tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30523445
04.10.2019
Nhiều tác giả
Danh nhân Bùi Bằng Đoàn


Từ vị quan thanh liêm trong triều đình phong kiến trở thành Chủ tịch Quốc hội


LTS: Cụ Bùi Bằng Đoàn đã từng giữ các chức vụ: Cố vấn Chủ tịch nước, Trưởng ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ, Đại biểu Quốc hội khóa I, Trưởng ban Thường trực Quốc hội (nay là Chủ tịch Quốc hội) từ tháng 11/1946 đến khi tạ thế tháng 4/1955.


Theo nhận định của ông Vũ Mão – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, với cương vị là Trưởng ban Thường trực Quốc hội, cụ đã đầu tư nhiều vào việc xây dựng phương thức hoạt động của Quốc hội sao cho phù hợp với thực tế kháng chiến để đạt được hiệu quả cao.


Vị quan thanh liêm, chính trực


Cụ Bùi Bằng Đoàn sinh năm 1889 tại làng Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội) trong một gia đình có truyền thống Nho học. Ông nội là Tiến sĩ Bùi Tuấn, hàm Thái tử Thiếu bảo, từng làm Giám khảo các kỳ thi Hương, giữ chức Tả Tham tri Bộ Binh kiêm Tổng đốc tỉnh Bắc Ninh. Cha là Bùi Tập từng giữ chức Tuần phủ tỉnh Hưng Hóa (một tỉnh cũ dưới thời Pháp thuộc, hiện nay phần đất chủ yếu của Hưng Hóa, tỉnh Phú Thọ).


 


Mồ côi cha mẹ từ rất sớm, cả 6 anh em Bùi Bằng Đoàn được người chú dượng là Dương Lâm (tức cụ Thiếu bảo Vân Đình lúc đó làm Tham tri Nha Kinh lược Bắc Kỳ) đưa về nuôi dưỡng và dạy học chữ Hán.


 


Khoa thi năm Bính Ngọ 1906, ba anh em Bùi Bằng Phấn, Bùi Bằng Thuận và Bùi Bằng Đoàn đều ứng thí. Kết quả, Bùi Bằng Phấn đỗ Tú tài, còn Bùi Bằng Thuận và Bùi Bằng Đoàn cùng đỗ Cử nhân. Ba anh em được mệnh danh là Hà Đông tam bằng.


 


Con đường quan lộ của cụ Bùi Bằng Đoàn hanh thông. Năm 1907, thi vào trường Hậu Bổ (như trường Hành chính quốc gia) tại Hà Nội, năm 1911 tốt nghiệp. Cụ đã từng làm Tri phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định,Án sát tỉnh Bắc Ninh, Tuần phủ các tỉnh Cao Bằng, Ninh Bình.


 


Khi làm quan, cụ nổi tiếng là vị quan đức độ, thanh liêm, chính trực, chăm dân. Trên công đường ở những nơi làm quan, cụ đều cho treo một bảng thông báo không nhận quà biếu. Với người nhà, cụ rất nghiêm khắc, cấm tiệt việc nhận quà, nếu lỡ nhận rồi thì phải mang trả lại.


 


Lúc làm Tri phủ Xuân Trường (Nam Định), Bùi Bằng Đoàn đã đề xuất và thực hiện việc đắp đê Bạch Long ngăn nước mặn, tạo lập được một vùng trồng lúa và trồng dâu rộng lớn. Ghi công đức của cụ, dân địa phương đã làm lễ tế sống vị phụ mẫu chi dân trẻ tuổi ngay nơi nhậm chức.


Cụ Bùi Bằng Đoàn (bên phải), cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. ảnh tư liệu.


Năm 1925, trước việc báo chí lên án cảnh phu đồn điền ở miền Nam bị bóc lột dã man, Chính phủ Nam triều đã cử Bùi Bằng Đoàn vào Nam Bộ thanh tra các đồn điền cao su của Pháp.


Cụ đã tiến hành thanh tra thấu đáo, viết một bản báo cáo dày đến 100 trang bằng tiếng Pháp nêu rõ những điều vô lý trong chính sách đối với phu đồn điền.


Những kiến nghị xác đáng của cụ đã được nhà đương cục chấp nhận, giảm thiểu những chế độ hà khắc đối với công nhân đồn điền cao su thời đó.


Năm 1925, mặc dù đang làm Tri phủ Nghĩa Hưng (tỉnh Nam Định) nhưng cụ vẫn được mời lên Hà Nội làm thông ngôn cho phiên tòa đại hình xử vụ án cụ Phan Bội Châu.


Với tính cách cương trực, bênh vực lẽ phải, Bùi Bằng Đoàn đã thông dịch rõ ràng, trung thực những lý lẽ đanh thép của cụ Phan Bội Châu để rồi sau đó tòa án đã không khép được cụ Phan vào án chung thân mà giảm xuống hình thức an trí ở Huế.


Đầu năm 1933, cụ được bổ nhiệm làm Tuần phủ tỉnh Ninh Bình, không lâu sau đó khi Phạm Quỳnh tổ chức Nội các, cụ được bổ nhiệm làmThượng thư bộ Hình.


Trong mười hai năm ở kinh đô Huế, cụ trông nom việc xử kiện tại tất cả các tỉnh Trung Kỳ, chỉ đạo việc soạn thảo các luật cho Trung Kỳ đều bằng tiếng Pháp, tiếng Việt và dịch ra chữ Hán.


Một lòng theo cách mạng


Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, Vua Bảo Đại xuống chiếu thành lập Chính phủ, cụ đã từ chối tham gia Chính phủ, cáo quan về quê. Tuy nhiên, Chính phủ Nam triều đã nhất quyết mời cụ ở lại để giữ chức Chánh nhất Tòa Thượng thẩm Hà Nội.


Ở thời điểm “đêm trước” của cách mạng, tổ chức Việt Minh đã tiếp xúc và mời cụ làm Hội trưởng Hội bảo vệ tù chính trị.


Ngày 2/9 /1945, cụ được mời tham gia dự lễ Tuyên ngôn Độc lập tại Ba Đình. Tại buổi lễ đó, cụ Bùi Bằng Đoàn đã gặp Hồ Chủ tịch. Bác Hồ có nhã ý mời cụ Bùi Bằng Đoàn tham gia chính quyền cách mạng – cụ đã kể lại việc này cho con cháu ngay sau đó. Tuy nhiên, theo lẽ thường, cụ “treo ấn, từ quan”, về an trí ở quê nhà Liên Bạt, Hà Tây.


Sống trong cảnh điền viên chẳng được bao lâu, ngày 17/11/1945, cụ nhận được thư của Hồ Chủ tịch mời ra gánh vác việc nước. Bức thư viết:


Thưa Ngài,


Tôi tài đức ít ỏi, mà trách nhiệm nặng nề. Thấy Ngài học vấn cao siêu, kinh nghiệm phong phú. Vậy nên, tôi muốn mời Ngài làm Cố vấn cho tôi để giúp thêm ý kiến trong công việc hưng lợi, trừ hại cho nước nhà dân tộc. Cảm ơn và chúc Ngài mạnh khỏe.


Kính thư


Hồ Chí Minh


Từ ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, cụ Bùi Bằng Đoàn trở thành một công dân của một nước độc lập tự do. Với tài năng, đức độ của mình, cụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời đảm nhiệm nhiều công việc quan trọng của quốc gia.


Từ một vị quan thanh liêm, chính trực làm việc dưới triều đình phong kiến, nhận thức rõ trách nhiệm của công dân đối với Tổ quốc và mến mộ tài đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ rời quê hương, dấn thân vào con đường cách mạng, tham gia xây dựng chính quyền mới.


Trong phiên họp của Chính phủ ngày 14/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị thành lập một Ban Cố vấn riêng cho Người gồm 10 vị, trong đó có cụ Bùi Bằng Đoàn.


Nhằm đảm bảo cho bộ máy nhà nước được trong sạch, vững mạnh, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 64/SL thiết lập Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ, trong đó có cụ Bùi Bằng Đoàn.


 


Ban này nhận đơn khiếu nại của nhân dân và có toàn quyền điều tra, kể cả việc xem xét các tài liệu của Ủy ban nhân dân hay của Chính phủ nếu thấy cần thiết cho công tác giám sát. Ban có quyền đình chỉ chức vụ, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong Ủy ban nhân dân hay của Chính phủ đã phạm khuyết điểm, sai lầm.


 Ngày 31/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 78/SL thành lập Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết quốc gia trực thuộc Chính phủ, đặt dưới quyền điều khiển của Chủ tịch Chính phủ. Ủy ban gồm 40 vị là những trí thức, nhân sĩ, các bộ trưởng và thứ trưởng, trong đó có cụ Bùi Bằng Đoàn. Việc thành lập Ủy ban này đã góp phần động viên và tạo cơ sở pháp lý để các trí thức, nhân sĩ yêu nước phát huy trí tuệ và tài năng của mình phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.


 


Ngày 6/1/1946, cụ Bùi Bằng Đoàn ứng cử Đại biểu Quốc hội tại tỉnh Hà Đông và trúng cử, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ cử cụ làm Trưởng ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ.


 


Ngày 2/3/1946, cụ được bầu vào Ban Thường trực Quốc hội. Khối đoàn kết dân tộc được tiếp tục củng cố và mở rộng, nhiều đoàn thể mới được thành lập, đặc biệt là Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt). Một ban vận động thành lập Hội gồm 27 vị, trong đó có cụ Bùi Bằng Đoàn.


 


Ngày 29/5/1946, Hội chính thức tuyên bố thành lập ở Hà Nội. Trong 8 tháng hoạt động kể từ kỳ họp thứ nhất tháng 3/1946 đến kỳ họp thứ hai tháng 10 cùng năm, Ban Thường trực Hội Liên Việt đã nỗ lực hoạt động giữ vững nguyên tắc dân chủ, cùng Chính phủ đưa nước nhà vượt qua mọi khó khăn, giữ vững chính quyền cách mạng.


 


Ngày 8/1/1946, cụ được cử làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội thay cho cụ Nguyễn Văn Tố.


Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ngày 18/12/1946, cơ quan Ban Thường trực Quốc hội phải sơ tán đến địa điểm mới, và chính ngôi nhà của cụ tại thôn Liên Bạt, Ứng Hòa, Hà Tây đã trở thành trụ sở làm việc của Ban một thời gian.


 Năm 1947 và năm 1948, cụ hoạt động ở chiến khu Việt Bắc. Ban Thường trực Quốc hội đã đóng góp nhiều ý kiến với Chính phủ.


 Các phiên họp của Chính phủ đều có sự tham dự, góp ý của Trưởng ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn. Nhiều vấn đề đối nội, đối ngoại quan trọng của đất nước, Chính phủ đều lắng nghe ý kiến của cụ.


 


Tham gia chính quyền mới, cụ Bùi Bằng Đoàn toàn tâm toàn ý phụng sự nhân dân, phụng sự kháng chiến. Với cương vị là Trưởng ban Thường trực Quốc hội, cụ đã đầu tư nhiều vào việc xây dựng phương thức hoạt động của Quốc hội sao cho phù hợp với thực tế kháng chiến để đạt được hiệu quả cao.


