tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30195779
Lý luận phê bình văn học
23.10.2019
Phan Quang
Thời gian không đổi sắc màu (5)


Tôi vừa nhận được cuốn sách in đẹp chỉnh chu của nhà báo Phạm Quốc Toàn gửi biếu - thật khó có món quà nào tao nhã hơn thế. Tên sách nghe ngồ ngộ: Tôi nói bằng mồm tôi (Nxb Hội nhà văn). Trong khoảnh khắc ba năm, Phạm Quốc Toàn trình làng bốn cuốn sách. Chuyện nghề, chuyện đời, chuyện tình nghĩa ấm lạnh buồn vui đều có cả. Nay đến “Tôi nói bằng mồm tôi”. Nhìn qua bìa sách, tôi nghĩ chắc lại đề cập chuyện nghề, bởi liên tưởng ngay trong số nhà báo nổi tiếng như cồn, mà thiếu chi người nói bằng miệng mình nhưng ý tưởng, nội dung toàn giật tạm của người khác.


Lật mấy trang mục lục, qua những 125 dòng - tìm dòng có cái tít được dùng làm tên sách. Thì ra câu chuyện quá đỗi ngày thường: Có fif đâu! Tại một viện an dưỡng nọ, các bác sĩ, y tá, nhân viên kháo chuyện trong giờ làm việc ồn ào y như ngoài chợ, đến nỗi có cụ bệnh cao niên không sao chịu nổi, lựa lời góp ý. Vậy là bà bác sĩ tung luôn một câu: “Chúng tôi nói bằng mồm chúng tôi. Chúng tôi làm bằng tay, nói bằng mồm, mắc mớ gì đến ông?”.


Vâng, chuyện quá bình thường, chẳng mấy khác “chuyện thường ngày ở huyện” thời Liên Xô ngày trước hay “chuyện ra ngõ gặp phiền hà” ở nước ta ngày nay, kể cả đời không hết. Ít lâu nay, từ diễn đàn Quốc hội, các phiên họp thường kỳ của Chính phủ đến trang đầu các báo chí, truyền thông  vẫn chẳng bàn dài dài chuyện văn hóa bệnh viện, văn hóa trường học, văn hóa cửa công, văn hóa ứng xử  đó sao?


Đi sâu vào cuốn sách, mới vỡ nhẽ vậy mà không phải vậy. Đâu chỉ chuyện vặt ấy. Đến đại sự quốc gia, bang giao quốc tế cũng y chang. Có một vị tướng chóp bu nọ, tướng T. thứ thiệt (T viết hoa), ngang nhiên đối đáp với người đồng cấp nhân dịp ông mang chuông đi đấm nước ngoài, khi bị cật vấn về mưu đồ của Trung Quốc hạ đặt Giàn khoan trái phép tại Biển Đông, ông tướng đã lớn tiếng tuyên ngôn: “Chúng tôi nói bằng mồm chúng tôi, chuyện của chúng tôi, can hệ chi mà các vị chõ vào?”.


Bàn tới đây, Phạm Quốc Toàn hạ bút: Hết nói! Tác giả đã bảo vậy thì độc giả đành vâng, tuy nhiên nó vẫn không làm sao ngăn tôi không nhớ đến một kỷ niệm thời thơ ấu. Mấy tháng nghỉ hè, tôi hay theo chị gái la cà ra xem chợ làng quê năm ngày mới họp một phiên đông vui lắm. Và lần nào tôi cũng giật thót người, tim như thắt lại khi nghe bà hàng cá sa sả mắng người đồng cấp - tức là các bà vẫn ngồi dàn hàng một dãy bán cá, bán lươn cạnh nhau: “Tao nói bằng mồm của tao, căn cứ chi mà mi chõ cái mõm thối của mi vô!”. Quả đúng như lời cô giáo vẫn giảng ở lớp học, con người là loại sinh vật dù sinh ra ở đâu vẫn có những nét tương đồng!


