tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24722863
Tiểu thuyết
13.03.2009
Nguyễn Mộng Giác
Sông Côn mùa lũ

Nhạc cho nghĩa quân ém sẵn ở đám rừng thấp từ khuya, nên tờ mờ sáng, cả đội đã kéo vào làng. Rút kinh nghiệm các lần trước, ông không muốn số trai tráng có thì giờ trốn thoát, hoặc vắng mặt vì đã lên rẫy.


Đây là một làng giàu có, nhờ hoa lợi của dãy nương rẫy bạt ngàn quanh năm tươi xanh những bắp, đậu phộng, đậu xanh và thuốc lá. Nhưng của cải dồn vào dăm ba nóc nhà giàu, số dân ở chòi tranh quần quật quanh năm, mồ hôi và nước mắt chan cơm mà nợ nần chất chồng. Số dân phải bỏ làng ra đi lên cao, trong khi mấy tòa nhà lá mái cứ càng ngày càng khang trang, rộng rãi thêm. Chính nhờ gợi ý của một nghĩa quân tóc đã hoa râm người làng này mà Nhạc quyết định cuộc đột nhập hôm ấy.


Nhạc cho tập họp dân chúng trên một sân phơi thóc rộng, để đích thân giảng giải mục tiêu cuộc khởi nghĩa. Ông không nói nhiều. Bằng lối vấn đáp khôn khéo và linh động, ông chứng minh cho mọi người thấy họ làm nhiều mà sống không xứng đáng với công khó nhọc. Ông đứng ngay giữa sân, và mời dân làng đến đứng quanh ông để nghe cho rõ.


Ban đầu chưa có ai mau mắn đáp lời mời của ông; sau đó là lũ trẻ rắn mắt và những mụ đàn bà ưa ngồi lê đôi mách mon men đến gần ông cả hơn, làm thành một hàng bán nguyệt xốc xếch, nhem nhuốc. Các nghĩa quân đến mời từng người: lại có thêm những người cả nể và những kẻ nhút nhát. Câu chuyện của ông cả tự nhiên, cụ thể, những điều ông nói đơn giản và như chuyện ở trong tầm tay của mọi người, nên số người bị lôi cuốn vào cuộc đông thêm. Lớp bô lão giữ thể diện đứng ở vòng ngoài cùng vừa tránh hơi đủ xa sự thông tục xô bồ vừa núp vào được bóng râm của hàng dừa. Nhạc trỏ một đứa con trai khoảng bảy, tám tuổi, mũi dãi thành hai dòng xuống mép, tóc hoe khét nắng, mặc bính cái quần rách của cha nên lưng quần phải kéo lên quá ngực, và hỏi:


- Cháu tên gì?


Đứa bé sợ láo liên muốn tìm cách trốn. Lũ bạn giữ đứa bé lại. Nó gần muốn kêu "Mẹ ơi", nước mắt rơm rớm. Nhạc vỗ về:


- Cháu đừng sợ. Hãy ngoan nào. Làm trai, phải dạn dĩ chứ. Nào, nói cho bác nghe, cháu tên gì?


Đứa bé hơi hãnh diện là "kẻ làm trai", nhưng lưỡi vẫn líu chưa nói được. Lũ bạn chung quanh nhao nhao trả lời:


- Nó tên thằng Chó Con. Nó tên Chó Con.


 Nhạc đến gần đứa bé hơn, cúi xuống gần tầm cao đứa bé hỏi:


- Cháu đã ăn gì chưa?


Chó Con cảm thấy đói cồn cào. Tối hôm qua, cả nhà nó không có gì để bỏ vào miệng. Mẹ nó hứa sáng nay sẽ đi vay lúa ở nhà chủ điền đến mùa sẽ trừ vào công bẻ bắp. Nó ngủ mà vẫn còn thấy trước mắt cả một nồi cơm đầy, dành riêng một mình nó. Sáng sớm cơn đói thức nó dậy. Nó cũng muốn thức mẹ dậy để mẹ sang vay lúa ở nhà chủ điền. Chưa kịp đưa tay ra lay mẹ, nó đã nghe nhiều tiếng chân người, tiếng nói tiếng hô lộn xộn. Làng bị vây rồi! Tai Chó Con no tiếng động, mắt nó no những cảnh tượng lạ, nó quên cái bao tử lép, cảm giác cồn cào ngầy ngật biến thành sự náo nức hớn hở. Bây giờ thì Chó Con lại thấy đói. Nó thành thực đáp:


- Con đói! Không có gì ăn cả!