 


Ngày nay, Quốc hội đang trong quá trình đổi mới để thực hiện tốt hơn vai trò của cơ quan lập pháp. Uống nước nhớ nguồn, chúng ta không quên ôn lại những cống hiến của các vị tiền bối trong việc dựng xây Quốc hội của nhà nước dân chủ trong những ngày mới thành lập.


 


Chính vì thế, việc sưu tầm và nghiên cứu các tài liệu thời kỳ đó, giúp cho chúng ta nhiều bài học bổ ích. Tôi muốn nêu lại biên bản một cuộc họp của Ban Thường trực Quốc hội để mọi người có thể hình dung được vai trò, phương thức hoạt động của Quốc hội và Ban Thường trực Quốc hội thời kháng chiến chống thực dân Pháp; đồng thời thấy được tinh thần trách nhiệm rất cao trước nhân dân của một thế hệ cha ông, trong đó có sự đóng góp to lớn của cụ Bùi Bằng Đoàn.


Cụ Bùi Bằng Đoàn làm Trưởng Ban Thường trực Quốc hội từ 1946 – 1955. ảnh tư liệu.


 Người bạn tri âm của Chủ tịch Hồ Chí Minh


Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thâm thúy, hiểu biết sâu sắc nhân tình thế thái. Người rất tôn trọng tài năng và đức độ của các nhân sĩ, trí thức, trong đó có cụ Bùi Bằng Đoàn. Chính vì thế, Bác đã hai lần viết thư mời cụ Bùi Bằng Đoàn tham gia chính quyền cách mạng nhưng cụ đều lưỡng lự, xin được miễn.


 Lần thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử Bí thư Vũ Đình Huỳnh về Hà Đông để trao tận tay cụ bức thư riêng của Người, trong đó có câu thơ cổ 7 chữ: “Thu thủy tàn hà thính vũ thanh” (Dòng nước thu, bông sen tàn nghe tiếng mưa rơi).


 


Câu thơ này đã được nhiều vị nhân sĩ, trí thức luận giải về ý nghĩa nhưng vẫn chỉ tạm đoán ý chứ chưa hẳn đã hiểu hết nghĩa; ý là: Cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, bông sen tàn nhờ mưa lại nở. Sau khi đọc bức thư này, cụ vui vẻ nhận lời ra gánh vác công việc chung không phải để làm quan mà “để giúp thêm ý kiến trong công việc hưng lợi, trừ hại cho nước nhà”.


 


Ngày 22/11/1945, cụ được đón về nhà số 8 phố Lê Thái Tổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đợi cụ ở cửa phòng khách, rồi hai Người cùng đi dạo dưới hàng cây trong vườn, trò chuyện tâm đắc như đôi bạn cố tri lâu ngày tái ngộ.


 


Cụ Bùi Bằng Đoàn làm việc trong một thời gian ngắn tại chiến khu Việt bắc. Tại đây, mối thâm giao giữa Bác Hồ và cụ Bùi Bằng Đoàn không chỉ là của người cùng chí hướng vì nước vì dân mà còn là của những người bạn tri âm.


 


Mùa đông 1947, Pháp mở cuộc tấn công quy mô lên chiến khu Việt Bắc, nhưng chúng thất bại lớn, quân ta giành thắng lợi vẻ vang.


 Trong không khí đầu xuân chiến thắng, Tết chiến khu năm ấy, Hội đồng Chính phủ họp và liên hoan lửa trại. Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Cụ một bài thơ bằng chữ Hán:


 Khán thư sơn điểu thê song hãn/ Phê trát xuân hoa chiếu nghiễn trì/ Tiệp báo tần lai lao dịch mã/ Tư công tức cảnh tặng tân thi.


Lời dịch:


Xem sách chim rừng vào cửa đậu/ Phê văn hoa núi ghé nghiêng soi/ Tin vui thắng trận dồn chân ngựa/ Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài.


Trong buổi hôm ấy, Bác đã khuyến khích mọi người trình bày các tiết mục tự biên. Cụ Bùi Bằng Đoàn liền phát biểu và đọc bài thơ họa bằng chữ Hán:


Thiết thạch nhất tâm phù chủng tộc/ Giang sơn vạn lý thủ thành trì/ Tri công quốc sự vô dư hạ/ Thao bút nhưng thành thoái lỗ thi.


Lời dịch:


Sắt đá một lòng vì chủng tộc/ Non sông muôn dặm giữ cơ đồ/ Biết Người việc nước không hề rảnh/ Vung bút thành thơ đuổi giặc thù.


Mọi người cùng trầm trồ, Thứ trưởng Bộ Giao thông – Thủy lợi Đặng Phúc Thông thốt lên: “Thật đúng hai trái tim cao cả cùng một nhịp đập!”.


Ngày 19/4/1947, trong lúc Hội đồng Chính phủ họp ở Mỏ Giác, châu Tự Do, Bác Hồ thoáng thấy vẻ mệt mỏi trên khuôn mặt cụ Bùi Bằng Đoàn. Bệnh cũ tái phát, cụ phải đặt tay lên đầu gối để chống đỡ. Thấy hiện tượng không bình thường ở cụ, Bác cho gọi bác sĩ tới khám bệnh ngay cho cụ.


Ngày 12/8/1948, vừa đi dự Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 5 về, Bác nhận tin cụ bị tai biến mạch máu não. Bác liền cử ngay đồng chí Phan Mỹ – Chánh Văn phòng Chủ tịch phủ và bác sĩ riêng Lê Văn Chánh đến kiểm tra trực tiếp bệnh tình của cụ. Xét thấy ở An toàn khu không có đủ thuốc men, Bác Hồ quyết định chuyển cụ về quê, ở gần Hà Nội để có điều kiện chữa trị.


Khi về gần đến nhà thì gặp lính Pháp đang càn quét ở Vân Đình, cụ phải lánh đi. Lúc đó, một mình cụ bà Trần Thị Đức ở nhà, đang cất giấu tài liệu của Quốc hội và của Đảng thì bị giặc Pháp ập vào bắn chết. Trong những ngày ấy, tình trạng sức khỏe của cụ Bùi Bằng Đoàn rất yếu nên mọi người không cho cụ hay chuyện này. Mãi tới năm 1955, khi về thăm nhà, mọi người mới cho cụ biết.


Đầu năm 1949, cụ được chuyển vào vùng tự do Thanh Hóa để yên tâm chữa bệnh. Khi đặc phái viên Trần Đăng Ninh vào Thanh Hóa công tác, Bác Hồ đã ủy quyền cho ông đến thăm sức khỏe và chuyển một bộ quần áo lụa Hà Đông làm quà tặng nhân sinh nhật lần thứ 60 cụ Bùi Bằng Đoàn. Món quà ý nghĩa này cũng giúp cụ khuây khỏa nỗi nhớ quê hương.


Những năm tháng cụ Bùi Bằng Đoàn phải đi chữa bệnh ở xa Trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường xuyên quan tâm tới cụ, tạo điều kiện để cụ theo dõi tin tức và đóng góp ý kiến. (Thời gian này, Bác Tôn Đức Thắng được cử giữ chức Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội).


Sau ngày Hà Nội được giải phóng, cụ Bùi Bằng Đoàn được đón về ở tại số 10 phố Trần Hưng Đạo, gần bệnh viện Quân đội 108 ngày nay để tiện chữa bệnh. Tuần nào Bác cũng đến thăm cụ một lần. Có hôm hai người đàm đạo tới khuya.


Ngày 13/4/1955, lúc 8h30 phút, cụ Bùi Bằng Đoàn qua đời tại Viện quân y 108.


Từ Thượng thư Bộ hình Nam triều, nổi tiếng thanh liêm, chính trực, cụ Bùi Bằng Đoàn đã vượt qua những định kiến của thời cuộc để tham gia chính quyền cách mạng.


Tấm lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân của cụ Bùi Bằng Đoàn là một tấm gương sáng để chúng ta kính trọng và noi theo.


Ngọc Quang (ghi theo lời kể của ông Vũ Mão)/Báo Giáo dục Việt Nam


Kỷ niệm 130 năm ngày sinh cụ Bùi Bằng Đoàn - Trưởng ban Thường trực Quốc hội (19/9/1889 - 19/9/2019)


I. TÓM TẮT TIỂU SỬ - QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CỤ BÙI BẰNG ĐOÀN


Cụ Bùi Bằng Đoàn sinh ngày 19/9/1889 trong một gia đình nhà nho tại làng Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội) – làng quê có truyền thống văn hiến, với những danh nhân khoa bảng được ghi trong sử sách. Ông nội là Tiến sĩ Bùi Tuấn, hàm Thái tử Thiếu bảo, từng là giám khảo các kỳ thi Hương, giữ chức Tả Tham tri Bộ Binh kiêm Tổng đốc tỉnh Bắc Ninh. Cha là Bùi Tập từng giữ chức Tuần phủ tỉnh Hưng Hóa (một tỉnh cũ dưới thời Pháp thuộc). Do cha mẹ đều mất sớm, ngay từ nhỏ, Bùi Bằng Đoàn được người chú dượng là Dương Lâm (tức cụ Thiếu bảo Vân Đình lúc đó làm Tham tri Nha Kinh lược Bắc Kỳ) đưa về nuôi dưỡng và dạy học chữ Hán.


Năm Bính Ngọ (1906), dưới triều Vua Thành Thái, tại khoa thi Hương trường Hà Nam, Bùi Bằng Đoàn đỗ cử nhân. Cùng năm ấy, phong trào Tây học rộ lên, Bùi Bằng Đoàn tự khai thêm 3 tuổi để được tuyển sinh vào trường Hậu Bổ -trường chuyên dạy và học bằng tiếng Pháp.


Năm 1911, Bùi Bằng Đoàn tốt nghiệp trường Hậu Bổ, Hà Nội, được bổ làm Tri huyện, sau đó làm Tri phủ Xuân Trường (tỉnh Nam Định), Án sát tỉnh Bắc Ninh; Tuần phủ các tỉnh Cao Bằng, Ninh Bình. Năm 1933, Cụ được nhà Nguyễn tuyên triệu vào Triều đình Huế làm việc và được giữ chức Thượng thư Ngự Tiền, Văn phòng Nam Triều (1934), rồi làm Thượng thư bộ Hình (Bộ Tư pháp); sung Cơ mật viện Đại thần, hàm Chánh nhị phẩm và được thăng Hiệp tá Đại học sĩ hàm Tùng nhất phẩm. Sau đó ít lâu được phòng hàm Chánh phẩm.


Năm 1944, Bùi Bằng Đoàn được nhà Vua ban tặng hàm Thái tử Thiếu bảo, và tham gia Viện Cơ mật của Triều đình Huế.


Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, Vua Bảo Đại xuống chiếu thành lập Chính phủ, Trần Trọng Kim được đưa lên làm Thủ tướng Chính phủ. Thượng thư bộ Hình Bùi Bằng Đoàn đã từ chối tham gia chính phủ bù nhìn, cáo quan về sống ở Hà Đông, nhưng Chính phủ Nam Triều đã mời ở lại và giao giữ chức Chánh nhất Tòa Thượng thẩm ở Hà Nội.