Tác giả gọi các bài viết của anh là tiểu phẩm, đúng kinh sách. Tuy nhiên đọc anh, tôi những muốn gọi các bài in trong tập ấy bằng nhiều tên khác nữa: tạp bút, ngẫu hứng, ghi nhanh, thời luận, phiếm luận..., và tại sao không, thông tin thời sự. Mách có chứng cứ hẳn hoi. Này nhé. Vẫn bài vừa đề cập ở trên, đáp ứng đầy đủ yêu cầu 5 chữ W của báo chí hiện đại.


Who - Tướng X. (Họ tên đầy đủ kèm cấp bậc, chức vụ hoành tráng).


When - Ngày 15-5-2014.


Where - Washington D.C., Hòa Kỳ.


Why - Trả lời một chính khách Mỹ chất vấn.


What - Về mưu đồ của ai đó biến biển cả thành ao nhà.


Who, Which... đủ cả. Vậy chẳng phải thông tin thời sự là gì? Hơn nữa, viết tiểu phẩm, phiếm luận người ta thường phiếm chỉ, phiếm danh, không ít bài trong cuốn sách của Phạm Quốc Toàn bàn chuyện vĩ mô hay vi mô vẫn có người, sự kiện, thời gian, không gian rành rọt.


Vĩ mô, đại thể như chuyện vị lãnh đạo bộ nọ điều trần trước phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Rằng Đề án đổi mới sách giáo khoa tốn phí đến 34 725 tỉ đồng. Nhiều người ngỡ ngàng: Ngân sách Nhà nước đang thời kinh tế khó khăn, liệu có kham nổi. May quá, chỉ mấy hôm sau, đích thân ngài bộ trưởng bộ ấy giải trình trước quốc dân đồng bào qua màn ảnh truyền hình quốc gia rằng, bộ tôi chưa bàn kỹ và chưa bao giờ trình Chính phủ khoản chi tiêu 34.725 tỉ đồng đó cả. Hay là chuyện một vị lãnh đạo bộ khác ráng thuyết phục Ủy ban Thường vụ Quốc hội rằng, ASIAD-18 (Đại hội thể thao châu Á) bốn năm mới có một lần, mà nước ta lần này trúng đăng cai, là tạo được cơ hội vàng cho Việt Nam tỏa sáng trước bạn bè quốc tế. Và do ý thức được nước ta còn nghèo, cho nên bộ chúng tôi dự kiến kinh phí chỉ vào khoảng 150 triệu USD, trong đó ngân sách Nhà nước bỏ ra 28%, còn lại bao nhiêu là từ nguồn xã hội hóa. Nhiều ý kiến phản biện: Từ trước tới nay chưa một quốc gia nào chi cho một kỳ ASIAD dưới 2 tỉ đô la, gần đây nhất là ASIAD-17 tổ chức tại Quảng Châu, Trung Quốc đã tiêu tốn đến 27 tỉ đô la Mỹ. Vậy là người đọc có thể hiểu, con số 150 triệu USD mới là dự toán sơ sơ, hãy hăng hái bắt tay vào việc đi, đã ngồi lên lưng hổ rồi, ra thực địa cần đến đâu chi đến đó.


Đó là chuyện vĩ mô, còn những chuyện vi mô thì làm sao có thể dẫn hết trong một bài. Từ việc đào đường, phí gửi xe máy, thủ tục một cửa, lương bổng lộc… đến cái phong bao quen thuộc với cuộc sống đương đại trước kia có dày cũng vẫn đựng trong cái phong bao, nay đã phát triển thành chiếc va ly, trong tiền đô la Mỹ bảng giấy nhưng lại nặng cân cho nên cái va lý ấy phải kéo chứ ai làm sao xách nổi - trích lời của bị can Dương Chí Dũng khai trước tòa.


Từ những cảm nhận về chủ đề, tính cách, hình thức các bài viết, tôi muốn kiến nghị tác giả gọi tác phẩm “còn thơm tươi mùi mực” của anh, tiếp sau chuyện nghề, chuyện đời, chuyện nghĩa tình, nay là “chuyện thế gian”. Chuyện thế gian vô biên, gì chẳng bao gồm trong đó, và “thế sự du du”, biết đâu rồi đây sẽ chẳng có chuyện tồn tại dài lâu như... ngàn năm bia miệng.


