tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30132774
Tiểu thuyết
19.10.2019
Vũ Bằng
Bảy đêm huyền thoại


Phần thứ ba


TRÈO LÊN ĐỈNH NÚI TÌM CHO ĐƯỢC NGƯỜI THƯƠNG


 


1. Người anh em kể hết câu chuyện truyền kỳ thứ bảy thì trời chạng vạng sáng. Bóng đêm chưa tan hẳn, nhưng nhìn ra ngoài trời, người ta thấy không khí bắt đầu loãng ra như một vết dầu loang trên tấm giấy. Xa xa có vài tiếng gà nước gáy te te. Rồi bỗng nhiên ở trong đám lau lách sau nhà quàn, nổi lên những tiếng rúc liên tiếp như tiếng người gõ một ống bương xuống đất.


- Cái gì vậy?


Mọi người lắng tai nghe, ngơ ngác nhìn nhau không hiểu. Mãi lát sau, anh chính ủy gốc Thổ mới nói:


- À, đấy là tiếng rúc của con Lông Ô đấy mà!


- Lông Ô? Nó là giống gì mà rúc lên ghê thế? Giống ngựa ô à?


- Nó là giống chim thuộc loại già sói, già đẫy, ngày trước Tây họ đi bắn vẫn kêu theo tiếng Latinh là Leptoptilos cruminiferus. Khó bắn lắm vì nó chỉ đi về đêm, mà thấy bóng đen nó lẩn còn nhanh hơn con cuốc, mặc dầu giống chim này rất lớn, có con cao tới một thước rưỡi, nặng tới hai, ba chục ký, hai cánh dang ra có thể dài tới non hai thước.


Nghe anh người Thổ nói thế, tất cả anh em đều đực mặt ra không nói gì. Dường như không muốn để cho cái không khí lắng đọng ấy kéo dài thêm, anh tiếp:


- Giống này, thịt ngon lắm. Nhưng ở miền rừng núi, thịt của nó không đáng kể bằng tiếng rúc của nó. Theo những người ở lâu tại những miền rừng núi truyền tụng lại cho nhau, mỗi khi giống chim này rúc ở đâu thì trời sẽ tốt đẹp, không có động rừng hay cháy, mà dân cư ở đó sẽ được phong đăng hòa cốc.


Quả nhiên đến hửng sáng thì mây hồng hiện lên ở chân trời báo hiệu một ngày thật đẹp. Dung bảo Hảo:


- Ăn mãi muối vừng, chán quá! Hôm nay, tôi muốn đi kiếm một ít rau đay, mồng tơi hay bông so đũa xì xằng gì nấu canh để ăn cho đỡ xót ruột. Chị có đi với em không?


- Đi thì thú lắm, nhưng em lại muốn ngủ hơn. Thôi Dung đi với Nhu, để cho mình ngủ một giấc vì thức đêm mệt quá.


Dung và Nhu đi qua hai cái đồi sang đến bản Tước hái được ít rau thì nắng bắt đầu lên. Họ chọn phiến đá to và nhẵn ngồi rửa chân. Nhu thừa dịp rửa rau ở khe suối, còn Dung thì ngồi nhìn bướm bay ở bụi cây, nói vẩn vơ:


- Đến bây giờ, quả thực mình mới biết là nước mình đẹp quá. Chẳng biết Nhu nghĩ thế nào, chớ riêng mình thì kháng chiến thành công rồi, mình không muốn trở về Hà Nội nữa, cứ ở đây với dân bản Thổ, đánh một cái nhà tranh nhỏ ở bên bờ suối, chiều chiều ngồi ở trước nhà trông lá vàng rụng sườn đồi…


- Dung nói y như là hát “Bài thơ bên suối”. Nhưng Dung có nhớ rằng trong “Bài thơ bên suối”, không phải chỉ có một người, mà là những hai người hẹn nhau cùng xây nhà để nghe suối róc rách trôi, và nhìn đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi… không?


Dung cười, nói chọc Nhu:


- Thì lo gì chuyện ấy. Bấy giờ mình kiếm thêm một người nữa, còn đủ thì giờ chán!


- Lúc ấy mới kiếm, e hơi muộn.


- Sợ muộn thì kiếm ngay từ bây giờ cũng được chớ sao?


Dung và Nhu cả cười. Tiếng cười vang lên trong một khoảnh rừng cây, vọng vào khe đá rồi dội lại y như thể có những cô tiên bé nhỏ ở đâu gần đấy cất tiếng cười đáp lại.


Một lát, Nhu hỏi:


- Này, Dung nói đùa như vậy mà hóa ra thật, chưa biết chừng. Vậy chớ nghe bảy câu chuyện huyền thoại của bảy đồng chí kể trong bảy đêm nay, Dung cho chuyện nào hay nhất? Mà Dung phải thú thật với mình, cấm được nói dối nghe! Dung có ý định “chấm” người kể câu chuyện hay nhất, thật hay là đùa đấy?


Mặt Dung nghiêm hẳn lại:


- Nhu đã hỏi thật, mình cũng nói thật cho mà nghe. Thoạt đầu, thấy các bạn nói, mình cũng ừ lấy lệ, nhưng lạ hết sức là cái diễn tiến trong tâm trạng của con người. Mình nghe các anh kể chuyện, thấm thía cái giọng và nét mặt từng anh, mình thấy vẩn vơ trong lòng thực, rồi thì cái ý tưởng chọn một người để gửi gắm đời mình không còn là một chuyện đùa cợt nữa.


“Nói như thế này thì rất trung thực, nhưng Dung cấm Nhu cười mà cấm luôn cả Nhu không được nói lại với ai: nghe bảy anh kể bảy câu chuyện huyền thoại, mình đều yêu cả bảy anh, nhưng chẳng lẽ lại lấy cả bảy anh làm chồng? Không. Bây giờ thì Dung đã quyết rồi: Dung sẽ lấy một trong bảy anh đó vì thương không chịu được. Tính Dung từ trươc đến nay vẫn thế: muốn cái gì thì cái muốn ấy đeo mình đến thành ra ám ảnh, không thực hiện nổi thì khổ sở vô cùng, không còn thiết sống làm gì. Nhưng người đó là ai, quả là đến giờ phút này đây, Dung vẫn chưa hề biết. Vậy theo ý Nhu thì chuyện nào hay nhất trong bảy câu chuyện đó?


