tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30195990
Lý luận phê bình văn học
22.10.2019
Phan Quang
Thời gian không đổi sắc màu (4): Ước mơ và hoài niệm của Nguyễn Khắc Viện và những bài khác


Hồi ký Ước mơ và Hoài niệm của Nguyễn Khắc Viện là một cuốn sách vừa dễ đọc vừa khó hiểu. Dễ đọc vì lời văn giản dị như con người ông; đúng là những lời thủ thỉ của một cụ già tám mươi kể chuyện đời mình cho vợ con nghe. Khó hiểu không phải do ý tứ rối rắm, mà khó cho những người ít có dịp đọc văn phẩm cũng như theo rõi cuộc đời dày dặn của ông. Có vấn đề phức tạp, chẳng hạn bối cảnh và nội dung bài đăng tạp chí L’Esprit (Tinh thần) uyên bác dày cộm, mà đối tượng độc giả là trí thức Pháp ngữ. Bài viết theo gợi ý của đảng cộng sản Pháp, nhằm thông qua kinh nghiệm của nhân dân Việt Nam, bác bỏ quan điểm mao-ít của một trí thức tên tuổi người gốc Algérie là F. Fanon trình bày trong cuốn sách Những người đau khổ trên trái đất mới xuất bản, đang tác động tiêu cực đến sinh viên châu Phi học tập rất đông tại châu Âu hồi bấy giờ. Chuyện ấy ông kể trong nửa trang sách. Hoặc như bài Bàn về đạo Nho, cũng đăng trên tạp chí ấy, tranh luận với ông tổ chủ nghĩa hiện sinh Albert Camus, Giải thưởng Nobel văn học, về mối quan hệ giữa Khổng giáo và chủ nghĩa Mác, tóm tắt chưa tới một trang.


Hồi ký không theo trình tự thời gian, mà bắt đầu từ Câu chuyện dưỡng sinh. Tôi nhớ có lần nghe ông tâm sự: cuộc đời mình sau khi chết nếu còn lại chút gì chăng, ấy là chuyện dưỡng sinh. Đây không chỉ là một thử nghiệm khoa học mà là chủ yếu là tấm gương ý chí. Sáu mươi năm trước, một thanh niên cầm trong tay hai bằng bác sĩ, đang làm nội trú bệnh viện Paris, chẳng may mắc bệnh nan y. Mười bảy năm liền điều trị. Bảy lần lên bàn mổ. Sau lần mổ cuối, các Giáo sư y học khuyên bệnh nhân hay yên tâm nghỉ ngơi (nghỉ ngơi chờ... chết!). Bằng nghị lực, con bệnh ấy đã sống, không những sống dai mà còn "làm việc ít nhất bằng một người sức khoẻ bình thường" (lời NKV).


Năm ông 70 tuổi, em trai ông làm bài thơ vui mừng thọ, có hai câu:


Nhân sinh thất thập cổ lai hy


Anh Viện bảy mươi chuyện lạ kỳ.


Năm ông lên thượng thọ, Nguyễn Khắc Viện làm thêm hai câu nữa, nối vào thành một bài thơ tứ tuyệt:


Nay lại tám mươi, sao thế nhỉ


Bao giờ ông mới chịu ra đi?


Nhờ thực hiện phép dưỡng sinh, ông già chỉ chịu ra đi ở tuổi 85.


Tổng kết cuộc đời sáu mươi năm làm việc không mệt mỏi, luôn ở hàng đầu cuộc sống trí tuệ Việt Nam và châu Âu, Nguyễn Khắc Viện phân làm ba bước: Tham gia giải phóng dân tộc, tham gia đấu tranh dân chủ hoá, và tham gia khoa học con người. Ông viết: "Trong cả một quá trình như thế, tôi đã học đạo lý Nho giáo, rồi đến thuyết Mác, thuyết tự do, có mặt theo đạo Lão, có mặt theo đạo Phật. Tất cả những gì tôi tiếp thu được, nay tôi không phủ nhận, phủ định một vấn đề gì. Con người tôi tiếp nhận tất cả, xem đấy như là một cái vốn riêng".


Cuốn hồi ký chưa bao quát hết. Có thể gia đình, những người làm sách (hoặc chính ông) chưa muốn công bố chăng. Tôi nghĩ thế cũng phải. Đã đành "cái quan định luận", sau khi đậy nắp quan tài thì những người còn sống tha hồ luận định về người đã ra đi, người ấy không cất lời nữa, song lúc này đúng là chưa nên xới lại những cuộc tranh luận không cần thiết. Hơn nữa - đây là cảm nghĩ của riêng tôi khi đọc phần ông chưa cho công bố ấy - Nguyễn Khắc Viện cho đời mình có hai sự quan trọng: "thứ nhất dưỡng sinh, thứ hai tâm lý trẻ em", những gì còn lại, dường như ông coi thứ yếu.


Đọc Nguyễn Khắc Viện, tôi cảm giác ông viết văn Pháp hay hơn văn Việt. Được quen ông, học ông từ lâu, tôi dám quả quyết không phải tại con người ấy sống bên Tây lâu quá (26 năm, và là những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời, khi định hình nhân cách) nên giảm bớt cốt cách Việt Nam. Hoàn toàn không phải. Tôi có dịp nghe Nguyễn Khắc Viện một lần nói về nghề tân văn, lớn tiếng khuyên các nhà báo trẻ: "Ai chưa thật thuộc Kiều, ca dao, Cung oán, Chinh phụ, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, và cả thơ lãng mạn nữa, thì tìm ngay mà đọc, mà nghiền ngẫm, mà ngâm nga". Cũng khó cắt nghĩa ông nhìn vào đối tượng để viết. Đối tượng văn Pháp của ông là trí thức đã đành, tác phẩm Việt ngữ của ông phần lớn cũng hướng về những người có học vấn. Thật khó lý giải. Bởi vậy, tôi rất thú vị thấy trong Tác phẩm Nguyễn Khắc Viện, có in kèm nguyên văn diễn từ tiếng Pháp ông đọc nhân Lễ trao Giải thưởng lớn về Pháp ngữ, năm 1992.


Tôi đọc bài ấy khi còn là bản đánh máy. Tôi nói: "Anh không dịch ra tiếng Việt thì liệu có bao nhiêu người đọc bài của anh?". Ông cười buồn: "Mình hết hơi thật rồi. Ông thích thì ông dịch". Tôi đã thử, nhưng không thành công. Chẳng phải ngôn từ quá khó khăn, vả chăng cũng chỉ dài có mươi trang sách. Có lẽ ông viết cho Tây đọc, chuyển ngữ thì giảm mất cái thần chăng. Thật khó lý giải. Chỉ xin được nói thêm: Nhà văn Algérie Mohammed Dib (1920 - 2003), nổi tiếng từ năm 1952 với tiểu thuyết Ngôi nhà lớn viết bằng Pháp ngữ (đã dịch ra tiếng Việt từ những năm 60 thế kỷ trước), sau đó sang định cư 45 năm liền ở Paris cho đến lúc qua đời, được báo Le Nouvel Observateur (Người quan sát mới) ca ngợi là "một nhà văn Pháp lớn đích thực", báo Le Monde (Thế giới) gọi là "một nhà thơ lớn" của nước Pháp. M. Dib được Viện hàn lâm Văn học Pháp trao Giải thưởng lớn về Pháp ngữ năm 1994. Báo chí châu Phi coi là một sự kiện lớn, bởi ông là "nhà văn Bắc Phi đầu tiên nhận Giải thưởng". Trong khi Nguyễn Khắc Viện nhận giải trước nhà văn lớn của Algérie là Mohammed Dib hai năm, và là người nước ngoài thứ bảy trên thế giới được trao Giải lớn của Viện hàn lâm văn học Pháp.


Sau khi xem Hồi ký Nguyễn Khắc Viện, tôi nghĩ rất nên và rất cầnn tìm đọc các tác phẩm khác của ông.




