tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30195469
Lý luận phê bình văn học
13.10.2019
Nhiều tác giả
Bài rất nên đọc: Lưu Quang Vũ trong cái nhìn của các bạn trẻ/ Những bài thơ viển vông cay đắng u buồn...


Nhà văn Vương Trí Nhàn: Qua trang FB của bạn Trần Ngọc Hiếu tôi được biết FB Những huyền thoại ngày 26 tháng 09, 2019 có bài viết sau đây viết về kịch của Lưu Quang Vũ mà cũng là viết về văn nghệ một thời - những năm 80 của thế kỷ trước - trong con mắt của các bạn trẻ hôm nay.


Mươi năm nay tôi đã già đã lạc hậu không theo dõi được thường xuyên tình hình nghiên cứu nhưng đọc những bài như bài này, thấy hiện nay chúng ta có một lớp trẻ đi vào văn học nghệ thuật theo những phương hướng những con đường thật mới mẻ và thật hiệu quả.


Cái phương hướng đó cái con đường đó được cụ thể hóa bằng những quan điểm những phương pháp và những công cụ hiện đại mà các bạn tiếp thu được từ ngành nghiên cứu Văn học Nghệ thuật phương Tây đương thời.


Chỉ có dựa vào thế giới thì chúng ta mới có thể hiểu được chính chúng ta.


Nhưng đây là một câu chuyện khác hôm nay tôi chỉ xin phép nhắc qua như vậy.


Trước mắt tôi muốn nói bài viết này thêm củng cố trong tôi dòng suy nghĩ tôi từng theo đuổi bấy lâu rằng đời sống văn nghệ những năm chiến tranh mãi mãi cần đươc chúng ta nghiên cứu, phải tìm bằng được mọi phương cách hiệu quả để đập vỡ cái bí mật đó, để giải thích đúng đắn cái thực thể đó. Không phải để mang ơn hay noi gương gì cả. Mà đơn giản là muốn hiểu rõ hôm nay chúng ta phải tìm được cách để trở lại với cái quá khứ “cay đắng u buồn” một thời - chữ của Lưu Quang Vũ.


Muốn đi tới tương lai phải hiểu quá khứ.


Tôi cũng không dám giấu mà xin thú nhận rằng muốn đưa lại bài viết dưới đây vì trong đó khi phân tích về Lưu Quang Vũ có nhắc đến một bài viết cũ của tôi cách hiểu của tôi về mối quan hệ giữa Lưu Quang Vũ và hoàn cảnh những năm chiến tranh. Nó cho thấy những năm tuổi trẻ tôi không đến nỗi phí phao vô ích. Xin chân thành cảm ơn các bạn Nguyễn Khai Thu và Thùy Dương bạn Trần Ngọc Hiếu và nhóm Những huyền thoại.


 


Những huyền thoại


26 tháng 9 lúc 10:00 ·


Lưu Quang Vũ là một biểu tượng của văn hóa Việt Nam thập niên 1980, đồng thời cũng là một nhân vật có lẽ ít nhiều đang được huyền thoại hóa trong những thực hành hoài niệm, hồi cố của thị dân Hà Nội ở thời điểm này.


Phân tích hiện tượng Lưu Quang Vũ được nhào nặn lại trong ký ức tập thể của người Hà Nội hôm nay là một đề tài sẽ được đưa ra thảo luận tại buổi tọa đàm HÀ NỘI: Chuyện kể chưa hoàn tất vào tối thứ 6, 27-9 tới.


Để tiến hành đề tài này, các thành viên trong nhóm Thứ Sáu đã cố gắng khảo sát một số tư liệu. Bài viết "Model Dissent: Lưu Quang Vũ and the Melodramatic Performance of Renovation in Post-War Vietnam" của tác giả Khai Thu Nguyen in trong cuốn "Neoliberalism and Global Theatres: Performance Permutations" [ Lara D. Nielsen, Patricia Ybarra chủ biên, Palgrave, London:2012] là một nghiên cứu hiếm hoi bằng tiếng Anh, gợi ý rất nhiều cho chúng tôi trong việc tìm hiểu đề tài. Bài viết đã được bạn Thùy Dương dịch toàn văn ra tiếng Việt và sẽ được công bố trong tạp chí điện tử Thứ Sáu mà chúng tôi sẽ dự kiến ra mắt sau sự kiện này.


Xin được trích một phần nghiên cứu của tác giả Nguyen Khai Thu để giới thiệu trên page "Những huyền thoại".


*


LƯU QUANG VŨ VÀ KỊCH MELO CỦA THỜI ĐỔI MỚI


Bài của Nguyen Khai Thu


Lưu Quang Vũ là thí dụ cho thấy “kịch melo” được sử dụng để xây dựng thành diễn ngôn của nhà nước thời đổi mới: dựa trên sự phản tư, cải tạo đạo đức và “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, thay thế cho sự chuyển đổi chính trị và ý thức hệ trên địa hạt cá nhân. Sự dịch chuyển giữa cá nhân và chính quyền thông qua “kịch melo” phủ nhận việc phá vỡ của ý thức hệ với chủ nghĩa xã hội trong chuyển đổi tân tự do và nhìn lại quá khứ đau thương, ảo mộng của dân tộc. Đồng thời, “kịch melo” cho phép “mã hóa” các khám phá của những tiếng nói bất đồng quan điểm về ý thức hệ thường bị kiểm duyệt bởi các diễn ngôn chính thống.