Sau Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 17/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cụ Bùi Bằng Đoàn tham gia Ban Cố vấn Chủ tịch nước, thành viên Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết đất nước. Theo Sắc lệnh số 80/SL số 31/12/1945, Cụ được cử làm Trưởng ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Cụ Bùi Bằng Đoàn là thân phụ của Bùi Tín, nguyên Phó TBT báo Nhân Dân.


Ngày 31/12/1945, Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết được thành lập, gồm 40 nhân sỹ, trí thức, các bộ trưởng và thứ trưởng trong đó cụ Bùi Bằng Đoàn là thành viên.


Trong cuộc Tổng Tuyển cử ngày 6/1/1946, Cụ trúng cử đại biểu Quốc hội khóa I của tỉnh Hà Đông (cũ), rồi được bầu làm ủy viên chính thức Ban Thường trực Quốc hội.


Tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội (28/10/1946 - 9/11/1946) Cụ được bầu làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội.


Ngày 31/12/1946, Chính phủ ra Sắc lệnh số 5/SL thành lập Ủy ban Tản cư và Di cư Trung ương, Ủy ban tản cư của các tỉnh, phủ, huyện. Ngày 22/01/1947, Chủ tịch Chính phủ ký Sắc lệnh số 8/SL cử các thành viên Ủy ban Tản cư và Di cư, gồm 11 thành viên, cụ Bùi Bằng Đoàn được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban.


Năm 1947-1948, cụ Bùi Bằng Đoàn hoạt động ở chiến khu Việt Bắc. Tháng 8/1948, vì bị bệnh nặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lệnh đưa Cụ về Liên khu 3 chữa trị. Ngày 13/4/1955, Cụ qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 66 tuổi. Do những công lao, cống hiến to lớn đối với dân tộc, cụ Bùi Bằng Đoàn đã được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất.


II. CÔNG LAO VÀ CỐNG HIẾN TO LỚN CỦA CỤ BÙI BẰNG ĐOÀN ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG VÀ ĐẤT NƯỚC


1. Cụ Bùi Bằng Đoàn – Một tấm gương về thanh liêm, chính trực, mẫn cán, một lòng đi theo cách mạng


1.1. Trước Cách mạng Tháng Tám, làm quan ở triều đại phong kiến, cụ Bùi Bằng Đoàn nổi tiếng là vị quan thanh liêm, chính trực, thương dân


- Khi làm Tri phủ Xuân Trường (tỉnh Nam Định), cụ Bùi Bằng Đoàn đã đề xuất và tổ chức thực hiện việc đắp đê Bạch Long ngăn nước mặn - một công trình trị thủy lớn, có ý nghĩa vô cùng quan trọng về dân sinh và kinh tế nông nghiệp cho nhân dân địa phương. Nhờ con đê Bạch Long mà cả một vùng đất đai rộng lớn, phì nhiêu được tạo lập, những người nông dân trồng lúa, trồng dâu ở địa phương dần dần có cuộc sống ổn định. Ghi nhớ công đức của Cụ, nhân dân địa phương đã làm lễ tế sống vị phụ mẫu chi dân trẻ tuổi ngay nơi nhận chức.


- Khi đang làm Tri phủ Nghĩa Hưng, nhờ tinh thông Pháp văn cụ Bùi Bằng Đoàn được mời lên Hà Nội làm thông ngôn cho phiên tòa đại hình xử vụ án cụ Phan Bội Châu. Với tính cách cương trực, bênh vực lẽ phải, cụ Bùi Bằng Đoàn đã phiên dịch rõ ràng, trung thực những lời nói, lý lẽ đanh thép của cụ Phan Bội Châu để rồi sau đó tòa án không khép được cụ Phan vào án chung thân mà giảm xuống hình thức “an trí ở Huế”.


- Năm 1925 trước việc báo chí phản ánh cảnh phu điền ở Nam Kỳ bị bóc lột dã man, Chính phủ Nam Triều đã cử Bùi Bằng Đoàn vào thanh tra các đồn điền cao su của Pháp tại Nam Kỳ. Là người công minh, liêm khiết, mẫn cán và tác phong làm việc cẩn trọng, khoa học, cụ Bùi Bằng Đoàn đã tiến hành điều tra trực tiếp, thấu đáo tại 45 đơn vị đồn điền cao su thuộc các tỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Chợ Lớn và Gia Định. Nội dung điều tra tập trung chủ yếu vào việc tổ chức sản xuất, sử dụng lao động, nhất là người lao động ở các tỉnh Bắc Kỳ vào và đời sống người lao động thông qua tiền lương, điều kiện ăn ở, sinh hoạt, số giờ lao động trong ngày, số tiền lãi của chủ đồn điền… Kết thúc cuộc điều tra, Cụ đã viết báo cáo, kiến nghị dày 100 trang bằng tiếng Pháp nêu trung thực, khách quan, công minh và đầy đủ những điều vô lý trong chính sách đối với phu đồn điền. Nhờ đó đã được nhà đương cục lúc bấy giờ chấp nhận giảm thiểu những chế độ hà khắc đối với công nhân đồn điền cao su thời đó.


- Khi làm Án sát tỉnh Bắc Ninh, Cụ được mời tham dự phiên tòa Đề hình xét xử đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Khâm phục tinh thần cách mạng của đồng chí Nguyễn Văn Cừ, nên khi nghị án thực dân Pháp đã định án tử nhưng Cụ đã tìm mọi cách để giảm tội tử hình xuống khổ sai đày đi Côn Đảo.


- Năm 1933, cụ Bùi Bằng Đoàn được bổ nhiệm làm Tuần phủ Ninh Bình, sau đó, khi Phạm Quỳnh tổ chức lại nội các, Cụ được bổ nhiệm làm Thượng thư bộ Hình.


Trên cương vị Thượng thư bộ Hình, cụ Bùi Bằng Đoàn đã có công lớn trong việc cải cách tư pháp, sửa đổi luật pháp, bãi bỏ nhiều quy định lỗi thời của hệ thống tư pháp cổ xưa trên 17 tỉnh, đạo thuộc Trung Kỳ. Đồng thời, Cụ đã tấu trình và được nhà Vua chấp thuận việc biên soạn, ban hành một số luật mới có nội dung tiến bộ, tổ chức các tòa án và quy định cơ chế tư pháp tân tiến, lựa chọn và đào tạo thẩm phán và đội ngũ nhân viên chuyên môn nghiệp vụ chuyên trách… Sau này nhiều người được tiếp tục phục vụ trong các cơ quan pháp luật của cách mạng.


Trong thời gian làm quan đại thần trong Triều Nguyễn ở Huế, Cụ nổi tiếng là vị quan đức độ, thanh liêm, chính chực, chăm dân. Cụ được nhà Vua sủng ái, các quan trong triều kính trọng, nhân viên và các quan chức dưới quyền ngưỡng mộ, được nhân dân kính trọng, tin cậy.


1.2. Cách mạng Tháng Tám thành công, tháng 11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự tay đánh máy bức thư trân trọng mời Cụ tham gia việc nước. Từ một vị quan thanh liêm, chính trực làm việc dưới triều đình phong kiến, nhận thức được trách nhiệm của mình với Tổ quốc, khâm phục, kính trọng tài đức, lý tưởng lớn lao, trong sáng và tinh thần, nghị lực đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tin tưởng vào vận mệnh nước nhà, cụ Bùi Bằng Đoàn đã nhận lời tham gia Uỷ ban kiến thiết quốc gia; tham gia Ban Cố vấn riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; rồi trở thành Trưởng ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ, Trưởng ban Thường trực Quốc hội… Trên cương vị và trọng trách nào do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ giao, cụ Bùi Bằng Đoàn cũng thể hiện là một người thanh liêm, chính trực, một lòng đi theo cách mạng.


Khi ở vị trí Trưởng ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ, hoạt động chỉ có hai người nhưng với kinh nghiệm phong phú, cộng với sự giúp đỡ của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Bùi Bằng Đoàn đã tham mưu kịp thời chấn chỉnh những bất cập trong hoạt động của bộ máy nhà nước, giúp giữ nghiêm kỷ cương phép nước, chấn chỉnh đội ngũ cán bộ trong cơ quan chính quyền. Đặc biệt Cụ đã tham mưu cho Chính phủ ban hành những sắc lệnh có tác động tích cực đến đời sống xã hội, như Sắc lệnh số 40/SL về việc Bảo vệ tự do cá nhân do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 29/3/1946. Đây là sắc lệnh đầu tiên quy định cụ thể những trường hợp bắt người, giam cứu, nơi giam cứu, cấm tra tấn để lấy cung, bảo vệ quyền tự do của mỗi công dân Việt Nam; giúp cho Ban Thanh tra đặc biệt giải quyết các vụ việc oan trái được nhanh chóng.


Không những vậy, từ công tác thanh tra, Cụ đã tổng kết thực tiễn, đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng tư tưởng thanh tra nhân dân, thanh tra cách mạng Việt Nam sau này.


2. Cụ Bùi Bằng Đoàn - Trưởng ban Thường trực Quốc hội, có công lao, đóng góp to lớn đối với hoạt động lập pháp của Quốc hội và trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược


- Ngày 6/1/1946, cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên được tổ chức trong phạm vi toàn quốc, với sự tham gia của tất cả các đảng phái trong nước, thu hút mọi tầng lớp trong xã hội. Cụ Bùi Bằng Đoàn với chức danh cố vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trưởng Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, được Hồ Chủ tịch giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội khoá I và đã trúng cử đại biểu của tỉnh Hà Đông (cũ) với số phiếu bầu rất cao.


Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cụ Bùi Bằng Đoàn được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Thường trực Quốc hội. Lúc này nhiệm vụ chính của Cụ vẫn là ở Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ nhưng Cụ đã tham gia một số hoạt động đối ngoại của Chính phủ, như tham gia đàm phán với Chính phủ Pháp sau khi ký Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/1946.


- Tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá I (tháng 11-1946), Cụ được bầu làm Trưởng Ban Thường trực Quốc hội. Trên cương vị Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Cụ đã phát huy vai trò, trách nhiệm và những đóng góp cho hoạt động lập pháp, đặc biệt là việc tập hợp lực lượng đoàn kết toàn dân, kháng chiến chống Pháp:


Ngày 17/12/1946, tại Hà Nội, Hội đồng Chính phủ họp có sự tham gia của Trưởng ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn. Đây là cuộc họp rất quan trọng, nghe đồng chí Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp báo cáo tình hình quân sự diễn ra ở Hải Phòng, Lạng Sơn, Đà Nẵng và một số nơi khác; Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo thống nhất quyết định phát động cuộc kháng chiến trong cả nước. Sau cuộc họp này, ngày 18 và 19/12/1946 tại Vạn Phúc, Hà Đông, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết định phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trên phạm vi cả nước và ban bố Chỉ thị kháng chiến của Đảng. Đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”.