Nhu ngừng tay rửa rau, nhìn Dung, ngặt ngoẽo cười:


- Bộ Dung điên sao? Mỗi người một ý, biết thế nào mà nói! Ví dụ mình có lựa sẵn trong óc lấy chuyện hay nhất rồi, chắc chắn mình cũng không bao giờ nói cho Dung biết, vì đây là câu chuyện định đoạt đời Dung, riêng cho Dung, sao người khác lại phát biểu ý kiến riêng vào đó được? Thôi đi, đừng có nói dớ da dớ dẩn. Sửa soạn đi về, kẻo ở nhà các anh ấy đợi.


Đến gần nhà quàn, Nhu nói:


- Cứ nghĩ cho chín đi, không có vội gì đâu. Đằng nào rồi cũng phải có đôi bạn, mà có dịp chọn đôi bạn như Dung, thiết nghĩ cũng là một dịp may hiếm có.


- Mình cũng biết như thế. Nhu không bảo thì mấy hôm nay mình cũng vẫn băn khoăn hoài. Thể nào trong bảy người thương mình cũng có một người làm đôi bạn với mình, nhưng chưa biết chọn người nào đấy thôi. Nhưng trước sau gì rồi cũng chọn được người thương đó. Bây giờ gần đến nhà rồi, ta hãy gác chuyện đó lại đã. Tối nay, người thứ tám kể chuyện, rồi người thứ chín kể chuyện, còn đến sáu bảy người kể nữa, mình hãy nghe cho thích đã. Rồi quyết định cũng chưa muộn gì, phải không Nhu?


 


2. Sau này, ngồi nghĩ lại các sự việc xảy ra buổi chiều hôm đó, vài người trong bọn chúng tôi cười anh chính ủy gốc Thổ không biết chừng nào. Cái con chim Lông Ô mà anh bảo là vẫn thường báo điềm lành, “nó rúc ở đâu thì rừng không động, không cháy mà dân cư lại vui vẻ vì phong đăng hòa cốc”, té ra là một thứ chim đem lại những sự việc trái ngược hẳn với những điều anh đã nói.


Khoảng bốn giờ chiều hôm đó, vào lúc anh em sắp ăn cơm, một đoàn chín máy bay mang cái tên nhơ nhớp là “Mèo địa ngục” đen trùi trũi, bay như thể mũi tên về phía chúng tôi đang đóng. Vì buổi đầu kháng chiến chưa rút được nhiều kinh nghiệm, lại thêm cả bọn sơ suất cho rằng đây chỉ là cái trạm nghỉ chân tạm thời, không cần đào hầm cá nhân trú ẩn, chúng tôi mất bình tĩnh chạy tán loạn mỗi người một nơi. Trớ trêu thay là một trong những lời nói của anh người Thổ về con chim Lông Ô lại đúng: là trời hôm ấy đẹp quá cho nên máy bay của thực dân tha hồ phá phách, bắn cứ loạn cả lên. Chưa xong. Chín cái này bắn vừa dứt thì một chục cái khác rồi chục cái khác nữa ở đâu lại sà tới như tên bắn tiếp, quần thảo trên nền trời trong vắt hơn hai mươi phút đồng hồ, làm cho căn nhà cháy rụi, bao nhiêu cây cối ở một vùng quanh đấy chừng năm trăm thước ngã gục cả xuống, còn đất thì có chỗ bị xới lên to bằng cái nong.


Ngay lúc ấy, tôi tưởng chừng như trong bọn ít nhất cũng phải có dăm bảy người thiệt mạng, nhưng sau này được tin đích xác cho hay thì chỉ có hai anh bị thương: một người bị đứt cái vành tai bên mặt, phải chở đi quân y viện gần đấy nhất để vá; còn một người bị một viên đạn vào bắp vế, mổ lấy được ra và sau đi lại như thường, nhận kỹ lắm mới biết là có tật. Tuyệt nhiên không có người nào chết cả.


Tuy nhiên, sau trận bắn phá đó, bọn chúng tôi tan tác mỗi người một nơi, không được tin tức gì của nhau trong một khoảng thời gian khá dài.


Phần tôi, gặp một người bạn già rủ về làm việc ở Thanh rồi từ đó về Mộc Châu làm văn hóa. Trên các nẻo đường công tác, chỉ có một người ở trong bọn cùng chia sẻ với tôi những đêm mưa rừng ở đỉnh Voi Gầm theo tôi. Người ấy là Hảo. Chắc các bạn chưa quên là ở phần thứ nhất truyện này, đoạn nói về ba người chị em là Dung, Hảo và Nhu, tôi có nói là Hảo có một người chồng thiệt mạng trong một cuộc xung kích ở Sơn Tây và ít lâu sau đó thì có một chàng trai “đeo”.


Người đeo ấy chính là tôi. Một sự tình cờ may mắn khiến chúng tôi cùng chạy trên một con đường với nhau. Đến Đò Lèn, tôi bị chứng sốt rét nặng bị liệt giường liệt chiếu ít ngày. Hảo săn sóc và chạy thuốc cho tôi. Chúng tôi chính thức lấy nhau từ đó. Chạy hết nơi này nơi khác rồi lần lần đến Mộc Châu, Hảo và tôi vẫn được cùng làm chung ở một cơ quan. Trừ những giờ phút đầu tắt mặt tối vì công tác không kể, hồ có lúc nào thanh thản nhìn ra mây chiều gió sớm mà nghĩ đến chuyện chín nhớ mười trông, chúng tôi lại rầu rầu tưởng lại những đêm ngồi nghe kể chuyện huyền thoại ở bên đỉnh Voi Gầm và hai đứa lại hỏi nhau không biết những bạn cũ bây giờ ra thế nào.


Hình như bốn năm tháng sau đó chúng tôi mới lại được liên lạc và biết tin có mỗi một bạn đường buổi ấy, còn những người khác thì không có một ai từ miền xuôi lên ngược, từ miền bể về rừng, biết sống chết ra sao.


Trong những người bặt tin ấy, có Dung và bảy anh đã kể chuyện huyền thoại ở heo hút trong rừng già bên đỉnh Voi Gầm vào đầu mùa dân Việt đánh bọn xâm lăng độc ác “mọc lông ở bụng”.


 


3. Nhiều khi, Hảo và tôi ngồi ở trên đồi sim nhìn xuống dưới nương, nhớ bạn, thường tự an ủi với nhau:


- Ở vào cái buổi chiến tranh không biết thế nào mà đoán được. Rất có thể là mình lo thế này thế khác cho bạn tác, mà có khi họ lại yên hơn mình cũng nên.