Tiểu sử của Lưu Quang Vũ cung cấp những nguyên liệu thô cho việc xây dựng một câu chuyện cải biên trong thời đổi mới và hậu đổi mới, nổi tiếng trong những diễn ngôn, những bài báo và phê bình. Nhà soạn kịch sinh ngày 17/4/1948, giữa thời Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Cha ông, nhà viết kịch dân tộc Lưu Quang Thuận, là một người tận tụy với những vở kịch được thực hiện trong các chiến dịch tuyên truyền cho Đảng Cộng sản Việt Nam suốt những năm 1950-1960. Năm 17 tuổi, Lưu Quang Vũ đã từ bỏ lựa chọn theo học tại trường nghệ thuật để tình nguyện tham gia nghĩa vụ quân sự cho miền Bắc Việt Nam năm 1965. Sau đó, niềm tin tưởng mãnh liệt vào hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa dân tộc của ông đã chuyển sang những hoài nghi đau đớn về niềm tin dân tộc. Điều này đã được ông thể hiện qua tập “thơ đen” năm 1970-1975: được miêu tả như là một người bi quan và ngờ vực về chế độ, theo lời mẹ ông - bà Vũ Thị Khánh, do vậy đến tận bây giờ tập thơ vẫn không được công bố xuất bản. Bên cạnh thành tích phục vụ không được ghi nhận tốt, tập thơ này đã khiến Vũ chịu nhiều khiển trách trong quân đội và rút ngắn sự nghiệp đầu đời của ông. Đồng thời đây cũng là khoảng thời gian ông gặp những nỗi buồn cá nhân khi ly hôn Tố Uyên- người vợ đầu sau một năm kết hôn và sự chào đời của con trai họ - Lưu Minh Vũ. Tố Uyên là mối tình thuở trẻ và bà cũng là một diễn viên nổi tiếng của bộ phim thời chiến “Con chim vành khuyên” (1962). Nhưng Vũ vẫn tiếp tục kiên trì và trở thành một trong những hình tượng tiêu biểu của thời “đổi mới” thông qua những vở kịch cấp tiến thành công, và cuối cùng kết hôn với nhà thơ Xuân Quỳnh. Việc biến Lưu Quang Vũ trở thành một hình tượng của “đổi mới” đòi hỏi một loạt vở “kịch melo” trong những diễn ngôn văn hóa, khiến cho những cuộc xung đột bất mãn với cơ chế của ông chỉ như là sự dằn vặt cá nhân có thể vượt qua được nhờ cảm hóa đạo đức.


 


Những bài viết về Lưu Quang Vũ tiết lộ một cuộc điều đình đau đớn với lịch sử về những bài thơ gây tranh cãi, hồ sơ quân sự yếu kém và thời kỳ xa lánh chính trị của ông sau khi xuất ngũ. Nhiều luồng ý kiến cho rằng sự nghiệp của ông từ đầu đến giữa thập niên 60 đã sử dụng tiếng nói cá nhân mạnh mẽ để cường điệu hóa chủ nghĩa đạo đức dân tộc - sự hoài niệm và hi vọng hướng về quê nhà, một cuộc chiến khó khăn nhưng cao cả của những người lính cộng sản cùng một niềm tin chiến thắng. Trong bài “Gửi tới các anh” kể về một thiếu nữ trông theo những người lính hành quân, hứa sẽ làm việc chăm chỉ như họ (“Tay em cầm chắc súng”) và chào mừng khi họ quay lại khi trở về.


“…Các anh đi nhiều chốn quê hương


Đừng quên nơi này nhé!


Ngày mai tan giặc Mỹ


Các anh về quê em


Xoan xưa đã lớn, lá biếc cành chen


Đón mừng chiến sĩ…


Bến sông rì rào bãi mía


Như muôn lời em gửi các anh…”


 


Tinh thần cao thượng và lời hứa của cuộc chiến xoay trong tinh thần đầy mê hoặc và ngây thơ của tuổi trẻ. Ông lý tưởng hóa ngôi nhà, đất mẹ, nơi có khu vườn ấm áp, đẹp đẽ và màu mỡ, gắn liền với người nữ hoặc “em” trong bài “Vườn trong phố”, mang đến cho người lính một nguồn an ủi và ý nghĩa:


“Trong thành phố có một vườn cây mát


Trong triệu người có em của ta


Buổi trưa nắng bầy ong đi kiếm mật


Vào vườn rồi ong chẳng nhớ lối ra


 


Vườn em là nơi đọng gió trời xa


Hoa tím chim kêu bàng thưa lá nắng


Con nhện đi về giăng tơ trắng


Trái tròn căng mập nhựa sinh sôi.…


 


Mảnh vườn em vẫn là mảnh vườn xanh


Nơi ban đầu lòng ta ươm tổ mật


Nơi ta hái những chùm thơ thứ nhất


Nơi thu sang mây trắng vẫn bay về…”


Những tác phẩm ban đầu của Lưu Quang Vũ đã đưa ra những dấu chỉ thân mật, cá nhân xoay quanh các giá trị hiện thực xã hội chủ nghĩa về tình yêu dân tộc, niềm lạc quan và niềm tin vào cách mạng.


Tuy nhiên, những bài thơ của ông trong giai đoạn 1970-1975 lại thể hiện một sự đổ vỡ đáng kể từ phong cách đậm tính dân tộc trước đó. Vũ gom những bài thơ này vào một tập được đề tên là “Cuốn sách xếp lầm trang”, chúng không được in vào thời điểm đó mà chỉ được đọc bởi những người bạn thiết thân nhất. Những bài thơ đã làm thay đổi các hình tượng trung tâm đầy lạc quan của hiện thực xã hội chủ nghĩa, đã rót sự u ám lên những hình ảnh hoài niệm của ngôi nhà/ vùng đất được phủ tính nữ và những người lính anh hùng đầy quyết tâm. Thí dụ, “những con ong” từ “Vườn trong phố” đã được tái hiện lại trong bài thơ “Bầy ong trong đêm sâu”. Nhưng thời điểm này, tại nơi tìm về ngôi nhà, thay vì nhận được sự ngọt ngào từ khu vườn, chúng lại chỉ tìm thấy “tổ vắng”. Ngôi nhà/ mảnh đất, người con gái và mật ong mà chúng kiếm tìm chỉ còn lại “hương nhuỵ mất từ lâu”. Những mệnh lệnh sụp đổ trước “Những đôi mắt tráo trơ mà tội nghiệp” và “Những bông hoa chưa nở đã tàn đi” trong bài “Những tuổi thơ”.


