tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29966950
Truyện ngắn
11.09.2019
Vũ Hạnh
Người chồng của vợ tôi


Anh An Châu đã tâm sự với tôi:


- Chúng ta đều hiểu là những thiệt thòi ma người phụ nữ phải chịu trong cuộc chiến tranh kéo dài mấy mươi năm qua có thể chất cao thành ngọn đỉnh trời. Trong trăm ngàn cách chịu đựng, thiệt thòi, vợ tôi cũng có kiểu cách chịu đựng riêng biệt của mình. Con gái út tôi vẫn thường nhắc tôi viết lại chuyện này, xem như một cách đền ơn đáp nghĩa đối với mẹ nó. Tôi hiểu mình nên sòng phẳng đối với dĩ vãng, mới mong ổn định hiện tại. Nhưng cũng có nhiều câu chuyện của bản thân ta, nếu kể được cho người khác viết lại, có lẽ dễ dàng hơn nhiều.


Và anh An Châu đã kể cho tôi nghe lại như sau.


Tính đến giữa năm 1957 thì tôi đã sống lẩn quất trong rừng Lương Sơn gần được ba năm. Đó là thời kỳ đen tối của cách mạng, thời kỳ kẻ địch hù dọa, lùng diệt, bắt cóc, thủ tiêu, thời kỳ của những trại tù chật ních những người yêu nước. Giữa tình trạng khủng bố trắng, những người cán bộ sống bất hợp pháp trong chốn núi rừng phải cách ly hẳn gia đình và những địa phương chung quanh, phải chịu mọi nỗi thiếu thốn, kham khổ không thể lường trước trong cuộc đời mình.


Trước đó có vài đoàn ở tỉnh tôi được ra miền Bắc học tập, bồi dưỡng, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài về sau. Đường Trường Sơn có từ thời kháng Pháp chỉ do liên lạc xoi rừng, xuyên núi đi từ tỉnh bị chiếm này sang một tỉnh bị chiếm khác, nay được xuyên soi trở lại để đưa cán bộ từ phía Nam ra. Đường đi vất vả, nguy hiểm, hơn cả năm trời mới từ Bình Thuận ra đến Vĩnh Linh, ở ngoài Bến Hải. Rất nhiều người đã hy sinh, vì bị địch giết, bị rắn độc cắn, bị cọp beo vồ, bị các bệnh tật sát hại. Vào thời kỳ ấy, chúng tôi nghe tin địch đã phát giác ra đường liên lạc của ta, và đã đưa hai sư đoàn hàn kín đường dây. Không thể hoạt động gì được, lại thên sức khỏe sa sút trầm trọng, tôi được bố trí đi vào Sài Gòn tạm lánh trong một thời gian. Đó là thời kỳ mà nhiều cán bộ ở nhiều địa phương khác nhau tại niềm Nam này cũng đã chạy về Sài Gòn lánh nạn. Dĩ nhiên địch đã có những kinh nghiệm lùng bắt, chận đường, đón ngõ, có những người thoát và cũng không ít những người đã bị sa vào lưới giặc.


Tôi được cung cấp một bộ quần áo tươm tất, một món tiền đủ chi tiêu cho một tháng thời, ít viên thuốc cảm, và những chỉ dẫn cần thiết, rồi theo một người giao liên ra nhà anh chị Bảy Hoàng ở ngay ven rừng gần quốc lộ Một. Đây là một trạm liên lạc quan trọng cho cả nửa tỉnh, ở về phía đông. Ở đó hai ngày, tôi được giao liên dẫn ra quốc lộ đón xe đi vào Sài Gòn. Mãi nhiều năm về sau này tôi mới được tin, chỉ mấy tuần sau, anh chị Bảy Hoàng bị kẻ phản bội khai báo, anh Bảy bị bắt, bị đánh đến chết vẫn giữ kín được các mối liên lạc, và đến chị Bảy bị đưa vào rừng, cho xuống một hố đào sẵn rồi địch cứ lắp dần đất buộc chị phải nói sự thực. Người đàn bà ấy chấp nhận chôn sống chứ không phản bội đồng bào, đồng chí của mình. Và đến ngày nay, vẫn chưa tìm ra nơi chị đã chết trong tư thế đứng thẳng người như vậy.