- Kháng chiến toàn quốc diễn ra, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ bí mật rút khỏi Hà Nội. Để sự lãnh đạo điều hành được tập trung thống nhất, Quốc hội đã giao quyền tập trung vào Chính phủ và có sự tham gia tích cực, thường xuyên của Ban Thường trực Quốc hội. Tuy nhiên, do tình hình ngày càng cấp bách và khó khăn, vì vậy thực hiện sự chỉ đạo của Ban Thường trực Quốc hội, chỉ có Trưởng ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn ở lại cùng với Chính phủ thực hiện nhiệm vụ trên.


Trên cương vị Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, cụ Bùi Bằng Đoàn đã tham dự các cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, tham gia bàn bạc góp ý kiến các chủ trương, chính sách lớn của Chính phủ và tham gia giám sát các công việc của Chính phủ thực hiện công cuộc kháng chiến kiến quốc. Với tinh thần trách nhiệm cao, Cụ đã tham gia đóng góp cải tổ nhân sự của Chính phủ năm 1947, chỉ đạo các đoàn đại biểu Quốc hội địa phương, lấy nguyện vọng nhân dân góp ý cho Quốc hội và Chính phủ trong lãnh đạo kháng chiến. Cụ đã thay mặt Quốc hội tham dự các sự kiện trọng đại của đất nước.


Ngoài các hoạt động đối nội, lập pháp, Cụ Bùi Bằng Đoàn còn tích cực tham gia các hoạt động đối ngoại, thường xuyên trả lời phỏng vấn báo chí, đài phát thanh trong và ngoài nước về một số vấn đề trọng đại của đất nước, về chủ quyền của Việt Nam trong thời gian trước và sau khi hai đoàn đại biểu Việt Nam và Pháp ký Hiệp ước 6/3/1946 tại Đà Lạt.


- Hiệp định Giơnevơ được ký kết, ngày 10/10/1954 Thủ đô Hà Nội hoàn toàn giải phóng, Cụ trở về Hà Nội. Thời gian này công việc của Quốc hội cũng như các cơ quan Trung ương rất bộn bề. Với tư cách là Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Cụ đã có nhiều ý kiến đóng góp, cùng Ban Thường trực Quốc hội trong việc tiến hành ổn định tổ chức và hoạt động của Quốc hội; xem xét việc chuẩn bị thông qua nhiều văn bản pháp luật của Chính phủ nhằm bảo đảm thành công trong công việc kiến quốc theo chủ trương, đường lối của Đảng và nguyện vọng của toàn dân.


***


Từ Thượng thư bộ Hình Nam triều nổi tiếng thanh liêm, chính trực, cụ Bùi Bằng Đoàn đã tham gia chính quyền cách mạng một cách tự nguyện và một lòng đi theo chính quyền cách mạng. Tấm lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân của cụ Bùi Bằng Đoàn là một tấm gương sáng để chúng ta kính trọng và noi theo.


Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh cụ Bùi Bằng Đoàn là dịp để chúng ta ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và tôn vinh công lao, cống hiến to lớn của Cụ đối với đất nước; qua đó giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào, tự tôn đất nước và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc; cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân tích cực học tập, lao động, công tác và chiến đấu góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước.


Noi gương cụ Bùi Bằng Đoàn, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nỗ lực phấn đấu, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.


BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG


04/10/2019 06:46


Chuyện cụ Bùi Bằng Đoàn: Nhành roi gia pháp


TP - Mười hai năm ở Huế đường đường là thành viên Viện Cơ mật Thượng thư bộ Hình Bùi Bằng Đoàn, đồ đoàn gia sản chỉ có một va ly một cặp sách? Nói đúng hơn còn có một thứ mà cụ Thượng thư rất quý. Đó là cặp bình sứ Khang Hy. Chả phải ai biếu xén gì mà là những đồng bạc ít ỏi trích ra từ mỗi tháng lương.


5 vị Thượng thư cuối triều Nguyễn. Từ trái sang, Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản (Thượng thư bộ Hộ, bộ Công, bộ Lại sau này theo kháng chiến là Chủ tịch Mặt trận Liên Việt Khu Bốn), Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn


Theo lời dặn của cha, con gái cụ (theo cha vô Huế được cha cho đi học cũng lo chuyện cơm nước kiêm quản gia) mỗi tháng phải trích ra một ít và phải nhiều năm mới tích cóp dồn đủ tiền để thửa đôi bình sứ ấy. Cụ Thượng rất quý bầy luôn ở phòng ở coi như bạn tri kỷ. Quý thế nhưng đường ra Bắc diệu vợi kích rích, cụ đành rứt ruột nhượng lại cho một nhà buôn!


Ông cụ chỉ hoàn toàn trông vào lương. Tất nhiên lương của vị Thượng thư Bộ Hình khá cao (ông Bùi Nghĩa cho biết là 450 đồng bạc Đông Dương/tháng. Lương hạng lục phẩm chỉ 9 đồng/tháng. Lính lệ 6 đồng/tháng) Nhưng ngoài lương, cụ Bùi tuyệt nhiên không ngóng và lánh xa những bổng, lộc! Cụ giao cho cô con gái Bùi Bội An việc quản lý tài chính. Cô Bội An chia tiền lương  hàng tháng của cha vào mười mấy cái phong bì. Cái nào chi dùng cho việc nhà, việc họ. Phong bao nào chi dùng cho việc trợ cấp tiền học của con cháu thân thích trong nhà. Cái ơn cưu mang bát cơm Phiếu Mẫu những ngày gian khó thuở ấu thơ mà ông chú họ Dương Lâm đùm bọc mấy anh em bồ côi bồ cút tự bao giờ đã thành nếp thương nếp đẹp với ba anh em Tam Bằng Hà Đông . Rồi Cụ Thượng cũng không quên việc dặn con gái điều chỉnh sao đó để dành dụm sắm được đôi bình sứ Khang Hy?


 


Chúng ta thử giãi mã tâm sự của cụ Bùi về đôi cái lọ Khang Hy mà cụ bao lâu ao ước là phải sắm cho được? Nhất chữ, nhì tranh, tam sành, tứ mộc. Đầu tiên là chữ (thư pháp, hoành phi câu đối…) kế đó là tranh ( thủy mạc các danh họa mà chủ yếu của Trung Hoa) sau nữa là đồ cổ, bình, lọ,  chén. bát kiểu… Cuối mới là cây cảnh, những kỳ hoa dị thảo. Ấy là bốn thứ chơi tao nhã của các bậc phong lưu. Cụ Bùi tính khí khiêm nhường đâu tự xếp mình vào hạng bực phong lưu? Nhưng dù gì cụ cũng có chút vướng, cũng ít nhiều thường trực cái năng khiếu cái thẩm mỹ giời cho ấy. Thế hệ ta hẳn sẽ tò mò xiết bao về đôi lọ Khang Hy ấy cứ cho là vưu vật đi.


 


Thứ sành ấy thuộc loại nào? Mặt bình, lọ ấy tráng lớp men gì? Hoặc vẽ tích chi? Họa đã vậy,  ắt phải có thi? Chữ gì, thơ gì trên lớp men Tàu kỳ ảo ấy? Bởi các nghệ nhân nghệ sĩ Trung Hoa thường ký thác trên mặt sứ những giá trị chân thiện mỹ nào đó mà một khi, chỉ có mục sở thị mới mang lại những hiệu ứng bất ngờ, chính xác?  Và còn điều chi bí ẩn như vô ngôn trên đôi lọ đã từng hút hồn vị Thượng thư ấy? Đọc được phần nào,  được chút nào cũng là việc mon men giải mã được phần nào những bí ẩn tinh thần của vị Thượng thư họ Bùi vậy?


 


Chuyện cùng ông Bùi Nghĩa rất đỗi ngạc nhiên vì biết thêm cụ Bùi rất nghiêm trong việc dạy dỗ con cái.  Mà hình phạt nặng nhất là roi. Lẩn mẩn nghĩ cũng lạ,  ngày trước các cụ ít khi dùng roi mây roi tre có lẽ vì hai vật ấy gây đau mà dùng roi dâu. Cái thứ roi bằng thân, bằng nhánh cây dâu nghe đâu nó khắc tinh được những điều xấu ác? Như cái roi dâu của cụ Bùi qua chất giọng bồi hồi của người thứ nam Bùi Nghĩa.


 


Một hôm tôi không rõ vì cái gì trong việc quản lý tiền nong bác Bội An tôi bị cụ nọc ra đét cho ba roi dâu. Mặc dù cụ rất thương quý cô con gái có công lớn thay mẹ lo liệu việc nội trợ chu đáo cho cha và em trong những ngày ở đất thần kinh. Cụ nói cái roi dâu ấy là roi gia pháp!


 


Chiếc roi gia pháp ấy không chỉ dùng với con cái…


Lần ấy tôi không còn nhớ rõ là chẳng rõ ông cụ tôi có chuyện gì? Mà chắc là gặp việc nghiêm trọng. Cụ bác cả tôi cụ Bùi Bằng Phấn đáp xe lửa từ Hà Nội vào. Hai cụ dáng ngồi nghiêm cẩn ôn tồn nhỏ nhẹ…


 


Và có lẽ đã biết lỗi của mình ông cụ tôi bất ngờ nhưng lẳng lặng lấy ra chiếc roi dâu thường dạy con cái trong nhà ra. Rồi cụ cũng lẳng lặng sấp người trên sập đợi ông anh… Xong ba lần roi gia pháp  quyền huynh thế phụ ấy,  người bác cả của tôi đã lẳng lặng ra ga trở về Hà thành ngay sau đó…


Thời thế biến chuyển rất nhanh với sự kiện Nhật đảo chính Pháp. Thượng thư Bùi Bằng Đoàn đã ký vào cả hai bản Lời tuyên bố Việt Nam độc lập của Bảo Đại ngày 11/3/1945 và Tờ phiếu xin từ chức của toàn thể Cơ Mật viện  ngày 19/3/1945.


Sau sự kiện đó, vua Bảo Đại yêu cầu  cụ Bùi ra Hà Nội nhận chức Chanh nhất tòa Thượng thẩm đang khuyết. Chức vụ này từ trước chỉ toàn người Pháp nắm.


Lý giải về quyết định này, người con trai Bùi Nghĩa đã có những nhận định khá xác đáng.


Ông cụ nghĩ dù dưới chính thể nào xóa bỏ được nền quân chủ càng thuận tiện khi quản lý xã hội phải bằng pháp luật. Hướng tới việc tách riêng các quyền lực hành chính và tư pháp, mọi nỗ lực và hy vọng của cụ được đặt vào mục tiêu đó. Nhận yêu cầu của nhà vua là ông cụ tự nghĩ đã tách được mình khỏi quyền lực hành chính chỉ làm công việc chuyên môn tư pháp.