Nhạc nhắc lớn câu trả lời của đứa bé, rồi hỏi:


- Thế chiều hôm qua cháu ăn những gì nào? Kể bác nghe đi!


Chó Con nhăn mặt vì đau thốn dưới bụng, đáp nhỏ:


- Cũng không có gì ăn cả.


Nhạc cố khuếch đại sự kinh ngạc, hô hoán:


- Hôm nào cũng đói. Thế cháu còn cha mẹ không?


- Dạ còn.


- Cha mẹ cháu làm gì?


- Dạ làm rẫy.


Nhạc ngửng lên hỏi quanh đám đông:


- Có bà nào là mẹ cháu Chó Con ở đây không?


Một người đàn bà mặt choắt như mặt chuột, tóc tai bù xù, rụt rè nói:


 - Dạ, có tôi đây. Cháu nó dại mồm dại miệng, ông tha lỗi cho.


Nhạc vội bảo:


- Không, không có gì đáng trách cả. Tôi chỉ xin hỏi chị: chị được mấy cháu rồi?


- Dạ năm đứa. Nhưng chết hết ba, chỉ còn thằng Chó Con với con Cám thôi.


- Cha mấy cháu cũng làm rẫy chứ?


 Người đàn bà nhìn quanh tìm chồng. Nhưng anh chồng nhút nhát giấu mặt ở đâu mất. Thất vọng, chị đành trả lời:


- Dạ.


- Hai vợ chồng đau yếu không đi làm được hay sao mà các cháu phải đói?


Người đàn bà bị chạm tự ái, phản ứng ngay:


- Chúng tôi bỏ đói chúng nó hồi nào! Chúng tôi vất vả quanh năm, được hột lúa hột bắp nào xới cả cho tụi con, chịu đói khát cho nó lớn. Không khi nào mấy đứa con tôi bị đói cả! Chó Con, lại đây!


Nhạc vội can:


- Thôi, chị đừng giận cháu. Tại tôi tò mò mà sinh chuyện đấy thôi. Không phải lỗi của cháu, mà cũng không phải lỗi những người làm cha làm mẹ chúng ta. Chúng ta quần quật nai lưng làm việc từ sáng sớm đến tối mịt, để được gì nào? Được nhiều lắm chứ! Lúa rẫy, bắp, đậu xanh khắp mọi nơi là do ai? Do chúng ta. Thế mà sao chúng ta vẫn khổ? Lúa bắp đó đi đâu?


Một cụ già nói:


- Năm ngoái bị mất mùa, ông ạ!


Nhạc cười, cảm ơn câu trả lời, rồi nói:


- Nhưng năm nay được mùa. Tôi biết. Lúa bắp mùa vừa qua đi đâu?


Một người nào đó đứng thấp ở hàng sau nói:


- Về kho lẫm chủ điền chứ đi đâu!


Một người khác cãi:


- Ô hay. Đất rẫy của người ta thì người ta thu chứ! Họ có ăn trộm của ai đâu?


Nhạc xen vào:


- Phải. Họ có đất. Mình có sức, làm rẫy cho chủ đất lấy công mà sống. Nhưng số lúa bắp chủ đất trả công cho bà con có đủ ăn không?


Nhiều tiếng trả lời:


- Không đủ. Chúng tôi sống đói.


Một người đàn ông nào đó, có giọng the thé như giọng đàn bà, la lớn:


 - Nếu khỏi nộp đủ thứ thuế thì có thể đủ.


Nhạc vờ ngạc nhiên:


- Bà con làm việc như trâu mẫm mùa cày mà không đủ ăn ư? Sao lại có chuyện vô lý vậy? Bao nhiêu lúa bắp về kho chủ đất cả ư? Về kho thuế cả ư? Bất công lắm. Không thể nhịn được nữa. Vâng mệnh "Trời và Đức Thầy Cả", chúng tôi cùng nhau khởi nghĩa để dẹp mọi bất công, đem no ấm cho dân nghèo. Chó Con đâu, cháu sẽ có cơm ăn ngay trưa nay! Các cháu khác cũng đang đói chứ gì? Được. Các chú các bác đến đây để giành cơm cho các cháu.