Hảo không trả lời, rút một cái cỏ bạc đầu ngậm vào miệng, một hồi lâu mới nói:


- Mà không biết Dung bây giờ ra thế nào? Em sợ cho Dung quá… Đã có sắc mà lại có tài, làm cái thân đàn bà con gái, e không may mắn…


- Ôi chao, lo như thế thì biết đến bao giờ hết chuyện… Em cứ yên trí, Dung bây giờ đương sung sướng là được rồi…


- Ai chẳng muốn như thế, nhưng có nhiều lúc muốn yên trí mà không thể nào yên trí được. Bè bạn với nhau… Có nhiều lúc em còn điều vô lý nữa. Ờ, thí dụ là bây giờ Dung đã có chồng rồi thì người chồng ấy là ai? Có phải là một người bạn đường như anh với em không? Hay là một người nào khác? Anh không biết, em với Dung là chỗ bạn gái với nhau, em biết Dung kỹ lắm: Dung không phải là một người dễ dãi trong sự kén chọn bạn lứa đôi đâu. Chị ấy đã nói nhiều lần là phải lấy được người ý hợp tâm đầu. Thế thì trong bảy người yêu chị ấy, và đã kể bảy câu chuyện huyền thoại mà chúng ta đều đã biết, chuyện nào là chuyện mà chị ấy cho là hay nhất, người nào là người mà chị ấy muốn gửi phận trao thân?


Ở đời, có những chuyện rất không đâu mà làm cho đầu óc ta thắc mắc không chịu nổi. Tính thắc mắc cũng là một tính hay lây. Gặp bất cứ bạn cũ nào, chúng tôi cũng hỏi tin tức của Dung, nhưng trước sau vẫn không có người nào biết tin đích xác về chị, tất cả đều chỉ là “nghe thấy nói” mà thôi. Vào thời buổi loạn ly, những điều nghe thấy đều không có cách gì tin được.


Mấy tháng sau nữa, chúng tôi mới gặp Đá, một người bạn tương đối tin được nhất vì anh là một cán bộ nổi tiếng biết rất nhiều, quen rất nhiều, hơn thế anh lại cùng phụ trách công tác văn nghệ và diễn xuất với Dung sau vụ quân Pháp thực dân ném bom ở Voi Gầm.


Đá quả quyết rằng chừng hơn hai tháng trước đó, anh gặp Dung lần cuối, trước khi bỏ ra đi đến một quân y viện xa xôi mà chị giữ kín không cho ai biết. Hỏi chị đến quân y viện đó làm gì,  Dung chỉ cười, mà nói: “Để thăm người ta, chớ còn để làm gì nữa mà cứ hỏi hoài hỏi hủy”.


Người ta! Người ta là ai vậy? Là các thương bệnh binh? Là người thân trong quyến thuộc? Hay là người tình chung? Không ai biết rõ, nhưng một vài chị giao liên quả quyết rằng Dung đã có ý trung nhân trong những tháng gần đây, nhưng ý trung nhân đó lại lâm bịnh nặng.


Nghe thấy Dung đã lựa được người yêu, tất cả các anh em quen biết đều xôn xao bàn tán và hỏi Đá có biết người đàn ông may mắn đó là ai không.


Đá lắc đầu:


- Mình cũng chỉ nghe thấy thế thôi, chớ thật tình cũng chẳng biết gì hơn các cậu. Mình chỉ biết cuộc tình duyên này là cả một sự tình cờ và cả anh cả ả đều không định trước, bắt đầu chỉ là một câu chuyện đùa trong những buổi liên hoan hay độc tấu gì đó trên đường đi công tác.


Vì có nhiều anh em tò mò muốn biết rõ hơn về cuộc tình duyên này, Đá tiếp:


- À, phải rồi. Đúng ra thì như thế này: có bảy người thương Dung, kể bảy câu chuyện huyền thoại để cho anh em nghe đỡ buồn. Mấy anh chị đứng ngoài nhân đó vun vào, và nói đại rằng anh nào kể câu chuyện huyền thoại được Dung cho là hay nhất thì sẽ là chồng Dung.


“Tưởng là nói đùa vậy thôi, không ngờ tình yêu có những điểm kỳ bí không thể nào lý giải được: trong bảy câu chuyện huyền thoại do bảy anh cán bộ kể trong bảy đêm ở trong rừng, Dung say mê một chuyện như điên, nhất định lấy người kể câu chuyện ấy, tưởng chừng nếu không lấy được anh ta thì không thể lấy được bất cứ người đàn ông nào khác.


- Thế rồi sao nữa?


- Thế rồi thì hết, chớ sao?


- Nghĩa là hai người ấy lấy nhau và sanh rất nhiều con cái như trong chuyện thần tiên vậy?


- Nào có biết! Tôi chỉ nghe thấy thế thôi… Còn tại sao Dung lại đến cái quân y viện bí mật và đến đó để thăm ai, có phải là thăm ý trung nhân đó hay không, thực tình tôi không biết, cũng như tôi không hề biết bảy câu chuyện huyền thoại của bảy đồng chí ấy ra thế nào và chuyện nào được Dung cho là hay nhất và mê nhất.


Hồi đó là cuối 1947, đầu 1948. Chiến dịch Hạ Lào bị ngưng lại vì một lý do riêng, nay có chiến dịch Thượng Lào thay thế. Tạm biệt Hảo, tôi theo binh đoàn hai trăm mười bốn một sớm đìu hiu lạnh từ thành Tây Giai nhà Hồ đi dọc theo sông Mã qua Muông La, Mương Hiu, hát bài “Y, Hu! Hi! Nguy hồ cao tai – Thục đạo chi nan, nan vu thượng thanh thiên” của Lý Bạch.


Ôi chao! Gớm! Hiểm mà cao thay,


Đường Thục đi khó, khó hơn đường lên trời!


Tăm tòng và Ngư phù,


Tính năm khi đã bốn vạn tám


Bóng khói ải Tần chưa tới nơi…


Phía Tây núi Bạch có đường chim,


Ngưng đỉnh non Nga, nơi tuyệt vời.


Đất sụt, núi lở, tráng sĩ chết,


Rồi sau cầu đá nối được thang trời.


Trên là núi Cao Tiêu, như sáu con rồng ngăn bóng ác,


Dưới thì dòng sông quằn quại, thác dội, sóng vỗ, nước chảy lùi


Cánh con hạc vàng không thể vượt


Khỉ vượn muốn leo qua vịn vai…


Truyền rằng ngày xưa núi rừng ở Ba Thục trùng trùng điệp điệp không có chỗ nào để lách chân. Tình cờ đến gần sau này, vua Thục mới cho ra lịnh cho dọn con đường hiểm trở như đường đi lên trời để đón một người đẹp của vua nước Tần xin dâng. Nhà vua cử năm lực sĩ đi làm công việc đó, chẳng may núi đổ, đá lở, năm lực sĩ đều bị chết bẹp, bấy giờ rặng núi chắn ngang hai xứ Tần, Thục mới có chỗ hở.