 


Đọc cuốn Tôi nói bằng mồm tôi, nhiều lần tôi cảm thấy mặt mình rần rần. Chắc chắn không phải hội chứng tăng huyết áp, cho nên chẳng phải vội vàng buông sách nuốt một viên thuốc định thần, an thần chi đó theo đúng lời dặn của mẹ hiền. Chẳng qua một thoáng ngượng ngùng. Nhiều thói tật Phạm Quốc Toàn đề cập với cái giọng tỉnh bơ mà chua cay đáo để của anh, sao hình như thấp thoáng có mình trong đó. Hay là ông bạn định chơi xỏ nhau?


Mặc cảm buộc tôi thay đổi ý định. Thú thật, khi mới nhận được cuốn sách, tôi định bụng chuyến này ta sẽ không viết bài điểm sách, cho dù thú vị đến đâu. Mấy cuốn trước của bạn, ta đều có đôi điều cảm nhận. Có bao suy nghĩ đều đã nói ra rồi, nay còn gì trong đầu nữa mà điểm mà bình. Hơn nữa, biết đâu thế gian chẳng có người bảo hai ông bạn này đánh bóng nhau. Mà thời này việc ấy dễ ợt. Chỉ cần phun một lớp vàng son rồi tung lên mạng, là đủ cho thiên hạ chiêm ngưỡng chân dung đồng bóng ông bạn vàng của mình.


Khốn nỗi, đọc sách tôi lại thấy có hình như bản thân mình hiển hiện trên trang sách. Liền nghĩ bụng: Nếu lần này ta không viết thì có khác chi lạy ông tôi ở bụi này. Rồi sẽ có ai đó bỉu môi: lão già bị chạm nọc cho nên miệng câm như hến. Vậy là tôi ngồi luôn xuống bàn viết. Hơn nữa, và đây mới là thực chất: đọc đến trang cuối, thâm tâm tôi cảm thấy vừa nảy ra một số ý tứ mới toanh, muốn sẻ chia với người khác. Thôi thì coi như ta tập làm phiếm luận về một tập phiếm luận bàn chuyện thế gian, hay là xếp một tiểu phẩm qua quýt cạnh mớ tiểu phẩm căn cơ của Phạm Quốc Toàn.


 


HỒI ỨC NẰM VÙNG


                                                                                     


            Ông năm nay bước vào tuổi tám mươi. Tên ông là Lê Văn Hoan. Mười sáu tuổi vào dân quân, rồi bộ đội. Đảng viên khi chưa đủ tuổi thành niên. Hoạt động ở vùng tạm bị chiếm tỉnh Quảng Trị từ đầu năm 1947. Tháng 7 năm 1954, thi hành Hiệp định Genève, bộ đội, cán bộ ta ở phía Nam vĩ tuyến 17 tập kết ra Bắc. Ông được phân công ở lại, “sinh sống làm ăn như mọi người dân bình thường”.  Và ông đã ở lại, đã công tác suốt ba mươi năm, từ 1954 cho đến khi nước nhà thống nhất. Ba mươi năm bám trụ dải đất hẹp miền Trung, trừ mấy lần được cấp trên ra miền Bắc học tập, chữa bệnh định kỳ.


            Quá nhiều người ở làng quê ông biết mặt, thuộc họ tên, gia đình tung tích tay Việt cộng Lê Văn Hoan, tên thật là Lê Đình Mỵ. Ông bị đối phương săn lùng dữ dội, ngay từ đợt 1 “tố cộng”. Tỉnh Quảng Trị, phần từ phía Nam sông Bến Hải trở vào đến bờ bắc sông Mỹ Chánh, năm 1954 có 8400 đảng viên ở lại làng quê làm ăn sinh sống cùng gia đình. Sau hai năm, đến cuối 1956, tứ quá cái mốc hiệp thương tổ chức tổng tuyển cử ở cả hai miền nhằm thông nhất đất nước trong hòa bình, như quy định tại Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954, chỉ còn lại 506 đồng chí, kể cả đồng bằng và vùng núi. Gần 7900 đảng viên đã hy sinh hoặc bị bắt bớ, tra khảo, đày ải trong các nhà tù. Năm 1958, khi Lê Văn Hoan được điều về huyện Hải Lăng làm Phó bí thư Huyện ủy, cơ quan huyện lúc này chỉ còn lại bí thư và mỗi một huyện ủy viên.