 Rồi hướng về phía các nghĩa quân, Nhạc ra lệnh:


- Anh em, vây chặt các nhà giàu lại. Chủ nhà ở đâu thì đứng yên đó. Không được về. Mở hết các lẫm lúa, kho bắp của nhà giàu ra, phát hết cho bà con. Nếu thiếu thì lấy luôn thóc thuế. Hãy nhanh lên. Các cháu ở đây đang đói lắm! Phải thế không, Chó Con?


***


Tối đến, các đội tập trung về một khu rừng không xa chân đèo An Khê, nằm dọc theo con suối chảy xiết qua nhiều đám đá sỏi tròn nhẵn. Trừ một số nhỏ nghĩa quân có trách nhiệm lên trại chính lãnh gạo, mắm về lo bữa tối, đa số còn lại kéo ra suối tắm rửa. Tiếng nói chuyện râm ran cả khu rừng.


Bên bếp lửa nhóm gần một gốc cây lớn, hai nghĩa quân đã già ngồi bó gối canh nồi cơm đang sôi, vừa hút thuốc vừa chuyện vãn. Người đang vầm cái que cời bớt than hồng ra khỏi bếp nói với bạn:


- Cơm xong bác đi lấy nước ngay nhé. Nhớ ra chỗ nước chảy. Nước tù tanh lắm, át cả mùi trà.


- Ủa, có cả trà nữa à? Moi ở đâu ra thế?


- Chuyện! Tôi chứ phải ai đâu! Khéo nói một chút thì gì cũng có.


- Nhưng... nhưng cả buổi tôi đi với bác mà! Xoay xở lúc nào?


- Lúc có ông lão đầu bạc lân la bắt chuyện, chỗ gần cái ao cá đó!


- Ông lão hỏi gì thế?


- Tức cười! Đúng là thằng chột đi hỏi đứa mù. Tôi chẳng biết trả lời sao cho đúng, huyên thiên một hồi. Ông lão mặt đực ra, gật gù, nhưng nghe xong, mắt cứ ngớ ngẩn như vừa mất thứ gì. Bác có biết ông lão mất thứ gì không?


- Mất bao trà à?


- Kìa, bác khinh tôi vừa thôi. Tôi đâu phải là thằng ăn cắp vặt. Có thế mà bác không hiểu. Lão mất gì ư? Hà, hà lão mất thì giờ vô ích. Vì tôi có biết gì đâu mà trả lời.


- Nhưng ông lão hỏi gì?


- Ông ta kéo tôi ra xa, nhìn trước nhìn sau cho chắc rồi mới nói: "Này bác, Đức Thầy Cả là ai thế?". Tôi hỏi: "Đức Thầy Cả nào?" Ông lão kinh ngạc hỏi lại: "Thế có nhiều đức thầy cả à? Ông nào là... là đức thầy cả!". Tôi tưởng ông lão xỏ xiên định sừng sộ, nhưng thấy nét mặt ông ta chờ đợi thành khẩn lắm, tôi kịp dừng lại. Tôi hỏi: "Bác nghe chuyện Đức Thầy Cả ở đâu vậy?" Ông lão bảo nghe cái anh tre trẻ ôm ốm nói "Vâng mệnh Trời và Đức Thầy Cả". Trời thì ông lão biết từ lâu rồi. Ai mà chẳng vâng mệnh Trời. Nhưng còn có mệnh lệnh của Đức Thầy Cả nữa. Thế mới rắc rối.


 - Rồi bác trả lời thế nào?


- Tôi bảo chỉ biết ông cả, tức là ông biện Vân đồn. Ông cả có đức lớn, không lớn sao có mấy nghìn người từ bỏ quê theo về với ông. Ông cả có chí lớn, nếu không, ông đã chẳng khó nhọc xuống đồng bằng phá cửa kho thuế chia lúa cho người đói, đem của cải nhà giàu chia cho người nghèo. Ông cả có đức, có chí, nhưng vẫn chưa phải là Đức Thầy Cả. Chưa phải là Đức Thầy Cả, nhưng chẳng khác nào Đức Thầy Cả.


- Chịu bác! Nếu gặp tôi, tôi cũng không thể quanh co khéo léo thế. Tôi chẳng hiểu gì ráo. Tại sao ông cả không chịu nhận quách mình chính là Đức Thầy Cả?