Nhân đó, người sau mới dựng thang và bắc cầu đá để đi từ núi nọ qua núi kia, và cũng từ đó mới có đường vào nước Thục. Nhưng con đường ấy không phải dễ đi đâu! Trên thì có núi Cao Tiêu hình giống như sáu con rồng Hoàng Bá Đăng đã cưỡi, có thể làm cho mặt trời phải vướng mà quay trở lại, dưới thì khe suối quanh co, nước chảy lộn ngược, coi rất ghê sợ.


Hoàng hạc chi phi thượng bất đắc quá


Viên nao dục độ, sầu phan viên.


Gớm cho con đường vào Ba Thục: bay cao như con hạc vàng cũng không thể qua, leo giỏi như loài khỉ loài vượn, khi muốn vượt qua cũng phải lo ngại về sự trèo vịn.


Tất cả những sự hiểm trở, gian nguy tả trong bài “Thục đạo nan” của Lý Bạch nghe đã ghê, nhưng đối với chúng tôi lúc đó thật quả chưa ghê bằng cuộc Tây tiến của chúng tôi năm đó – cuộc Tây tiến làm cho bao nhiêu người lội suối không mọc được tóc, bao nhiêu người xanh xao màu lá chết đau chết khổ dọc đường.


Ban ngày quạ gào trên cổ thụ,


Con mái bay lượn, con trống theo.


Ban đêm cuốc kêu dưới ánh trăng,


Đồi núi đều quạnh hiu.


Đường Thục đi khó, khó hơn đường lên trời!


Nghe nói má hồng hầu răn reo,


Dãy núi cách trời chẳng đầy thước


Thông khô vách đá vẫn treo ngược


… … …


Sớm lánh cọp dữ,


Tối tránh rắn dài.


Mài nanh, liếm máu,


Giết người như chặt gai!


Ấy đấy, con đường vào Ba Thục mở rồi mà còn hiểm nghèo đến thế, sao mà có thể so sánh với con đường Tây tiến được. Đường Minh Hoàng chạy vào đất Thục “nan vu thượng thanh thiên” nên tự lấy làm sung sướng, chớ đoàn quân Tây tiến thì phải nói là vừa đi vừa phá đường, vừa dọn núi, là vì con đường Sầm Nưa tương đối dễ đi nhưng Pháp biết, kháng chiến phải cữ không dùng được.


Thục đạo chi nan, nan vu thượng thanh thiên,


Trắc thân tây vọng trường tư ta.


Đường Thục đi khó, khó hơn đường lên trời!


Nghiêng mình về tây đành ngậm ngùi([1]).


Ngậm ngùi mà dừng bước nghỉ lại hoặc là không đi nữa, chớ đoàn quân Tây tiến thì không thể ngậm ngùi, không thể dừng bước được. Cứ phải đi, và có nhiều buổi sương mù cứ phải đi, dù là đương lên cơn sốt rét.


 


4. Nhưng rồi cũng có lúc muốn đi mà không thể nào đi được là vì có những chặng đường bị bịt kín, trước mặt là núi đá cheo leo, cao tưởng như lên đến trời, không có cách gì qua được. Gặp những trường hợp như thế, chúng tôi đành phải dừng lại để tìm các cách vượt qua, mà nếu không thấy một đường mòn nào thì dù núi cao và dốc đến thế chớ dốc và cao đến trăm lần thế nữa, cũng cứ phải vượt cho kỳ được, ai chết thì chịu chớ không thể nào làm khác.


Đó là trường hợp của bọn chúng tôi vào ngày thứ hai mươi mốt trong chuyến Tây tiến cuối 1947, đầu 1948. Chúng tôi qua Muông Lát, Muông Hiu rồi tiến về phía Tây, ngang Sơn La, gần tới Điện Biên Phủ thì gặp một trái núi cao ngút ngàn. Bây giờ hỏi tên núi ấy là gì, có nhiều bạn cùng đi chuyến ấy với tôi không nhớ, mà nói cho thực cũng không biết tên núi ấy là gì nữa; nhưng chắc chắn, cho tới khi nhắm mắt, người nào chuyến ấy đã đi qua đều nhớ rõ vụ trèo núi ấy, không có cách gì quên nổi.


Là vì trái núi ấy cao vút lên đến trời, sự đó đã đành rồi, nhưng vách núi lại thẳng như bức tường, đứng dưới mà nhìn lên, ai cũng phải thất vọng và yên trí là có tài leo trèo như khỉ cũng không thể nào bò được lên tới đỉnh. Ấy thế mà rồi chúng tôi cũng phải liều chết mà trèo, mũi người đi sau bám sát lấy chân người trèo trước, hai bàn tay rớm máu mà cứ đành là phải bám lấy vách đá không dám rời ra một phút. Đến một chỗ nào có cái hang hay lùm cây, chúng tôi lại nghỉ giây lâu để lau máu ở tay chân và bắt những con vắt cắn sưng cả hai chân hai tay lên như thể là những cái hoa chuối vậy.


Nói cho thực đúng, núi không cao quá như chúng ta đã nhận xét lúc đầu. Bây giờ ngồi nhớ lại, tôi áng chừng núi ấy chỉ cao khoảng sáu trăm thước là cùng, nhưng trèo ngược lên tới đỉnh quả là chúng tôi đã vất vả cả một ngày vì bắt đầu leo từ chạng vạng sáng chưa rõ mặt người mà đến lúc mặt trời xế bóng mới lên tới đỉnh.


Lên được tới đỉnh, bọn mở đường chúng tôi đều tính ít nhất phải có một vài anh lăn ra chết vì mệt đứt hơi đứt ruột, nhưng tất cả đều lầm, tất cả đều sửng sốt, vì tất cả đều tỉnh ra vì ngạc nhiên – một sự ngạc nhiên không ai có thể tưởng tượng được, một sự ngạc nhiên làm cho tất cả mệt mỏi, đau đớn tiêu tan hết trong giây lát, một sự ngạc nhiên làm cho tất cả cảm thấy như đương bước nhẹ vào quê hương thần thoại.


Cái đỉnh mà chúng tôi đinh ninh là nhọn khi đứng ở dưới nhìn lên, không ngờ lên được đến nơi lại là một dải đất bằng phẳng như một cánh đồng bao la, bát ngát, có cây cối và có nhà cửa lưa thưa! Càng ngạc nhiên hơn nữa là chỉ sau đó một giây, vào khoảng dập bã trầu, tất cả người ở trên cái thế giới lạ kỳ, cách biệt hẳn dương trần đó, không biết do một đường dây bí mật nào đã biết tin, kéo lại vây lấy chúng tôi đón rước y như là trước đây, đọc trong truyện cũ, thấy các cô tiên đón rước Từ Thức lúc thư sinh này lạc vào động Thiên Thai.