 Nỗi khổ đầu tiên của tôi, khi về thành phố, đó là tiếng ồn. Tôi đã sống trong rừng núi Lương Sơn vô cùng yên tĩnh suốt mấy năm dài, gần như không nghe một tiếng động lớn, lại tuân thủ đúng phương chăm bảo vệ bí mật “đi không dấu, nấu không khói, nói không to, ho không tiếng” nên đã tập quen với sự vắng lặng, tĩnh mịch, thật khó thích nghi được ngay với sự sôi động của chốn đô thành. Nhưng sự đông đúc của thành phố lớn lại làm cho tôi yên lòng, vì tôi hiểu rằng chỗ ẩn tốt nhất của thời đại này là chỗ đông người.


Tôi tìm được nhà anh Nguyễn không mấy khó khăn. Đây là địa chỉ số một tôi đã lựa chọn khi ngồi trên xe, trong ba địa chỉ tôi nhắm tìm đến - ở Sài Gòn này. Anh Nguyễn vừa là đồng hương vừa là bạn thân khi còn ngồi ghế nhà trường, không ưa Cách Mạng chẳng vì lí tưởng nào khác mà vì anh sống phóng túng, không thích trói buộc trong một tổ chức. Đó là đặc điểm khiến tôi đặt anh lên hàng số một, vì tôi trước hết phải tìm một chỗ an toàn. Nếu Nguyễn lạnh nhạt, thì tôi sẽ tìm đến địa chỉ thứ hai là người bà con gần gũi, đã từng kháng chiến chống Pháp suốt chín năm qua, nay trở về thành sống đời cầu an.


Bấy giờ là bảy tối. Tôi đứng trước cổng nhà nguyễn vài phút để nén xúc động rồi sẽ nhận chuông. Vừa trông thấy tôi, Nguyễn trợn tròn mắt rồi nhảy chồm đến ôm chặt vào người, đoạn kéo xềnh xệnh tôi đi vào nhà, rối rít kêu vợ:


- Anh An Châu đây em ơi! Bạn quí đột ngột đến nhà thật là... đại phước.


Rồi anh cười lên ha hả. Tôi tưởng anh sẽ nói là đại... họa. Nhưng Nguyễn là người thẳng thắn, tốt bụng, xưa nay đối với bạn hữu được khen là rất chí tình. Chị Nguyễn lại rất chiều chồng và là bạn học vợ tôi ngày xưa. Anh chị đã đón tiếp tôi một cách nồng nhiệt làm tôi cảm động. Tôi nói:


- Tôi cũng xin thưa anh chị là tôi không cho gia đình biết rõ lâu nay ở đâu. Nay đã vào đây thì càng phải giữ gìn hơn. Với tôi, đó là vấn đề nguyên tắc, mà cũng là chuyện sinh tử. Rất mong anh chị quan tâm bảo vệ bí mật giùm cho.


Nguyễn nói:


- Yên chí, yên chí. Chúng tôi đều lớn khôn rồi nên biết việc gì đáng làm thì mới nên làm. Nói vậy, đã đồng ý chưa?


Một tối, Nguyễn đi chưa về, tôi đang đọc sách thì nghe có người gọi cửa. Tôi vẫn quen sống cảnh giác, vội xếp sách lại ra sau nhà nép vào cạnh bên chuồng gà kê sát bờ tường. Ở đó tôi vẫn có thể tìm được lối thoát qua một vườn cây kế cận của một gia đình người Pháp nhưng chỉ thỉnh thoảng họ mới về đây. Bỗng có tiếng chị Nguyễn gọi:


- Anh Bảy Châu ơi! Ra đây mà tiếp khách quý. Khách này mới đúng là khách quý đây.


Giọng chị vui vẻ, thật đáng yên lòng. Nhưng khách nào đây, lại đến vào đêm? Tôi vẫn cố tránh mọi sự giao tiếp quá sớm trước khi hiểu rõ tình hình nên không đoán được khách là người nào. Dù sao, cũng phải gặp mặt.


Tôi vào nhà, lên phòng khách không thấy ai. Chị Nguyễn nhìn tôi, cười hỏi:


- Đố anh có biết ai không?


- Chịu thôi.


- Anh cứ đoán đi. Nói trúng thì tôi cho gặp, bằng không thì thôi.


- Tôi chịu.


- À, chịu thì thôi.


 - Thôi cũng đành thôi, chứ biết làm sao.


- Đừng có nói bộ. Xem thử có thôi được không. Đây này...