- Ờ nhỉ! Tại sao thế. Nhận là Đức Thầy Cả, có phải tiện hơn không. Ớ chết! Thôi rồi bác ơi! Mải nói chuyện nồi cơm khê hết rồi. Giở nắp ra cho tôi. Bỏ vài cục than vào. Cơm với nước! Tối nào chúng nó cũng bỏ mặc cái của nợ này cho hai thằng già chúng ta. Kìa, chúng nó đã về kia kìa.


Một nhóm khoảng sáu, bảy trai tráng đến gần bếp lửa. Họ vừa đi tắm về, mình mẩy quần áo còn ướt đẫm. Một thanh niên quì xuống gần bếp bấy giờ chỉ còn leo lét vài cái than hồng, cúi sát nhìn cho rõ vật gì đang cầm ở tay. Bạn anh ta giục:


- Xem làm gì! Đem nấu canh với lá giang đi.


Người nghĩa quân già hỏi:


- Gì thế?


- Quí lắm bác. Đoán xem nào?


- Chịu thôi. Ện được không?


- Dĩ nhiên được. Khỏi nướng mắm khô bác nhé. Ta ăn một bữa sang trọng. Cá nục đây.


Cả đám xuýt xoa mừng. Lâu ngày lắm, dễ thường đã hơn hai năm, họ chưa được ăn cá biển. Một người nói:


- Cá nục ai lại nấu canh. Phải kho mới ngon.


- Kho phải có đường, hành tỏi, mỡ. Tìm đâu ra. Mình chỉ có muối.


- Nấu thế nào cũng được. Đói rồi. Hình như cơm khê thì phải.


- Ờ, khê. Nhưng khê còn hơn sống. Giá mỗi tối về, có sẵn cái ăn khỏi phải nấu nhỉ!


- Chỉ nói hão! Không nấu, ai hầu hạ cho. Toán của mình còn có hai bác, đỡ lắm. Cháu phải đền ơn hai bác cái này mới được!


- Cái gì thế?


- Điếu bình à? Tìm ở đâu thế?


- Suÿt. Tôi nhặt được đấy?


- Thật không?


- Thật mà. Lúc dân làng hoảng chạy tán loạn, tôi nhặt được ở đầu làng.


- Cái bình sứ đẹp nhỉ. Không vỡ là may!


- Lại thêm cái ống giả trúc này nữa. Của nhà giàu đấy!


- Khối tiền nhé!


- Đã hẳn! Không đắt giá, người ta mang theo làm gì.


Người nghĩa quân già lo âu:


- Chúng ta giữ của này không tiện. Đi đâu cũng khệ nệ mang theo coi sao được. Không cẩn thận lại vỡ. Người ta còn nghi mình đi hôi của nữa. Phải nộp lên trên thôi.


- Tiếc nhỉ. Mà cũng bất tiện nhỉ!


Cả toán băn khoăn quên đói. Người trẻ nhất đám bảo:


- Thôi để mai hãy tính. Ta hút thử xem nào!


Câu chuyện lại trở nên rôm rả, và họ trải qua một bữa tối sang trọng có đầy đủ cơm nóng, cá biển, thuốc và trà ngon.


***


Toán nghỉ đêm dưới mấy tảng đá lớn bên suối thức khuya rì rầm nói chuyện mãi. Tiếng nói của họ đáng lẽ rõ mồn một trong đêm tối, nhưng tiếng suối chảy và tiếng lá rùng mình theo gió át mất, mỗi người phải cố nói chậm và cao hơn, người nằm cạnh mới nghe. Giọng một người đàn ông khao khao:


- Ngày mai tôi lãnh phần canh gác nhé! Chia lúa khổ quá!


- Sao thế?


- Gớm. Ngứa quá. Không biết có sâu hoặc dời bọ chỗ này không. Mai cho tôi giữ phần ngoài, nhớ nhé. Tôi chịu, không ở vòng trong nổi nữa.


- Tao thương mày mới phân việc nhẹ đấy. Đứa nào khác, đừng hòng.


- Tôi biết. Nhưng anh tính, họ không nhận thì làm thế nào?


- Ai không nhận?


- Còn ai vào đấy! Những người nghèo. Họ vội vàng xách thúng chạy đến kho. Nhưng sau đó, họ lảng xa ra, gọi mãi mới chia được vài người. Tức không chịu được.


- Vô lý. Họ nghèo xác. Chia được cái ăn còn làm bộ làm tịch. Hay mày lớn lối với họ?


- Không. Tại họ sợ!