Lúc ấy khí núi đã bắt đầu bốc lên mờ mờ, những rừng vầu bụi móc ở phía xa, nhìn đã không rõ nét, nhưng ở chỗ chúng tôi tập hợp để sửa soạn ra mắt các anh chị em này thì trời hồng hồng, sáng trong một cách kỳ lạ, thậm chí con chim đậu ở cành mận gần đó, chúng tôi cũng nhìn thấy rõ bộ lông màu cánh chả.


Thế này thì còn hiểu làm sao cho nổi? Đây là đất nước của ta hay là một cảnh thần tiên vẫn thường thấy tả trong các truyện mà ta đọc khi còn nhỏ? Hoa mận trắng, lá cây biêng biếc, bụi cây xanh điểm những nụ hoa vàng, mà xa xa thì là đồi núi trập trùng mờ mờ màu lam, thỉnh thoảng như lại róc rách tiếng hát của những con suối bạc mà mắt mình không trông thấy. Kìa, có phải là tiếng vượn ru con, chen vào những lời khúc khích của chim muông trò chuyện, hỡi các cô nàng đẹp nõn đẹp nường có những cặp mắt hạnh nhân lúng la lúng liếng?


Sau khi định thần và biết chắc đây là đất của ta thật và những người đứng trước mặt mình là người bằng xương bằng thịt thật, chúng tôi lên tiếng hỏi đây là đâu, và ngỏ ý cho chúng tôi tạm tá túc một đêm để sớm hôm sau đi sớm, nhưng hết thảy đều ngơ ngác không hiểu chúng tôi nói gì. Tuy nhiên, nhìn dáng điệu và những cái vẫy tay của họ, chúng tôi biết là họ mời chúng tôi vào trong nhà họ nghỉ ngơi.


Tất cả chỉ có sáu, bảy nhà sàn mái nâu, dựng lên cách nhau bằng những thửa vườn rộng mông mênh trồng những thứ cây lạ cao chỉ tới đầu người.


Ngồi nghỉ được một lát thì trời tối hẳn. Bóng sáng của các cây đình liệu tỏa lung linh khắp các gian nhà sàn. Ngoài kia, im phăng phắc. Thỉnh thoảng lại có tiếng chầy giã gạo vọng lên. Chúng tôi vừa định xin phép giở cơm nắm ra ăn để rồi đi nghỉ ở ngoài hè thì bỗng thấy một hồi cồng vang lên. Một cụ già râu bạc như tuyết vòng tay lại xá chúng tôi và nói một hồi một thứ tiếng mà chúng tôi không hiểu – trừ một người là Dũng, hiểu đại khái câu được câu chăng, vì anh ta đã ở lâu tại Hoa Nam và biết nhiều thổ ngữ Trung Hoa lục địa. Anh thông ngôn lại:


- Cụ đây có nhã ý mời anh em dùng một bữa cơm muối măng rừng và cho biết đã xếp đặt giường chiếu xong xuôi để anh em nghỉ lưng sau khi dùng bữa.


Chao ôi, sự ngạc nhiên này chưa hết thì đã đến sự ngạc nhiên kia, quả thật là tim óc chúng tôi đêm ấy muốn bể ra vì không thể nào ngờ được ở trong đất nước mình lại có thể có nhiều sự lạ lùng đến thế.


Bao nhiêu bát đĩa trong bữa tiệc vĩ đại ấy đều là đồ sứ cổ với những kiểu cách hoa văn nứt nẻ khác thường, không biết đã trải biết bao nhiêu thời đại rồi mà còn giữ được đến bây giờ. Còn thức ăn, thì đủ cả gà, heo, cua, cá… không thiếu một thức gì mà chúng ta vẫn ăn ở các trà đình tửu điếm hồi chưa kháng chiến, ngon không chịu được. Nhưng, ngon có nghĩa gì với sự thích mắt của chúng tôi lúc đốt đuốc thêm, bỗng có tiếng khèn trỗi lên như tự trên trời rơi xuống, rồi từ bên hông nhà hiện ra các cô nàng trong bản đi hàng hai khép nép ra hầu tiệc.


Không. Nói cho thực, phải có dự một bữa tiệc như thế, và trông thấy các cô nàng như mây, xinh như mộng, mặc xiêm áo rực rỡ mỹ miều còn hơn cả xiêm áo của những bà hoàng bà chúa trong truyện cổ nước Tàu, nước Nhật, ta mới thấm thía được hết cái đẹp mê ly của mấy câu thơ, mà nhiều người còn nhớ:


Doanh trại bùng lên khúc nhạc ca,


Kìa em xiêm áo tự bao giờ!


Khèn lên man điệu nàng e ấp,


Nhạc về Viên Chiên xây hồn thơ…


 


5. Ở lại đến ngày thứ hai, Dũng hiểu rành rọt tiếng nói ở đây hơn và bắt đầu trò chuyện đại khái được với những người trong bản.


Họ không có bao lăm, chỉ gồm khoảng ba bốn chục người trở lại và đa số là phái đẹp. Họ là người Việt hay từ đâu đến? Hỏi mãi ra thì mới biết rằng đỉnh núi này là nơi định cư của một bộ tộc thiểu số người Dao, trước kia ở miền Nam nước Tàu phiêu bạt tới đây.


Ông cụ già râu bạc trắng nói:


- Ông cha chúng tôi đến đây tới nay được ba đời rồi. Tại sao lại đến? Chính chúng tôi cũng không biết. Chỉ thấy lúc chết, các cụ di ngôn lại rằng mọi người ở trong dòng họ chúng tôi không vì bất cứ lẽ gì được rời khỏi khu vực này. Hơn một trăm năm nay chúng tôi khai phá, sản xuất và tự túc. Có thể nói là ga, vịt, trâu, dê… không còn thiếu thức gì – chỉ trừ có giống ngựa là chúng tôi không có vì trong buổi đầu băng rừng vượt suối, ông cha chúng tôi có mang theo hai con ngựa, nhưng cả hai đều chết – và cũng có thể bảo là đời sống của chúng tôi tương đối buồn, nhưng theo lời di chúc của ông cha, không một người nào trong tộc chúng tôi rời bỏ chốn này để tìm nơi khác.


- Nói vậy, chúng tôi đến đây chẳng là có lỗi lầm lắm sao, vì đã đem bụi bặm ở những đất phù hoa về quý địa.


