tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29863555
Truyện ngắn
11.09.2019
Vũ Hạnh
Ăn Tết với một người điên


Chiếc xe nhồi xóc dữ dội qua những ổ gà, nhiều lúc trở về số một, số hai, tiếng ga rú lên như một con heo đang bị chọc tiết. Tôi cảm nhận rất mơ hồ hướng chiếc xe đi kết hợp với con đường xấu, phỏng đoán chúng đang chuyển tôi sang phía quân lao. Còn đúng ba tuần lễ nữa là hết tháng chạp, chẳng lẽ tôi được lựa chọn đem về ăn Tết ở nơi trại giam nổi tiếng này sao?


Người ta kéo tôi xuống xe, dắt lên hai nấc bậc cấp có lẽ đưa vào trong hành lang hẹp vì người lính đi bên cạnh cứ luôn va chạm vào thân người tôi. Khi có tiếng hô dừng lai, tiếp theo là tiếng mở khóa, cái vòng bịt mắt và chiếc còng được tháo gỡ, tôi bị đẩy vào một xà lim tối, rồi cửa ập lại khóa chặt.


Nửa đêm - tôi đoán như thế, vì không làm sao biết được giờ giấc trong chuồng giam này - tôi nghe tiếng khóa khua động, vội ngồi ngay dậy dù người còn nhiều đau đớn từ những tra tấn đã qua, sẵn sàng chờ đợi những biến cố mới. Một giọng nói lớn, đầy sự hằn học giả tạo vang lên:


- Thằng giết cả gia đình mày đang nằm trong đó. Nó đã cưỡng hiếp vợ mày, đâm chết cả cha mẹ mày! Hãy vào cắn họng nó đi!


Rồi giọng nói ấy như hét vào tai một kẻ nào đó:


- Hiểu chưa? Hãy giết kẻ thù của mày!


Một tiếng đáp lại rên rĩ như tiếng mèo kêu rồi cửa xà lim được mở, mang vào luồng sáng từ chiếc đèn bấm làm tôi lóa mắt. Đồng thời một người được đẩy mạnh vào ngã chúi lên trên mình tôi. Đèm bấm vụt tắt, cánh cửa được đóng và cài khóa lại. Tiếng giày xa dần trong dãy hành lang.


Qua chút ánh sáng của ngọn đèn ngoài hắt vào, tôi thấy người bạn mới đến trợn trừng nhìn tôi như nhìn một hiện tượng lạ. Tôi hỏi ôn tồn:


- Anh ở đâu đến?


- Anh ta yên lặng, vẻ mặt hằn sâu những nét đe dọa, từ đó bốc ra hơi rượu nặng nề. Có lẽ là người điếc chăng? Rồi bỗng anh ta lùi lại, quì xuống, hai tay chống trên sàn nhà, chồm người về trước với đôi môi kéo nhếch lên phô bày cả hai hàm răng lổn ngổn.


Đúng là người điên, nhưng điên vì lý do gì, làm sao biết được? Từ trong tư thế chờ mồi như thế anh đã nhào tới, chĩa mười ngón tay co lại như những móng vuốt cào lên mặt tôi. Mùi rượu nồng nặc và mùi hôi thối bốc ra từ cái mệng đó làm tôi nghẹt thở. Tôi cố xô đẩy anh ra vừa tìm thấy lời giải đáp cho tình hình này. Rõ ràng tôi không được dẫn tới đây để mà an dưỡng, nhưng để khai thác. Và màn khai thác, kiểu mới, đã được bắt đầu.