“…Trong cơn mơ là cuộc đời thức dậy


Con ong vàng bé nhỏ đến tìm em


Con ong xanh có đôi mắt đen


Con ong trắng bơ vơ trong tổ vắng


Con ong đỏ là con ong thơ thẩn


Bay đi tìm hương nhuỵ mất từ lâu…


 


Em ở đâu em ngủ ở phương nào


Môi em thở những điều gì khe khẽ…


 


Ai ngờ tầu em lại là tầu cướp biển


Em cướp hết cuộc đời anh, em lấy hết


Trói anh vào cột buồm của tình yêu


Bão táp nổi lên, chớp giật, tàu xiêu


Em đứng đó hãi hùng ngơ ngác…”


Dù không được đề cập đến trong những tác phẩm, nhưng bạn bè và gia đình của ông cũng kể về thời kỳ bất mãn mà Lưu Quang Vũ đã phải trải qua trong khi phục vụ quân đội miền Bắc Việt Nam như một kết quả tất yếu do những xung đột chính trị. “Không ai được phép viết bất cứ điều gì riêng tư cá nhân trong quân đội nhưng bố tôi vẫn viết và gửi những tác phẩm về nhà với một người bạn đã phải lén đọc để tránh bị tịch thu” theo Lưu Minh Vũ. Ông chấm dứt phục vụ quân đội và chuyển sang thời kỳ kinh tế khó khăn và bị cô lập. Trong một cuộc phỏng vấn, Vương Trí Nhàn đã cho rằng đây là thời kì “hoang đàng” của Vũ khi ông bất chấp người cha- nhà nước và sống trong sự cô lập xã hội và dân sự.


Hầu hết những bài viết về Vũ trong thời kỳ đương đại đều lược đi giai đoạn hoài nghi đầy tranh cãi để bảo vệ quan điểm dân tộc của nhà thơ. Như trong phần giới thiệu tuyển tập thơ của Vũ năm 2004, Kiều Văn tập trung vào những bài thơ tình và thơ đậm tính dân tộc, và chỉ đề cập đến phần thơ “buồn” trong một đoạn ngắn bằng việc đặt nó trong bối cảnh xung đột của thời chiến. Một trong số ít những người thừa nhận sự lệch lạc chính trị của Lưu Quang Vũ nhưng đồng cảm với ông là nhà lý luận phê bình Vương Trí Nhàn. Trong bài tiểu luận “Thơ “Những đắng cay và buồn bã” được viết trong những năm thời chiến” (1993), ông đã bàn đến tính chính trị trong thơ của Vũ bằng cách lập luận rằng đó là biểu hiện của những sự suy niệm thường được chia sẻ trong thế hệ của mình. Là bạn của Lưu Quang Vũ, Nhàn đã đọc những bài thơ không được xuất bản trong thời chống Mỹ và trong bài viết khi nhìn lại thì chúng đã hiện thân như một phần đời sống của họ, rằng “vì một số lý do mà phải chối bỏ, phải quên đi” nhưng họ không cần phải “chối bỏ mãi mãi”.


Khi Nhàn nhớ lại, ông đã trải qua một thế nước đôi mâu thuẫn khi đọc thơ Vũ, “một mặt e ngại, cảm thấy nó đi ngược với tâm trạng chung, cái lạc quan chung nên không cần ai bảo, đã thấy là không phải”. Nhưng ở mặt khác “lại thích thú, cảm thấy ở đó có một phần vui buồn của mình nên tìm kiếm vụng trộm, tán thành vụng trộm, thèm muốn trở lại với những dòng thơ đó, như thèm muốn nhìn thấy chính hình ảnh của mình”. Nhàn đặt thơ Vũ lại trong lịch sử của Hà Nội những năm 70, điều được phản ánh trong thơ Vũ:


“Từ đầu 1970, cuộc sống Hà Nội đã bắt đầu phô ra tất cả cái khó khăn phiền phức mà thời chiến phải có. Thành phố như một người ngấm bệnh. Mỗi lần còi báo động, phố xá hiện ra đơn côi bé nhỏ đã đành, ngay những lúc yên lành, thành phố tài hoa của chúng tôi cũng quá lầm lụi nhem nhuốc. Các tường nhà lâu không quét lại, phô ra hết vẻ mốc meo. Những hầm cầu thang trú ẩn tăm tối. Túp lều che tạm trên gác thượng, tơi tả trong gió. Chỉ có trời mây trong xanh, nhưng trời mây xa xôi quá, có ích lợi gì đâu trong việc giải quyết những việc lặt vặt hàng ngày! Đáng sợ hơn nữa là cũng do cuộc sống khó khăn, những thói xấu cố hữu của con người như nhút nhát tham lam vụ lợi có dịp thức dậy, càng giấu giếm càng đê tiện. Từ đủ mọi phía, hoài nghi len lỏi tới, những hoài nghi đủ sức làm bủn rủn con người và không cho người ta vững tâm làm việc gì cả. Thơ Vũ bắt lấy những cái đó rất nhanh. Từ hoàn cảnh riêng, Vũ suy ra cả cuộc đời chung và diễn tả những tan nát đổ vỡ với tất cả cái đắm đuối của tuổi trẻ.”


Trong khi ông và những người bạn của ông “thử tìm cách chống lại thứ thơ ấy” thì “tận trong thâm tâm, mỗi người vẫn biết là có lòng mình, tâm trạng của mình ở trong những dòng thơ rách xé đó”.


Tuy nhiên, sự thú nhận quá khứ của Nhàn về mối liên kết giữa suy niệm của thế hệ và thơ Lưu Quang Vũ đã hiện tồn một cách thú vị trong sự căng thẳng của “kịch melo”. Sự tranh luận của Nhàn chứa đầy những từ vựng cá nhân hóa và chỉ trích hành vi của Vũ, diễn giải thơ Vũ như kết quả của sự yếu kém về đạo đức và cảm xúc, ông đã chê rằng:


“Chẳng phải là đôi lúc, Vũ đã không khỏi có chút huênh hoang? Đã vay mượn chắp vá? Đã tố cái khốn khó của mình lên? Đã rên rỉ nhiều hơn là kiên nhẫn chịu đựng và dìm nỗi đau của mình trong nước lạnh? Chúng tôi biết cả.”