Tháng 8 năm 1965, sau khi tình hình ổn định dần , Đảng bộ tỉnh Quảng Trị họp đại hội tại Ba Lòng, chiến khu thời chống Pháp ở thượng nguồn sông Thạch Hãn. Ngày 13-8-1965, Mỹ cho máy bay lên ném bom rải thảm xuống Ba Lòng. Bom rơi xuống sông, “cá chết trắng cả khúc sông, trôi theo dòng về xuôi” (Đất quê hương, Nxb Thuận Hóa 2009). Lê Văn Hoan được bầu vào Tỉnh ủy, trở về với địa bàn quen thuộc của mình, làm Bí thư thị xã Quảng Trị.


Hồi ký Lê Văn Hoan viết: “Sống và chết, chết và sống đã trở thành quen thuộc với chúng tôi. Chúng tôi xem thường cái chết và đã quên nó đi, bất cần nghĩ đến. Sống thì công tác, hoạt động, và chết cũng vậy thôi, đồng đội chết nhiều rồi, đồng chí đồng bào đã chết quá nhiều rồi. Bây giờ đến lượt anh, có sao đâu. Tất nhiên, mỗi lần có đồng đội hy sinh, cũng làm cho bản than tôi chùng lại, nỗi buồn như đám mây đen qua bầu trời. Những rồi công việc và cuộc sống lại cuốn hút đi…”.


Trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, diệu kỳ sao ông vẫn lành lặn cho đến ngày hòa bình. Ông bảo tại số mình gặp may, mình nhiều lằn “trúng số độc đắc”, thoát chết gang tấc trong khi đồng đội bên cạnh hy sinh. Bí quyết giúp ông tồn tại là bám chắc vào dân. Sống trong và hoạt động trong lòng địch, phải bám vào dân, càng ở sát nơi trọng yếu của địch, chúng càng ít ngờ, ta càng có nhiều cơ may không bị lộ, thoát chết để làm việc. Đó là bài học Lê Văn Hoan tự mình rút ra để sống còn.


 


Hồi ký Lê Văn Hoan không nhằm kể lể công lao đóng góp lẽ dĩ nhiên không đến nỗi quá nhỏ bé của một cán bộ suốt đời lăn lộn với phong trào. Nó được tác giả viết ra nhằm tôn vinh và tạ ơn sâu của đồng bào, liệt sĩ ân nhân đã cưu mang đùm bọc cán bộ, “cảm ơn bạn hữu, đồng đội đã gánh chịu hy sinh mất mát cho tôi được sống đến ngày hôm nay” - ông viết từ những dòng đầu. Ông không hề quên một ai trong tổng số 69 gia đình cơ sở đã nuôi sống và tận tình giúp đỡ ông trong suốt ba mươi năm. Họ mở rộng vòng tay cưu mang cán bộ trong khi cầm chắc rồi mình mang tai họa, mình phải gánh chịu tra tấn, tù đày, tan cửa nát nhà, thậm chí bỏ mạng nữa, nếu chẳng may bị lộ.


Tác giả rành rọt kể nhiều kỷ niệm. Ông nhớ kỹ, bởi ông không quên ơn ai. Sau ngày thắng lợi, ông nhiều lần tìm về chốn cũ thăm hỏi người còn, đốt nén hương tưởng niệm người quá cố. “Đó là gia đình bà Trần Thùy, gọi là bà Dật ở thôn Đại Nại, ngay từ năm 1954, hiệp định ký chưa ráo mực, kẻ thù đã trở mặt phá hoại. Tôi bị săn lùng. Gia đình bác Dật đã mở rộng tấm lòng đón tôi, dành cho tôi những gì quý báu nhất từ lậm (lẫm) lúa, cái sạp đựng đồ đạc… Bác đã phá cái lậm, làm thành hai ngăn, cho tôi có nơi ở an toàn. Đâu chỉ đơn thuần trốn tránh, mà đi về thất thường, cơn ăn nước uống và trăm sự phiền hà…”.