RIÊNG TƯ MỘT MẢNG ĐỜI


Năm 1962, nhà văn Nguyễn Văn Bổng (1/1/1921 – 9/7/2001) lên đường vào chiến trường Nam Bộ, để lại tay vợ bốn cậu con trai, đứa lớn mới lên mười, học lớp bốn, đứa nhỏ đi vườn trẻ. Một trong những băn khoăn lớn của anh chị là giáo dục các con. Từ trạm dừng chân đầu tiên sau hơn một tháng băng rừng vượt suối, anh gửi thư về: “Đây chưa phải là nơi anh đến, nhưng là khu quê nhà. Anh sẽ dừng lại một thời gian trước khi tiếp tục về nơi đã định. Đường đi tất nhiên là khó, nhưng trước đây anh đã đi thế này vài ba lần rồi…”


Nói qua cho vợ yên tâm, rồi như thể nén cái thương cái nhớ xuống đáy lòng, anh chuyển sang việc dạy con: “Vân ơi, thường nghĩ đến em, anh thấy trước nay em phải gánh nặng về con. Từ nay, em phải tự gánh một mình. Điều đó anh suy nghĩ rất nhiều, và có lẽ đó là điều khiến anh thương nhớ em nhất. Từ nay, em làm được gì, cố gắng, tiến bộ đến đâu là phần của em. Anh làm được gì, cống hiến đến đâu, trong đó có phần em… Anh tin là các con sẽ ngày một ngoan hơn. Nhất là Phương. Vân cần động viên Phương về vai trò gương mẫu, về trách nhiệm chim đầu đàn của Phương. Có điều này khó cho Vân: Là theo ý anh, không nên gò bó các con, không nên sợ các con nghịch quá, chỉ sợ tuổi của các con như thế mà các con không biết nghịch, sớm có vẻ khuôn phép, sau này lớn lên sẽ không phát triển được cá tính, tài năng. Anh muốn các con được nghịch nhiều, chơi nhiều, biết nhiều. Đừng để chúng lười, ẩu. Chứ thật ra, lúc nhỏ học hành chưa phải giỏi, chưa xuất sắc lắm cũng không sao đâu. Nếu chúng nó được phát triển về mọi mặt, lớn lên sẽ giỏi. Chỉ có điều muốn chúng được nghịch thì mình phải khổ hơn… Nhớ mua quà cho các con. Bồi dưỡng các con về trái cây, chất ngọt. Đừng để các con thấy ba ở nhà được ăn quà, được mua sách, mua đồ chơi, còn má không có gì cả.”


Cùng ngày, viết thư cho con lớn, Nguyễn Văn Bổng dặn: “…Trách nhiệm của Phương từ nay nặng nề lắm. Má sẽ giải thích cho con hiểu câu này, và lớn lên mỗi ngày con càng hiểu rõ hơn… Con là con chim đầu đàn. Con ngoan, các em con sẽ theo con ngoan theo. Con chăm học, các em sẽ theo con chăm học. Con có trật tự, có kỷ luật, biết sắp xếp, giữ gìn gọn gàng sạch sẽ áo quần, các thứ trong nhà, các em sẽ theo con… Từ nay ở nhà với các con chỉ có một mình má, má sẽ rất bận, thì con càng phải cố gắng. Phải ngoan, chăm học, lễ phép với mọi người, tập lao động, yêu các em, yêu Nam vì Nam bé nhất nhà, yêu Quang và Nguyên vì Quang và Nguyên nói chưa được giỏi…


“Nguyên ơi, con sẽ học lớp 2. Phải cố gắng nói cho rõ. Phải viết và giữ vở cho sạch sẽ. Vừa rồi, cuối năm học, con viết không được sạch như trước. Lên lớp hai, con phải viết cho sạch, cho đẹp con nhé. Con phải vâng lời má, anh Phương và thương em Quang, em Nam nhiều nhé.


“Quang ơi, Nam ơi, Ba nhớ các con lắm, các con phải nghe lời má, anh Phương, anh Nguyên nhé. Quang sẽ đi học lớp vỡ lòng, Nam sẽ đi lớp mẫu giáo, thích không? Ba biết các con đi học, ba thích và yêu các con lắm!”


Nguyễn Văn Bổng rất ít nói với vợ về những gian khó, ốm đau, hiểm nguy của chính mình. Chị thấy ra ngay và trách: “Vân thấy anh nói ít về anh quá. Anh lo cho Vân nhiều trong khi Vân và các con không có gì đáng lo cả… Còn anh, anh càng nói ít Vân càng lo nhiều”. Không cho vợ con biết, nhưng với bạn văn, Nguyễn Văn Bổng kể tỉ mỉ. Thư gửi nhà văn Nguyễn Tuân: “…Cách đây hai tháng tôi có viết cho anh Lành (nhà thơ Tố Hữu) một thư, kể những chuyện hào hứng của giai đoạn đầu… Qua những ngày sau, thấy sức bắt đầu xuống. Sốt rét. Sốt là chuyện thường như hồi chúng ta kháng chiến. Và tôi đang sốt. Hiện nay cũng đang sốt mới có thì giờ ngồi viết cho anh đây, và cũng vì thế chữ tôi viết không được vững. Tôi đã sốt ở một nơi khá nguy hiểm, ở bên cạnh một con đường phải vượt qua (như chúng ta đã vượt đường số 6 ấy)(1). Ngày sau gặp lại tôi sẽ kể anh nghe về những con đường này, cũng “thênh thang tám thước” theo kiểu của chúng nó.


“Tôi sốt ở nách đường và sốt hôm đường có trở ngại, đường không vượt được, phải tìm lối khác. Hôm sau tìm ra lối mới, thế là đang sốt tôi vẫn phải vượt, vì nằm thêm lại chỗ vừa rồi cũng chẳng thú gì… Chúng tôi vượt qua đường trễ, người chờ đón đã lui. Làm thế nào? Ngủ lại bên đường chẳng yên tâm chút nào. Người dẫn đường chúng tôi chính là anh trạm trưởng, nghĩa là người rất thuộc đường. Anh ta xông xáo, quyết cầm đèn pin dẫn chúng tôi đi. Hai bên đường sát bước chân mình là chông. Anh bày cho chúng tôi tránh. Nhưng đi được một đỗi, anh phải lui lại, vì chông thì có thể tránh, chứ thò hay mang cung (một thứ bẫy chỉ cần chạm nhẹ tới là những cây tre vót nhọn bay ra, đâm ngang qua người anh), những thứ này dẫu anh ta có thuộc đường cũng không biết đâu mà tránh. Thế là chúng tôi quay lại ngủ bên đường… Nói tiếp chuyện chông và thò. Chính vì những thứ ấy mà bọn chúng nó, đường “thênh thang tám thước” như thế ấy, nhưng thường chẳng dám bước qua hai bên lề đường. (Một lần) ta bắt được hai tù binh, đem về một nơi sản xuất bảo chúng nó ở đó lao động và chỉ dặn thêm: “Chung quanh đều có gài thò[1] cả”. Thế là chẳng cần canh gác chúng nó nữa, chúng ngoan ngoãn ở trong khu vực ta chỉ cho chúng…”


Ai cũng biết đường thư Bắc Nam thời chống Mỹ gian truân lắm. Có những bức thư của chị, 18 tháng sau anh mới được đọc. Tình cảm rất đáng quý trọng, một bức thư của người thân là một nguồn động viên lớn đối với chiến sĩ tiền phương, song vũ khí, quân dụng còn quan trọng và đáng được ưu tiên hơn. Đang say sưa kể lể với bạn, giữa chừng người viết chợt nhớ ra: “Thôi anh Tuân nhé, không lại khổ cho những người mang thư. Họ cũng ăn bắp lạt mang những thư này cho chúng ta. Vì vậy còn nửa trang giấy trắng, tôi xé giữ lại.” (12  - 9 - 1962).


Trở lại chuyện anh chị dạy bảo các con. Được dịp dừng chân là anh viết thư, chuyện trò với từng đứa: “Ba viết thư cho các con đây. Trước đây một tháng, ba đã viết thư cho các con, không biết má có nhận được chưa? Ba đi công tác xa, có khi thư trễ hoặc không về đến má và các con.


“Hiện nay các con lại đi học. Nam học (Trường mẫu giáo) Sao Sáng hay ở đâu? Có vui không? Xem chừng lúc không có xe mới băng ngang qua đường, con nhé. Quang cũng vậy. Năm Nay Quang học vỡ lòng, được học chữ thích quá. Quang đừng ra hồ (Thiền Quang) bắt cua như trước, rồi ngã xuống không ai thấy vớt lên thì tội lắm và không gặp lại ba nữa. Nguyên học lớp hai, năm nay cố gắng đọc cho đúng, cho rõ thì mới theo kịp các bạn và sang năm lên lớp ba được. Nguyên chú ý giữ sách vở sạch sẽ, viết và kẻ cho ngay ngắn. Phương à, năm nay con học lớp bốn, con đã khôn lớn, lại không có ba ở nhà, vậy con phải cố gắng nhiều. Con phải ít ham chơi, chăm học, chăm lao động, giúp đỡ má, giúp đỡ các em, nhất là em Nguyên học tập. Con phải là tấm gương tốt cho các em, xứng đáng là con chim đầu đàn… Con chớ la mắng, đánh đập các em nhé, nhất là đối với Nguyên. Lúc nào con giận em hay em làm con tức, con cố nén xuống, chạy đến tìm cái ảnh ba chụp chung với bốn con, con sẽ hết giận, hết tức ngay. Con thử làm xem. Các con nên thương yêu nhau, bênh vực nhau. Con lớn nên cùng chơi chung với các em, thỉnh thoảng mua vé chiếu bóng cho các em cùng đi xem.