Việc nhấn mạnh vào những điều Vũ phải chịu đựng ám chỉ rằng thơ ông là kết quả tất yếu từ sự thái quá của chính ông hơn là phản ánh cuộc đời chung cùng những vấn đề xã hội - chính trị lớn. Sự xen kẽ giữa bối cảnh lịch sử và phê bình “tính melo” - đánh giá Lưu Quang Vũ qua quan điểm đời sống riêng tư và đạo đức (và vở “kịch melo” của cuộc đời ông), cho thấy cơ chế hoạt động của “kịch melo” như một phương thức phê phán, tạo điều kiện cho những phát ngôn chính trị trái chiều đồng thời cá nhân hóa và uỷ mị hóa chúng.


*


Bài viết của tôi được bạn Nguyễn Khai Thu nhắc tới ở trên đã đưa trên blog cá nhân VTN:


 


13 THG 5, 2015


Lưu Quang Vũ và những bài thơ "viển vông cay đắng u buồn" viết trong những năm chiến tranh


Vương Trí Nhàn


 Năm 1993, Bầy ong trong đêm sâu  tập hợp những bài thơ Lưu Quang Vũ mà trước đó ít người biết tới  được xuất bản.


Sở dĩ một tiếng nói mà suốt những năm chiến tranh bị vùi dập bị quên lãng nay được khôi phục, đó cũng là  nhờ vào uy tín của tác giả bên sân khấu. Thêm nữa, cái chết bất ngờ của Vũ và gia đình lại càng làm cho người ta muốn biết thêm về cả những bước đường đời đã qua.


Bản thân tôi có may mắn được viết ít dòng dùng làm lời bạt cho tập thơ. Bài bạt Lưu Quang Vũ và những bài thơ "viển vông cay đắng u buồn" viết trong những năm chiến tranh này  sau đó đã  đổi tên thành Lưu Quang Vũ và một mảng đời một mảng thơ thường bị quên lãng được đưa vào  tập Cây bút đời người 2002.     


Với bản thân tôi và một số bạn bè khác, chính ra, những vần thơ mà Lưu Quang Vũ làm không để đăng báo, làm cho riêng mình, làm trong lúc bĩ này  mới lại là phần sáng giá nhất trong sự nghiệp của anh. Năm 1993 tôi đã nghĩ thế và nay, 40 năm sau chiến tranh, vẫn nghĩ thế.


Chúng tôi sẽ trở lại với đề tài này trong một bài viết tiếp.                                                                                                                   


Trước khi vùng vẫy tung hoành trên sân khấu, Lưu Quang Vũ đã được biết tới như một người làm thơ. Ấy là một nhà thơ thuộc loại bẩm sinh, dễ dàng giãi bày mọi vui buồn của mình trên trang giấy. Những lúc mở lòng ra chan hoà tâm tình với người thân, với bè bạn, với cuộc đời, anh đã có thơ; những lúc buồn bã quay về một mình đơn độc, anh lại cũng chỉ có cách tìm tới thơ để tự an ủi. Nhất là khoảng từ đầu những năm 1970 trở đi, trong khi cuộc đời đa đoan phiền phức của mình gặp nhiều khó khăn, Vũ đã làm thơ như ghi nhật ký, làm khá nhiều. Vì những nguyên cớ khác nhau, các bài thơ hồi đó chưa được công bố, nhưng một số vẫn được ghi trong sổ tay và nhất là đi về trong trí nhớ của bè bạn


Hôm nay đây, đối diện với những bài thơ sống sót, những bài thơ từ cõi im lặng bước ra ấy, tôi có cảm tưởng như được thấy lại những vật kỷ niệm của chính mình. Tôi nhớ lại một thời Hà Nội và một thời văn nghệ mà mình và bạn bè đã chứng kiến, đã sống. Quả thật là đặt bên cạnh những bài thơ đã biết, cả những bài rất hay của thời chiến, thì những dòng thơ riêng tư của Vũ có được cái vẻ độc đáo không gì thay thế được. Chúng – và những gì tương tự như chúng – là một phần cuộc đời ta, vì lý do nào đó, có lúc ta đã phải lảng tránh, phải lãng quên, nhưng không phải vì thế mà nên chối bỏ chúng mãi mãi! Ở đây chúng ta bắt gặp một Lưu Quang Vũ khác với thông thường mọi người vẫn nghĩ. Vũ của dằn vặt, đau xót, lầm lỡ, cô đơn, mà cũng là Vũ của những tha thiết muốn vượt lên trên mọi mệt mỏi, mọi hoài nghi để sống, để tồn tại. Hai chặng khác nhau nhưng đều là của một con người thống nhất.


*


 


Những bài thơ đầu tay của Lưu Quang Vũ được tập hợp lại thành phần Hương cây và ra chung với Bếp lửa của Bằng Việt vào cuối năm 1968. Dù có chóng quên đến đâu, thì những ai đã sống qua thời đó ở Hà Nội đều biết rằng đại khái đó là thời mà mọi sinh hoạt còn rất đạm bạc, chẳng hạn, với một cán bộ nhà nước, việc mua được chiếc xe đạp phải được xem là một việc lớn trong đời, và chỉ những gia đình có máu mặt, mới có chiếc radio Melodia Liên Xô nặng nề, hoặc chiếc Orionton của Hungary xách tay được để nghe ca nhạc.


 Không thể tưởng tượng nổi là một tập thơ lúc ấy lại gây chấn động đến như thế nào.


Bọn tôi, một số anh em mới viết, muốn ướm thử đời mình vào nghề văn, chúng tôi nghĩ rằng một tập sách, nó là cái danh thiếp tốt nhất, để người ta tự giới thiệu với chung quanh, để khẳng định mình, để có bạn.