- Sợ cái gì?


- Họ sợ khi mình rút đi rồi, quân phủ đến, bắt tội họ. Ện cướp thóc thuế, không 100 roi cũng ở tù đến mọt gông. Có người đã nhận xong, không biết nghe ai dọa, trở lại năn nỉ xin trả vào kho. Tôi giận quá, quát tháo om sòm, họ mới đành bưng thóc ra về. Hồi chiều lúc đi tắm, tôi nghe nói đội khác cũng gặp chuyện oái oăm như vậy.


- Rầy rà nhỉ. Chắc có đứa dọa già dọa non gì đây. Hay lại chính bọn nhà giàu?


- Không rõ. Ai mà chẳng tiếc của. Mình đi rồi chúng nó lại huênh hoang, hống hách như cũ.


- Phải trị vài đứa dằn mặt xem sao!


- Tôi cũng nghĩ thế. Nhưng lệnh cấm gây đổ máu. Chuyện ở đội ông Tuyết, anh biết chứ?


- Lại chuyện gì nữa?


- Thế anh chưa biết gì à?


- Đội đó từ khi xuống núi gây lắm chuyện quá, không biết chuyện cũ hay chuyện mới? Vụ đốt rụi cả nhà lão chánh tổng chứ gì?


- Không phải. Chuyện mới xảy ra hồi sáng. Oán thù đến mức đó thì ghê thật!


- Mày kể quách cho tao nghe để còn ngủ lấy sức. Quanh co mãi. Oán thù thế nào?


 - Thì tôi sắp kể đây. Thế này nhé. Một bác nông dân gặp lúc mất mùa đến nhà chủ điền vay lúa. Lão nhà giàu đã không cho vay, còn thả chó ra cắn. Giận quá, bác...


- Tưởng chuyện gì. Chuyện ông Năm Ngãng chứ gì!


- Không phải. Để tôi nói hết đã. Bác giận quá, vạch quần đái ngay trước nhà chủ điền. Ông nhà giàu cho đầy tớ ra bắt, bác nông dân chạy thoát. Ông nhà giàu rêu rao khắp xóm là nếu chưa cắt được con cu của tên hỗn xược thì chưa yên lòng nhắm mắt. Bác nông dân sợ, bỏ trốn. Tên chủ điền lén sai đầy tớ đến đốt nhà kẻ thù. Vợ con bác nông dân may thoát được, bỏ làng không biết đi đâu. Người chồng lên Tây Sơn thượng tá túc ở trại ông biện, lầm lì như người ngu độn nhưng thật ra vẫn chờ ngày trả thù. Sáng nay, bác theo về làng cũ. Ông Tuyết giao cho bác ta việc chia của cải tên chủ điền cho dân. Bác nhờ người khác thay, còn mình thì xách dao đi tìm kẻ thù. Tên chủ điền trốn trong một bụi tre, sợ chúng ta giết chớ không phải sợ gặp kẻ thù cũ. Cho nên gặp lại người tá điền lão không nhận ra. Bác ta lén nhét giẻ vào miệng lão, trói dẫn vào một cái nhà hoang, xé quần lão ra...


- Chỉ bịa!


- Thật mà. Chính bác ta thú nhận đã nhét nguyên cái của nợ máu me bầy nhầy đó vào mồm kẻ thù. Bao nhiêu năm bác ta chỉ nghĩ đến việc đó. Thế là bác thỏa nguyện rồi! Phạt, xử thế nào, bác cũng cam nhận tất!


- Rồi ông Tuyết xử thế nào?


- Không biết. Nghe đâu phải báo lên ông cả. Đội bên đó lạ lắm. Ngày nào cũng có một chuyện hấp dẫn để kháo với nhau. Không tin, mai anh qua hỏi họ xem. Họ đóng ngay bên kia suối. Chỗ có mấy bụi mù u.


(còn tiếp)


Nguồn: Sông Côn mùa lũ, Tập I. Nguyễn Mộng Giác. Trọn bộ 3 tập, in lần thứ ba. NXB Văn học, 2007.


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.Phần 1: Về An Thái
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 16.11.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 16.11.2018
Bến không chồng - Dương Hướng 08.11.2018
Trở lại cố hương - Thomas Hardy 07.11.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 06.11.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 02.11.2018
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 02.11.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 29.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 25.10.2018
Trả giá - Triệu Xuân 24.10.2018
xem thêm »