“Cô Đào còn giúp việc ở nhà ta không? Ba gửi lời thăm cô, và các con phải nghe lời cô”. 


Anh dặn chị Hồ Vân: “…Trong quyển Làm mẹ tập II, có kể chuyện bà mẹ và bốn con (sau đẻ thêm một bé thứ năm) đã sống như thế nào trong khi người chồng ra tiền tuyến. Vân nên mua quyển ấy đọc, cho Phương đọc, hoặc kể cho Phương nghe. Sau này cho Nguyên đọc. Anh rất thích những đứa con như trong truyện ấy. Vân giảng cho Phương, và sau này cho Nguyên hiểu, ba ở đâu, tiền tuyến của chúng ta ở đâu, các con nên làm thế nào… Có thì giờ em nên học lại tiếng Nga. Em để dành tiền, chắc là được, mua bộ đĩa và cái máy quay mà tự học những lúc rảnh… (thư ngày 8 - 9 - 1962)”.


Sinh nhật con, Nguyễn Văn Bổng viết lá thư dài, gợi lại nhiều kỷ niệm thời cháu còn nhỏ, khen ngợi rất cụ thể những mặt tốt của con và nhắc nhở những điều phải khắc phục. “Phương ơi, con phải cố gắng sửa những điều không tốt này... Con không nên đề ra nhiều điểm thi đua, mà mỗi lúc chỉ nên thi đua một điểm chính, làm được điểm này sẽ đề ra làm cho được điểm khác…”. Và nhà văn tâm tình với đứa con đầu mới lên tuổi 11: “Con rất tốt, ở nhà ba má hay la mắng con vì muốn con nên. Cũng có lúc ba mắng con không đúng, hoặc là vì ba quá nóng nảy, hoặc vì sống chung đụng với người khác, nể người khác mà có khi ba phải bất công với con. Con hỏi má, má kể cho con nghe vài chuyện”.


Ít lâu sau, anh lại bảo con: “Má nói cho ba rằng con bảo thích môn nào học môn ấy, các môn khác học vừa đủ. Chẳng nên như vậy. Học và làm việc thì không bao giờ gọi là đủ cả. Chơi thì có thể vừa đủ, có khi nên hạn chế, ăn mặc có thể vừa đủ, có khi nên hạn chế, nhưng học và làm việc không bao giờ có sự vừa đủ… Điều này ba nói ít, mong con hiểu nhiều vì con đã lớn rồi…”.


Nhận được tấm ảnh chụp chung cả gia đình do chị gửi, anh viết: “Ba mừng lắm! Các con đều lớn cả. Phương cao hơn ba rồi. Trong ảnh, trông Phương lạ hẳn đi… Quang lại hao hao giống Phương lúc ba xa các con. Quang mập khỏe hơn Nguyên à? Thật ba không ngờ, vì mừng quá. Nguyên thì khuôn mặt vẫn vậy. Nam vẫn sún răng!...


“Ba mừng lắm. Mừng các con lớn mạnh, khỏe. Mừng nhất là các con lớn về tinh thần… Phải cố gắng học cho giỏi. Làm người, nhất là thanh niên, không nên bằng lòng ở mức trung bình. Yếu về toán thì phải có quyết tâm giỏi toán, và giỏi ngay trong năm học mới…”.


Cuối năm 1967, từ Khu tam giác sắt, rồi ngay trước khi vào hẳn nội thành Sài Gòn trước Tết Mậu Thân 1968, anh đều có thư cho vợ và các con: “… Anh đang sống nhiều, sống ở nơi nhiều người mong mỏi được sống nhất hiện nay. Thấy nhiều. Có thể nói, là người viết văn được sống ở đây, anh hạnh phúc nhất. Còn chưa viết bao nhiêu. Thỉnh thoảng có một đôi bài như em đọc trên báo nhà… Anh mạnh, rất mạnh, rất vui, rất sung sướng. Em nói với các anh, mỗi lần về đây, có nhận được tin các anh, sách của anh CLViên, Hanh, Thanh, Thi, Hoài[2] v.v…, một đôi chữ các anh nhắn, anh vẫn chưa viết thư cho ai…”. Với các con đang lớn: “Trông tin, trông thư các con vô cùng. Má sẽ đọc cho các con các đoạn trong thư này và nói cho các con hiểu… Cố gắng học và công tác. Thư cho ba ngay. Ba hứa là được thư các con ba sẽ trả lời từng bức thư một…”.


Chị Hồ Vân báo tin, con trai đầu đã vào Đoàn, được đi học ở nước ngoài. Phương viết thư cho mẹ rất tình cảm, lại còn làm thơ gửi mẹ:


Ta muốn làm chim ưng vỗ cánh


Mải miết bay về tận quê hương


Một phút thôi, để ta ngồi cạnh


Má, ba cùng bè bạn mến thương.


Vậy là con trai đã lớn. Nguyễn Văn Bổng tâm sự với con như với bạn, hướng con cách suy nghĩ khác: “Ba kể cho con nghe một kỷ niệm. Một buổi hoàng hôn cách đây hơn hai năm, ba hành quân, tự nhiên rưng rưng nước mắt vì bỗng thấy cảnh trước mắt mình đẹp quá, Tổ quốc mình đáng tự hào quá, mà mình thì chưa làm được gì nhiều. Ba muốn có các con bên cạnh, kể cho các con nghe chuyện về Tổ quốc chúng mình, cảnh của Tổ quốc chúng mình. Thế đấy, Phương ạ… Những điều con nghĩ về việc viết lách của ba, ba rất chú ý. Lần này cùng với thư này cho con, ba có gửi ra một tập ký và truyện nóng hổi về Sài Gòn, đúng như ý con mong muốn. Con tìm mà đọc”.


 


Trên đây tôi chủ yếu trích thư nhà văn đổi với người con trai lớn. Với những con khác, anh đều ân cần, yêu quý, dạy con mỗi đứa mỗi cách, tùy lứa tuổi và tính cách, nhược điểm từng người, mà anh hiểu rất sâu. Mong ước của người cha nơi tiền tuyến được thực hiện nhờ sự “điều hành” của người mẹ. Chị Hồ Thị Vân (chúng tôi quen gọi Hồ Vân, bút danh của chị) xuất thân con gái út một vị quan to thời trước, cựu nữ sinh trường Đồng Khánh, Huế. Kháng chiến bùng nổ, chị theo bốn anh trai “xếp bút nghiên”. Thời chống Pháp, chị làm báo ở Liên khu 5. Tập kết ra Bắc, làm việc ở báo Nhân dân. Chị có năng khiếu văn chương. Chị viết cho chồng: “…Các anh Lành, Tuân, Thi, Hoài, Hanh… vẫn thường đến thăm Vân và các con. Anh Lành (Tố Hữu) nhận được thư anh, có bài thơ Có thể nào quên đăng báo ở chỗ Vân[3]. Anh ấy có tặng Vân một bản, đề là tặng chị B., Vân đọc mà không cầm được nước mắt:


Xuồng ai đó bơi trong lau lách


Áo bà ba súng nách tay chèo


Hỡi đồng chí dọc ngang sông rạch


Hãy cho hồn ta ruổi, ruổi theo…


Càng nhớ anh vô cùng. Mùa rét đến rồi, ở chỗ anh có rét lắm không?… Hôm trước biết tin Vân và các con vừa nhận được thư anh, anh Nguyễn Tuân đem quà đến cho các con và mừng cho Vân. Anh bảo Vân cứ mạnh dạn viết truyện ngắn đi, anh ấy biên tập lại cho. Rất cảm ơn tấm lòng của anh Tuân, nhưng hoàn cảnh của Vân bây giờ khó quá. Vân còn bao nhiêu việc phải lo, việc cơ quan, việc nhà, việc kèm các con học tập, những bốn đứa con trai cơ mà, việc học tập thêm nghiệp vụ, làm sao còn có thì giờ mà viết truyện nữa anh?” (29 - 10 - 1962).