Thoạt tiên sự tấn công ấy có làm cho tôi tỉnh trí phần nào, giúp tôi tỉnh trí phần nào, giúp tôi quên được nhức nhối ở khắp châu thân, nhưng anh ta không chịu để cho tôi yên được một phút. Nếu tôi đỡ được mười cái móng tay nhọn hoắt và đầy cáu bẩn chỉ chực cào cấu thì hai bàn chân sẵn sàng thay nhau đạp đá bừa lên người tôi, và hai hàm răng hôi hám chỉ chực sà vào cắn xé, bất kể da thịt hay là áo quần. Nhiều lần tôi muốn gục xuống, thiếp đi mặc cho anh ta làm gì thì làm, nhưng khi anh ta lao tới tôi lại chống đỡ như một phản ứng bản năng. Có lúc tôi đã toan tính tập trung sức lực nhắm vào chỗ hiểm đánh đoàn quyết liệt cho anh gục xuống và tôi sẽ được thoát nạn, dầu là tạm thời. Tôi không còn đủ khả năng để làm việc đó, và thật lòng tôi cũng không muốn thế. Chọc giận thêm kẻ điên loạn, biến mối hận thù tưởng tượng trở thành sự thực, là sa vào bẫy kẻ thù.


Đến lúc tôi không còn đưa nổi chân tay lên tự vệ thì người điên cũng loạn choạng, xiêu ngã, nằm vật xuống sàn đất lạnh, ú ớ những tiếng rời rạc. Có lẽ chất rượu kích thích bây giờ đã loãng tan dần và sự mệt mỏi xô anh quỵ xuống.


Tôi đang thèm được nhắm mắt trong một đôi giờ, nên tranh thủ khoảng hưu chiến để nghỉ ngơi. Không biết thiếp được bao lâu thì tôi giật mình choàng dậy. Người điên đã ngồi bên tôi với một vẻ mặt vô cùng căng thẳng. Mùi thối xông lên ngập ngụa cả phòng, một vạt đen lớn loang dần dưới con người đó. Sau khi tiểu tiện, anh đang phóng uế, mặc dầu ở phía sau lưng có sẵn chiếc thùng cho việc vệ sinh. Ở những phòng kín và chật, không khí tù túng, đậm đặc, các mùi bốc ra như được tăng thêm cường độ đến cả ngàn lần. Tôi có cảm tưởng hai lỗ mũi mình đầy nghẹt phân bã và khắp người tôi chỗ nào cũng bị sự hôi thối ấy bám dính như một chất keo.


Sau khi tìm lại được sự thoải mái, anh ta nghĩ ngay đến tấn công tôi. Những móng tay nhọn đầy cáu bẩn ấy đã cào những lằn rát bỏng lên má trái tôi. Tôi chụp lấy hai tay anh và cứ giằng co như thế rất lâu cho đến khi nghe tiếng kẻng báo hiệu trời sáng.


Một đêm khủng khiếp đã được trôi qua chỗ ngục tối này. Khi tôi buông tay, anh ta cũng lả người đi, và tôi nhận thấy anh chỉ thật sự hung hăng nhờ rượu chứ không phải có sức mạnh như tôi đã tưởng.


Nằm được giây lát anh đã chồm dậy như tuân theo từng co giật của hệ thần kinh và cứ như thế lại tấn công nữa. Tôi đành ôm chặt lấy đầu và nằm gục xuống, mặc cho anh ta đánh đấm, cào cấu, giúp sự nhầy nhụa hôi thối đến độ ngạt thở. Tôi bỗng nhận thấy sự không chống đỡ của tôi lại có tác dụng làm dịu bớt sự quyết liệt của người điên này, chừng như đối với cả người điên rồ cũng cần có sự đối kháng để làm kích thích. Đây là gã câm, hay gần như thế, một người hoặc bị bệnh tật, hoặc bị tra tấn đã phải thụt lưỡi, nên chỉ phát được những tiếng ú ớ rời rạc.


Đến bữa cơm trưa người ta đưa vào hai tô cơm hẩm, mỗi tô có miếng cá muối đã mục, kèm theo một ca nước lạnh. Giữa bầu không khí thối nồng, tanh tưởi, trong sự căng thẳng đề phòng mọi cuộc tấn công có thể xảy ra bất cứ lúc nào, tôi cố nhai nuốt thức ăn một cách khó nhọc. Người điên đang ăn vội vàng, hẳn là quá đói vì phải hoạt động kể như liên tục, mắt luôn liếc về phía tôi canh chừng một sự cướp đoạt, đa nghi như loài thú rừng trong lúc nhai mồi.