Với việc có một tập sách, chính là Vũ, cùng với Bằng Việt – trong Bếp lửa Hương cây; cùng với Đỗ Chu – trong tập truyện ngắn Phù sa, – là những bạn đầu tiên trong chúng tôi thành người. Thành nhà văn nhà thơ. Thành tác giả. Thành tất cả những gì, mà chúng tôi hằng ao ước. Làm sao mà không cảm động cho được!


 


Lúc bấy giờ, nhà Vũ đã ở căn gác 96 phố Huế như hiện nay. Trong cảnh sơ tán, thành phố những năm đầu mới chuyển sang thời chiến lại có vẻ thưa vắng đáng yêu riêng của nó. Phố xá sạch sẽ. Người không phải chen với người. Dắt cái xe đạp qua cổng, có thể khoá tạm rồi lên gác hai, không lo suy suyển gì hết. Giữa cái không khí dễ chịu ấy, căn phòng của người làm thơ trẻ Lưu Quang Vũ là một tổ ấm đích thực. Tôi nhớ đã gặp ở đấy rất nhiều người quen. Các bậc đàn anh: Trần Việt Phương, Nguyễn Khải, Chính Hữu. Các bạn trẻ hơn, Nguyễn Xuân Thâm, Tạ Vũ, Vũ Quần Phương, Phan Thị Thanh Nhàn… Rồi Nghiêm Đa Văn, Quốc Anh ở khu Bốn ra, Phạm Tiến Duật ở chiến trường về, Thi Hoàng ở Hải Phòng lên…


Các bậc đàn anh đến có việc mà cũng là để xem xem lớp trẻ ra sao.


Còn các bạn làm thơ trẻ, thì đến để gặp Vũ mà cũng là để gặp nhau, thời nào mà lớp trẻ chẳng ồn ào và thích đi thành lũ thành bọn!


 Đám cưới Vũ – Tố Uyên chỉ gồm có ít bạn quen, mà sao vui vẻ lạ! Trong trí nhớ của nhiều người, đám cưới ấy đồng nghĩa với hạnh phúc, thứ hạnh phúc bé nhỏ và trong sáng, mà thời chiến còn dành cho chúng tôi.


Với vẻ mãn nguyện không che giấu, Vũ tận hưởng sự chiều đãi của mọi người chung quanh và gửi gắm niềm tin yêu đời sống của mình vào những bài thơ bồi hồi “hương cây hương đất”, thoang thoảng “lá bưởi lá chanh”:


Ta đi giữ nước yêu thương lắm


Mỗi xóm thôn qua mỗi nghĩa tình


Đọc trong sự tha thiết của Vũ một vẻ gì rất thành thật, người ta đã tưởng tất cả Vũ chỉ có vậy.


Nhưng chúng tôi, đám bạn bè thường vẫn đàn đúm với nhau, biết nhau không chỉ qua thơ mà cả những gì sau các câu thơ, chúng tôi sớm mang máng nhận ra rằng không hẳn vậy.


Mặc dù trẻ nhất “hội”, nhưng bên cạnh con người ngây thơ trong trắng, ở Vũ còn có con người của thành thạo, từng trải.


Từ nhỏ, trong gia đình, Vũ đã sống hết với mọi ấm lạnh của giới văn nghệ.


Cái nhìn của Vũ về sự đời vượt xa tầm hiểu biết của một thanh niên 19-20 thông thường.


 


- Chuyện nhân thế nhờ em anh biết được


Anh nhìn đời theo con mắt của em


 


- Hỡi em của anh em của anh chỉ em là còn lại


Trong hoàng hôn buồn bã của cuộc đời


Khi anh mất cả dòng thơ êm ái


Cả dòng đời cả tiếng nói niềm vui


Vì anh muốn tiếng yêu em anh nhắc lại


Tiếng mới đau sao khi thiếu mất em rồi


 


Những câu thơ ấy là của L. Aragon và do các nhà thơ Tế Hanh, Nguyễn Viết Lãm dịch ra tiếng Việt. Ở Hà Nội năm ấy, việc giới thiệu văn học nước ngoài còn rất hạn chế, Aragon được dịch đã là may, chứ có ai để công kể với đám trẻ chúng tôi về con người tác giả (vốn mang tiếng là phức tạp) hoặc giảng giải kỹ chung quanh một ít câu thơ chứa chất những vui buồn của cả đời người như vậy.


 Một người nông nổi như tôi đã bỏ qua những câu thơ sâu sắc ấy, để rồi mãi lúc được Vũ chỉ cho, tôi mới ngớ ra vì sự khờ khạo của mình.


- Tôi thở ra làm nhiều người không sống được


Giấc ngủ chừng khuấy động bởi âu lo


Hình như thơ tôi vang tiếng đồng tiếng sắt


Làm đứng lên những người chết trong mồ



Tôi nói tình yêu tình tôi làm các ông nhăn nhó


Tôi nói trời trong, các ông bảo trời mưa


Các ông nói đồng tôi nhiều hoa quá


Đêm tôi lắm sao trời tôi chẳng xanh vừa


 


- Tôi nghe tiếng gà trong cùng tận đau thương


Trong đổ nát tôi vẫn mang chiến thắng


Dù khoét mắt những vì sao xa vắng


Trong đêm dài tôi vẫn chói vừng dương


 


Aragon là vậy, si mê, cuồng nhiệt, sẵn sàng gây sự thách thức mọi người. Aragon luôn có chút gì đó quá đáng. Và, Vũ của chúng tôi, thường cũng quá đáng. Tôi có cảm tưởng rằng sau giai đoạn thơ mộng (mang dấu vết của thơ tiền chiến), trong những bài thơ đau đớn của Lưu Quang Vũ về sau, luôn luôn có cái âm hưởng mà Aragon đã để lại trong tâm hồn anh.