Chị kéo từ trong cánh cửa ra một phụ nữ. Và tôi sửng sốt không kêu lên tiếng. Vợ tôi. Chị Nguyễn đã vội biến đi sang một phòng khách. Chỉ còn chúng tôi đứng đó, nhìn nhau, sững sờ, bối rối hơn lần đầu tiên trong đời gặp nhau. Tôi gọi “Em!”. Vợ tôi nhìn tôi chăm chăm không nói lời nào, môi hơi nhếch lên như một nụ cười nhưng dòng nước mắt chảy dài trên má. Tôi lại cầm tay vợ tôi, bàn tay đã mất hết sự tròn trịa mịn màng của những ngày nào. Bao nhiêu dằn vặt đắng cay đã làm khô héo một người khắc khoải đợi chờ giữa một thời điểm cực kỳ ác liệt.


- Làm sao em biết là anh ở đây?


- Anh Nguyễn về tin cho em.


“Cái thằng quỉ sứ!” tôi muốn kêu lên như thế nhưng ghìm lại được. Tôi bị đặt trước một việc đã rồi, một việc mà tôi vẫn muốn phủ nhận nhưng trong thâm tâm vẫn hằng mong chờ.


Chỉ vài phút sau, Nguyễn đã đi về. Không để tôi kịp mở lời anh vội phủ đầu:


- Hôm trước anh Châu đồng ý với tôi việc gì đáng làm thì hãy nên làm. Thực hiện ý đó, tôi về nhắn chị vô đây. Bởi không có gì đáng được gặp nhau hơn là những kẻ yêu nhau.


Rồi quay sang phía vợ tôi, Nguyễn nói:


- Anh ấy nhắc đi nhắc lại là phải bảo mật. Nhưng có gặp gỡ mới có bí mật mà bảo vệ chớ.


Vợ tôi tỏ ra khôn khéo, biết điều, quay sang bảo tôi:


- Bọn mình phải cảm ơn anh chị Nguyễn.


Nguyễn cười:


- Bây giờ thì xin ông hãy đưa bà lên gác để mà tâm sự. Vợ chồng thì hãy cứ sống vợ chồng, khỏi cần đóng kịch.


Vợ tôi ở lại hai ngày rồi trở về quê. Cứ mỗi hai tháng cô ấy lấy cớ đi vào Sài Gòn mua hàng bỏ mối các chợ gần nhà, để sống với tôi trong vài ba hôm. Sau gần một tháng tá túc nhà Nguyễn, tôi đã kiếm được việc làm tại một hãng buôn ngay trong trung tâm Chợ Lớn nên đã tìm thuê một căn gác nhỏ trong một ngõ hẻm gần chỗ làm việc. Điều may mắn khác là Cảnh, một người bạn cũ, làm việc trong một cơ quan hành chính đã tìm cho tôi tấm thẻ căn cước của một người ở Thủ Đức được ghi nhận mất tích từ năm 56 trong cuộc đắm tàu, tên Trần Văn Sơ, cũng ở trạc tuổi với tôi. Nhờ nghệ thuật chụp hình của Sở Công An không lấy gì làm xuất sắc nên nhìn tấm hình ông Sơ người ta có thể mường tượng đó là hình tôi.


Được sáu tháng sau, vợ tôi vào thăm và báo cho tôi biết rằng cô ấy có thai. Phản ứng của hai đứa tôi là đều vừa mừng, vừa lo. Chúng tôi yêu nhau, lấy nhau đã sáu năm rồi, và đã sinh hạ được một thằng bé sau khi chung sống hai năm, nhưng vào thời buổi kháng chiến gian khổ đứa bé do cô mụ vườn cắt rốn mà không sát trùng đã bị nhiễm độc, qua đời trước khi mở mắt để nhìn cuộc sống. Một năm sau đó, tôi đi công tác xa xôi, khoảng ba, bốn tháng mới về thăm nhà một lần, có khi chỉ kịp ghé về uống một chén nước là phải quày quã ra đi. Tiếp đến hiệp định đình chiến, tôi lại phải trốn vào rừng. Và ba năm nay không cho vợ biết chỗ ở. Thỉnh thoảng mới có một người giao liên ghé tạt qua nhà nhận thư rồi chuyển lên trên, ở trên chép lại thư của vợ tôi bằng mực hóa học lên tờ giấy trắng - khi nào nhận được tôi dùng hóa chất làm hiện chữ lên để đọc rồi hỏa thiêu liền, đặng khỏi lưu lại một dấu vết nào. Điều khá cảm động là người phụ trách chép lại thư của vợ tôi bao giờ cũng cắt một vuông giấy nhỏ có vài chữ trên nguyên bổn để dán kèm theo trên góc, không phải xác minh sự thực về lá thư này mà muốn cho tôi được nhìn nét chữ vợ mình cho đỡ nhớ thương. Đôi khi những lá thư ấy cũng bị biến mất dọc đường vì người giao liên đã bị phục kích phải chịu hy sinh. Và cũng có lúc thư tới được trạm tiếp nhận, sau sự đánh đổi của vài mạng người: chị giao liên trước bị bắn nhưng vẫn cố gắng chạy thoát, sau đó đã ngã quị ở ven rừng. Một giao liên khác tiếp nhận món hàng, lại bị bắn hạ nhưng địch không tìm được chỗ cất giấu giấy tờ mang theo. Một ngày sau đó, đường dây liên lạc kế tiếp phát hiện cái chết, trước khi đem người hy sinh chôn cất ở một lùm cây nào đó đã lấy được món hàng gởi cất giấu hoặc trong búi tóc, hoặc trong lai quần... Nói chung, trong ba năm ấy, tôi đã nhận được tổng cộng là bốn lá thư của vợ tôi gởi, đi theo con đường bưu điện đầy xương máu đó.