Thức ăn buổi chiều đưa vào chỉ có khẩu phần của tôi. Liền đó, người điên được kéo ra ngoài. Tôi có khá nhiều kinh nghiệm ở tù để không lạc quan quá sớm về sự việc này. Biết tôi mệt mỏi, căng thẳng tận cùng suốt một ngày đêm, chúng sẽ không cho tôi có thì giờ để lấy lại sức. Chỉ một lát sau, người điên lại được đẩy vào, bốc đầy mùi rượu, dáng đi khệnh khạng với cái bụng ưỡn vì quá no đầy. Anh ta hẳn được cho tẩm thêm rượu, biết đâu không nhận những liều kích thích vào trong mạch máu. Một điều chắc chắn là anh đã được gào thét bên tai những lời hô hào chém giết, hô hào cắn cổ kẻ thù, tất cả biến thành phản xạ trong sự cuồng loạn. Và anh lập tức lăn xả vào tôi, hùng hổ như loài thú dữ.


Đối phó thường trực trong một khung cảnh ngột ngạc làm thần kinh tôi suy kiệt rất chóng. Tôi luôn tự trấn tĩnh mình để khỏi trở thành điên loạn, vì chỉ cần sự buông lỏng ý chí là tôi mất hết tự chủ. Tất cả nỗi phiền nhọc đó kéo dài trong sự ẩm thấp, tối tăm, trong tanh tưởi và hôi thối, khiến có lúc tôi tưởng mình đã bị hạ thấp xuống loài côn trùng quằn quại dưới lớp đất đen, cấu xé lẫn nhau để được tồn tại.


Đến ngày thứ năm, thì tôi gầy rộc một cách đáng sợ, mình mẩy đầy vết cào cấu, da thịt sưng nhức, ngứa ngáy, đóng thành từng về sủi lên gớm ghiếc như kẻ phung hủi. Quần áo của tôi là mớ giẻ rách, tả tơi hơn tàu lá chuối qua cơn giông bão. Nhiều lần tôi muốn đấm cửa, gào lên đòi được đổi thay chỗ ở, nhưng tôi tự kiềm chế được. Kẻ thù chỉ đợi có thể để biết rằng tôi đã cùng quẫn rồi, đã sắp kiệt quệ, và muốn đầu hàng. Lẽ nào cho chúng cơ hội đo lường được não lực mình để phản kích lại?


Đến ngày thứ sáu hay là thứ bảy gì đó - tôi không nhớ được thời gian - cánh cửa xà lim được mở, xuất hiện một gã ria mép, ăn vận thường phục, mặt mũi nhăn nhó vì không chịu đựng được mùi hôi thối tởm lợm bốc ra, hỏi tôi bằng một giọng điệu cố làm ra vẻ ôn tồn:


- Thế nào, ông Bảy Lâm Viên? Ông có muốn đổi phòng không?


Tôi ngồi yên lặng, thừa hiểu người ta muốn gì. Anh ta nói tiếp, rất là từ tốn:


- Tội gì mà ông chịu đựng như vậy cho nó tổn thọ. Chi cần khai báo chút đỉnh là sẽ yên lành mọi việc. Ông sẽ ra chỗ rộng rãi, thoáng mát, ở thêm ít tháng rồi đi về nhà. Chúng tôi không muốn làm khổ ông đâu, mong ông hiểu cho. Chúng tôi cũng có nhiệm vụ của mình. Ông giúp chúng tôi, chúng tôi rồi sẽ giúp ông, có qua có lại…


Anh ta dừng lời, chờ đợi. Tôi đáp:


- Tôi không còn gì để nói.


- Ông chưa thành thật khai báo. Có lẽ ông đã hiểu lầm thiện chí chúng tôi.