 


Và không chỉ thơ, mà cả cuộc đời Vũ cũng giống như thơ Aragon, cũng là minh chứng cho sự đa đoan phức tạp của cuộc đời, mặc dù lý do khiến cho có sự phức tạp ấy thì khác hẳn.


Những phiền toái đã đến với Vũ khá nhanh chóng, những phiền toái do lỡ lầm hư hỏng của chính anh gây ra cũng có, mà do cái ngặt nghèo của hoàn cảnh cũng có.


Tôi không nhớ thật rõ, nhưng hình như ngay vào khoảng đầu những năm 70, khi Vũ mới 22-23, trong đầu óc một số chúng tôi, cái hình ảnh mơ mộng của một nhà thơ được ái mộ nơi anh đã nhoà đi gần hết.


Thay vào đấy là hình ảnh một kẻ long đong giữa cuộc đời vô định.


 Những hoang tưởng ngớ ngẩn đã đẩy Vũ đến chỗ vượt ra khỏi những quy định thông thường mà một người làm thơ trẻ phải tuân thủ.


 Và Vũ bị trả giá đích đáng.


 Báo chí không in thơ Vũ nữa.


Vũ rơi vào tình thế cô độc, hầu như lạc lõng giữa dòng người sôi nổi.


 


 Một điều khốn khổ nữa là chính lúc ấy, cái gia đình riêng của Vũ cũng rạn vỡ. Nếu hồi trước với Lưu Quang Vũ, ngày nào cũng là ngày vui, sau khi đèo người vợ mới cưới đi làm, chàng thi sĩ trẻ rẽ vào một quán cà phê sang trọng, ngồi làm thơ, đến giờ lại rẽ lên Xưởng phim đón vợ về, thì về sau, tất cả đã thay đổi. Nơi người ta thường gặp anh là những quán nghèo “quán cà phê dưới gầm cầu xe lửa”, người con gái đi bên cạnh anh là một cô bạn gày guộc “em gầy như huệ trắng xanh”, cô gái như hiện thân của cuộc đời vất vả phiền phức mà Vũ không thể lìa bỏ. Và “phố Hạ Hồi bữa ấy mưa rơi” – những ngày ấy sao mà trời hay mưa:


- Thành phố nghèo mù mịt những mưa rơi


Cánh hoa nhoè trong mưa tơi tả


- Chiều nay bốn bề mưa xám


- Nay một mình trở lại ngoại ô mưa


- Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa


Xoá nhoà hết những điều em hứa.


 


Trong các thi sĩ đương thời, Vũ là người nhạy cảm với mưa, thân thuộc với mưa hơn ai hết. Ở anh, mưa cho thấy sự trôi qua của thời gian mà con người bất lực, không sao níu kéo nổi. Mưa làm cho hiện tại trở nên vô nghĩa và tương lai trở nên lờ mờ, không xác định. Sở dĩ Vũ nói nhiều đến mưa vì cảm giác bao trùm trong anh lúc này là ngán ngẩm, thất vọng, không tin vào điều gì, không biết hướng đời mình vào việc gì.


- Thành phố thời anh 17 tuổi


Viển vông cay đắng u buồn


Tôi còn nhớ rất rõ cái cảm tưởng nước đôi giày vò bản thân mình khi nghe những bài thơ đó của Vũ: một mặt e ngại, cảm thấy nó đi ngược với tâm trạng chung, cái lạc quan chung nên không cần ai bảo, đã thấy là không phải. Nhưng mặt khác lại thích thú, cảm thấy ở đó có một phần vui buồn của mình nên tìm kiếm vụng trộm, tán thành vụng trộm, thèm muốn trở lại với những dòng thơ đó, như thèm muốn nhìn thấy chính hình ảnh của mình.


 


Từ đầu 1970, cuộc sống Hà Nội đã bắt đầu phô ra tất cả cái khó khăn phiền phức mà thời chiến phải có. Thành phố như một người ngấm bệnh. Mỗi lần còi báo động, phố xá hiện ra đơn côi bé nhỏ đã đành, ngay những lúc yên lành, thành phố tài hoa của chúng tôi cũng quá lầm lụi nhem nhuốc.


Các tường nhà lâu không quét lại, phô ra hết vẻ mốc meo. Những hầm cầu thang trú ẩn tăm tối. Túp lều che tạm trên gác thượng, tơi tả trong gió. Chỉ có trời mây trong xanh, nhưng trời mây xa xôi quá, có ích lợi gì đâu trong việc giải quyết những việc lặt vặt hàng ngày!


 Đáng sợ hơn nữa là cũng do cuộc sống khó khăn, những thói xấu cố hữu của con người như nhút nhát tham lam vụ lợi có dịp thức dậy, càng giấu giếm càng đê tiện. Từ đủ mọi phía, hoài nghi len lỏi tới, những hoài nghi đủ sức làm bủn rủn con người và không cho người ta vững tâm làm việc gì cả. Thơ Vũ bắt lấy những cái đó rất nhanh. Từ hoàn cảnh riêng, Vũ suy ra cả cuộc đời chung và diễn tả những tan nát đổ vỡ với tất cả cái đắm đuối của tuổi trẻ. Chúng tôi đã thử tìm cách chống lại thứ thơ ấy. Chẳng phải là đôi lúc, Vũ đã không khỏi có chút huênh hoang? Đã vay mượn chắp vá? Đã tố cái khốn khó của mình lên? Đã rên rỉ nhiều hơn là kiên nhẫn chịu đựng và dìm nỗi đau của mình trong nước lạnh? Chúng tôi biết cả.


 Nhưng tận trong thâm tâm, mỗi người vẫn biết là có lòng mình, tâm trạng của mình ở trong những dòng thơ rách xé đó.


Vốn xa lạ với mọi thứ giáo huấn, dạy bảo, Vũ không hẳn cố ý làm lây truyền cái nôn nao buồn bã của mình. Nhưng có lẽ chính vì thế mà tiếng kêu của anh càng tội nghiệp. Nó giống như một tiếng nức nở.