Bây giờ cả hai chúng tôi đều muốn có một đứa con, nhưng không ai dám nói thẳng điều ấy ra lời. Điều mong ước ấy lại có vẻ gì như mang ít nhiều tàn nhẫn cho nhau, trong cảnh tình này.


Vợ tôi băn khoan:


- Bây giờ, làm sao hả anh?


- Thì đẻ ra nuôi chứ làm sao nữa?


- Nhưng mà...


- Anh hiểu nỗi khó khăn đó. Nhưng từ đây cho đến khi cái bầu kịp lớn để mọi người thấy, chúng ta cũng đủ thì giờ lo liệu.


Tôi biết một số cán bộ ở lại hoạt động chỉ vì người vợ có bầu mà địch theo dõi bắt được. Nếu không thì chúng cũng tìm mọi cách giam giữ, tra tấn người vợ, để buộc nói ra tung tích người chồng.


Tôi làm bộ bình tĩnh để vợ tôi khỏi lo đặng không ảnh hưởng đến cái bào thai, chứ tôi cũng thấy lo lắng, xót xa. Thời điểm bấy giờ, không khí chứa đầy đe dọa sắt máu, ngục tù. Đưa vợ tôi vào Sài Gòn là cái giải pháp tốt nhất nhưng chưa làm được. Tôi còn chờ đợi ý kiến ở trên cho biết nên ở thành phố hay đi nơi khác. Đã vậy, làm việc thì rất bấp bênh chỉ đủ nuôi mỗi miệng tôi một cách khó khăn, và thế hợp pháp của tôi ở tại nội thành chưa được củng cố.


Cái thai vợ tôi cùng được lớn lên với nỗi lo âu nơi lòng của vợ chồng tôi. Mầm sống đang tăng trưởng đó, khốn thay có thể là mầm tai hoạ. Vậy phải đối phó như thế nào đây với những cặp mắt kẻ địch đang rọi cái nhìn quái ác khắp nơi tìm kiếm con mồi?


Ban đầu vợ tôi không cho mẹ biết về việc đi vào Sài Gòn để gặp gỡ tôi. Nhưng khi có thai, cô đành phải nói sự thực. Sự bí mật ấy được khoanh tròn lại trong hai mẹ con. Một hôm, bà nhạc của tôi bảo vợ tôi rằng:


- Con à, trong hoàn cảnh này mình không thể mong mọi việc đều được tròn trịa cả mười. Muốn giữ cái gốc đôi khi phải chịu cho chặt cái ngọn, muốn giữ cho được mạng sống chồng con, cả mạng sống của đứa bé thì phải hy sinh thể giá của mình, thể giá của gia đình mình.


Vợ tôi không hiểu, mở tròn đôi mắt nhìn mẹ, và người mẹ hiền nói nhỏ cho con mình nghe:


- Mẹ đã thu xếp xong rồi.