Đó là chị Mãn và đứa con trai 11 tuổi ở xóm Rôộc bờ sông Vĩnh Định, làng Nại Cữu. Một người đàn bà góa, làm nghề bán cá tươi ở chợ. Sáng tinh mơ, chị mang quang gánh từ về mạn biển chờ mua cá của ngư dân vừa đánh bắt, rồi hối hả gánh chạy về chợ Sãi (nay thuộc thị xã Quảng Trị) bán. Ngày nào cũng như ngày nào, chị chạy bộ 30km, gánh cá trên vai. Chị là “đường dây” của thị ủy: “Chị đào hầm trong vườn nhà nuôi chúng tôi, nhiều khi đến năm người, lo ăn ngày hai bữa. Và đứa con trai, được chị dạy bảo làm tai mắt cho mẹ… Cho đến khi hầm bí mật bị lộ, chị Mãn bị an ninh ngụy bắt đánh đập tra tấn hết sức dã man mà không khai, cứ một mực tôi đâu có biết. Nhưng cái hầm sờ sờ ra đó. Chị vẫn khăng khăng: “Họ ở họ đi” tôi đâu có hay. Gà gáy tôi đã về miền biển mua cá, chạy lên chợ bán đến tối mịt  mới về nhà. Nấu cơm cho con ăn xong là ngủ. Một năm mười hai tháng, một tháng ba mươi ngày tôi làm như vậy…”. Nhờ đức kiên trung của người phụ nữ, lần ấy cán bộ thị ủy không ai bị bắt.


Đó là người đàn bà ngoan đạo ở “thánh địa La Vang” nổi tiếng của đồng bào theo đạo Thiên chúa. Bà xuất hiện như vị thánh cứu tinh khi mạng sống anh cán bộ ngàn cân treo sợi tóc: giữa ban ngày xáp mặt địch đi lùng. Bà bảo cán bộ vô ngay trong nhà. Nhà trống trơ, chỉ có đứa con trai nhỏ mắc chứng thiểu năng trí tuệ. “Vô ngay nơi thờ Chúa mà ngồi!”. Bà ra lệnh. Tôi chui vào dưới bàn có phủ tấm khăn đã cũ. Bà đội nón đi ra ngang qua trước mặt bọn lính, như thể đi làm việc đồng áng ngày thường… Sau này nhờ  “cơ sở” tìm hiểu, Lê Văn Hoan mới biết họ tên đầy đủ người đàn bà theo đạo này tên là Trần Thị Hiệp. Một người đàn bà bất hạnh. Chồng chết đã lâu, nhà nghèo khó, con cái ốm đau, người đàn bà ấy “đã mở rộng tấm lòng che chở một cán bộ không hề quen biết”. Bà còn dặn: “Chú về công tác vùng này, đến nhà tôi, đơn sơ vậy mà an toàn”.


Nhưng rồi nhà bà Hiệp cũng bị lộ. Ông sang một ấn náu tại sơ sở khác ở xóm Phường Sắn (thuộc xã Hải Phú ngày nay) cũng chỉ cách nhà thờ La Vang chừng năm trăm mét…


Tháng 10 năm 1959, Ngô Đình Diệm ban bố Luật 10/59, “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”,  Lê Văn Hoan sống tại thôn Long Hưng, cận kề thị xã Quảng Trị, nhà chị Văn Thị Kiếm. Chị Kiếm có anh trai, chị gái tập kết ra Bắc trong khi một người anh trai khác làm sĩ quan quân đội Sài Gòn. Gia đình chỉ có mỗi hai cha con sống với nhau. Một lần, chị hỏi: Anh có muốn gặp mẹ, chị giúp cho. Ngày mai, ông cụ đến nhà bà con ăn giỗ cả ngày. Chị sẽ nhắn mẹ anh Lê Văn Hoan, bảo đến chị cho vay tạm ít lúa. Nhà Lê Văn Hoan quanh năm nghèo thiếu, cảnh bà già mẹ anh tòn ten cây đòn gánh trên vai treo hai đầu hai cái thúng trốn trơn, đi hỏi bà con quen biết ai có vay tạm ít lúa là chuyện quá bình thường, chẳng ai buồn để ý. Đã bốn năm rồi, mẹ con không gặp mặt nhau dù sống cùng xóm, cùng làng. Nhìn thấy đứa con trai chui lủi xác xơ quá, bà mủi lòng. Trước khi chia tay, bà dặn: “Nếu có khổ cực quá, không chịu đựng nổi, thì xin cấp trên cho ra Bắc, chớ có về đầu hàng, nghe con!”. Lời mẹ dặn, ông ghi nhớ suốt đời.