Một ngày hè tháng 5 năm 1945, ba cha con cụ Bùi (con gái là Bội An và  con trai Bùi Nghĩa) ra ga Huế trở về Bắc. Cả nhà đến thẳng ngôi nhà số 8 phố Beauchamp (nay là phố Lê Thái Tổ) là chỗ ở. Còn Văn phòng Chánh nhất Thượng thẩm đặt tại Trụ sở Tối cao Pháp viện (Tòa án nhân dân tối cao đường Lý Thường Kiệt hiện nay)


Vua Bảo Đại giành cho ông cụ tôi tòa biệt thự này. Mấy bố con đi xe tay tới nhận nhà. Ngôi biệt thự bên cạnh Hồ Gươm thênh thang. Nhà rất to. Vườn rất rộng. Ông cụ tôi chỉ có một va ly, một cặp sách. Bảy tám căn phòng trống trơn. Tôi thấy cô đơn quá.


Cũng tại căn biệt thự số 8 Beauchamps, cụ Bùi đã trực tiếp chứng kiến những ngày tháng Tám trời long đất lở của quần chúng Hà Nội dưới sự lãnh đạo của Việt Minh.


Một bằng chứng cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trù liệu, từ lâu đã nhắm đến vị nhân sĩ tài danh thượng thư Triều Nguyễn Bùi Bằng Đoàn. Trong Lễ tuyên ngôn Độc lập chiều mồng 2/9 tại Quảng trường Ba Đình, Cụ đã cho mời cụ Bùi đến dự. Tất nhiên trước đó, Cụ Bùi từng có thiện cảm với Việt Minh. Từ khi ở Huế và ngay tại Hà Nội, cụ có các hoạt động kín như tham gia vào Hội cứu trợ thanh niên học sinh yêu nước bị phát xít Nhật truy xét vì những hoạt động yêu nước. Sau thời điểm đó, cụ Bùi đã trở về quê nhà Liên Bạt theo sở nguyện chỉ muốn về quê làm ruộng trông coi từ đường dòng họ.


Nhưng cụ đâu đã được an trí. Chỉ ít bữa của một ngày thu những phái viên của cụ Chủ tịch Hồ Chí Minh theo lệnh Cụ Hồ đã về Liên Bạt mời cụ Bùi ra gánh việc nước!


(Còn nữa)



Chuyện cụ Bùi Bằng Ðoàn: Mười hai năm ở Huế


Tiền phong 03/10/2019 05:49


 - Dưới đây là bài báo in trên tờ INDOCHINE (Ðông Dương) số 40 xuất bản năm 1933. Bài báo có in kèm ảnh Thượng thư bộ Hình Bùi Bằng Ðoàn.


Ông Bùi Nghĩa tại con đường ở Thành phố Hồ Chí Minh mang tên Bùi Bằng Ðoàn


Sau khi về nước ít ngày Hoàng đế Bảo Đại ra một đạo dụ. Đạo dụ của Triều đình ngày 10/9/1932 công bố ý chỉ của nhà vua Pháp điển xứ An Nam với những luật lệ và tòa án hiện đại. Bộ Tư pháp với quyền hạn nhiệm vụ được ghi rõ trong Đạo dụ ấy từ ngày 2/5/1933 được ủy thác cho ngài Bùi Bằng Đoàn nguyên Tuần phủ và Chánh án Tòa án tỉnh ở Bắc Kỳ nổi tiếng về kinh nghiệm và thanh liêm. Ông là người rất đúng tầm của nhiệm vụ.


Phải nói thêm để có thể hoàn chỉnh tiểu sử ngắn gọn về ngài Bùi Bằng Đoàn. Ngài được hưởng Hiệp sĩ Bắc đẩu Bội tinh. Long Bội tinh. Nông nghiệp công trạng Bội tinh. Huyền kim bội tinh xứ Bê nanh. Vạn tượng bội tinh. Đệ nhất đẳng kim khánh. Đệ nhất đẳng kim tiền.


Người mà Hoàng đế Bảo Đại cử làm Thượng thư Bộ Tư pháp là  như vậy. Từ ngày 2/5/1933 Bộ này mang một khuôn mặt mới. Bắt tay vào sự nghiệp, ngài Bùi Bằng Đoàn nghiên cứu hồ sơ nắm bắt thông tin thanh tra các tỉnh và mau chóng đưa ra chương trình hành động của Bộ mình. Với sự thúc đẩy sáng suốt, tài năng và tinh thông của vị thượng quan này, việc cải cách hệ thống pháp luật được tiến hành vững chắc và có phương pháp đạt được hiệu quả thực tế được mọi người ca tụng.



Nếu được phép so sánh, chúng ta sẽ nói việc cải cách tư pháp ở Bắc Kỳ bắt đầu từ năm 1917 thì ngành Tòa án Nam triều trong tám năm sau này có những cải tiến rõ ràng và nhanh chóng…



Để tôn vinh đặc biệt vị Thượng thư này người đại khiêm tốn đại kiệm lời thì phải nói ông đúng là một con người và nhà lãnh đạo đúng trong tất cả ý nghĩa của từ đó. Con người có một lý tưởng cao cả thầm lặng…


(Hết trích)


 


Bảy tuổi mất mẹ. Tám tuổi mất cha. Lớn lên trong sự đùm bọc của anh em chú bác họ hàng. Mấy anh em chỉ có con đường học, thi để lập thân. Khóa thi Hương năm Bính Ngọ (1906) trường Nam thi lẫn với trường Hà, 17 tuổi chàng trai Bùi Bằng Đoàn cùng hai người anh ruột, Bùi Bằng Phấn (cả) Bùi Bằng Thuận (thứ hai) ứng thí tại trường thi Hà Nam. Bùi Bằng Đoàn đậu cử nhân cùng người anh hai. Còn người anh cả đậu tú tài. Chẳng hay cái tên lót Bằng ấy ai ban ai đặt cho ba anh em? Bằng là giống chim bằng. Giống linh điểu mắt dõi xa ngàn thước bay bổng cao hàng chục trượng. Sau khoa thi ấy cái tên tam bằng Hà Đông xuất hiện để trỏ, chỉ vào nhà họ Bùi. Tên ấy của giới khoa cử của dân chúng gọi một cách tự phát.


 


Bây giờ trong niên biểu trong lý lịch của vị Thượng thư bộ Hình của vị Chủ tịch Quốc hội khóa đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi năm sinh của cụ Bùi là 1889. Nhưng kỳ thực là năm 1886 vì chàng cử nhân Bùi Bằng Đoàn đã phải khai tăng lên 3 tuổi để kịp vào Trường Hậu bổ ngay năm sau theo quy định. Bốn năm miệt mài đèn sách, chàng giật ngôi thủ khoa Trường Hậu bổ. Năm 1911, ông quan trẻ Bùi Bằng Đoàn bắt đầu bước vào đường hoạn lộ được bổ nhiệm làm Tri huyện tập sự ở huyện Nghĩa Hưng Nam Định. Nghĩa Hưng là vùng đất thiêng đất lành. Người cha Bùi Tập năm xưa đã từng làm tri huyện ở đây. Lần lượt Bùi Bằng Đoàn hanh thông các chức. Tri huyện Phú Thọ, Thái Nguyên, Hưng Yên, Bắc Ninh rồi tri phủ của hai huyện thuộc Nam Định. Việc khởi xướng và hoàn tất công trình đê ngặn mặn Bạch Long, dân chúng phủ Xuân Trường đã ghi ơn bằng cách cử hành lễ tế sống vị tri phủ khi đó mới chưa đến ba mươi tuổi!


Cụ Bùi Bằng Ðoàn (Ảnh chụp tại Huế năm 1942)


Từ ngạch huyện phủ lên quan tỉnh. Sáu năm lần lượt các vị thế những Án sát, Chánh án, Bố chánh, Tuần phủ qua 5 tỉnh những Cao Bằng, Lạng Sơn, Phúc Yên, Bắc Ninh, Ninh Bình. Một sự kiện khi đang trị nhậm ở xứ Lạng tháng Giêng năm 1928, Thống sứ Bắc Kỳ đã điều biệt phái vị Án sát 39 tuổi Bùi Bằng Đoàn vào Nam bộ thanh tra các đồn điền cao su. Gọi là sự kiện bởi lần đầu một vị quan An Nam được điều đi thanh tra những ông chủ đồn điền người Pháp!


Sau 22 năm trải các vai quan chức tại các địa phương, vào tuổi bốn mươi, Bùi Bằng Đoàn được điều vào Huế giao trọng trách đứng đầu bộ Hình Thượng thư rồi sung vào Cơ mật viện.


 


Ông Bùi Nghĩa kể rằng, Triều đình thời đó có 2 Bộ quan trọng nếu ham giàu thì xoay tiền rất dễ. Đó là bộ Lại, việc chạy quan. Ở Bộ Hình thì chạy tội. Ngay cả thời gian làm quan ở địa phương mỗi khi tới huyện, phủ hay tỉnh nào nhậm chức bao giờ chức dịch dưới quyền hay khách danh vọng sở tại cũng đến chào ra mắt thường lỉnh kỉnh những quà cáp. Ông cụ tôi đều ân cần tiếp đón nhưng tuyệt đối không nhận lễ vật và còn căn dặn chúng tôi lỡ có vắng cha ở nhà cũng không được nhận. Hầu như trong suốt thời gian làm quan ở các tỉnh cũng như vô Huế ông cụ không mang theo phu nhân không có cồng bà trông nom cổng hậu. Bà cụ tôi vẫn ở quê nhà trông nom vườn tược từ đường. Chỉ có chị em chúng tôi theo cha đi để ăn học.


Vẫn chuyện ông Bùi Nghĩa.


Có lần ở Huế một người được Tòa án xử thắng kiện đến thăm có ý tạ cụ Thượng đem quà biếu là một bộ đồ ăn đựng trong hộp. Hôm đó ông cụ tôi vắng nhà họ gửi lại cái hộp. Chị tôi nghe vậy để đấy nhưng không giở ra xem. Khi về mở ra thấy bộ đồ ăn Tây gồm dao thìa nĩa bằng bạc rất đắt tiền ông cụ tôi bắt chị tôi mang trả lại ngay. Cụ tôi nói các quan tòa của Cậu xử không thiên vị mà người ta thắng. Đó là kết quả công minh của pháp luật chứ không phải sự gia ân của Cậu hay của một ai.


Người kéo xe cho cụ tôi được phong Cửu phẩm mang quà đến cám ơn và nói để Cụ mừng cho con. Quà là một bịch chôm chôm tươi ngon. Cụ tôi rút ra một nhánh nói là phần tôi thế này là đủ còn thầy đem xuống đội chia cho anh em được dịp chung vui.


 


Có người bạn vong niên là cụ Phan Điện. Phan Điện vừa là thầy học vừa là chỗ giao du thân gần của cụ Bùi. Cụ Phan Điện thân sinh của những Phan Mỹ, Phan Anh sau này đều là những yếu nhân của cách mạng. Cụ Bùi rất quý tính tiết tháo cương trực lại pha chút hài hước của vị nhân sĩ quê ở làng Tùng Ảnh huyện Đức Thọ. Có hôm cụ Phan Điện tới chơi đi chân đất từ cổng. Còn dép thì cắp vào nách. Cụ tôi cười sao thầy lại làm vậy? Cụ cười, quan cứ tưởng nhà quan sạch đấy hẳn? Luôn răn trò đương ở chức Thượng thư từ những chuyện nhỏ như vậy!