Đã mấy tuần qua, bà mải suy nghĩ tìm một phương kế. Giản dị hơn cả mà cũng khó khăn hơn cả là tìm ra được một người bảo lãnh cái bào thai kia, lạm nhận rằng mình là cha đứa bé. Một người như thế dĩ nhiên không thể là kẻ thân thuộc ở trong gia đình, lại càng không thể là người nào đó không đủ tin cậy. Một đặc điểm nữa là nhân vật ấy phải mang ít nhiều tính cách trai lơ, phóng đãng, nhưng không thể nào là người chưa vợ, và nếu y đã có vợ thì vợ y sẽ phản ứng ra sao? Bấy nhiêu điều kiện hội tụ trong một con người thích hợp để giải cho được bài toán đang bế tắc này, thật là khó khăn. Nhưng nhân loại này vốn rất đa dạng, và một mô hình như thế rốt cuộc đã được bà nhạc của tôi phát hiện: đó là Tư Cẩm, một anh tài xế xe đò ở miền khác đến ngụ tại vùng này, và là một người nổi tiếng đào hoa. Không chỉ bằng lòng với một bà vợ, anh đã liên tiếp lập thêm vài văn phòng phụ, chưa kể các thứ ngoại lệ phân phối bất thường trên các lộ trình. Anh chỉ mang nhiều tai tiếng về mỗi khía cạnh hiếu sắc - bệnh của vua chúa - ngoài ra anh là một người lịch thiệp, thạo nghề, chiếm được cảm tình của rất nhiều người, dĩ nhiên trừ các tình địch. Điều quan trọng nhất là anh Tư Cẩm tỏ ra có nhiều cảm tình với các gia đình kháng chiến.


Chọn được đối tượng, bà nhạc của tôi đến tìm gặp anh mời về nhà mình, nói rõ yêu cầu: xin anh nhận giúp là cha đứa bé đang nằm trong bụng của con gái bà, nếu có ai cần hỏi đến. Bà nói nghiêm túc, khẩn thiết, và cũng cẩn thận không cho biết rõ vì sao có yêu cầu này. Nếu anh Tư Cẩm là người có lòng, ắt anh sẽ hiểu. Nếu anh phản phúc, tố cáo việc nhờ cậy này thì anh cũng chẳng hiểu biết gì hơn và địch cũng không có đủ yếu tố buộc tội.


Anh Tư Cẩm chấp nhận lời yêu cầu ấy một cách trân trọng. Anh cũng thừa hiểu nhận yêu cầu này là làm tổn thương đến cái giá trị đạo đức của một phụ nữ đáng kính có tiếng xưa nay là người hiền thục, thủy chung, và làm xúc phạm đến hai gia đình có uy tín lớn ở địa phương này. Dĩ nhiên, anh cũng đồng thời đề cao thành tích của mình, về mặt đào hoa. Món nợ đối với đất nước, anh Tư không ngờ mình khỏi gồng cả hai vai ra để gánh vác mà anh chỉ sử dụng mỗi cái khía cạnh bê bối của bản thân mình ra để phục vụ.


Bà nhạc của tôi cũng hiểu anh Tư không dám tự mình rêu rao về câu chuyện này. Vậy phải làm cho kẻ địch hiểu được ở một chừng mực nào đó, trước khi chúng kịp nêu thành nghi vấn về cái bào thai. Trong trường hợp này thì phải nhờ cậy người trong gia đình. Bà soát xét lại đám con cái mình, và trong bốn người em của vợ tôi bà chọn được cậu áp út, một gã thanh niên đứng đắn, khôn ngoan, đặc biệt là rất kín miệng, có mối cảm tình sâu sắc với vợ chồng tôi. Qua người con này, bà mẹ vợ tôi nói rõ sự tình, nhờ cậu giả dạng buồn phiền việc nhà, tiết lộ dần dần bí mạt về “chuyện hư hỏng” của người chị mình. Ở những miền quê, sự không chung thủy của người phụ nữ được xem là một vi phạm nặng nề đến nền đạo lý cũng như trật tự xã hội, cần được lên án nghiêm khắc. Hơn nữa, đa số người dân địa phương đều có cảm tình sâu xa đối với kháng chiến nên trong hoàn cảnh bị địch o ép như thế, họ càng căm giận vợ tôi nhiều hơn, coi đó là sự phản bọi xấu xa.


Kẻ địch không nghi ngờ gì, vì chúng tiếp nhận tin đồn từ những ngày đầu. Trước đây, thấy vợ tôi thường lên xe anh Tư đi Sài Gòn, chúng có đánh một dấu hỏi, bây giờ nghi vấn ấy coi như được giải đáp. Tự nhiên chúng coi Tư Cẩm thuộc về “phe ta”, vì trong kế hoạch đánh phá bấy giờ của địch có sự lung lạc vợ các cán bộ bằng đủ mọi cách. Không đánh được chồng thì đánh vào vợ, không đánh được cha thì đánh vào con, phải gây nên những tổn thất dầu bằng giá nào.