Cứ vậy, Lê Văn Hoan… hồi ký. Câu chuyện nào cũng có nhiều tình tiết làm người đọc xúc động đến khó cầm nước mắt. Nhưng, nếu miên man, có lẽ tôi đến phải chép lại hơn nửa cuốn sách dày 300 trang cho bài báo này. Vậy mà, dường như vẫn sợ mình còn bỏ sót một ai, tác giả dành cả chương cuối “liệt kê” tên tuổi, gia đình, con cái, ai còn ai mất của 69 cơ sở đã cưu mang ông. Nhiều người được phong Bà mẹ anh hùng, Gia đình có công, nhưng có không ít người hy sinh trước khi kịp hưởng chút tưởng lệ nào của Nhà nước. Hòa bình trở lại đã lâu, hoàn cảnh không ít gia đình vẫn khó khăn, thiếu thốn. Ông trầm ngâm nhớ lại câu nói của Lênin: “Hãy cho người nông dân một pút lúa mì, còn hơn tặng họ cái bằng khen”.


Một lần ông về thăm lại một cơ sở ở thôn An Tiêm (huyện Triệu Phong), có mấy con đi tập kết: bác Đoàn Phong và vợ là Phan Thị Lều. Hai bác đã qua đời. Ngôi nhà cũ của bác nay chình ình con đập thủy lợi. Lê Văn Hoan chỉ còn biết cúi đầu tưởng niệm: “Thưa hai bác kính mến… Hai bác đã trọn đời vì đất nước cho đến ngày đất nước hoàn toàn tự do thì hai bác không còn nữa. Hai bác chưa được hưởng một chế độ chính sách gì, mà phải ra hai bác ngàn lần xứng đáng được hưởng. Lê Văn Hoan là con cúi đầu trước vong hồn hai bác, xin lạy tạ tấm lòng hai bác, xin ghi lòng tạc dạ các gia đình đã che chở và nuôi giấu con… Xin tạ ơn sông núi quê hương trường tồn cùng đất nước Việt Nam kính yêu”.


Cuốn Hồi ký Đất quê hương kết thúc ở đây.


*


Sẽ thiếu sót nếu không nói thêm đôi lời về tác giả. Lê Văn Hoan không phải là người bi lụy. Ông suốt đời lạc quan. Không có tính chất ấy, làm sao tồn tại qua nổi những ngày gian khổ tận cùng. Đã đành công tác trong lòng địch, dựa vào dân, liên lạc với nhau qua hòm thư bí mật chỉ có người gửi và người nhận biết mà thôi, tuy vậy vẫn không thể thiếu cái hầm bí mật. Anh đã đào nhiều hầm trú ẩn, mỗi hầm một kiểu, và cho mỗi loại một tên riêng. “Nhà lộng gió” là cái hầm đào gần bến sông, tốt nhất là nơi có bụi cây sum suê tỏa bóng, chỉ riêng mình biết với mình. “Mùa hè ngủ hầm này mát rượi. Chỉ cần một túi nylông đựng nước uống cùng một mo cơm muối hay mấy củ sắn khoai, có thể yên chí  ngủ cho lại sức”. “Lầu hai tầng” cũng đào ở bờ sông, nhưng muốn vào phải lặn xuống nước chui vào tần dưới, rồi mới ngoi lên chỗ khô ráo, coi như tầng trên của ngôi nhà lầu. “Lầu vạn thuở” là các miếu thờ cô hồn. Miếu, không phải đền. Có nghĩa là thấp nhỏ, chỉ có mỗi một cái cửa hẹp ra vào thường xuyên buông kín bằng tấm sáo tre, ba bề còn lại là tường gạch. “Lầu vạn thuở” an toàn bởi mọi người nghĩ, chẳng ai dại gì trốn trong đó, nhỡ bị phát hiện thì không có lối thoát thân. “Lầu” mà chật chội, suốt ngày đêm chỉ có thể ngồi khom lưng co ro trên bàn thờ. Từ đây, nghe rõ tiếng địch tra khảo đồng bào tìm Việt cộng nằm vùng, đau đứt ruột, tuy nhiên vào ngày rằm, mùng một đôi khi bỗng dưng mình được hưởng trọn lộc thần…