(Còn nữa)


Chuyện cụ Bùi Bằng Đoàn: Trưởng Ban thanh tra đặc biệt


TP 02/10/2019 06:41


- Ngày 23/11/1945, Hồ Chủ tịch đã ký ban bố sắc lệnh (SL) thành lập Ban thanh tra đặc biệt (BTTĐB).


 


Cụ Hồ ( giữa) Cụ Bùi ( trái) và Linh mục Phạm Bá Trực trong một buổi họp Hội đồng chính phủ


Sắc lệnh có tám điều. Xin trích.


 BTTĐB có toàn quyền nhận các đơn từ khiếu nại của nhân dân. Điều tra hỏi chứng, xem xét tài liệu của các UBND hoặc cơ quan của chính phủ cần thiết cho công việc giám sát. Đình chỉ bắt giam bất cứ nhân viên nào trong UBND hay Chính phủ đã phạm lỗi trước khi mang ra Hội đồng Chính phủ hay Tòa án đặc biệt xét xử.



Thiết lập ngay tại Hà Nội một Tòa án đặc biệt để xử những nhân viên của các UBND hay cơ quan của chính phủ do Ban TTĐB truy tố.



Tòa án đặc biệt có toàn quyền quyết định án. Có thể tuyên án tử hình.


Những án tuyên có thể thi hành trong 48 giờ.



Có 3 chữ ký. Sau chữ ký của Hồ Chí Minh có chữ ký của các ông Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Nội vụ và ông Bộ trưởng Tư pháp, Vũ Ngọc Khánh.


Mấy điều trích trong SL đã bật lên  vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ quyền hạn cùng tầm quan trọng đặc biệt của BTTĐB đối với việc giám sát hoạt động của các cơ quan hành chính các cấp, đặc biệt là các cơ quan trực thuộc Chính phủ và UBHC trực thuộc T.Ư.


Thời điểm ấy chính quyền cách mạng non trẻ, cán bộ không thiếu những người nhiệt tình hăng hái nhưng do trình độ và cả thói cửa quyền, tệ tham nhũng tiếm công vi tư. Lại nữa, trong quá trình trấn áp bọn phản cách mạng và các phần tử phá hoại đã có không ít những việc làm sai trái, bắt bớ, xử lý không đúng người đúng tội, thiếu chứng cứ, gây lo lắng hoang mang cho xã hội. Một số nơi, dân đã phải gửi thư kêu xin lên Hồ Chủ tịch và các cơ quan nhà nước. Trong tình hình đó, muốn củng cố chính quyền cần có cơ quan thanh tra minh bạch ngăn chặn những việc làm sai trái của người thừa hành.


Khá ngạc nhiên, chức năng nhiệm vụ bộn bề khó khăn là thế nhưng Ban Thanh tra đặc biệt này nhân sự chỉ mỗi cụ Bùi và một người trẻ tuổi làm thành viên đồng thời cũng là phó ban, nhà thơ Cù Huy Cận. Tuổi lúc đó mới tròn… 26!


Nhưng Cụ Hồ đã trù liệu sâu xa.


Về sự kiện đó, nhà thơ Huy Cận mãi những năm sau này đã bộc bạch trong đó có người viết bài này rằng, khi ấy nhà thơ lo quá. Làm Bộ trưởng Bộ Canh nông thấy đã quá sức lại đeo chức Phó Ban Thanh tra đặc biệt! Sợ mình không làm tròn nhiệm vụ đã đem lo lắng thắc mắc ấy bạo dạn hỏi Cụ Hồ  thì Cụ ôn tồn:


Ban TTĐB không cần nhiều người, lúc này hai người là đủ. Một vị cao tuổi là vị quan có tiếng liêm khiết của triều đình cũ. Một thanh niên hăng hái mà người trong nước cũng biết tiếng là chú! Người già người trẻ dựa vào nhau mà làm việc, nhất định việc thanh tra sẽ làm tốt và cần làm ngay!...


Với chức danh Trưởng Ban TTĐB cho chế độ mới và đây là lần thứ hai, cụ Bùi can dự vào việc thanh tra. Lần thứ nhất, năm 1928 khi đang làm Án sát Lạng Sơn, cụ Bùi được Thống sứ Bắc Kỳ cử biệt phái bên cạnh viên thanh tra  lao động ở Nam Kỳ trong các chuyến thị sát những đồn điền có sử dụng nhân công Bắc Kỳ. Đây là một việc vô tiền khoáng hậu bởi luật lệ của nhà nước bảo hộ không có chuyện một viên quan người bản xứ được đi thanh tra công việc của người Pháp. Nhưng kết thúc công việc, cụ Bùi được đánh giá rất cao về trình độ phẩm chất nghề nghiệp. Cả những mưu toan bày đặt để hãm hại viên thanh tra bản xứ Bùi Bằng Đoàn cũng thất bại!


Căn cứ vào những tài liệu còn lưu lại trong chính sử, Cụ Hồ đã tự tay viết  sự vụ lênh giấy giới thiệu rõ ràng đầy đủ họ tên hai cán bộ thanh tra trong đoàn bằng hai văn bản. Bằng chữ quốc ngữ và chữ Hán rồi áp triện.


Theo quy định của SL, Trưởng ban TTĐB Bùi Bằng Đoàn có quyền triền trảm hậu tấu, có quyền thi hành kỷ luật ngay tại nơi xảy ra vụ việc rồi mới báo cáo về cấp có thẩm quyền. Việc cho cụ Bùi cái quyền đặc biệt vượt cả quyền hạn của Tòa án là quyết định quả cảm sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh thế nước lung lay, thù trong giặc ngoài, biểu thị lòng tin mãnh liệt vào người được giao trọng trách.


Sắc lệnh thành lập Ban thanh tra đặc biệt


Chợt nhớ câu nhất ty phù cửu đỉnh. Phù là giúp. Cửu đỉnh là chín cái vạc đồng. Cửu đỉnh là báu vật biểu tượng Quốc bảo của quốc gia.


Đợt công tác đầu tiên là thị xã Hà Nam. Nơi có nhiều người dân bị bắt gửi thư kêu oan. Với tác phong chu đáo cẩn trọng, thầy trò cụ Bùi đã nhẫn nại thẩm tra kỹ càng. Sau đó mới làm việc với Tỉnh ủy Hà Nam. Kết thúc đợt thanh tra đã quyết  định trả tự do cho 20 người trong số 60 người bị giam giữ.


Tháng 2/1946, một vị chủ tịch tỉnh ở đồng bằng Bắc bộ bị dân tố có nhiều sai phạm. Hai thầy trò lại công phu điều tra. Trước những chứng cớ hiển nhiên, vị quan đầu tỉnh nọ đã phải thừa nhận những tội lỗi cùng khuyết điểm. Cụ Bùi quyết định bãi chức chủ tịch UBHC của vị chủ tịch nọ với hình thức đương sự viết đơn xin từ chức.


Tháng 6/1946, hai thầy trò đến tỉnh X. để giải quyết vụ việc một số cán bộ lãnh đạo có hành động lợi dụng quyền lực để ức hiếp quần chúng, trù dập cán bộ dưới quyền.


 Không chỉ có việc trảm tướng, qua thực tế thanh tra cụ Bùi vị Trưởng Ban thanh tra đặc biệt đã  nhanh nhạy kịp thời kiến nghị cụ Hồ cho thành lập các Ban thanh tra ở các Bộ và các vùng miền (địa phương) để hoạt động thanh tra đều khắp kịp thời chấn chỉnh những bất cập trong việc quản trị đất nước.


 Cụ Bùi đã cố vấn cho Cụ Hồ để  Sắc lệnh bảo vệ tự do cá nhân ra đời (Hồ Chủ tịch ký ngày 28/3/1946). SL quy định cụ thể những việc bắt người, việc giam cứu, nơi giam cứu, cấm tra tấn để lấy cung… Đây là lần đầu tiên quyền tự do thân thể của công dân Việt Nam được pháp luật bảo vệ. Công của cụ Bùi quả thật lớn.


Cuối năm 1946, Cụ Tôn Đức Thắng thay cụ Bùi đảm nhận chức Trưởng BTTĐB. Cụ Bùi gánh chức Trưởng Ban thường trực QH thay cụ Nguyễn Văn Tố đi nhận việc mới.


Hơn 70 năm đã qua đi mà tính thời sự của BTTĐB do cụ Bùi đảm trách dường như vẫn chưa mờ nhòe tính thời sự.


(Còn nữa)


Chuyện cụ Bùi Bằng Đoàn: Liên tài, liên tình


TP 02/10/2019 19:14


 - Tôi may mắn được hai vị giúp cho nhiều tư liệu để chắp nối chuyện nhà cụ Bùi. Người thứ nhất là anh Bùi Văn Ngợi, nguyên Giám đốc NXB Thanh Niên. Hiện anh đang làm cuốn sách về cụ Đoàn trên cơ sở cuốn cũ xuất bản 13 năm trước, nay sửa chữa, bổ sung nhiều điều.


Ông Bùi Nghĩa tại Hội thảo khoa học quốc gia Cụ Bùi Bằng Đoàn với Cách mạng Việt Nam (9/2019)


Từng là GĐ một nhà xuất bản lớn nên anh Ngợi rất chỉn chu cẩn trọng, nhất về mặt tư liệu. Lại là Phó ban dòng tộc Họ Bùi Việt Nam nên ngoài việc chung dòng họ, việc riêng của họ Bùi ở Liên Bạt, anh khá tường.


Người thứ hai là ông Bùi Nghĩa, con út cụ Bùi Bằng Đoàn. Ông Nghĩa năm nay đã cửu thập nhưng còn nhúc nhắc đi lại được và khá mẫn tiệp.


Cái tình của cụ Hồ với cụ Bùi có thể nói là hy hữu. Nói như tiền nhân là liên tài lẫn liên tình!


Đang nói đoạn cụ Bùi dưỡng bệnh mấy tháng ở Bài Lâm cuối năm 1948.


Sang năm 1949, giặc Pháp lấn chiếm hoàn toàn khu vực Vân Đình nên ở Bài Lâm không an toàn nữa.


Theo lệnh Cụ Hồ, cụ Bùi được chuyển vào vùng tự do Thanh Hóa.


Vẫn trung đội cảnh vệ khi đi thuyền, khi võng cáng, một lộ trình dằng dặc gian nan từ Mỹ Đức vào đến tận làng Hậu Hiền thuộc xã Thiệu Tân, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Hậu Hiền cách Rừng Thông hơn 10 km. Rừng Thông là nơi hội tụ của dân tản cư Hà Nội và Khu Ba. Được mấy tháng để giữ bí mật, lại phải di chuyển đến xã Xuân Thọ của huyện Triệu Sơn.


Tuy là vùng tự do nhưng điều kiện chữa trị cũng không khá hơn. Việc tiếp tế thuốc men từ Hà Nội vào chậm. Bệnh tình cụ Bùi có cơ không thuyên giảm mấy.