Hồ Vân là một phụ nữ rất dịu hiền. Đang làm phóng viên thường trú ở một tỉnh, chị được cơ quan điều đi nuôi dạy các cháu nơi trại trẻ sơ tán. Cùng mấy chị nữa, nhà báo Hồ Vân trở thành “mẹ Vân” của mấy chục nhóc hiếu động xa gia đình. Chị tin cho anh: “Ở đây bây giờ khác trước nhiều lắm. Các anh ở Hội (Hội Nhà văn) đi tiền tuyến gần hết. Bên Vân cũng thế, bọn Vân phải đảm nhiệm công việc ở nhà cũng khá gay. Các con sơ tán về nông thôn biết được nhiều thứ lắm anh ạ. Nhất Phương gánh nước được rồi. Minh Quang đã biết quét nhà, Hồ Nam đập ruồi rất tài. Buồn cười hôm mới về nông thôn, Nam bảo con trâu có sừng bằng xi măng, con bò có sừng bằng gỗ. Bây giờ chú ta phân biệt được cỏ với lúa rồi…”.


*


Sẽ không trọn vẹn nếu tôi không xin phép gia đình, nói thêm về bốn người con trai của Nguyễn Văn Bổng - Hồ Vân. Nhất Phương “con chim đầu đàn” học giỏi. Năm 1975, từ Liên Xô về, anh xin vào công tác ở Đà Nẵng quê hương, ngành đường sắt. Anh cán bộ trẻ được mọi người quý mến về tài năng và nhân cách. Ở tuổi 37, Phương được giao trách nhiệm làm Tổng Giám đốc Tổng Công ty Đường sắt miền Trung. Rất bận mà vẫn đam mê, tập tễnh theo con đường của ba(1). Là một trong ba đại biểu ngành đường sắt tham dự Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng, năm 1989. Chẳng may bị bệnh, anh qua đời sau đó ít lâu trong nỗi sững sờ thương tiếc của gia đình, bè bạn và đồng nghiệp.


Hồ Nguyên, cậu bé hay nổi cáu khi bị bạn trêu, suốt mấy cấp học đều là học sinh xuất sắc. Tốt nghiệp trung học, được đi học toán ở Liên Xô. Kiểm tra sức khỏe để lên đường, anh bị giữ lại vì có nhược điểm bẩm sinh về thính giác. Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Giáo sư Tạ Quang Bửu nghe tin, cho gọi đến, đích thân kiểm tra trình độ của Hồ Nguyên. Ông chỉ thị: “Em nghe và nói tiếng Nga chuẩn thế này, sao không cho đi học?”. Tiếc thay, đoàn đi Nga đã lên đường. Nguyên sang Bungari, học ngành hóa. Tốt nghiệp trở về, cũng xin vào làm việc ở quê như anh trai. Và cũng như anh, còn rất trẻ Hồ Nguyên đã làm Giám đốc một Công ty chế biến thủy sản. Nay là Tổng giám đốc một dự án xây dựng, vốn đầu tư của nước ngoài.


 Minh Quang, mà hồi còn vỡ lòng, mẹ đã viết thư khoe với ba: “Quang vẽ rất đẹp. Con rất thích vẽ. Có lẽ sang năm, Vân sẽ xin cho con học vẽ ngoài giờ học ở trường, nhưng chưa chắc xin được vì con còn bé quá”. Anh tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội, ngành điêu khắc, hiện có cơ sở mỹ thuật riêng.


Cuối cùng, cậu con út hay làm nũng Hiếu Nam. Anh học Đại học Kiến trúc. Vợ cũng là kiến trúc sư. Tốt nghiệp, anh vào làm việc trong quân đội. Hiếu Nam sớm trở thành Giám đốc một công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng.


Mối quan tâm lớn của người cha nơi chiến trường xa những năm chiến tranh ác liệt, cùng tấm lòng người mẹ đã gần như hy sinh tất cả vì sự nghiệp của chồng và tương lai các con - một nét rất đặc trưng tính cách người Việt Nam ta - được đền đáp. Qua cuốn sách Nguyễn Văn Bổng nhà văn chiến sĩ, do nhà văn Hoàng Minh Nhân, Giám đốc Tủ sách Đất Quảng, và nhà báo Hồ Vân biên soạn(1) lần đầu tiên một mảng đời tư của vợ chồng Nguyễn Văn Bổng - Hồ Vân được công bố.


 


DÀY DẶN THANH XUÂN                                                                                       


                                                                                    


Có những cuốn sách vừa cầm trên tay, lật qua đọc lướt đây đó mươi trang đã thấy vô cùng thú vị nhưng cầm chắc, ấy là loại sách mình không thể “đọc sách” - dù chỉ là vài mươi dòng cảm nhận. Thế nhưng vì nhiều lẽ, trước hết do giá trị của nó, tôi vẫn muốn tác phẩm này được nhiều người tìm đến. Bộ sách đồ sộ Một thế hệ vàng trong thơ Việt Nam hiện đại của Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Hà Minh Đức, Nhà xuất bản Thuận Hóa vừa ấn hành, là một trong số những tác phẩm vàng ấy.


Không có khả năng giới thiệu thì cho phép nhà báo đưa tin vậy.


Đêm cuối năm bận chút việc riêng tôi về nhà hơi muộn. Dù có được báo trước, vẫn ngạc nhiên đến sững sờ thấy trên bàn làm việc đặt cuốn sách dày 1400 trang khổ lớn vừa gửi tới, kèm lời đề tặng thân tình của tác giả, người bạn quý đề Ngày 1-1-2014. Trên đời, khó có món quà đầu năm nào quý hơn. Hà Nội lúc này vẫn còn là đêm tất niên song Năm mới 2014 thực tế đã đến trên hành tinh ta rồi. Trên chương trình truyền hình thời sự lúc 19 giờ VTV1 vừa phát đã nhấp nhánh  bức tranh thủ đô nước New Zealand tưng bừng hoa pháo đón mừng năm mới.


Một thế hệ vàng trong thơ Việt Nam hiện đại là tập hợp nhiều cuốn sách, bài viết Giáo sư Hà Minh Đức thực hiện và cho công bố vào khoảng thời gian trước sau cái mốc cổ lai hi của đời ông, về một chùm sao thơ mà tên tuổi đã khắc đậm nét vào lịch sử văn chương nước ta: Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Anh Thơ, Chế Lan Viên…


Nhà thơ Tế Hanh có lần nhận xét: Thế kỷ 20 có hai hiện tượng đặc biệt của thơ ca Việt Nam: phong trào thơ mới và thơ ca cách mạng. Giáo sư Hà Minh Đức cho biết thêm tại Lời nói đầu: “Thơ mới đã ghi nhận nhiều tài năng thơ ca với những giá trị sáng tạo bền vững. Thơ ca cách mạng khác về chất nhưng cũng tiếp nối nguồn mạch của thơ ca dân tộc. Trước những thành tựu lớn lao của thơ ca, những đỉnh cao của các thi nhân thời hiện đại, tôi chọn nghiên cứu theo cách tiếp cận trực tiếp với tác giả”.


Sự lựa chọn tuyệt vời của Giáo sư không chỉ nhờ cái may là ông được sống cùng thời, được làm bạn tri âm với nhiều nhà thơ, từ đó có điều đi sâu vào khu vườn đầy hương sắc và cả trong “bếp núc thi ca” của các vị. Không đơn thuần may mắn, đó còn là một sự độc đáo, một tầm nhìn xa của nhà nghiên cứu, phê bình văn học. Sau Hà Minh Đức dù ai có ham muốn đến mấy cũng không thể làm như ông đã làm, đơn giản bởi tất cả các nhà thơ đề cập trong bộ tổng tập này đều đã lần lượt theo nhau lên cõi yên vui. Cho dù như Chế Lan Viên cảm thán khi tiễn đưa bạn thơ Xuân Diệu “Diệu nằm trong thơ chứ đâu ở quan tài”, cho dù hơn ai hết các nhà thơ lớn “thác là thể phách, còn là tinh anh”, làm sao ai có thể trực tiếp trò chuyện với các thi nhân như Hà Minh Đức đã làm, ông đã tranh thủ mọi cơ hội để kịp thời nắm bắt thông tin. Nhờ vậy bất kỳ cuốn tiểu luận nào của ông về một nhà thơ nổi tiếng đều có phần quan trọng chiếm trên dưới nửa số trang của tập sách mang cái đề từa tựa như nhau, Trò chuyện và ghi chép về thơ… Tâm tình của Tố Hữu “tôi đến với thơ bằng một tấm lòng”, của Nguyễn Đình Thi “làm thơ là lấy bản thân mình làm cây đàn”, các nhà thơ thốt ra với người đối thoại, những câu chuyện như tác giả cùng “nhà thơ Huy Cận thăm Trường Sơn” sau chiến thắng Quảng Trị năm 1973, hoặc “Chế Lan Viên nói về mình”, “Chế Lan Viên và cuộc sống ngày thường”, v.v., những tư liệu như thế mấy ai có được! Ngày nay ai làm sao có cơ hội làm những việc như Giáo sư Hà Minh Đức đã làm là trực tiếp đặt những câu hỏi, chăm chú lắng nghe, thân tình trao đổi với thi nhân “qua đó nhà thơ chỉ ra những điểm sáng và góc khuất mà người đọc không dễ nhận biết”, rồi cần cù ghi chép tại chỗ vào sổ tay của mình trong suốt bao năm.


