đồn cảnh sát mà hỏi. Tôi không biết Ileana là ai. Cả ông nữa, tôi cũng không biết. Ông cút đi!


- Anh hãy nghe tôi nói, một câu nhỏ thôi! - Kostaky nói.


- Tôi không có gì phải nghe, không có gì phải nói cả. Hỏi cảnh sát ấy! Ông hiểu chưa? Tôi không biết gì tất. Nếu ông không đi ngay khỏi nhà này thì tôi đi gọi cảnh sát. - Người đàn bà nói - Tôi đi gọi ngay đây!


- Tôi không định làm gì các người đâu, những kẻ tốt bụng ơi! - Kostaky nói.


- Ông từ đâu tới? - Người đàn ông hỏi.


- Từ chỗ cùng trời cuối đất, từ phía bên kia biển rộng núi cao. Đây là nhà của tôi.


- Nhà của chúng tôi! Nếu ông muốn gì, hãy đến ban ngày, đừng đến ban đêm. Vì sao ông lại đến ban đêm?


- Các người không có tin tức gì về vợ tôi à? Tôi chỉ muốn hỏi các người có chừng ấy thôi.


- Tôi không biết Ileana Kostaky. - Người đàn ông đáp - Tôi chưa bao giờ nghe cái tên ấy. Tôi không phải người ở Piatra.


- Anh không nghe nói bà ta còn sống hay không à?


- Ở đây, không có Ileana Kostaky!


Người đàn bà thổi tắt ngọn đèn. Cả phòng ngập chìm trong bóng tối.


Ion Kostaky mân mê cái gờ cửa sổ với lòng bàn tay của mình. Vữa vôi trên tường lại nứt nẻ và rơi xuống. Kostaky thấy nó rơi mà chua xót trong lòng. Ông vốc một nắm trong tay và bóp vụn nó ra, trong khi tay phải ông vẫn tiếp tục mân mê cái khung cửa sổ.


Trong nhà tối om. Người đàn bà tiếp tục tranh luận với chồng. Anh chồng bảo:


- Chắc là Ion Kostaky, người đã bị đày biệt xứ, ở cái nhà này xưa kia.


- Đây là nhà của chúng ta! Em không nghe nói về bất cứ chuyện gì và bất cứ người nào bao giờ. Và em cũng chẳng muốn nghe gì tất cả những chuyện đó!


- Sao em lại bảo không bao giờ nghe nói đến Ion Kostaky? - Người đàn ông nói. - Em vẫn thường nghe người ta nói về ông ta. Ion Kostaky là người trước kia ở cái nhà này. Ông ta đã bị bắt, lão Kulăc Ion Kostaky ấy!


- Bọn Kulăc đã bị diệt sạch rồi! - Người đàn bà nói - Nhà của lão đã thuộc về tập thể và tập thể đã phân cho ta rồi.


- Nhưng trước khi nó thuộc về tập thể thì nó là nhà của Ion Kostaky.


- Điều đó chẳng can hệ gì đến chúng ta cả. - Người đàn bà nói.


- Đáng lẽ ít ra chúng ta cũng nên nói cho ông ta biết vợ ông ta đã chết. - Người đàn ông đáp - Biết được như vậy thì Ion Kostaky đã đi ngay rồi! Em là đàn bà. Vì sao em không có được một con tim? Ông ta chỉ hỏi có thế. Vợ ông ta còn sống hay không? Ông ta chẳng còn ai cả. Nếu chúng ta nói thật cho ông ta biết, ông ta đã đi rồi! Ông già tội nghiệp có yêu cầu gì nhiều hơn đâu! Có thể ông ta từ Sibérie về. Có thể ông ta đã đi hàng ngàn cây số để đến đây hỏi xem vợ mình còn sống hay không. Vì sao em lại thiếu chút tình thương đến thế? Anh sẽ chạy theo tìm ông ta và nói cho ông biết vợ ông đã chết trong tù. Anh sẽ nói với ông ta cái gì anh biết. Anh sẽ mang cho ông ta một ít thức ăn nữa. Một ngày kia, bất hạnh cũng có thể đến với chúng ta. Thử tưởng tượng anh ở vào địa vị ông ta và đến đây hỏi thăm tin tức em thì sao?