Nếu không đặt mình vào hoàn cảnh ấy không sao hiểu được nỗi khổ lớn lao của người đàn bà phải chịu đựng các nỗi nhục đến từ nhiều phía. Dĩ nhiên vợ tôi tìm thấy an ủi trong sự bảo vệ được chồng và con an lành, và coi nỗi nhục là một cái giá cần thiết cho sự hy sinh. Chừng nào còn phải chịu nhục là chừng ấy còn an toàn. Cho đến cả sự nhục nhã cũng được biến thành dinh luỹ bảo vệ hạnh phúc.


Nhưng sự rắc rối không chỉ đến từ phía địch. Không kể dư luận quần chúng đã ác độc rồi, bây giờ phải lo đối phó đòn ghen của cả đám vợ Tư Cẩm. Thông thường anh chồng mà có hai vợ thì bà vợ lớn ghen với bà vợ thứ hai nhưng khi anh ta có thêm bà vợ thứ ba thì người vợ lớn lại dồn tất cả cảm tình cho người mới đến sau này, bởi vì người này đã trả thù hộ cho bà đối với bà hai. Nhưng đến người vợ thứ tư thì là tai nạn. Cả ba người trước đang còn tranh chấp về một giá trị mơ hồ nào đó đã bị sổ toẹt qua sự hiện diện của bà sau này. Hơn nữa, vợ tôi là một phụ nữ có hạng ở địa phương, nghĩa là một thứ đối thủ lợi hại, nên mối mâu thuẫn tồn tại ở giữa ba bà được tạm gác lại và một liên minh ma quỉ cấp tốc hình thành. Tất cả vũ khí thô sơ quen thuộc như là gậy gộc, chổi chà được qui tụ lại. Thời đó, con người chưa biết dùng đến át-xít, và cũng chưa đủ tàn bạo đến mức sử dụng loại này. Vợ tôi nghe được tin ấy vội gởi cho bà vợ lớn Tư Cẩm một lá thư dài trấn an rằng mình “lỡ dại một lần” chứ không yêu thương gì một anh chàng ba vợ, và hứa sẽ đoạn tuyệt sớm anh ta, để yên hạnh phúc cho cả ba bà chia xẻ. Lá thư tha thiết, nhún nhường của một con người có học và có tư thế như là vợ tôi, đã tự nhận mình là em và nâng vợ lớn Tư Cẩm lên hàng bà chị, được sự đón nhận rất là thuận lợi. Vợ lớn Tư Cẩm vốn không biết chữ nên nhờ bà vợ thứ ba đọc to lên để nghe chung. Và nhiều tác phẩm đọc chung lại có ý nghĩa khác hẳn khi đọc riêng rẽ. Lá thư có nghĩa như một văn bản thần phục của kẻ chư hầu thừa nhận đế quyền trung ương, còn được vợ lớn Tư Cẩm xem như là bản cam kết của sự dứt tình. Văn chương nhiều khi có một tác dụng giảm ghen hết sức công hiệu.


Sau khi mặt trận phía ấy đã tạm hòa hoãn, vợ tôi lại phải đối phó với mặt trận khác về phía gia đình bên chồng. Một cuộc họp lớn ở trong gia tộc đã được triệu tập để xử lý vụ hư thân mất nết của người vợ này. Các vị đạo đức nghiêm khắc lên án và đòi truất quyền sở hữu ruộng đất hương hỏa đã chia cho vợ chồng tôi.


- Con ấy không còn xứng đáng ăn lộc của gia đình này! Lấy ai thì về dòng họ nhà nấy mà ăn. Bắt nó trả phần ruộng lại. Ruộng đất nhà này đâu phải để nuôi vợ con Tư Cẩm!


Vợ tôi thừa hiểu chiêu bài đạo đức đã được trưng ra để hợp thức hóa việc chiếm đoạt ruộng. Và người đàn bà ấy đã ngoan ngoãn bước ra cúi đầu chịu tội trước bàn thờ của tổ tiên bên chồng, đã thưa trước mặt họ hàng là xin giao lại khoản ruộng đất ấy. Lập tức sau cuộc tranh cãi sôi nổi, người ta chia nhau món chiến lợi phẩm. Nhưng mãi nhiều năm sau này vợ tôi vẫn không chịu giao văn tự ruộng đất, viện cớ chồng mình đã cất đâu đó chưa tìm ra được, vì sợ giao đủ giấy tờ người ta sẽ vội bán đi, ngày sau không còn hy vọng gì lấy lại được. Đối với con dao tư kỷ thò ra cắt đức quyền lợi và cả ân tình, vợ tôi đã biết cầm lấy đằng chuôi một cách vững chắc.