Về tuổi đời Giáo sư Hà Minh Đức trẻ hơn so với các nhà thơ ông nghiên cứu song họ đều coi ông là người bạn thơ văn tin cậy để mở lòng thổ lộ chuyện thơ chuyện đời. Đó là một lý do nữa, ngoài giá trị tự thân của công trình nghiên cứu, làm cho tổng tập Một thế hệ vàng trong thơ Việt Nam hiện đại đích thực cuốn sách vàng.


Năm Giáp Ngọ 2014 này, Giáo sư Hà Minh Đức chạm mốc thượng thọ. Cùng năm tháng, kiến thức, vốn sống, tài năng, đức độ ông càng uyên thâm là chuyện đương nhiên, vậy mà tôi cảm nhận thêm: phong cách và bút lực của ông  như lúc nào cũng dày dặn thanh xuân như bất cứ lúc nào. Chúc Nhà giáo tuổi cao, trí đức càng cao, cống hiến càng lớn.


 


 


GIÚP NHAU CÙNG GIÀU LÊN


 


Mặc dù không chịu nhận mình là người nổi tiếng, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng khá quen thuộc với bàn dân thiên hạ. Khán giả truyền hình nhiều năm nay thích thú với những lời Hỏi gì đáp nấy chuẩn xác mà súc tích, nhẹ nhàng về những câu hỏi gợi lên từ cuộc sống, phát định kỳ trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam. Nội dung tiết mục ấy cùng với những bài Hỏi gọn - đáp nhanh đăng tại các báo Nông nghiệp Việt NamNgười làm vườn đã được tuyển chọn và lần lượt xuất bản cả chục tập sách. Những ai quan tâm theo dõi hoạt động của Quốc hội hẳn quen phong thái vị Đại biểu Quốc hội hăng hái dơ tay xin phát biểu ý kiến về nhiều vấn đề với thái độ tự tin. Rất nhiều nông dân, và dĩ nhiên các nhà vi sinh học, quen biết ông. Làng báo thân thuộc người “đồng nghiệp không mang Thẻ nhà báo” (lời Nguyễn Lân Dũng) - điều này ở nước ta đồng nghĩa với người viết báo không thuộc biên chế cơ quan báo chí nào - nhưng lại có rất nhiều tác phẩm xuất hiện đều đều trên các báo ngày, báo tuần, tạp chí. Cuốn sách độc giả đang có trong tay: Mong muốn giúp nhau cùng giàu lên là tập hợp một số bài ông công bố gần đây trên báo in trong Nam, ngoài Bắc.


Bút lực của Nguyễn Lân Dũng mạnh mẽ, đa dạng. Sức viết ấy không chỉ đòi hỏi tác giả có năng khiếu vận dụng ngôn từ, mà còn phải có kiến thức về nhiều vấn đề, sự nhạy cảm và trước hết nhiệt tình đối với cuộc sống. Đôi mắt tinh tường của nhà khoa học đồng thời của nhà báo sớm nhận thấy và lẩy ra từ những câu chuyện, sự vật bình dị thường ngày các khía cạnh có thể đi sâu khai thác, từ đó làm nên chủ đề một hoặc có khi cả loạt tác phẩm báo chí. Bất kỳ tình huống nào cũng có thể gợi cho ông đề tài, và những ý tứ vừa nảy sinh được tác giả thực hiện luôn thành tác phẩm. Qua một chuyến đi công tác hay ngao du sơn thuỷ, một cuộc hội thảo tại giảng đường đại học hay trò chuyện với nông dân, một buổi tiếp khách, một thoáng gặp tình cờ, một bộ phim, một cuốn sách, một bài báo... Từ thực tiễn muôn màu ấy, chữ nghĩa Nguyễn Lân Dũng cứ như dòng nước tuôn qua máy vi tính. Rồi thêm vài động tác ấn nút giản đơn, vậy là một tác phẩm báo chí đã ra đời và lát sau đã nằm trên bàn một vị tổng biên tập. Cuốn sách này mới là phần nhỏ trong hoạt động báo chí tới tấp của tác giả đa năng: vị giáo sư, nhà nghiên cứu, người phổ cập kiến thức, ứng dụng công nghệ, nhà hoạt động chính trị xã hội, và cuối cùng - hay là trước hết - của một cây bút ham học hỏi, hết sức hiếu kỳ, quan tâm đến mọi vấn đề của khoa học và cuộc sống.


Mong muốn giúp nhau cùng giàu lên tổng hợp các bài viết đề cập chủ đề đa dạng, đã công bố tại nhiều thời điểm khác nhau. Tuy nhiên, gấp sách lại người đọc vẫn có thế nắm bắt ý tứ quán xuyến của tác giả: Chính sách của Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân làm giàu, dân có giàu nước mới mạnh. Nhưng đó là sự làm giàu chính đáng, hợp pháp, vượt lên tiêu cực, khuất tất. Muốn vậy không có con đường nào khác hơn là dựa vào khoa học, thực hành công nghệ mới; riêng đối với nông dân và sản xuất nông nghiệp, đời sống nông thôn, bửu bối có thể tìm thấy ở con đường ứng dụng khoa học vi sinh. Tác giả dành không ít bài nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng. Là nhà giáo và nhà hoạt động chính trị xã hội, thật dễ hiểu ông dành nhiều trăn trở cho quốc sách giáo dục và khoa học. Qua hàng loạt bài, tác giả lật đi lật lại vấn đề, đề xuất nhiều ý kiến có khi táo bạo. Nhưng... làm sao qua mấy mươi dòng giới thiệu, tôi dám có tham vọng điểm hết nội dung những bài in trong cuốn sách? Bởi, như đã thưa ở trên, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng là người quan tâm đến mọi vấn đề của cuộc sống.


Hầu hết, nếu không nói là tất cả, các bài tập hợp trong cuốn sách này, tôi từng được đọc trên một tờ báo hay tạp chí nào đấy. Nay xem lại, vẫn cảm thấy hứng thú, vẫn thu nhặt được thông tin bổ ích, đặc biệt gợi mở nhiều điều cần tiếp tục suy nghĩ, một số bài có sức thôi thúc người đọc hãy mạnh dạn thử nghiệm xem sao. Đối với các tác phẩm báo chí mà cuộc sống thường ngắn tựa phù du, đạt được những yêu cầu trên, chẳng phải đã quá đủ, quá nhiều, có phải vậy không thưa anh Nguyễn Lân Dũng?


 


               NGƯỜI GIỮ LỬA


 


Chuyện nhà văn, nhà báo tài danh nhận lời phụ trách viết chuyên mục cho một ấn phẩm xuất bản định kỳ trong nhiều năm, từ đó lưu lại dấu ấn lên văn đàn không phải là quá hiếm trên thế giới và cả ở nước ta. Nhưng tình nguyện  làm “cây xã luận” cho một tạp chí suốt 17-18 năm, kể cả sau khi đã giã từ tòa soạn đi nhận trọng trách khác như trường hợp nhà báo Nguyễn Hồng Vinh với báo Nhân Dân thật sự là ít có. Kể từ ngày ấn phẩm Nhân Dân hằng tháng, do sáng kiến của chính ông, ra số đầu vào dịp kỷ niệm Ngày sinh Bác Hồ năm 1996 cho tới nay, tháng tháng cứ mở tờ tạp chí ra, ta gặp luôn bài viết ngắn “Vấn đề tháng này”, đề cập một vấn đề trọng tâm của đất nước, một sự kiện lớn trong tháng. Tác giả: Hồng Vinh.