- Anh đi, người ta sẽ bắt luôn anh cùng với ông ta đó!


Người đàn ông mặc quần áo. - Anh đi tìm ông ta đây. Sao lại không nói thật với ông ta được một lời? Người ta chỉ muốn biết có một điều: vợ mình sống hay chết, thế thôi.


- Anh đừng đí! - Người đàn bà thét.


Kostaky nghe người đàn bà giằng lấy áo quần của chồng để ngăn cản không cho chồng mặc vào.


Kostaky rời tay khỏi bức tường. Ông rời bỏ ngôi nhà. Trán ông toát mồ hôi lạnh. Trong nhà vẫn nghe người đàn bà cãi cọ với chồng.


- Tôi sẽ đi, tố cáo anh với cảnh sát! - Người đàn bà thét.


- Anh cứ bước chân ra khỏi nhà là tôi đi báo ngay lập tức cho anh xem.


Ion Kostaky thấy hai cây táo trồng trước nhà đã bị chặt mà lòng bùi ngùi. Ông không biết vì sao những người Cộng sản lại chặt mất mấy cây táo.


- Anh mà đi là tôi tố cáo.- Người đàn bà càu nhàu trong mồm.


Kostaky đi xa. Đôi mắt ông đầm đìa nước mắt. Ông ngoái đầu lại một lần nữa. Ngôi nhà của ông chìm trong bóng tối.


Người đàn bà đã thổi tắt đèn.


- Cầu Chúa cho Linh hồn Ileana được hằng sống trên thiên đường của Người! - Kostaky nói.


Ông cất chiếc mũ calô Mỹ đội trên đầu và làm đấu thánh giá.


- Cầu xin Chúa tha tội cho Ileana!


Ông đội lại cái mũ lên đầu ướt đẫm mồ hôi rồi thẳng đường đi trở lại rừng. Làng xóm vắng vẻ quạnh hiu. Đường xá vắng vẻ. Ileana thiếu đi, cả trời đất đối với ông dường như cũng hoàn toàn hiu quạnh.


Kostaky trông thấy ba bóng người đi về phía ông trên con đường làng. Ông muốn đi tắt vào một khu vườn. Nhưng bọn lính gác đã nhìn thấy. Kostaky bò sát đất để tìm đường lẩn tránh. Ông ngửi thấy tất cả cái hương vị của đất thấm sâu vào người ông, vào tim phổi của ông. Bọn lính gác bắn súng phía sau lưng. Người ta báo động cả trên sân bay. Lính đổ ra đầy đường. Tất cả những ai muốn ra ngoài đều bị giữ lại.


- Bọn chó Cộng sản! - Kostaky nói.


Ông không đi về chỗ Pillat đang đợi ông, bởi bọn lính gác đi từ phía ấy tới, và ông đi theo hướng ngược lại.


(còn tiếp)


Nguồn: Cơ may thứ hai. Tiểu thuyết của Constant Virgil Gheorghiu. Hoàng Hữu Đản dịch. In theo bản thảo mà Giáo sư Hoàng Hữu Đản gửi nhà văn Triệu Xuân, Trưởng Chi nhánh NXB Văn học - năm 2002. Triệu Xuân đã biên tập hoàn chỉnh để in ấn, nhưng không được cấp Giấy phép xuất bản (vì tác giả này chống Liên Xô)! Mãi đến năm 2010, GS Hoàng Hữu Đản gửi in tại NXB Công an nhân dân.


www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 15.01.2020
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 15.01.2020
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 10.01.2020
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 10.01.2020
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.01.2020
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 07.01.2020
Bắc cung Hoàng hậu - Nguyễn Vũ Tiềm 05.01.2020
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 05.01.2020
Trả giá - Triệu Xuân 02.01.2020
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 02.01.2020
xem thêm »