Trong khá nhiều năm người đàn bà ấy đã bị tước đoạt chỗ dựa về mặt vật chất, và nhiều mảng lớn ở trong chỗ dựa tinh thần. Đến khi đứa bé ra đời, người ta đổ xô đến xem mặt mũi nó giống Tư Cẩm ra sao. May thay, nó là đứa gái và chỉ giống mẹ. Chừng như con bé của tôi cũng đã học được cả sự cảnh giác khi còn là một bào thai. Nhưng ra chào đời, lớn lên, biết đi biết nói nó không hề thấy cha đâu. Vợ tôi không dám đem con vào để gặp tôi, sợ miệng con trẻ không biết giữ gìn. Mỗi lần Tư Cẩm đi ngang qua nhà, thiên hạ gọi nó bảo ra gặp cha, đứa bé cũng mừng tíu tít ra kêu “ba! ba!” một cách thân yêu, và Tư Cẩm phải ôm nó vào lòng nựng nịu. Có lúc con gái người vợ thứ ba Tư Cẩm, cũng ngang lứa tuổi con tôi, thấy có đứa bé giành cha đã vội chạy đến xô đẩy, trì kéo, kêu la chí chóe khiến người cha nó phải dùng kẹo bánh thoa dịu cuộc tranh chấp ấy và hai tay anh dắt hai đứa trẻ tung tăng đi dạo phố chợ như muốn triển lãm thành tích của mình.


Nhưng cái gì đã làm được một lần thì cũng có thể làm lần thứ hai một cách dễ dàng. Bốn năm sau đứa con đầu, vợ tôi lại có thai nữa. Nghe được tin này, tôi đã vò đầu bứt tóc tự nguyền rủa mình đã không biết tự kiềm chế, nhưng cũng là việc đã rồi. Đến khi đứa bé ra đời, vợ tôi hoảng lên vì nó giống tôi như đúc. Đứa đầu, có lẽ vì do sợ hãi, nên đã biết tự che giấu nguồn cỗi của mình, còn đứa sau này thì bướng bĩnh hơn, muốn được công khai xác nhận lý lịch.


Với cái bản sao chính hiệu như thế, đừng hòng lừa mắt kẻ địch. Và với lần tái phạm này, đừng hòng xé bỏ lời cam kết với vợ cả ông Tư. Phần tôi, giờ đã dứt khoát ở lại Sài Gòn, việc làm cũng có phần nào ổn định, do đó tôi bàn với vợ đem con vào hẳn trong này. Đề phòng kẻ địch dò theo tông tích vợ tôi và làm khổ anh Tư Cẩm, tôi bèn viết một lá thư để vợ chép lại, gửi cho anh Tư trước khi rời bỏ quê nhà. Trong thư đại khái vợ tôi trách móc anh Tư bạc bẽo với mình, thiếu trách nhiệm với con cái, món tiền cấp dưỡng hàng tháng cho mấy mẹ con không những thất thường lại cứ mỏng dần theo với tháng năm. Vì vậy, vợ tôi phải đem con đi nhờ vả bà con đặng sống qua ngày. “Ân tình chúng ta cắt đứt từ đây, con người bạc bẽo, phụ phàng như anh đừng mong thấy mặt mẹ con tôi nữa...”. Thư này Tư Cẩm sẽ cất trong mình, sau này nếu bị an ninh cật vấn hỏi về vợ tôi thì sẽ chìa ra, chứng tỏ rằng anh mù tịt về cái địa chỉ của người đàn bà. Thực tế, anh cũng mù tịt.


Buổi sáng, khi vợ tôi đang tay dắt tay bồng đưa hai con ra bến xe để vào Sài Gòn thì gặp Năm Phò là trưởng an ninh thị trấn. Y nheo mắt hỏi Tư Cẩm:


- Đem bà xã nhỏ đi đâu vậy?


Anh Tư lắc đầu, thở dài:


- Thầy coi, tôi đã đình chỉ sản xuất với cả bốn bà được mấy năm rồi, giờ thì bà này lại tung ra một chưởng nữa, thế là chiến tranh bùng nổ. Tôi bị lên án là không ăn đều chia đủ, nên trước khi họ chuẩn bị khai hỏa mình phải lo sớm cách ly.