Tôi ngồi yên lặng. Vẫn rất dịu dàng, anh ta bảo tôi:


- Nếu ông cần gì, xin ông cứ nói.


Tôi sẵng giọng đáp:


- Vô ích!


Anh ta nhìn tôi trân trối, rồi như không ghìm nổi mình quát lên:


- Ngoan cố!


Và tiếp:


- Muốn chết, tao sẽ cho chết! Mày không chết bệnh thì cũng sẽ chết trong nhà thương điên!


Cánh cửa được đóng sầm lại như để chấm câu một cách ồn ào. Và con chó sói, sau khi vội vã rũ lớp lông cừu, nện bước đi ngay, có lẽ xua đuổi bởi cơn giận dữ ở nơi lòng mình và bởi những mùi hôi hám từ nơi buồng tối.


Trong cái không gian chật chội, tù hãm của chốn xà-lim, tác động của sự tiếp cận với người điên loạn có thể nhân lên gấp bội. Và người cai ngục vừa rồi gián tiếp cho tôi thấy một sự thực: họ đang thất bại trong việc sử dụng người điên làm một công cụ khai thác. Và ngay việc sử dụng này cũng là bằng chứng của sự tụt thang trong việc đối phó với những người tù. Tất cả dụng cụ khoa học kể như phá sản, họ quay về với sức mạnh cổ xưa - sức mạnh bản năng - hy vọng nhờ đấy có thể đàn áp được sự trỗi dậy của lý trí và nhân cách.


Bốn tháng trước đây, tôi bị công an ngụy-quyền đón bắt giữa đường đem về khai thác. Qua các cực hình tra tấn họ không biết thêm gì được về tôi, ngoài một nghi vấn mơ hồ tôi là “trưởng ban an-ninh Việt cộng” - có lẽ do tên chiêu hồi nào đó đã nâng nhiệm vụ tôi lên để hòng tấn công. Rồi tôi được chuyển ngay sang cơ quan tình báo Hoa Kỳ để thẩm vấn tiếp.


Một người Mỹ đứng tuổi, râu mép, kính râm, nói rành tiếng Việt một cách đáng ngờ bắt đầu khai thác bằng một trắc nghiệm ú ớ như là trò đùa: chìa những giấy màu đơn giản cho tôi lựa chọn, rồi đến những loại giấy màu pha trộn tinh tế gồm nhiều âm sắc tương đồng. Sau đó, các tranh đủ loại với các chi tiết cố tình vẽ sai, như ta thường gặp trong các sách báo thiếu nhi, để tôi mới nhìn đã thấy đôi chỗ sai lệch lộ liễu trong các tranh này. Tôi đã dọn một bộ mặt hết sức ngu ngơ, với những cử chỉ vụng dại, và tôi đóng kịch không đến nỗi tồi.


Qua sự trắc nghiệm như thế thì tôi nhất định không phải là trưởng ban rồi. Chẳng có được khiếu thẩm mỹ tinh tế, thiếu hẳn cả óc phán đoán nhạy bén, làm sao mà đứng đầu ngành! Nhưng các trắc nghiệm loại này chỉ là đôi món ăn chơi, chưa phải là thực đơn chính. Người ta không cần lặp lại các trò quay điện, uống nước xà phòng, cho nước nhỏ giọt xuống giữa đỉnh đầu và nhiều kiểu loại tra tấn mà sở công an ban phát cho tôi rất mực dồi dào. Ở đây, tôi đã được lột trần truồng đứng trong một hồ nước hẹp không thể xoay trở và mực nước cứ dâng lên. Khi nước đã ngập tới mũi thì phải nhón gót để khỏi chết ngộp trong lúc toàn thân đã lạnh tê rồi. Và cứ đứng mãi như thế cho đến rũ liệt. Tôi cũng được nhốt trong một thùng phuy đậy kín nắp lại chỉ có vài lỗ thông hơi nhỏ bé đủ để hô hấp một cách nặng nhọc rồi đem phơi nắng. Đến khi cái nóng hừng hực bên trong làm vã mồ hôi thì ở bên ngoài những đòn búa tạ được nện dồn dập liên hồi vào các mặt thùng. Tưởng như theo mỗi nhát búa vang lên, từng mảng óc cũng tung theo. Máu có thể chảy ra từ lỗ mũi, lỗ tai, dưới sức vang dội làm điên đầu não, và mãi nhiều tháng về sau người tù vẫn còn nghe rõ tiếng búa trong đầu. Khoa học kỹ thuật còn được nhân danh “tự do” phục vụ con người như thế.