- Thưa không, trái lại. Chúng tôi rất hiếu khách. Mỗi khi có người lạ lạc vào đây, chúng tôi quý như nén vàng và lấy làm tiếc là không đủ tiện nghi và biết đủ nghi lễ để tiếp rước cho thập phần trọng hậu.


Câu chuyện đến đây thì có hai cô vận xiêm áo còn đẹp hơn cả xiêm áo ngày hôm trước nữa, bưng ba mâm đào và mận đến mời chúng tôi dùng nước, đồng thời trên mỗi mâm lại để mấy cái ống trúc dài và một cái hộp sứ thủy lục trong đựng một thứ lá gì thái nhỏ.


Dũng hỏi rồi thông ngôn lại cho chúng tôi nghe, cùng lúc chúng tôi lại nhờ anh dịch những câu nói của chúng tôi để nhờ các cô chỉ bảo. Thì ra cái hộp đựng lá thái nhỏ đó là lá cây thẩu để hút với những cái ống trúc kia.


Một cô cho Dũng biết:


- Chúng em không hút cái này nhưng ông em nói rằng hút một hai mồi, nhắm mắt lại thì say sưa một cách nên thơ lắm. Trước đây, đã có một người trai ở dưới Kinh lên, cũng như các anh, đến ở với ông em gần một năm, hút tối ngày vì hình như anh ấy bị bịnh gì không biết, hễ hút vào thì tỉnh, mà không hút thì thành ra si dại, cả ngày cứ ngồi trơ ra như phỗng, không cười, không nói…


- Ủa, em vừa nói gì? Có một người trai dưới Kinh đã đến đây trước chúng tôi? Vào bao giờ vậy? Mà bây giờ ra sao?


Câu chuyện của cô gái đẹp người Dao làm tôi chú ý. Ăn xong bữa cơm trưa hôm ấy, tôi máy Dũng mời cô gái đi tắm suối nước nóng rồi cả ba chúng tôi ngồi ở dưới một gốc tùng cổ thụ, trên mỗi bãi cỏ mướt như nhung, trở lại câu chuyện bỏ dở hồi ban sáng.


- Sáng nay, lúc nói về người trai Kinh đến đây trước chúng tôi, em có nói một câu mà tôi còn nhớ: “cũng như các anh”. Cũng như các anh là thế nào?


- Là ăn mặc cũng như thế, nói năng cũng như thế và… cũng đánh Tây như thế. Lúc thoạt đến, anh ấy chảy máu ở cổ và vai. Tất cả chúng em đi tìm lá rịt cho anh ấy khỏi. Ông em lại cho anh ấy thuốc dấu, dần dần mạnh lên, nhưng chừng độ một tháng sau thì anh ấy dường như mất trí. À, nhưng mà không đúng hẳn thế đâu. Không phải có một người trai Kinh đã đến đây, nhưng có tới hai người, hai anh à. Một người là con gái.


Câu chuyện đến đây có vẻ bí mật hơn. Tôi vội hỏi:


- Hai người cùng đến một lúc với nhau?


- Không đâu. Người trai đến trước. Chừng bảy tám tháng sau, người con gái mới đến, có vẻ như đi tìm người trai, nhưng người con gái đến nơi thì người con trai đã mất hẳn trí, không nhận ra được cô nọ là ai nữa. Làm cách gì cũng không nhận được.


“Nhưng hai anh để cho em kể từ đầu cho mà nghe. May ra hai anh sẽ hiểu nội dung câu chuyện lạ lùng này, chớ riêng chúng em đây thì quả là đến bây giờ vẫn không biết hai người đó có liên hệ gì với nhau và có phải thật là người con gái vượt đèo vượt núi đi tìm người con trai mà may ra tìm được, hay là hai người ấy đã hẹn hò nhau từ trước một ngày nhất định để gặp gỡ nhau trên đỉnh non cao này.


Không hiểu tại sao nghe thấy cô gái tộc Dao nói như thế, tự nhiên tôi thấy lạnh ở nơi xương sống và dường như trong tim tôi có một sự xao động khác thường như thế, quả thực là đến tận bây giờ tôi vẫn chưa tìm hiểu được lý do. Người con gái ấy lặn ngòi noi nước để đi tìm người con trai? Thế thì cô ấy là chị, là em, là vợ hay là người thương của chàng trai ấy? Tôi không có tiên cảm gì hết, nhưng tôi buột miệng hỏi:


- Người con gái ấy chừng bao nhiêu tuổi? Cắt tóc, cài bím hay là bới?


- Trẻ lắm, đẹp lắm, nhưng tả cho hai anh biết người con gái ấy vóc dáng, mắt môi thế nào, em không có cách gì tả được. Em chỉ biết giọng nói của cô ta ấm lắm, đằm thắm lắm, mà cô ta hát thật hay, bởi vì đôi khi chúng em đi hái trái cây ở khe đá bóng sim, thỉnh thoảng có nghe thấy cô ấy hát. Hát gì và câu hát nói lên cái gì? Chúng em cũng không hiểu. Mãi sau, ở với nhau được ba bốn tháng rồi, cô ta học tiếng Dao nói câu được câu chăng, em mới biết đại khái rằng cô ấy và chàng trai kia là đồng chí. Nhưng nghe thấy vậy thì tin vậy, chớ cứ như mắt chúng em nhận xét thì cô ta thương xót chàng trai hơn là một người mẹ thương con, một người chị thương em, một người vợ thương chồng, hai anh à.


“Nhưng tại sao đồng chí lại lặn lội đi tìm nhau như thế? Tại sao thấy chàng trai mất trí, si dại, sống cũng như chết, cô ta ở luôn để săn sóc chăm nom không trở về? Rồi tại sao một buổi sáng nọ, cô ta cùng chàng trai nọ ra đi mà lại vào giữa lúc bịnh của chàng trai trầm trọng nhất? Thế thì hai người đã cùng chết với nhau hay là chàng trai nhờ một phép màu nào đó khỏi bịnh và cả hai trở lại với kháng chiến hoặc cả hai đã bỏ đi đến một chân trời nào thật xa, còn xa hơn cả nơi đây nữa?


 


6. Theo lời cô gái người Dao, mãi cho đến tận lúc hai người rời bỏ cái đỉnh núi thần thoại để trở về đồng bằng, chàng trai nọ vẫn còn si dại, mặc dầu trong mười một tháng ở với tộc này, người con gái Kinh đã tìm đủ các thứ lá, các môn thuốc gia truyền của những người già còn giữ được để chữa chạy cho chàng trai nọ.