 


Ở đây, sở dĩ đôi lúc người viết bài này xưng “chúng tôi” bởi lẽ: do cái cái giọng riêng độc đáo của những dòng Vũ viết lúc ấy, thơ anh đã được mang ra để anh em bạn bè cùng lứa bàn bạc tranh cãi. Làm sao không luôn luôn nghĩ về nhau được khi hàng ngày gặp gỡ chia sẻ mọi vui buồn, và hiểu nhau từ mọi chuyện nhỏ nhặt trong gia đình đến những dự định ao ước lớn lao? Tôi nhớ một lần nào đó, Vũ Quần Phương khái quát:


- Nổi lên ở Vũ là một cái gì rất đau đớn, thấy cuộc đời cay cực mà vẫn yêu đời và quyết bám lấy cuộc đời thô nhám này.


Xuân Quỳnh – khi đó còn là một người hàng xóm, một đồng nghiệp – Xuân Quỳnh thông cảm:


- Giá kể Vũ thích một cái gì đó thì có thể Vũ cũng làm được. Đằng này Vũ không thích gì hết, đấy mới là điều đáng sợ.


Với bản tính chừng mực, đi sát với một quan niệm trung dung, Bằng Việt chép miệng:


- Ông Vũ này, lúc chiều đời quá lúc khinh bạc quá, đều là không phải. Thực ra, cuộc sống luôn luôn là một cái gì cân bằng, phải chăng…


Bàn bạc vậy thôi, song các ý nghĩ đều để ngỏ, và một điều mà mọi người thường xót xa trong lòng, khi nghĩ đến Vũ, là thấy Vũ già đi rất nhanh.


 


Dáng người béo đậm, Vũ của tuổi 19, môi đỏ, má lông tơ, hiện thân của một tuổi thanh xuân đầy thơ mộng.


Nay bước sang tuổi 20 - tuổi hai mươi khốn khổ của tôi ơi / Tuổi tai ương dằng dặc trận mưa dài; trong một bài thơ nào đó, hình như nay đã thất lạc, Vũ viết vậy – bước sang tuổi 20, giờ đây người anh đanh lại, xạm đi, trên nét mặt nhiều khoảng tối u uất. Lúc nào Vũ cũng như đăm chiêu không bằng lòng một điều gì, để rồi khi chịu không được, lại buột ra một câu thật suồng sã, láo lếu.


Ngay ngồi giữa đám đông mà trong Vũ vẫn có những thoáng buồn xa vắng. May là ngoài đám bạn thơ quen từ mấy năm trước, từ đầu 1970, Vũ có thêm nhiều bạn thơ mới.


Hải Phòng lúc ấy là một thứ Sài Gòn bây giờ. Hải Phòng là một cái gì đó, không phải Hà Nội, nhưng sẵn sàng chào đón người ta, khi người ta muốn từ bỏ Hà Nội.


Hải Phòng có cuộc sống của than bụi, lại có biển, có trùng khơi, rất hợp với Vũ.


Ở Hải Phòng, Vũ tìm thấy những người bạn vừa phóng túng, vừa bao dung, như đạo diễn điện ảnh Đào Nguyễn (Đào Trọng Khánh), như Nguyễn Khắc Phục. Nhiều bài thơ Vũ làm hồi này nhắc tới Hải Phòng, hổn hển kể chuyện Hải Phòng, là từ những chuyến lãng du đất Cảng với các bạn ấy.


 


 Còn ở Hà Nội, người bao dung hơn cả, là Nguyễn Lâm. Căn phòng nhỏ của Lâm ở Triệu Việt Vương là nơi Vũ thường xuyên lui tới. Những lúc vui, Vũ đi những đâu đâu, khi buồn quá, lại trở về với Lâm.


Lâm có thể nghe Vũ kể đủ chuyện, có thể nghe Vũ chửi bới kêu than, lại có thể lặng đi chờ đợi khi Vũ đờ đẫn không nói gì.


Lần ra ga Hàng Cỏ cùng Vũ trong một đêm trời lạnh, đó là Lâm.


Ngồi xe xích lô cùng Vũ đi rong, để rồi lại trở về trầm ngâm bên chiếc điếu cày hay chén rượu nhạt, lại cũng là Lâm, ”Lâm rùa” như chúng tôi đã đặt tên.


 Bao nhiêu ngang ngược của Vũ, Lâm chịu được hết.


 Trong những năm tháng tơi tả của Vũ, Lâm là hiện thân của sự chứa chấp thông cảm mà Vũ khao khát, nhưng lại thường tự đánh mất.


 


Cố nhiên, nói về thơ Vũ lúc này, còn phải nói về gia đình và những người đàn bà, nơi nương tựa về tâm lý của Vũ, những khi đặc biệt cơ cực. Đó là những chuyện mà ở ta ít có thói quen nói ra công khai, song thật ra, lại liên quan trực tiếp đến nhiều sáng tác cụ thể của các nghệ sĩ nói chung và Lưu Quang Vũ nói riêng.


 Đọc những bài thơ tình hay nhất của Vũ viết khoảng sau 1970, tôi nhớ tới lời tự thú của Picasso: “Cũng như tất cả các hoạ sĩ khác, tôi trước tiên là hoạ sĩ của phụ nữ, và với tôi, phụ nữ trước tiên là một cơ chế của sự đau khổ”.


*


Vào thuở mới bắt tay viết lách, phần lớn những người cầm bút ở ta đều có làm thơ, sau đó mới bỏ đi sang các nghề khác. Vì những lý do gì mà bỏ? Có thể mỗi người là một trường hợp riêng, ở mỗi người có nguyên cớ riêng. Như với Nghiêm Đa Văn – một người bạn chung của chúng tôi, cũng có làm thơ vào những năm 1965-70, sau đi viết chuyện thiếu nhi, và làm nhiều nghề đa tạp khác – ngay từ trước 1975, một lần tình cờ, tôi nghe Nghiêm Đa Văn trầm ngâm kể:


- Một trong những thằng khiến tao bỏ làm thơ là Lưu Quang Vũ.