Cuộc sống thời nay luôn nhộn nhịp, các vấn đề trọng đại thì nhiều, những mốc lịch sử, những ngày kỷ niệm theo dòng thời gian đến hẹn lại lên, tháng này nên chọn vấn đề nào đây cho phù hợp trọng tâm chỉ đạo của Đảng và sự quan tâm của công chúng? Rồi thể hiện cách sao để trong vòng năm, bảy trăm từ thể hiện đúng quan điểm và phân tích có lý có tình, không đơn thuần lặp lại “văn bia”, sao chép chỉ thị, nhằm thu hút  người đọc, góp phần tạo đồng thuận xã hội và kín đáo gợi ý cho cán bộ các cấp, các ngành?


Các bài viết gọn gàng nhỏ nhẹ thế thôi nhưng theo tâm sự của tác giả, nhiều khi cũng tốn công phu và trăn trở lắm. Có những vấn đề mới đặt ra nóng hổi, lại có những chủ đề theo vòng quay trở lại, phải tìm cho được những nét mới đáp ứng yêu cầu cập nhật của tân văn, nhất thiết không cho phép mình lặp lại mình.


Tôi cố tình mở tập sách ở hai trang bất kỳ nào và gặp luôn “Tiếng ngàn xưa và tiếng của mai sau”. Nghĩ đến Bác Hồ kính yêu đúng vào dịp khởi động phong trào Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Vấn đề tháng này cảm nhận: “Có phải chăng vì tình cảm mênh mông cao đẹp của Bác Hồ đã dành trọn cho dân tộc ta, mà chị thanh niên xung phong nơi tuyến lửa vẫn vững vàng mở đường trong mù mịt khói bom; anh bộ đội Cụ Hồ từng băng qua mưa bom bão đạn ở chiến trường Điện Biên năm nào lại tiếp tục cùng thế hệ cháu, con xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước...”. Bài tiếp theo “Chữ tầm đi liền với chữ tâm”, thoạt nhìn đầu đề đã hiểu ra ngay tác giả bàn vấn đề tháng sáu, và đúng vậy, đây là dịp kỷ niệm 80 năm ngày xuất bản số đầu báo Thanh Niên (21/6/1925). Hồng Vinh khẳng định báo chí đã có những cống hiến xứng đáng vào quá trình đổi mới đất nước mấy chục năm qua, và gợi ý các nhà báo học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nên “tự tu dưỡng và rèn luyện để cái TÂM luôn trong sáng và cái TẦM trí thức không ngừng được bồi đắp... Mỗi bài viết dù là biểu dương hay phê phán, hãy vì cái chung là vun đắp cái thiện, đẩy lùi cái ác, để xã hội ngày một tốt đẹp hơn lên”.


Hiếu kỳ, tôi thử tìm bí quyết của tác giả, xem đến dịp này năm tới, tháng 5 lại về, rồi ông sẽ khai thác khía cạnh nào trong chủ đề học tập Bác Hồ và sẽ lý giải cách sao. “Vấn đề tháng này” gợi lại chuyện, kỷ niệm Ngày thành lập Đảng đúng vào năm Bác Hồ chuẩn bị đi xa, Bác đã viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Hồi ấy, cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn quyết định, Bác Hồ tiên lượng hệ quả nghiêm trọng của “giặc nội xâm” là chủ nghĩa cá nhân, và nhắc toàn Đảng hãy nhìn thấy trước và tìm cách vượt lên những hiện tượng như cán bộ ngại khó, tham nhũng, lạm quyền, tự cao tự đại, xa rời quần chúng... Trong bối cảnh Đại hội X của Đảng vừa kết thúc, lời Bác Hồ năm ấy vẫn vọng bên tai mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta. Tháng 6, Ngày báo chí cách mạng Việt Nam, “Vấn đề tháng này”  kiến giải lời dạy của Bác Hồ với những người làm báo, nhưng chỉ tập trung phân tích mười từ của Bác: “Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào?”. Rồi những mốc kỷ niệm năm tròn, năm chẵn của nhiều sự kiện lịch sử, ví như 40, 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Hồng Vinh viết: “Một dân tộc đã từng làm nên chiến thắng lừng lẫy ở Điện Biên Phủ, mở ra thời kỳ sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới, thật sự cổ vũ các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập và tự quyết định số phận của mình… Mang lý tưởng cao đẹp là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, Đảng ta, nhân dân ta, quân đội ta nhất định sẽ làm nên những “Điện Biên Phủ” mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hôi, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam”.


…Theo mạch tư duy đó, các chủ đề chính luận không kém phần quan trọng, được tác giả xử lý nhẹ nhàng theo hơi văn tuỳ bút: lấy dân làm gốc, uống nước nhớ nguồn, đưa pháp luật vào cuộc sống, thi đua yêu nước, chăm lo việc trồng người, xây dựng nông thôn mới, đào tạo nhân lực, chăm sóc nhân tài, bồi đắp sức mạnh đại đoàn kết, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc, vv… Và tập bài kết thúc với việc Quốc hội thông qua “Hiến pháp 2013, ý chí và trí tuệ của toàn dân”.


 


Tác giả Nguyễn Hồng Vinh là nhà báo chuyên nghiệp, trưởng thành dưới bóng Cây đa 71 Hàng Trống, cạnh Hồ Gươm - Hà Nội. Tốt nghiệp Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, ông về làm việc tại báo Đảng, khởi đầu bằng công việc của một phóng viên lao vào thực tiễn, chăm chú học tập các bậc đàn anh, cần mẫn cuốc cày với cây bút và trang giấy. Tay nghề Hồng Vinh đã qua đủ thể loại báo chí trước khi được giao điều hành một ban biên tập tờ nhật báo lớn của nước ta. Nhằm đào tạo cán bộ lâu dài, Đảng cho ông đi học lý luận chính trị, rồi làm nghiên cứu sinh, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ báo chí tại Viện hàn lâm Khoa học xã hội trực thuộc Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô. Tiến sĩ Nguyễn Hồng Vinh trở về bên Cây đa Hàng Trống đúng vào lúc đất nước tiến vào đổi mới toàn diện. Ôngsát cánh cùng các đồng nghiệp ở báo Đảng tỏa đi các vùng, miền đất nước, phản ánh khí thế các tầng lớp nhân dân ta trong tiến trình đổi mới, phát triển, hội nhập.


Từ nhiều năm nay, công việc của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Vinh không còn là ngày ngày viết bài, sửa bài, duyệt bài, tổ chức quản lý báo Nhân Dân, chỉ đạo, điều hành Hội Nhà báo. Trách nhiệm chính của ông là làm tư vấn, tham mưu cho Ban Bí thư về công tác lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật. Những ngày nghỉ, ông tranh thủ làm thơ, vậy mà vẫn không thể không cưu mang “giữ lửa” với tất cả cái tâm, cái tầm báo chí, tháng tháng nộp bài cho Nhân Dân hằng tháng, rồi theo yêu cầu của Ban Tuyên giáo Trung ương, tháng tháng ông  đảm nhiệm chuyên mục thêm “Vấn đề quan tâm” cho tạp chí Tuyên Giáo. Mỗi bài chỉ dài chừng năm, bảy từ, nhưng trong văn chương, ngắn gọn đâu có đồng nghĩa với dễ dãi mà thường là ngược lại, người viết thiếu tài năng, tâm huyết ắt khó thành công.                                                                 


 


ĐÂU CHỈ CÓ TIẾNG CƯỜI


 


Không có vùng cấm (Nxb Lao động) là tập thơ văn trào phúng thứ hai của Đặng Minh Phương. Anh nổi tiếng là “cây trào phúng” đã mấy chục năm, qua những bài cực ngắn đại thể như Ca dao lẻ cập nhật về thời cuộc và thế sự, đăng báo hay truyền miệng. Anh có thói quen đáng mến là mỗi khi có bài thơ, bài báo nào vừa in hay mới gửi đi tòa soạn, anh đã photo luôn mấy bản cho vào túi. Gặp bạn chuyện trò chán chê, trước khi chia tay chìa ra: “Ông có cái này của mình chưa? Cầm xem cho vui”. Có khi sáng báo vừa phát hành, chiều tác giả đã mang bản chụp tới: “Bài mình viết sáu câu, các cậu cắt mất hai câu cuối. Chắc là ngại động chạm. Còn câu này, mình dùng X, họ sửa thành Y, ông xem có tiếc không? ”.