 


Dịp Lễ trọng 130 năm sinh cụ Bùi, tôi được tiếp cận với một tài liệu. Đó là bản sao bức thư đánh máy. (Tài liệu ấy hiện đương lưu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia) Tác giả bức thư là ông Trần Đăng Ninh, phái viên Chính phủ.


Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm thứ 4


Độc Lập Tự Do Hạnh phúc.


Ngày 20-6-1949


Kính Cụ Chủ tịch


 Ngày 25 tháng 6 vừa qua, tôi có tới thăm cụ Nhì (có lẽ là mật danh khi ấy của cụ Bùi Bằng Đoàn?- XB) nhà mới chuyển đến chỗ  rộng rãi, thoáng mát nằm trong một trại nhỏ phi cơ địch ít chú ý. Hai người con gái và con trai đang ở cùng với cụ. Có một đồng chí của Khu Ba và mấy cảnh vệ đi theo chăm sóc.


Bút tích thư cụ Bùi gửi cụ Hồ


Cụ có khá hơn năm ngoái nhiều. Béo và trắng ra. Không lẫn. Nói hơi ngọng. Thỉnh thoảng quên chữ. Tay phải vẫn bị co. Ngón út đã cử động được. Ăn ngủ ngày hai bữa. Mỗi bữa được 3 lưng. Vẫn phải có người đỡ ngồi lên và lúc nằm.


 Cụ Nhì băn khoăn khi được biết Cụ Hồ phải ngủ bên bờ suối bữa Cụ tới thăm cụ Nhì. Nghe chuyện ông Vĩnh Thụy (Bảo Đại- XB) cụ Nhì thở dài. Anh em phải lảng sang chuyện khác vì sợ cụ Nhì xúc động. Tóm lại tinh thần cụ rất khá. Bệnh giảm nhiều nhưng khó lòng khỏi được.


Cụ Nhì thổ lộ can tràng rằng Cụ Hồ tài lắm. Nói chuyện như người thường. Người nào tinh ý mới nhận ra sự sâu sắc của Cụ Hồ. Cụ như tính trước được các việc vậy…


Theo lời Cụ dặn, tôi có gửi trình cụ thư của 2 đồng bào nội thành dâng Cụ bộ quần áo lụa trắng và một bút chì 5 mầu (porte- mines) Bộ quần áo thì biếu cụ Nhì. Còn cái bút chì khi chuyển chắc có anh em thử và nghịch nên bị hỏng nên không đưa biếu cụ Nhì nữa. Khi dâng cụ Nhì bộ quần áo lụa trắng của đồng bào nội thành dâng biếu Cụ Hồ nay Cụ Hồ tặng lại cụ Nhì, cụ Nhì cảm động quá khóc một hồi rồi mếu máo, Cụ Hồ tốt quá lúc nào cũng nhớ đến tôi mà tôi chả giúp được gì Cụ cả.


Một bức thư viết tay. Chữ của cụ Bùi. Xin trích ít dòng.


Tôi tuy ốm nhưng lúc nào cũng thông chính sách của chính phủ dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Cụ.


Sức khỏe tôi vẫn bình thường. Hiện bác sĩ đang tiêm thuốc. Thỉnh thoảng có người ở Việt Bắc về nói chuyện sức khỏe của Cụ tăng tiến nhiều tôi rất lấy làm mừng rỡ.


Kính thư


Bùi Bằng Đoàn


Có đoạn tái bút của cụ Bùi.


Chữ ký do tay run nên ký lấy được. Mong Cụ tha lỗi cho.


Tiếp quản Thủ đô. Tháng 11/1954, cụ Bùi từ Thanh Hóa về Hà Nội. Khỏi nói sự hân hoan của Cụ Hồ khi gặp lại cụ Bùi qua bao năm trùng phùng, xa cách. Chính phủ giành cho cụ mọi điều kiện chữa trị tốt nhất. Theo chỉ thị của Cụ Hồ, cụ Bùi và gia đình được bố trí tại biệt thự số 10 Trần Hưng Đạo yên tĩnh, gần các bệnh viện, thuận tiện cho việc chữa trị.


Cụ Hồ thường xuyên đến thăm cụ Bùi. Cụ Hồ không hẹn trước chỉ báo qua điện thoại vài tiếng, Cụ Hồ đi com măng ca Liên Xô, không dùng xe chuyên dụng. Có nhiều bữa, cụ Bùi lưu cụ Hồ lại chuyện đến khuya.


Cụ Bùi luôn giục những người thân ý định về thăm quê Liên Bạt để gặp lại cụ bà và bà con làng nước. Nghe vậy ai cũng phải bùi ngùi quay đi và nói lảng là đợi cụ bình phục hẳn đã! Ai cũng biết chuyện cụ bà bị Pháp bắn chết 7 năm nay, nhưng ai dám đảm bảo khi phải đón tin dữ này cụ Bùi vẫn an lành, không hề hấn gì?


Có lẽ một khi cụ đã quyết khó lòng cản được. Xe và cáng đưa cụ về lại làng Chùa thân yêu.


Bà đâu rồi? Nước mắt của con cháu đã thay những lời đau đớn.


Cụ Bùi sụp xuống ngay chỗ hiên từng thấm máu người hiền -thê- liệt- nữ của mình (chữ của nhà văn Sơn Tùng).


Ngơ ngác lặng lẽ. Một hồi lâu sau cụ nói cho cụ lên võng cáng.  Theo hướng dẫn của cụ, lần lượt con cháu dâng hương các ban thờ. Cụ ngồi lặng trên cáng kính cẩn lẩm nhẩm khấn vái. Nước mắt vị Thượng thư già giàn trên cặp má nhăn nheo.


Những ngày tận xuân sơ hạ Ất Mùi (1955) chỉ sau ít ngày về cố hương Liên Bạt, tin dữ khiến cụ bị sốc hay thời tiết đang chuyển mùa? Rồi một đêm, cụ Bùi đột ngột chuyển bệnh. Cụ được cấp tốc đưa vào Bệnh viện A, nay là Bệnh viện TƯ Quân đội 108.


Hơn mười ngày cụ Bùi lâm bạo bệnh có đến mấy lần cụ Hồ tới bên giường bệnh vấn an.


Hồi 3 giờ 30 phút ngày 13/4/1955, cụ Bùi trút hơi thở cuối cùng.


Ba giờ sau, trời chưa sáng rõ, Cụ Hồ đã đến bệnh viện. Cụ đến thẳng phòng bệnh. Bên giường cụ Bùi, Cụ Hồ đứng lặng hồi lâu, rút khăn tay thấm nước mắt…


Ít phút sau, Cụ sang phòng bác sĩ trực và nói với Phó Thủ tướng Phạm Hùng cái nguyện vọng cụ Bùi lúc sinh thời rằng, cụ Bùi là người rất gắn bó với quê hương bản quán nên lễ tang cụ sẽ được tổ chức ở Liên Bạt. Cụ còn dặn thêm, trời bắt đầu nóng không nên tổ chức kéo dài, cái chính là trọng thể, chu đáo.


Tận bây giờ, cụ vẫn nằm tại nghĩa trang chung của xã Liên Bạt, không có khu mộ riêng xây cất gì to lớn.


Như thể cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề (chữ của Nguyễn Du)


Xuân Ba



Giải mã thêm cái tình Cụ Hồ với Cụ Bùi


Tiết trọng thu Hà thành, tiếp được cái giấy mời do nhà báo Bùi Văn Ngợi, nguyên GĐ NXB Thanh niên, hiện là Phó Ban liên lạc họ Bùi Việt Nam mời đến dự một lễ trọng. Đó là Lễ kỷ niệm 130 năm ngày sinh Trưởng Ban thường trực Quốc hội (Chủ tịch QH) Bùi Bằng Đoàn tại Cung văn hóa hữu nghị Việt Xô.


Bồi hồi giở lại sử những ngày đầu dân quốc ấy.


… Phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 14/11/1945, Hồ Chủ tịch trịnh trọng tuyên bố:


Đất nước ta lúc này cần kiến thiết:


- Kiến thiết ngoại giao. Kiến thiết kinh tế. Kiến thiết quân sự. Kiến thiết giáo dục.


Muốn vậy, phải mời các người tài,đức ra giúp nước nhà. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển, càng thêm nhiều.


Thư Cụ Bùi gửi Cụ Hồ


Hồ Chủ tịch đề nghị Hội đồng Chính phủ cử một Ban cố vấn 10 người cho Chủ tịch nước. Trong đó cụ Hồ trực tiếp đệ trình với Hội đồng Chính phủ 6 vị mà cụ đã nhắm đến. Cụ Bùi Bằng Đoàn, Bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, Giáo sĩ Lê Hữu Từ, Cụ Ngô Tử Hạ, Cụ Bùi Kỷ, Cụ Lê Tại…


Mỗi một thành viên Ban cố vấn, tùy địa vị, hoàn cảnh của từng người mà Hồ Chủ tịch đều có cách mời và ứng xử riêng để họ lần lượt về Bắc Bộ phủ mà ghé vai gánh quốc sự. Nhưng với cụ Bùi Bằng Đoàn vị thượng thư triều Nguyễn cũng hơi bị độc đáo!


Không thể không biên ra đây bức thư với lời lẽ khiêm cung và trân trọng do Chủ tịch Hồ Chí Minh tự tay đánh máy ngày 17-11-1945 gửi cụ Bùi Bằng Đoàn.


Thưa Ngài! Tôi tài đức ít ỏi, mà trách nhiệm nặng nề. Thấy Ngài học vấn cao siêu, kinh nghiệm phong phú. Vậy nên, tôi mời Ngài làm Cố vấn cho tôi, để giúp thêm ý kiến trong công việc hưng lợi, trừ hại cho nước nhà dân tộc. Cảm ơn và chúc Ngài mạnh khỏe. Kính thư. Hồ Chí Minh.


Hồ Chủ tịch trao bức thư 57 chữ ấy cho người tin cẩn (sau này có tờ báo nói người đó là Luật sư Phan Anh?) nói rằng phải trực tiếp về quê nhà cụ Bùi ở Liên Bạt - Ứng Hòa - Hà Đông trao tận tay cụ Bùi khi đó vị thượng thư triều Nguyễn đang an trí tuổi hưu tại quê nhà.


Nhưng người đi mời đã trở về tay không.


Lần thứ hai, vẫn thư ấy, người đi mời là cụ Vũ Đình Hòe, một nhân sĩ cũng danh tiếng. Nhưng vị đại thần họ Bùi cũng thẳng thắn rất cảm ơn thịnh tình của cụ Hồ nhưng cũng từ chối khéo.


Lần thứ 3, cụ Hồ gọi người Bí thư thân tín Vũ Đình Huỳnh. Cụ bộc bạch chắc là còn có điều gì ngoài lý do sức khỏe để cụ Bùi còn lưỡng lự trước một việc trọng đại này? Rồi cụ Hồ trực tiếp trao cho Bí thư Huỳnh một phong thư và ân cần dặn thêm chú yết kiến cụ Bùi và trao tận tay cụ lời tâm tri này của tôi…


Người bí thư thân tín thoáng chút băn khoăn. Cụ Hồ có đánh giá quá… cao cụ Bùi không nhỉ? Ngài học vấn cao siêu… Thoáng nhanh vài biên niên như những dòng lý lịch trích ngang.