Nhờ một ý chí quyết thắng rất cao và môn tập trung khí lực luyện tập dài ngày, tôi đã vượt qua các thử thách đó mà không nhượng bộ cho địch chút nào sự thực cất dấu trong đầu. Chúng ta sẵn sàng hy sinh cái ta nhỏ bé của mình cho một cái ta vô cùng lớn lao, đó là dân tộc, cho một lý tưởng thật sự cao cả là nền độc lập sau những năm dài nô lệ tối tăm, là sự thống nhất Bắc Nam đem lại niềm vui sum họp đồng bào một nước, là một cuộc sống thực sự xứng đáng với những con người. Hàng vạn, có lẽ hàng triệu, những người ưu tú hoặc chết oanh liệt giữa chốn pháp trường, ngã dưới đạn bom, vùi trong tù ngục, hoặc chịu muôn ngàn khổ nhọc, đắng cay trong suốt mấy mươi năm qua là để hướng về cuộc sống đáng mơ ước ấy. Cuộc sống của lòng tương trợ, thương yêu, của sự chia xẻ công bằng, cuộc sống không có kẻ này chà đạp lên trên kẻ khác để tìm một chiếc ghế ngồi, không có những kẻ chỉ biết thu vén cho cá nhân mình, cho gia đình mình mà quên mọi sự liêm sỉ, quên những đồng bào yếu thế bị rút tỉa dần sự sống, quên những lớp lớp con người đã chịu hy sinh nhưng vẫn trừng mắt nhìn họ từ dưới đáy mồ. Chúng tôi đã hướng về cuộc sống ấy, cuộc sống trong đó tất cả trẻ em đều được cưng chiều, những người già cả đều được kính nể và những phụ nữ đều được tôn trọng, cuộc sống mà những thanh niên đều có điều kiện lao về phía trước với những hoài bão tốt đẹp trong tâm hồn mình… Và để đạt tới điều mơ ước ấy, mỗi người chúng tôi cho dầu có được trăm đời, ngàn đời, cũng sẽ sẵn sàng hy sinh không chút luyến tiếc.


Sau những tra tấn dã man không đem lại kết quả gì, kẻ thù nhất định sẽ bắt tôi chích “liều thuốc sự thật”. Tôi đã sẵn sàng chờ đợi cuộc thử thách ấy.


Những bậc đàn anh đi trước, đúc kết kinh nghiệm và đã phổ biến cho lớp đến sau là bọn chúng tôi biết cách đối phó với những trò chơi hiểm nghèo của địch. Những kinh nghiệm ấy được truyền bằng miệng, lớp này nối sang lớp khác và thế hệ này sang thế hệ kia, tạo thành một luồng truyền thống riêng biệt trong những nhà tù, góp những vốn quý vào kho lịch sử đấu tranh của toàn dân tộc. Những kinh nghiệm ấy được mua bằng giá rất đắt, bằng xương và máu, bằng nhiều sinh mạng chính trị và nhiều cuộc đời, bằng những hy sinh cao quý và cả phản bội đe hèn. Phần lớn những sự chịu đựng thành công của những tù nhân còn nhờ ở sự thừa kế rất phong phú đó, và giữa những phút cực hình đày đọa xác thân đến độ tơi bời đa số chúng tôi vẫn ngẩng cao đầu, thầm nhắc đến những lớp người đi trước với lòng biết ơn hết sức sâu xa.