Anh Đặng Minh Phương với tôi là bạn đồng tuế, đồng nghiệp, đồng chí và trong mấy chục năm ròng, đồng... cơ quan nữa. Hai gia đình có thời đồng cư trong cùng khu tập thể. Thời đạn bom, các cháu đồng sơ tán một nơi. Tôi biết rõ, với sáu mươi năm thâm niên nghề nghiệp, Đặng Minh Phương từng tung hoành trên nhiều lĩnh vực. Hai lần xông pha bom đạn tại chiến trường Liên khu 5, ở đó tiếng cười Đặng Minh Phương giòn giã hơn bất cứ thời nào. Đất nước thống nhất, anh trấn thủ lưu đồn ở chiến trường xưa với tư cách Trưởng cơ quan thường trú báo Đảng tại miền Trung. Anh là cây bút năng nổ về công nghiệp, giao thông vận tải... Anh có một số bài phóng sự, bút ký, điều tra gây chấn động một ngành, xôn xao một xóm. Thi thoảng anh... làm thơ trữ tình và viết câu đối tặng bạn bè. Chẳng buồn quan tâm đến cái mốc cổ lai hy đã lùi tít mãi sau lưng, Đặng Minh Phương vẫn mải mê viết những bài bút chiến về một số sự kiện hoặc nhân vật lịch sử được giới học thuật né tránh, bởi cho là “vấn đề nhạy cảm”.


Chỉ tính mươi năm lại đây, anh đã cho xuất bản bốn tập bút ký, phóng sự, tiểu phẩm, tạp văn, thơ, câu đối... Tiếng cười là mặt nổi trội, dễ nhận thấy, dễ lan truyền hơn cả trong cuộc đời chữ nghĩa của anh.


Nhiều người đã có bài giới thiệu thơ, văn trào phúng Đặng Minh Phương. Tôi không ngại lặp lại ý kiến của họ. Tập sách mới in này, riêng về phần trào phúng, có thể phân thành bốn mảng. Trước hết, những bài đả kích địch, đánh trực diện bọn trùm đế quốc và tay sai, đầy trí tuệ và tính chiến đấu, có thể xếp vào loại hay trong văn chương trào phúng Việt Nam thời kháng chiến. Kế đó, là mảng phê phán những tệ nạn xã hội, hành vi vô đạo đức, thói hư tật xấu hiện đang có xu hướng ngày một lan truyền. Bạn đọc cùng cười với tác giả và cùng đắng cay. Cười mà đôi khi giật thột: hay mình chính là người đang được ông bạn họ Đặng nhằm vào để cười cợt đây? Tôi tin nhiều câu văn vần hay mẩu chuyện của anh có sức sống bền lâu nhờ mang chất dân gian. Mảng đề tài về những chuyện chướng tai gai mắt, mặt tối của cuộc đời, có bao giờ thiếu? Thứ ba, những cặp văn vần, đôi câu đối về các nhân vật hầu hết là tác gia bạn bè của tác giả. Có những bài “vô cùng nghiêm túc”. Bên cạnh đó, nhiều bài nhiều câu ẩn ý thâm trầm, hơi văn tưng tửng không thể xếp vào thể loại nào khác ngoài thơ, văn trào phúng. Và cuối cùng là mảng chuyện cười để cười, cười vô tư, cười thoải mái, cười hết cỡ, cười vô tội vạ. Cười để cùng giải tỏa cơn bức xúc khi bom rơi đạn nổ. Cười để một phút thoát khỏi bầu không khí trang nghiêm. Những câu, bài, hay chuyện này thường đậm chất tiếu lâm, gần thủ thuật dân gian, tục mà thanh, thanh rồi suy ngẫm hóa ra tục. Những câu chuyện này dù xuất bản chủ yếu bằng... mồm, vẫn có sức lan tỏa nhanh.


Tại lời tựa tập sách mới in của Đặng Minh Phương, Phó giáo sư Vũ Ngọc Khánh có ý kiến: “Để trở thành một cây bút trào phúng hẳn hoi... trước nhất phải có cái tài. Cái tài này do trời cho... Nếu cái tài ấy chưa thật là của trời sinh, thì phải có cái nhạy bén, cái thông minh, cái thủ thuật, nhiều biện pháp sinh động”. Tôi xin bàn góp: Phần lớn những chuyện Đặng Minh Phương viết ra không đơn thuần là nói trạng, để cùng cười với nhau cho vui, rồi sau khi tan hội chẳng ai buồn nhớ làm chi. Cũng không phải là tài vặt. Thơ, văn trào phúng của anh nảy sinh từ vốn hiểu biết sâu, chính kiến rõ ràng. Đặng Minh Phương hình như cốn được cái tài trời cho. Cái tài ấy được anh vun xới trên nền đất tốt, thường xuyên bồi đắp phù sa.


Thời nào cũng vậy, muốn cho thơ văn trào phúng có sức sống bền lâu, được sự đồng cảm của số đông, trước hết tác giả phải là người có khí tiết. Ít nhất cũng không sợ làm “họ” giận hay va chạm với “họ”. Có thể sẽ bị phản ứng, ít nhất khiến người ta kiềng mặt. May mà “họ” đều thừa thông minh để biết trước không nên làm to chuyện với người trào phúng, càng giữ lặng im lâu càng tốt. Phải có khí tiết của bậc sĩ phu như cụ Tam Nguyên Yên Đổ hay ông Tú Vị Xuyên mới dám giễu cợt những chuyện chướng tai gai mắt ở chốn quan trường, cái nhố nhăng ngay cả nơi tôn nghiêm như trường thi giúp sĩ tử tiến thân, hay là những thói tật của người đời đã phổ cập tới mức trở thành giá trị được xã hội công nhận, như tục chúc nhau ngày Tết... Noi gương các cụ, Đặng Minh Phương dám nói toẹt những điều mà biết trước sẽ làm mích lòng ai đó. Anh không ngại làm những việc có thể bị chê là lập dị. Anh không lo gặp nạn, cho dù có lạ chi xưa nay chữ tài liền vần với chữ tai.


Không có cái tâm trong sáng, khó viết nên những câu thơ để đời về những mảng đen tối của nhân quần xã hội. Anh sẵn sàng mang cái vui chốc lát tặng mọi người, song anh không chỉ cười cho sướng miệng. Tiếng cười anh không phải lúc nào cũng mang tính phủ định. Tiếng cười Đặng Minh Phương không chống mà xây. Anh đả kích không tiếc lời những mảng đen cái xã hội trong đó có anh. Tôi nhớ có lần trêu hai người bạn đều là cây trào phúng cùng trưởng thành dưới bóng Cây đa trong khuôn viên số 71 Hàng Trống, Hà Nội, trụ sở báo Nhân Dân: nhà thơ Thợ Rèn (nay đã quá cố) và nhà báo trào phúng Đặng Minh Phương. Thợ Rèn tâm sự: “Vì yêu thương, phải có lời nhỏ to”. Còn Đặng Minh Phương, tôi nhại: “Vì yêu thương, cất tiếng cười rõ to”.


Nhớ một lần anh có tặng bạn một bài thơ gồm những từ bằng một phụ âm, giống nhau, đại loại: thẳng thắn thật thà thường thua thiệt... Đọc xong Không có vùng cấm tôi học đòi, nhặt trả anh bốn chữ: tài - tiết - tâm - tình. Chất Đặng Minh Phương của anh đấy. Tặng mà chắc nẵm trước sau rồi cũng bị ông bạn nói lái, lật ngược, cố tình xuyên tạc theo cách của anh, để cùng nhau cất cao tiếng cười xả bớt chua cay trong lòng.


 


SUY NGẪM CHUYỆN ĐỜI


                                                                               


Giáo sư, Tiến sĩ Mai Quốc Liên, nhà nghiên cứu lý luận tả xung hữu đột trên mặt trận văn học, nghệ thuật vừa trình làng cuốn sách trang nhã Thời sự và suy ngẫm  tuyển chọn hơn một trăm bài báo ngắn ông viết thời gian gần đây theo dòng thời cuộc. Độc giả chắc từng có dịp đọc bài của Mai Quốc Liên trên nhiều báo chí trong Nam ngoài Bắc, song phần lớn là những bài nghiên cứu, phê bình, luận chiến, thể tân văn thời luận kiểu này của ông mới xuát hiện gần đây. Ông lý giải ngay trang đầu cuốn sách: “Do việc mưu sinh, kiếm tiền đi chợ cho bà xã, mà tôi nhận viết mỗi tháng bốn bài cho một tờ báo. Số tiền nhuận bút cũng ưu hậu, nên tôi phải ráng hết sức…” Cầm cuốn sách, lướt qua Mục lục, tôi vừa bâng khuâng vừa hứng khởi lại có phần tủi thân khi nghĩ cái mình đeo đẵng, coi như mục tiêu của cả đời người, vậy mà ông bạn ghé đến chỉ do cần kiếm thêm dăm ngàn tiền chợ cho phu nhân. Lại rất vui, vậy là đội lính cuốc cày báo chí vừa bổ sung một “phu chữ” tên tuổi nữa (phu chữ là từ của nhà thơ Lê Đạt), làm đa dạng và hùng hậu thêm đội ngũ ký giả chuyên và không chuyên của nước nhà.