- Bệnh có khi giảm khi tăng. Có ngày, chàng trai không nói một lời, nhưng cũng có hôm tỉnh táo, tuy nhiên chỉ tỉnh chừng vài giây, cùng lắm là một buổi rồi đâu lại trở lại đấy, có khi cười một mình nhưng cũng có khi lại rú lên như sợ hãi một chuyện gì ghê gớm lắm. Sau này, có dịp ngồi trò chuyện với chúng em, cô ta cho biết…


Đến đây, tôi cảm thấy bực bội không chịu được. Ít ra ở mười một tháng với nhau, cũng phải có cái tên để gọi, tại sao các cô này cứ gọi cô gái Kinh nọ là “cô ta”: Thế thì cô ta tên là gì?


- À phải, để em nghĩ một chút. Hình như cô ta tên là Dương – Thúy Dương hay là Thùy Dương gì không rõ, chỉ biết chắc là có chữ Dương.


Thôi, chết rồi! Thùy Dương! Thùy Dương! Tôi nhớ ra rồi: Dung không phải là tên thật mà chỉ là bí danh; còn chính tên nàng từ lúc nhỏ, còn đi học trường Đồng Khánh Hà Nội là Thùy Dương – Hoàng Thị Thùy Dương – điều đó hết thảy các bạn hữu của nàng đều rõ.


- Em vừa nói gì? Tên cô gái ấy là Thùy Dương?


- Phải. Thùy Dương. Người mảnh mai, da không trắng lắm. À, để cho em nhớ lại một chút. Hình như ở cổ, về bên tay mặt, có một mụn ruồi đỏ thắm.


Tôi bắt đầu ngờ người con gái mà cô nàng người Dao đang nói chuyện đó chính là Dung. Ngờ chứ chưa tin là bởi vì biết đâu ở đời lại chẳng có những người mảnh mai có một mụn ruồi son ở cổ, mà không phải là Dung thì làm sao? Mặc dầu trí óc tôi lúc đó vẩn vơ suy nghĩ lan man, tôi vẫn giục cô nàng nói tiếp câu chuyện đang bỏ dở.


Cô em tiếp:


- Phải, sau này có dịp ngồi trò chuyện với chúng em, cô ta cho biết chàng trai nọ bị thương ở đầu trong một vụ ném bom ở một miền xa xôi, sau khi nằm dưỡng bịnh ở một quân y viện, anh bỏ đi không ai biết. Cô gái tên Thùy Dương lặn lội đi tìm bảy tám tháng trời mới gặp, nhân một sự tình cờ…


- Thế em có bao giờ nghe thấy nói tên người trai ấy là gì không? Thùy Dương có bao giờ cho biết tên không?


- Không bao giờ. Em chỉ thấy gọi là anh. Mà chúng em vì lý do mà hai anh đã biết, cũng không bao giờ hỏi tên anh là gì, chỉ gọi là “hoong ti” tức là người Kinh gọi anh hai vậy.


“Hoong ti” bị đau đầu, thỉnh thoảng vết mổ lại chảy máu. Và không hiểu vì vết thương ấy không lành hẳn hay vì lý do gì khác, anh thành ra si dại, có khi ngồi thần ra cả một nửa ngày, có lúc lại rú lên như sợ hãi một chuyện gì ghê gớm lắm, như em vừa nói. Ấy là vì – theo lời Thùy Dương nói lại khi chuyện trò với anh khi tỉnh – những lúc đó, rõ ràng mở mắt và đủ minh mẫn trong trí óc, anh ta thấy hàng triệu con rắn đủ các màu, đủ các loại và đủ các giống, không biết từ đâu bò lại và vây chặt lấy anh, lại cũng có khi anh thấy có hàng ngàn cái tà áo đàn bà bay phất phơ trước mắt, rồi có hàng ngàn thiếu nữ đẹp lạ đẹp lùng hiện ra để một lúc sau biến dần cả đi, mà biến đi một cách kỳ lạ là cái đầu tách ra bay đi trước, rồi đến chân tay rời ra từng cái lơ lửng trên trời một lát rồi mờ đi dần cho tới khi mất hẳn…


“Bây giờ, ngồi nghĩ lại cái tình và cái nghĩa của Thùy Dương đối với người bịnh như thế, em nhất định với hai anh là ở trần đời này khó có hai người có một tình yêu thương lớn lao đến như vậy, một lòng hy sinh cao cả đến như vậy. Mà đáng sợ nhất là em không hề thấy Thùy Dương than khóc hay tỏ vẻ chán nản bao giờ.


“Không. Tấm lòng kiên trì ấy, phải nhận là ghê gớm quá. Em còn nhớ có một hôm “hoong ti” tỉnh táo, ngồi nói chuyện với Thùy Dương, trước mặt ông nội và chúng em. Thùy Dương can đảm và tài tình vượt bực, hai anh à. Nàng vui cười với “hoong ti” y như không có gì xảy ra và quay lại chúng em nói tiếng Dao câu được câu chăng: “Hôm nay mình hát cho các em nghe nhé. Mình hát bài này, chắc “hoong ti” dù lãng trí cách nào cũng phải nhớ ra…”.


“Giỏi lắm, giỏi quá, giỏi nhất trần đời, hai anh à. Mặc dầu không hiểu tiếng hát và những lời giải thích của Thùy Dương, chúng em cũng hiểu đại khái nội dung các chuyện nàng đem ra kể, kèm với bộ điệu và câu hát.


“Thôi, bây giờ Thùy Dương đi đâu mất rồi, không trở lại đây nữa, bao giờ chúng em còn được nghe thấy giọng hát như suối đàn, tiếng cười như hạt châu rơi trên mâm đồng, và tiếng khóc buồn như gió thổi mưa rơi trên ngàn lúc nàng diễn cái trò mà nàng gọi là trò “Con chim cánh tiên”, trong đó con chim tuyệt đẹp biến thành một nàng con gái kề vai người đi săn vào rừng mà hát một câu nói lên cái đẹp của rừng xanh và cái hùng khí rừng rực đỏ của người chiến binh cứu quốc.