Qua nhiều năm rồi tôi làm thư ký cho một hãng buôn phụ tùng xe hơi ở một đại lộ trung tâm Chợ Lớn để có được thế hợp pháp tại nội thành này. Trong các lần hỏi cung trước, tôi đều xác nhận như thế, và hẳn công an đã kiểm tra rồi. Bây giờ, đối phó với “liều thuốc” ấy, tôi phải tập trung tinh thần, ôn lại quãng đời thư ký bình thường trong tâm não mình vừa tự nhắn nhủ một cách quyết liệt với chính bản thân là mình không có làm điều gì khác ngoài công việc ấy. Tôi nhớ lại từng sự việc, dừng lại rất lâu ở từng chi tiết trong chuyện bán buôn, và luôn nhắc lại với mình là không biết gì đến chính trị cả, cố gắng gạt khỏi tâm não những sự hoạt động đã qua và những con người cách mạng mà tôi liên hệ. Tôi tự nhủ rằng, hằng ngày, ngoài giờ làm việc tôi đi ăn tiệm, vào rạp xi-nê xem phim võ hiệp, cao bồi, tán tỉnh cô gái đầu lòng của ông giám đốc… Tôi cố hình dung tuổi trẻ của tôi đã được kéo lết một cách tầm thường như thế và tôi nhiều khi thực sự hận mình đã không có đủ nghị lực đầu tư xứng đáng cho một tương lai. Đúng là cuộc sống cỏ rác, cuộc sống củi mục, cuộc sống sao y bản chính của những kiếp đời hèn mọn, bất lực, chỉ biết noi theo lối cũ đường mòn như một giống ngựa kéo xe… Chỉ có thường xuyên thao tác bằng những suy nghĩ như thế, tôi mới thực sự tức giận về mình, tôi mới có những xúc động sâu sắc từ nơi đáy lòng như chính điều đó thực sự là của tôi vậy.


Tôi đã ôn đi ôn lại thành thục bài học giản lược về quá khứ ấy hằng ngày, đặc biệt là trước khi ngủ, cho đến hôm tôi được đưa vào một phòng rộng có máy điều hòa, lắp toàn cửa kính loại màu xanh sẫm, bên trong là chiếc giường nằm trải nệm trắng tinh, một bộ bàn ghế bọc da sang trọng với hai người Mỹ thuộc loại trầm lặng.


Dĩ nhiên, tôi không nhớ được là mình đã nói những gì, sau khi mùi thuốc đã làm tê liệt hẳn phần ý thức, đưa tôi vào một trạng thái lơ mơ. Tôi đã bay bổng chập chờn trong cơn ảo mộng kỳ quặc, có lúc thấy mình quẫy cựa nhọc nhằn giữa một vùng nước đậm đặc tưởng gần nghẹt thở và cũng có lúc tôi như nghe được từ cõi xa xôi tiếng nói của tôi vọng về. Cái tôi chìm ngập trong cõi vô thức tối tăm đã được lộ hiện… Thế tôi đã nói những gì?


Sự việc người ta vội vàng giao trả tôi lại cho sở công an ngụy quyền có thể giải thích là thuốc moi tìm sự thật đã không công hiệu. Vô thức của tôi đã không phản bội lại tôi và biết cất giấu kỹ trong sâu thẳm âm u những gì cần phải cất giấu.


Chuyến này tôi được giao cho an ninh quân đội, hẳn là màn chót. Tôi không có quyền để mình thất bại. Kẻ địch đã muốn phản công quyết liệt, tôi phải đương đầu một cách vững vàng và giành thắng lợi. Tôi kiểm điểm lại những ngày vừa qua tại xà-lim này và thấy sai lầm của mình thật là nghiêm trọng.