            Tại một phiếm luận viết nhân Ngày Báo chí Việt Nam cách đây đã khá lâu, tôi có ví báo chí với thể dục thể thao. Trong thể thao, có thể thao phong trào, mọi người cùng tham gia “khỏe vì nước”[4] trước hết khỏe cho mình, có thể thao đỉnh cao chuyên luyện rèn những đấu thủ mà mục tiêu là giải quán quân. Báo chí có ký giả chuyên nghiệp và đội ngũ không chuyên viết báo với tư cách cộng tác viên, trong số này xuất hiện ngày càng nhiều cây bút bản lĩnh cao, học vấn dày, chuyên môn sâu, được độc giả đón chờ. Một số tác phẩm họ giành được Giải báo chí quốc gia. Trong khi đội ngũ ký giả chuyên nghiệp hùng hậu, nòng cốt của đạo quân văn hóa tư tưởng, không phải không có một số người một khi đã yên vị trên chiếc ghễ bành thì dần dà bớt học, ít nghĩ, ngại xông xáo, ngày ngày nấp bóng uy danh truyền thống củacái măng sét báo nhà mà làm ăn tà tà, miễn vừa lòng cấp trên là được. Giả sử có dịp đấu thủ đỉnh cao và đấu thủ phong trào cùng lên vũ đài tỉ thí, tôi có thể cá cược một trên mười bên nào sẽ sớm “nốc ao” ngay từ hiệp một. Làm báo thời thị trường và hội nhập, đâu phải thời thế thế thì phải thế. Đội ngũ nhà báo thời nay không chỉ gồm những người ăn lương ký giả để làm tin, soạn bài mà rộng mở vòng tay đón chào bất kỳ ai có tài có đức, tâm huyết với nước với dân, đến thời thế này thế tất phải thế.


            Báo chí ngày càng có đội ngũ nghiệp dư mạnh là hiện tượng đáng mừng - ở đây khoanh lại trong báo chí truyền thống, các mạng điện tử có đặc trưng riêng, xin bàn dịp khác. Tôi từng dăm ba lần, hễ gặp dịp là nhấn mạnh xác tín của mình, rằng các bậc thức giả, các nhà hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội, trước hết các nhà văn rất nên viết báo. Đó là cách mở lòng thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân trước thời cuộc, là chách chung tay vun quén chế độ dân chủ cực kỳ thực chất đấy song còn nhiều khiếm khuyết lắm của chúng ta. Ngay từ lúc bắt đầu đặt nền móng xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thiết tha kêu gọi đồng bào cùng tham gia việc nước, mỗi người theo cách thức, năng lực và phương tiện của mình. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trước sau đều vì dân và đều do dân thực hiện, cho nên rất cần sự đồng thuận của xã hội. Diễn đàn báo chí mở kênh thuận tiện cho mọi người bày tỏ chính kiến, xây dựng chính sách, kiểm tra việc đưa chính sách vào cuộc sống. Cũng là một cách nhắc nhở tất cả chúng ta hãy nên gột bỏ tư duy lỗi thời, quen coi ai nói giống ta là bạn ta, ai có ý kiến khác ta là đối thủ của ta. Mọi ý kiến đều đáng được trân trọng lắng nghe, chỉ cần người phát biểu xuất phát từ mẫu số chung là đặt lợi ích của nước, của dân lên trên hết. Giáo sư, Tiến sĩ Mai Quốc Liên là một cây bút quen thuộc, ông tự coi là nhà báo không chuyên cũng được (theo chính ông bộc bạch, “thất thập” tóc bạc rồi rồi mới đều đều viết thời luận), tôi gọi ông là chuyên cũng vẫn được, bởi từ lâu ông làm Tổng biên tập tạp chí Hồn Việt của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học trực thuộc Hội Nhà văn Việt Nam.


            Tác giả mở đầu bằng chuyện chợ búa áo cơm, coi như cú hích đưa ông vào nghề báo, song lại thổ lộ luôn ngay sau đấy: “Khi cầm bút, tự nhiên tâm huyết, tâm tình ập đến, nhất thời quên đi hết, chỉ còn biết câu chữ”. Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn, đấng tiên hiền Nguyễn Trãi từ năm trăm năm trước đã trăn trở như thế đó, anh Mai Quốc Liên ơi!


Chủ đề các bài thời luận của Mai Quốc Liên khá đa dạng, Từ những sự kiện văn hóa như khai mạc một Festival, trình chiếu bộ phim mới, tưởng niệm một bậc văn nhân, Đại hội Hội nhà văn,Đại lễ ngàn năm Thăng Long Hà Nội… đến WTO, hội nhập, thương hiệu, bão giá, dân cày, biển đảo… rồi chuyện bên Nga bên Mỹ: 90 năm Cách mạng tháng Mười, ông Obama 100 ngày cầm quyền…, đã gọi “thời sự” thì có việc gì khôngthể  gợi ý, khêu tứ cho ta “suy ngẫm”. Hơn thế, không chỉ bằng lòng trầm tư, Giáo sư Mai đôi khi còn đề xuất ý kiến “độc” về vấn đề này hiện tượng nọ.


            Tôi không có ý nói mọi bài báo dài năm, bảy trăm từ của vị tự coi là “nhà báo không chuyên” đều là tuyệt tác, và đã “suy ngẫm” thì đương nhiên và trước hết mang dấu ấn cá nhân, người đọc tha hồ chia sẻ, đồng tình hoặc phản bác, thậm chí bất bình, cái quan trọng rốt cuộc vẫn là tấm lòng người viết với đất nước, nhân dân, xã hội, cộng đồng. “Suy ngẫm” của Mai Quốc Liên phần lớn là như thế. Và theo tôi, cái đáng trân trọng của văn chương xưa nay là ở chỗ ấy. Người cầm bút thời đại nào cũng phải ghi lòng tạc dạ: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” (Nguyễn Du).


 


(còn tiếp)


Nguồn: Thời gian không đổi sắc màu. Tập Phê bình – Tiểu luận của Phan Quang. NXB Văn học, 6-2017.


www.trieuxuan.info


 







(1) Đây là quốc lộ 19, con đường huyết mạch ở Nam Trung Bộ nối liền Tây Nguyên với cảng Quy Nhơn.




[1] Bẫy chông tre.




[2] Các nhà thơ, nhà văn Chế Lan Viên, Tế Hanh, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài…


 




[3] Báo Nhân dân.




(1) Trong cuốn sách của Hồ Vân - Hoàng Minh Nhân có in một truyện ngắn của Nhất Phương.




(1) Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2010.




[4][4]  Khỏe vì nước, kiến thiết quốc gia…”, câu mở đầu bài hát vận động phong trào thể dục thể thao rất phổ  cập một thời.




 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những bài viết về nhà văn Hồng Nhu - Nhiều tác giả 14.11.2019
Sóng lừng (VN. Mafia), tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Giao thông Vận tải, 1991. - Nguyễn Bích Thu 12.11.2019
Về Bogdanov và tiểu thuyết “Tinh cầu Đỏ” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Một Week end ở Điện Biên Phủ - Phan Quang 07.11.2019
Ngụ ngôn giữa đời thường: Việt Nam giữa Canada; Ta giữa Tây; Dân tộc giữa nhân loại - Đỗ Quyên 01.11.2019
Đào Duy Anh nói về sự "Hán hóa" (1950) - Đào Duy Anh 31.10.2019
Sự kiêu hãnh quá đáng là dấu hiệu cho thấy nhiều điều không tốt đẹp - Vương Trí Nhàn 31.10.2019
Chỉ là đợt thử mắt bên phải - Đỗ Quyên 28.10.2019
Có một cuốn sách hay đang giảm giá - Mạc Yên (Phạm Thành Hưng) 25.10.2019
Hà Nội, một mảnh hồn xưa - Phan Quang 25.10.2019
xem thêm »