Ông là người yêu đời. Tôi nhớ mãi bốn câu thơ Tết (không có trong hồi ký), ông làm vào những ngày gian khổ, khi một mình chui lủi trong rừng xanh:


Tết đến ai ai cũng chơi hoa


Thì ta cũng có, thiếu chi mà


Hoa rừng nở thắm một trời núi


Thích thú còn hơn cắm lọ nhà.


 


Năm 1972 “mùa hè đỏ lửa”, ta giải phóng toàn tỉnh Quảng Trị. Quân đội Sài Gòn phản công, tái chiếm thị xã. Cuộc chiến đấu giữ Thành cổ diễn ra 81 ngày đêm vô cùng ác liệt. Trung tướng Sùng Lãm, Tư lệnh Sư đoàn 320B, người chỉ huy tại chỗ, nhớ lại: “Bí thư Huyện ủy Lê Văn Hoan luôn có mặt ở những nơi nóng bỏng, sát cơ sở, động viên, phối hợp, giúp đỡ bộ đội chiến đấu…” (Hồi ký tập thể Khúc tráng ca thành cổ, Nxb Văn hóa Thông tin, 2008).


 


Đất nước thống nhất, ông Lê Văn Hoan đảm nhận nhiều trọng trách. Được bầu làm Đại biểu Quốc hội hai khóa, làm Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tỉnh, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Trung ương Mặt trận Tổ quốc mấy nhiệm kỳ. Lê Văn Hoan nổi tiếng là người nói năng mèm mại, có lý có tình, nhiều sức thuyết phục.  Có lần, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương  cho mời anh lên gặp, thông báo ý kiến Ban Bí thư muốn giao ông trách nhiệm đứng đầu một cơ quan trực thuộc Chính phủ mà công việc cần giao tiếp rộng. Ông giải trình: “Thưa anh, tôi thiết nghĩ đất nước đang đòi hỏi chúng ta mau chóng đổi mới. (Cương vị ấy) anh nên chọn người có học hàm học vị cao, thông thạo ngoại ngữ. Tôi văn hóa thấp, ngoại ngữ gần như mù tịt, chỉ có nhiệt tình thôi không đủ…”.


Nghỉ hưu tại địa phương, Lê Văn Hoan lao vào công việc từ thiện. Ông dốc sức lực còn lại của tuổi già, mong góp phần làm vợi bớt nỗi đau của đồng bào bất hạnh đang gánh chịu hậu quả chiến tranh: chất độc da cam, con cháu bị di họa, thương tật, bệnh khó chữa, nghèo thiếu, đi làm ruộng làm nương kiếm sống lại dẫm phải bom mìn Mỹ… Báo Tuổi trẻ, số mới xuất bản mới gần đây, dành cả một trang đăng bài và ảnh của phóng viên kể chuyện “Ông Hoan từ thiện”.


 


 




DÒNG CHẢY QUÊ HƯƠNG


 


Tiếp sau Đất quê hương, hồi ký của Lê Văn Hoan1, Chuyện kể về một thời của Lê Hữu Thăng là cuốn hồi ký thứ hai về xã Hải Thượng và vùng đất lửa anh hùng cận kề Thành cổ Quảng Trị, nơi từng diễn ra bao kỳ tích làm thế giới ngạc nhiên, thán phục.