Ý Văn muốn nói tài năng ở Vũ có một vẻ gì tự nhiên, mà không sự dụng công nào có được, và ai không có, thì nên từ giã thơ cho sớm.


 


Về phần mình, tôi có những kỷ niệm yêu thơ Vũ theo một cách khác. Cũng như nhiều người, trong tâm trí tôi, thỉnh thoảng lại vang lên những câu thơ đâu đâu, nó đã ăn sâu vào tiềm thức, không cần nhớ tên tác giả, không thuộc cả bài, nhưng cứ nhớ và khi gặp hoàn cảnh tương đồng thì lại ngâm ngợi.


Một kỷ niệm tưởng không đâu mà lưu luyến mãi trong lòng:


- Có lẽ nào có thể quên được nhỉ


Cuộc đời mình còn có cỏ tóc tiên


Những lúc run rẩy xúc động:


- Trời xanh quá, tim tôi hồi hộp quá


Tiếng Việt ơi, tiếng Việt ân tình


Nỗi ước nguyền được hết lòng cho một người con gái:


- Không làm thơ, anh sẽ làm lá cỏ


Chỉ xanh thôi, cũng mát mắt em nhìn


Từ một chi tiết có vẻ nhỏ nhặt:


- Ngày hạnh phúc có nụ cười mỏi mệt


Đến một cái gì giống như là cảm giác chung về cuộc đời này, nó đã làm khổ ta, mà ta không dứt bỏ được :


- Có ai nói cho lòng ta hiểu nổi


Về cuộc đời ghê gớm ta yêu


Tất cả những câu thơ đó là Lưu Quang Vũ, Lưu Quang Vũ của Hương cây và nhất là Lưu Quang Vũ sau Hương cây, Lưu Quang Vũ của những năm bảy mươi hào hùng và cay đắng.


 


 Nên đánh giá những bài thơ này của Vũ như thế nào? Tôi nhớ một câu nói của Chế Lan Viên đại ý: nếu tất cả văn học chúng ta viết như Nguyễn Tuân thì chắc chắn không được, thậm chí còn phát chán nữa. Nhưng nếu trong toàn bộ nền văn học, không có một Nguyễn Tuân, thì cũng rất thiếu sót.


 Cũng tương tự như vậy, báo chí những năm chiến tranh không thể cho in những dòng thơ mang tâm sự cá nhân, điều ấy là đúng, giọng thơ chủ yếu của những năm chiến tranh phải là giọng thơ hùng tráng. Nhưng cùng với sự lùi xa của thời gian, sẽ là công bằng hơn nếu giờ đây chúng ta dành “một chỗ đứng dưới ánh mặt trời” cho những bài thơ xé lòng lâu nay chỉ chép trong sổ tay của nhiều người – đại loại như những bài thơ của Vũ.


Nói bản chất của con người là luôn luôn vươn tới sự hoàn thiện, niềm vui, ánh sáng tức cũng có nghĩa con người không bao giờ thoát khỏi lầm lỗi, nỗi buồn, bóng tối, nhất là đôi khi trong những hoàn cảnh đặc biệt, ánh sáng càng rực rỡ, thì bóng tối càng nặng nề và trông thấy ánh sáng trước mắt đấy mà con người vẫn không vươn tới được.


 Có lẽ vì rất hiểu điều đó, nên một người như thi hào Đức B. Brecht, trong bài thơ nổi tiếng mang tên Gửi người mai sau đã nói rất hay về sự độ lượng.


Sau khi kể lại những nỗi khốn khổ mà thế hệ mình phải gánh chịu, nào nạn đói hoành hành, nào con người cướp giật của nhau để sống, nhiều người lang bạt “thay đổi nước như thay đổi giày” nhất là sau khi kể lại những yếu hèn của thế hệ mình, Brecht viết tiếp:


Nhưng các anh, khi đã đến cái thời ao ước đó


Khi con người là bạn của con người


Hãy nghĩ đến chúng tôi


Cho độ lượng


Ngay từ những năm chiến tranh, sống trong cái tranh tối tranh sáng nửa hậu phương, nửa chiến trường của Hà Nội, đám bạn mới bắt đầu làm văn chương thuở ấy, khi nghĩ về thơ Vũ đã thường tìm chỗ dựa ở bài thơ nói trên của Brecht. Còn như giờ đây khi mà những người 20-25 hôm qua đã sang tuổi 50-60, cái ý tưởng về sự độ lượng càng có sức kêu gọi, như một ám ảnh: Chúng ta vốn chẳng giàu có gì, đừng làm cho chúng ta nghèo thêm đi một lần nữa, ngay trên phương diện tinh thần.


VTN


https://vuongtrinhan.blogspot.com/2015/05/luu-quang-vu-va-nhung-bai-tho-vien-vong.html


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những bài viết về nhà văn Hồng Nhu - Nhiều tác giả 14.11.2019
Sóng lừng (VN. Mafia), tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Giao thông Vận tải, 1991. - Nguyễn Bích Thu 12.11.2019
Về Bogdanov và tiểu thuyết “Tinh cầu Đỏ” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Một Week end ở Điện Biên Phủ - Phan Quang 07.11.2019
Ngụ ngôn giữa đời thường: Việt Nam giữa Canada; Ta giữa Tây; Dân tộc giữa nhân loại - Đỗ Quyên 01.11.2019
Đào Duy Anh nói về sự "Hán hóa" (1950) - Đào Duy Anh 31.10.2019
Sự kiêu hãnh quá đáng là dấu hiệu cho thấy nhiều điều không tốt đẹp - Vương Trí Nhàn 31.10.2019
Chỉ là đợt thử mắt bên phải - Đỗ Quyên 28.10.2019
Có một cuốn sách hay đang giảm giá - Mạc Yên (Phạm Thành Hưng) 25.10.2019
Hà Nội, một mảnh hồn xưa - Phan Quang 25.10.2019
xem thêm »