Nghe nói đến đó, tự nhiên không hiểu làm sao tôi thấy buồn muốn chết. Tại vì tôi nhớ lại bài độc tấu đã được coi ở Cao Bắc Lạng? Tại vì mấy câu thơ hay tại một duyên do khác? Nhưng muốn sao đi nữa thì nghe đến đây, tôi chắc chắn cá một trăm phần trăm nàng con gái người Kinh lặn lội đi tìm chàng trai ở trên đỉnh núi thần thoại chính là Dung, không có gì sai được. Dung, bạn của Nhu, người đã cùng với chúng tôi vượt con đường số 6 và sống những đêm mưa rừng trong nhà quàn; Dung, người nữ cán bộ đẹp như cánh hoa mai đã làm cho chúng tôi quên khổ cực, quên nhớ nhà, nhớ cửa trong những ngày nghỉ chân ở Voi Gầm nghe kể chuyện huyền thoại của các anh bạn Vinh, Kiếm, Việt, Hoa Vàng, Rốc Lai…


 


7. Suốt trong thời kỳ Tây tiến, tôi bị ám ảnh vì câu chuyện của người em gái tộc Dao. Bao nhiêu nỗi buồn thương – thắc mắc tôi đều có ghi trong bốn cuốn nhật ký đem theo về thành khi “rinh”, nhưng mật thám Pháp đã tịch thu mất hết lúc tôi đến một làng tề ở Bình Thủy nhìn về Hà Nội.


Nhưng dù cách nào đi nữa thì ấn tượng này cũng ghi rất đậm trong óc tôi từ lúc ấy cho đến mãi bây giờ và chắc chắn là cho tới khi tôi chết, không có thể gì phai mờ được, thay đổi được: Người con gái trèo lên đỉnh núi của tộc Dao chính là Dung, mà Dung lặn ngòi noi nước lên trên đó không có mục đích gì khác hơn là tìm cho kỳ được người thương. Nhưng người thương ấy là ai? Có phải là một trong bảy người kể chuyện huyền thoại mà Dung cho là hay nhất và tự hứa với lòng sẽ trao xương gửi thịt? Hay người ấy là một người khác hẳn mà Dung gặp ở trên đường kháng chiến sau này, gặp rồi thương, thương rồi lấy như ngàn vạn người con gái khác?


Bao nhiêu ức thuyết đó làm cho trí óc tôi bận rộn trong cả một thời gian đằng đẵng. Khổ nhất là thắc mắc như thế mà không biết nói cùng ai, bàn cùng ai, vì trong những người bạn cùng Tây tiến với tôi kỳ đó không có một người nào biết Dung hay biết một trong bảy anh bạn đã kể chuyện huyền thoại ở chân đỉnh Voi Gầm. Phải đợi đến cuối thu năm 1948, làm xong công tác trở về, tôi mới nhẹ nhõm trong lòng được phần nào sau khi đem hết câu chuyện ra nói cho vợ biết. Và không quên nói lên cả những băn khoăn thắc mắc của tôi.


Thì ra óc tôi hỏng một cách đáng thương. Hảo nói:


- Anh kỳ quá. Chuyện rõ ràng đến như thế mà còn thắc mắc nỗi gì. Chàng trai mất trí, si dại, không nhận được ai là ai, chàng trai mà Dung trèo đèo lội suối để đi tìm đó không có cách gì là một người khác được. Người đó chính là người đã kể câu chuyện huyền thoại mà Dung cho là hay nhất.


Thấy tôi ngơ ngác chưa hiểu tại sao lại có thể có một câu quyết đoán dễ dàng như thế, Hảo tiếp:


- Thế anh không nhớ câu chuyện của anh Đá nói với chúng mình khoảng một tháng trước khi anh lên đường Tây tiến hay sao?


Tôi cố nhớ dần dần. Thôi, đúng rồi: Chàng trai si dại ở trên đỉnh núi của tộc Dao chính là người đã bỏ quân y viện ra đi biệt tích trong khi vết thương ở đầu chưa lành hẳn, người mà Dung đã một mình đi đến quân y viện xa xôi nọ để săn sóc, chăm nom; người mà chính Đá biết chắc được Dung thương yêu vì đã kể câu chuyện huyền thoại mà Dung cho là mê nhất.


Nhưng tại sao chàng lại trốn khỏi quân y viện mà Dung không biết? Hoặc là chàng đã ra đi ngay từ trước khi Dung tìm được đến nơi chàng dưỡng bệnh? Rồi thì sau đó nhờ sự tình cờ nào Dung lại tìm được lên đến đỉnh núi thần thoại kia và gặp người thương bấy giờ hoàn toàn si dại, không còn biết thù ghét thương yêu là gì?


Tuy nhiên tất cả những câu hỏi ấy chỉ làm cho Hảo và tôi băn khoăn phần nào. Điều day dứt chúng tôi nhất là không biết tại sao ở ngót một năm trời với tộc Dao trên đỉnh núi cao thần thoại, Dung cùng với người thương vào giữa lúc bệnh tình anh ta trầm trọng nhất lại xuống núi đi – mà đi thì đi đâu? Hay là cặp vợ chồng “không bao giờ cưới” này chết cả rồi?


Mà chàng trai nọ nếu đã chết thì lúc sắp chết có một lúc nào biết rằng ở đời lại có một người yêu thương anh ghê gớm đến như thế và hy sinh cả một cuộc đời não nùng đến thế không?


Mấy đêm liền, Hảo rong một ngọn đèn lên ngồi khóc một mình. Khóc Dung và khóc chàng trai tên là “Hoong Ti”. Hoong Ti! Hoong Ti là cái gì? Tại sao không có một người nào biết được tên thật của anh, kể cả Đá là người chúng tôi vẫn cho là “thạo tin tức nhất ở ngoài kháng chiến” và kể luôn cả cô em gái ở trên trang trại tộc Dao, vận xiêm áo mỹ miều còn hơn cả xiêm áo của những bà hoàng bà chúa trong truyện cổ nước Tàu, nước Nhật?


Bực quá chừng là bực. Thế thì người đồng chí được Dung chọn làm bạn lứa đôi ấy là ai? Là Vinh, là Kiếm, là Việt, là Rốc Lai, là Hoa Vàng… hay là ai?


Cho đến tận bây giờ, không có một người nào còn kháng chiến hay đã rời kháng chiến vào đây biết rõ được cái bí mật thê thiết ấy.


Thành thử ra đến tận bây giờ, Hảo và tôi vẫn không biết “người chồng không bao giờ cưới” của Dung là ai và cũng chính vì thế, không thể biết trong bảy câu chuyện huyền thoại kể trong những đêm mưa rừng ở Voi Gầm, chuyện nào được người em bé nhỏ của chúng tôi là Hoàng Thị Thùy Dương, bí danh “Thanh Dung” coi là ý vị, say mê nhất.


 


(Bắt đầu viết tháng Giêng năm Nhâm Tý


Xong ngày rằm tháng Bảy cùng năm)


Nguồn: Bảy đêm huyền thoại. Truyện Ký. Văn học, Sài Gòn, in lần đầu 1972. Rút từ Vũ Bằng Toàn tập, tập 2. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







([1]) Theo bản dịch của Ngô Tất Tố.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 05.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
xem thêm »