Hai tác giả đều là con cháu họ Lê thôn An Thái, một thôn nhỏ cách Thành cổ chừng hai cây số theo đường chim bay, tên làng đã có trong sách Ô châu cận lục của Dương Văn An từ đời nhà Mạc (1555). Theo phả hệ họ Lê thôn An Thái, ông Lê Văn Hoan thuộc hệ trên (bác), ông Lê Hữu Thăng thuộc hệ dưới (cháu). Ông bác ra đời vào đầu thập niên 1930, những năm đen tối nhất nhưng đã lóe tia sáng ban đầu trong lịch sử dân tộc ta, ông kịp lớn để hòa nhập vào cao trào Cách mạng tháng Tám 1945, tham gia kháng chiến, bám trụ vùng đất quê hương trong suốt hai cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Cậu cháu chào đời năm dân tộc ta “chín năm làm một Điện Biên” (1954). Cha tập kết ra Bắc, cậu bé được mẹ cùng bà con nội ngoại quê hương nuôi dạy, tôi luyện trong truyền thống Quảng Trị kiên cường để sớm trở thành một “Việt cộng nhí” bị đối phương ráo riết săn lùng. Diễm hạnh của Lê Hữu Thăng là kịp đến tuổi thành niên để khi quê hương giải phóng năm 1973, làm một cán bộ lãnh đạo xã Hải Thượng dạn dày kỳ tích, cùng bà con làng xóm vươn lên từ dải đất nghèo lại bị đạn bom thiêu đốt xác xơ suốt ba chục năm, cùng thắp nén hương dâng mồ các liệt sĩ rồi cùng bắt tay xây dựng cuộc sống mới. Anh trở thành một cán bộ lãnh đạo năng động của huyện rồi tỉnh từ bấy đến nay.


Hồi ký của ông bác Lê Văn Hoan kết thúc với nỗi lòng đau đáu nghĩ về những về những bà mẹ, những người chị, những cụ già, những em bé… đã chăm nuôi ông ba chục năm trường cho ông còn sống và có được ngày hôm nay - để giữ bí mật, cán bộ vùng sau lưng địch khi nói về họ thường dùng một từ rất chung là “cơ sở”. Đất nước rất quan tâm, vẫn chưa sao đền đáp xứng đáng công ơn những người còn sống và những người đã mất; không được những người ấy chí tình đùm bọc, che giấu, chỉ dẫn - hành động mà họ cầm chắc phải trả giá bằng tính mạng của mình nếu chẳng may bị phát hiện - thì làm sao cán bộ “nằm vùng” có thể sống còn và hoạt động hiệu quả ben cạnh chiếc máy chém kéo lê và dưới đạn bom rải thảm. Hồi ký của ông cháu, sau khi kể lại những sự tích anh hùng của quê hương, đã dành đến phân nửa cuốn sách nói về những thành tựu mà quê hương đạt được từ ngày hòa bình và thời đổi mới, và kết thúc bằng những trang viết về “Hạnh phúc”. Hạnh phúc không riêng của tác giả, của một gia đình thành đạt. Lớn lao hơn, ấy là hạnh phúc của họ mạc, cộng đồng đã nuôi dạy ông, đã góp phần cùng nhân dân cả nước lập nên nhiều thành tựu. Hai cuốn hồi ký là là hai mảnh sáng tiếp nối nhau, tạo thành khúc lấp lánh trong dòng chảy không ngừng của lịch sử quê hương.


 


…Viết hồi ký là chép lại dưới cái nhìn của hôm nay hồi ức của mình về những người ta đã gặp, đã cùng ta chia sẻ trên bước đường đời, là thuật lại những việc mình từng chứng kiến, trải nghiệm với vui mừng hay trăn trở… Cái thuận, theo nhận thức của tôi, là ở chỗ đã có độ lùi nhất định về thời gian để cái nhìn của ta qua trải nghiệm, chín chắn hơn so với cảm giác ban đầu; là nhờ có thời gian, ta nhìn lại bối cảnh xưa trọn vẹn và khách quan hơn cái thực tại trong mắt ta buổi ban đầu. Cái không thuận của hồi ký cũng chính là ở chỗ đó. Viết hồi ký rốt cuộc là kể chuyện mình, là từ đôi mắt của mình mà nhìn nhận lại thực tại đã qua, mà bình tĩnh nhớ lại những sự kiện hồi nào nóng hổi, mà cảm nhận con người toàn bích hơn khi ta vừa thoạt gặp... Tuy nhiên, bằng cách nào đi nữa thì mọi sự trước sau đều được lọc qua lăn