Lễ kỷ niệm 130 năm ngày sinh Trưởng Ban thường trực Quốc hội (Chủ tịch QH) Bùi Bằng Đoàn diễn ra sáng 16/9/2019 tại Cung văn hóa hữu nghị Việt Xô, do Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản VN, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước CHXHCNVN, Ủy ban TWMTTQ VN và thành phố Hà Nội tổ chức.


… Khoa thi năm Bính Ngọ 1906, ba anh em Bùi Bằng Phấn, Bùi Bằng Thuận và Bùi Bằng Đoàn đều ứng thí. Bùi Bằng Phấn đỗ tú tài, Bùi Bằng Thuận và Bùi Bằng Đoàn cùng đỗ Cử nhân. Ba anh em được mệnh danh là Hà đông tam bằng.


Bùi Bằng Đoàn thông thạo cả Pháp văn và Hán văn.


Năm Tân Hợi (1911) được bổ làm Tri huyện, sau đó làm Tri phủ Xuân Trường ( Nam Định), Án sát tỉnh Bắc Ninh; Tuần phủ các tỉnh Cao Bằng, Ninh Bình; rồi làm đến Thượng thư bộ Hình của triều đình Huế, hàm Thái tử Thiếu bảo.


Năm 1925, Chính phủ Nam triều cử Bùi Bằng Đoàn vào Nam bộ thanh tra các đồn điền cao su của Pháp. Ông đã tiến hành sự vụ thấu đáo, viết một bản báo cáo dày đến 100 trang bằng tiếng Pháp. Những kiến nghị xác đáng trong báo cáo đã được nhà đương cục chấp nhận, giảm thiểu những chế độ hà khắc đối với công nhân đồn điền cao su thời đó.


Năm 1925, đang làm tri phủ Nghĩa Hưng (tỉnh Nam Định) do thông thạo tiếng Pháp, ông được mời lên Hà Nội làm thông ngôn cho phiên tòa đại hình xử vụ án cụ Phan Bội Châu. Với tính cách cương trực, bênh vực lẽ phải, Bùi Bằng Đoàn đã chuyển tải rõ ràng, trung thực những lời nói, lý lẽ đanh thép của cụ Phan Bội Châu để rồi sau đó tòa án đã không khép được cụ Phan vào án chung thân mà giảm xuống hình thức "an trí ở Huế" v.v…


Một ngày thu, tại tư thất ở quê nhà Liên Bạt, Cụ Bùi Bằng Đoàn tiếp nhận từ tay người Bí thư của Chủ tịch nước phong thư hình chữ nhật, giấy phẩm điều với ba chữ Hán đá thảo, màu huyền: Ký Bùi Công (Gửi cụ Bùi)


Cụ mở phong bì. Trong đó, chỉ vỏn vẹn có bảy chữ thủ bút của cụ Hồ trên giấy hồng điều.


Thu thủy tàn hà thính vũ thanh


(Trong làn nước thu, đám sen tàn nghe tiếng mưa rơi)


Thế là thế nào? Nhưng chỉ một thoáng, nhỡn lực cụ Bùi như bừng sáng sau cặp kính lão!


(Cũng cần nói thêm, từ bấy đến nay hơn bảy chục năm đã qua đi nhưng ngữ nghĩa của bảy chữ ấy đã có kha khá những cắt nghĩa cùng cách hiểu này khác. Có người đã không ngần ngại (ý chừng để tiện và thuận văn cảnh?) từng cao đàm khoát luận rằng, Quan đại thần Bùi Bằng Đoàn đã cao niên đã hưu, đã ở ẩn nhưng nghe lời khuyên ra giúp nước đã hăng hái hưởng ứng! Ví như sen tàn mùa thu nghe tiếng mưa bỗng hồi sinh lại ra hoa vậy!)


Nhưng thông điệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cụ Bùi đã vượt thoát khỏi ngữ nghĩa của bảy chữ ấy.


Với vị cử nhân từng là thượng thư triều Nguyễn học rộng cùng kiến văn uyên bác như cụ Bùi đã bừng ra ý tứ của cụ Hồ! Cụ nhớ ngay đến một tứ tuyệt Túc lạc thị đình… của nhà thơ tài danh thời vãn Đường Lý Thương Ẩn. Lý Thương Ẩn, một trong những nhà thơ lớn nhất của văn học Trung Quốc sống vào đời Vãn Đường. Thông minh học rộng từng đỗ tiến sĩ nhưng đường công danh vô cùng lận đận từng bị o ép giữa các thế lực trong triều.  Tuy vắng một ông quan Lý Thương Ẩn nhưng đã góp cho đời Đường một thi nhân với hàng trăm thi phẩm tài hoa xếp ngang Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Đỗ Phủ.


Trở lại bài thơ Túc Lạc thị đình ký hoài Thôi Ung, Thôi Cổn (Ở Lạc thị đình nhớ Thôi Ung, Thôi Cổn. Ung, Cổn là hai người bạn của Lý Thương Ẩn. Lạc thị đình là ngôi nhà lớn có hoa viên của họ Lạc tại Trường An).


Trúc ổ vô trần thuỷ hạm thanh,


Tương tư điều đệ cách trùng thành.


Thu âm bất tản sương phi vãn,


Lưu đắc khô hà thính vũ thanh.


(Luỹ trúc không vương bụi, mái hiên xanh bên bờ nước,


Nhớ nhau ở chốn xa xôi cách trở thành trì.


Bóng thu râm mát không tan, sương bay hết,


Chỉ còn lại sen tàn khô nghe tiếng mưa)


Điểm nhấn hay điểm nhãn, thần khí của bài thơ là câu cuối.


Tương tư lọ phải là trai gái. Bạn bè tri kỷ hiểu nhau nhớ nhau, tình cảm ấy là vi diệu thiêng liêng. Trong khung cảnh cô tịch của mùa thu, trong nỗi buồn nhớ bạn lặng thấm cái âm thanh tiếng mưa rơi trên đám sen tàn.  Hiệu ứng của cảm giác cô đơn càng thấm thía theo giọt thu thánh thót cùng thảng thốt lúc mau lúc thưa như cung bậc của tiếng lòng nhớ bạn cố tri đang òa vỡ…


Khúc tứ tuyệt của Lý Thương Ẩn khiến cụ Bùi nhận ra rất nhanh sự tinh tế của cụ Hồ. Không một dòng, một lời nhắc đến tác giả cùng bài thơ nhưng cụm từ thính vũ thanh đã nói lên tất cả. Cụ Hồ đã tinh tế thay cụm từ lưu đắc khô hà (chỉ còn lại đám sen tàn) nghe hơi thê lương bằng mấy chữ bình thường không trội nổi lắm cái sự công phạt thu thủy tàn hà (sen tàn trong làn nước thu)


Tôi luôn luôn nhớ nghĩ đến cụ đến phẩm chất tài năng của cụ. Không gặp được cụ, mỗi khi nhớ cụ thì tâm sự của tôi nào khác thi nhân Lý Thương Ẩn từng nhớ bạn như giọt thu rơi trên khóm sen tàn? Cụ ra giúp nước giúp thêm ý kiến trong công việc hưng lợi, trừ hại cho nước nhà dân tộc bây giờ khác lắm cái thời vãn Đường bi thương của ông quan Lý Thương Ẩn!


Phải chăng cụ Bùi đã thoáng nhận ra và lĩnh hội được thông điệp ấy của cụ Hồ?


Và từ cữ thu ấy ra giúp nước, cụ Bùi khi siêng năng cần mẫn và hiệu quả ở cương vị Trưởng ban Thanh tra đặc biệt Chính phủ. Rồi chững chạc ở vị trí đại biểu Quốc hội và hạt nhân khối đoàn kết toàn dân - Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Nhớ thời điểm cụ Bùi Bằng Đoàn làm việc tại chiến khu Việt Bắc. Một bằng chứng của mối thâm giao tri âm tri kỷ giữa cụ Hồ và cụ có lẽ là bài thơ cụ Hồ tặng Cụ Bùi.


Khán thư sơn điểu thê song hãn


Phê trát xuân hoa chiếu nghiễn trì


Tiệp báo tần lai lao dịch mã


Tư công tức cảnh tặng tân thi


 


(Xem sách chim rừng vào cửa đậu


Phê văn hoa núi chiếu nghiên soi


Tin vui thắng trận dồn chân ngựa


Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài


 


 Và bài thơ họa lại của cụ Bùi.


Thiết thạch nhất tâm phù chủng tộc


Giang sơn vạn lý thủ thành trì


Tri công quốc sự vô dư hạ


Thao bút nhưng thành thoái lỗ thi


 


(Sắt đá một lòng vì chủng tộc


Non sông muôn dặm giữ cơ đồ


Biết Người việc nước không hề rảnh


Vung bút thành thơ đuổi giặc thù)


Hai bài thơ tặng và họa lại sau này được coi là mẫu mực của thứ thơ xướng- họa vậy!


Đến đây cũng mở thêm một cái ngoặc. Có người con trai của cụ Bùi một thời làm ở một tờ báo lớn. Người viết bài này đã có thời gian được ông mời làm cộng tác viên. Lần ấy ông đã cho tôi và mấy người bạn viết nữa được xem bản sao bút tích thủ bút của cụ Bùi bài thơ họa ấy. Tiếc thay sau bao biến động, người giữ bức thủ bút ấy đã không còn và bức thủ bút tác phẩm độc đáo của cụ Bùi cũng không biết thất lạc đâu mất? Buổi lễ trọng vừa rồi có dò hỏi người nhà cụ Bùi nhưng không ai biết?


 


Đành mạo muội chép lại bài thơ họa ấy vậy. Mong các bậc cao minh bỏ qua nếu có chi sai sót!


XB


Tienphong.vn


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chữ Tây và chữ Hán, thứ chữ nào hơn? - Cao Xuân Hạo 10.12.2019
Thủy Quân Việt Nam từ cổ chí kim - Tư liệu sưu tầm 10.12.2019
Thủy quân Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX qua các nguồn sử liệu phương Tây -Kỳ 2 - Phạm Văn Thủy 10.12.2019
Cách Việt Nam Cộng hòa thực thi chủ quyền biển đảo - Tư liệu sưu tầm 10.12.2019
Lược sử nền văn minh Champa (kỳ cuối) - Trà Thanh Toàn 10.12.2019
Lược sử nền văn minh Champa (kỳ 2) - Trà Thanh Toàn 10.12.2019
Lược sử nền văn minh Champa (kỳ 1) - Trà Thanh Toàn 10.12.2019
Biển trong văn chương Chăm - Inrasara Phú Trạm 10.12.2019
Những di tích kỳ bí: Tường thành cổ dưới biển - Tư liệu sưu tầm 10.12.2019
Lịch sử Chăm Pa - Tư liệu sưu tầm 10.12.2019
xem thêm »