Vì đang thời chiến nên ngôn ngữ của anh Tư cũng sặc mùi vị giao đấu, chiến tranh. Năm Phò cười ngất:


- Đáng đời nhà anh! Sướng lắm rồi mù con mắt. Mà cách ly là thượng sách. Cứ cho căng rộng mỗi người một nơi, thì hết đánh đấm.


Rồi gã cười to:


- Còn mình thì muốn đột kích lúc nào cũng tiện.


Dịp Tết đầu tiên sau ngày Giải Phóng, người tôi nghĩ đến thăm viếng trước hết là anh Tư Cẩm, nhân vật cách đây không lâu được coi là “người chồng sau” của chính vợ tôi. Anh đã làm tấm bình phong che chắn cho gia đình tôi yên ổn một thời gian dài và tôi đã được yên tâm... sản xuất - nói theo ngôn ngữ của anh - một lèo luôn bốn đứa nữa. Tôi chọn mua hai chai rượu vào loại hảo hạng, vì tôi thấy rằng rượu thường đi đôi với gái như cặp bài trùng, và đó là hợp khẩu vị anh Tư. Ngoài ra, tôi mua thêm hộp mứt rừng, mứt me, hai thứ cay chua như cái mùi vị cuộc đời mà vợ tôi phải nhẫn nhục nếm trải trong nhiều năm dài.


Anh Tư bây giờ không còn lái xe đò nữa mà là chủ một tiệm buôn vải vóc khá lớn ở thị trấn này. Anh mập hẳn ra, nặng nề, bệ vệ trong cái dáng vẻ một người no đủ và có quyền hành. Bao nhiêu phụ nữ tác yêu tác quái trong cuộc đời anh vẫn không làm anh suy sụp chút nào. Khi tôi bước vào, anh hơi ngỡ ngàng nhưng tôi vội tự giới thiệu và anh chụp lấy tay tôi tỏ ý mừng rỡ một cách nồng nhiệt. Những người ban ơn xưa nay vẫn rất vui thích gặp kẻ chịu ơn. Tôi bày các món lễ vật, nói lời tri ân chân thành với anh, mừng anh sức khỏe, chúc anh làm ăn càng ngày càng phát đạt hơn. Tôi nói: “Không có những người như anh, chúng tôi đã phải khốn khổ chừng nào. Ơn ấy, chúng tôi không bao giờ quên”.


Tôi ngồi nói chuyện với anh khoảng trên nửa giờ, rồi xin cáo từ. Anh mời tôi ở lại để dùng cơm nhưng tôi thoái thác. Ngồi ăn, tôi không biết sẽ nói gì. Tôi không muốn nhắc lại câu chuyện cũ, trong đó vợ tôi - như biết bao nhiêu phụ nữ của đất nước này - đã phải nếm những khổ đau. Một điều làm tôi suy nghĩ là anh Tư Cẩm không hề hỏi gì đến vợ tôi cả. Có lẽ anh thấy nhắc lại như thế là xúc phạm đến vợ tôi, một người đàn bà khả kính mà cái thời cuộc đảo điên đã cho phép anh làm thương tổn đến thể giá, dầu chỉ là bằng miệng lưỡi thế gian. Sự im lặng ấy làm tôi thêm kính trọng anh, và tôi thấy ở nơi anh có sự tế nhị đáng yêu. Có lẽ đó là khía cạnh không kém quan trọng đã khiến anh được nhiều chị em ta chiếu cố.


Ghi lại chuyện của vợ chồng anh Châu Anh (Đỗ Đơn Chiếu)


VH.


Rút từ Tuyển tập Vũ Hạnh, tập 1. Triệu Xuân tuyển chọn. Bản thảo do nhà văn Triệu Xuân biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Vũ nữ Ba Lê - Olga Tokarczuk 15.10.2019
Người đàn bà xấu nhất hành tinh - Olga Tokarczuk 15.10.2019
Người cha anh hùng của nữ thủy thần Undine - Heinrich Böll 11.09.2019
Mùi vị bánh mì - Heinrich Böll 11.09.2019
Cuộc đời trôi nổi của cái tách không quai - Heinrich Böll 11.09.2019
Chuyện đời của một trí thức - Vũ Hạnh 11.09.2019
Người chồng của vợ tôi - Vũ Hạnh 11.09.2019
Ăn Tết với một người điên - Vũ Hạnh 11.09.2019
Cho nó có đạo đức - Lê Mai 06.09.2019
Nhốt gió - Bình Nguyên Lộc 22.08.2019
xem thêm »