Tôi vẫn quen nhìn người điên như một công cụ của địch và cứ khoanh tròn ý nghĩ của mình trong ấn tượng đó. Cái nhìn như thế rõ ràng không có chút gì gọi là cách mạng. Chấp nhận mọi sự theo nguyên trạng nó bao giờ cũng là cách nhìn hết sức tồi tệ. Tôi lại chống đỡ một cách tiêu cực, thái độ ấy dẫn vào một con đường không lối thoát. Dù tôi có những cố gắng không kích động thêm thù hận nhưng rõ ràng tôi đã không xóa bỏ được thù hận đó. Hơn nữa, tôi là chiến sĩ an ninh mà sống chỉ với một người - dầu là người điên - trên một địa bàn không rộng quá hai mét vuông, đã không tạo lập được sự an ninh theo đúng nghĩa nhất.


Có thể trong nỗi đau nhức toàn thân bất ngờ lại gặp người điên đã làm cho tôi rối trí. Nhưng bọn điên rồ vẫn còn nhan nhản trên cuộc đời này, có gì đáng phải ngạc nhiên? Những bọn muốn làm bá chủ hoàn cầu, những tên lái bom, lái súng chẳng là điên sao? Ngay đến những kẻ làm ít mà tiêu xài nhiều, những hạng chỉ lo trau chuốt bề ngoài để cái bề trong trống rỗng, những kẻ suốt đời chỉ biết hùng hục thu vén, chạy theo đồng tiền, những lớp thiếu tài kém đức mà muốn ngồi chổm trên đầu thiên hạ… xét đến cạn cùng cũng là một lũ điên thôi.


So với tất cả loại hạng điên ấy, anh chàng điên này dễ chịu hơn nhiều. Anh không hại dân, hại nước, anh không tàn ác, tham ô, anh chỉ gây điều phiền nhọc với mỗi mình tôi, và do lỗi ở kẻ thù. Anh không đáng giận mà chỉ đáng thương. Chỉ có cảm hiểu sâu sắc mới có thể yêu thật lòng, và đã yêu thương thật lòng người ta có thể chịu đựng tất cả.


Khi cánh cửa mở, con người say nồng mùi rượu ấy nhào đến tôi với sự hùng hổ tôi chưa từng thấy. Sau sự hăm dọa của gã ria mép, người điên tấn công có vẻ quyết liệt hơn nhiều. Chắc hẳn những liều kích thích đã được gia tăng và sự đầu độc tinh thần cũng thêm cường độ. Nhưng tôi không nhìn anh ta như là mọi ngày, tôi không tức giận, cũng không khiếp sợ và không buồn phiền. Tôi cố né tránh chứ không chống trả cũng không chống đỡ. Kinh nghiệm thực tế đã cho tôi biết rằng những phản ứng tích cực với kẻ cuồng loạn chỉ làm tăng gia tính cách manh động nơi con người ấy. Các cuộc tấn công ồ ạt không gặp được sức đối kháng trực tiếp trở nên uể oải, rời rạc, và khi những liều kích thích dịu đi thì sự chùng xuống xảy ra rất chóng.


Khi người điên ấy mệt nhoài, nằm rũ trên đất, tôi cố chống chỏi với sự mệt nhọc nơi mình, lết lại bên anh, vỗ nhẹ lên trên người anh. Bàn tay tôi vừa chạm đến anh đã choàng dậy, nhìn tôi với vẻ ngờ vực. Tôi vuốt tóc anh, gãi nhẹ lưng anh với sự dịu dàng, âu yếm của một người mẹ chăm sóc đứa con bệnh hoạn. Nằm trên phân bã, nước tiểu, không được giặt giũ, tắm rửa, hẳn con người anh cũng thấy ngứa ngáy như tôi nên sự xoa xát trên người khiến anh dễ chịu. Một lát, người điên đã thôi không ngóc đầu lên dò xét mà chịu nằm yên, rồi ngủ thiếp đi.


Thỉnh thoảng anh ta lại bỗng giật mình, mở mắt, y như con vật quen bị săn đuổi, thường xuyên đối phó với những tai nạn đang rình rập mình. Tôi lại vỗ nhẹ lưng anh, vuốt lên tóc anh, tôi bảo nhẹ nhàng: “Ngủ đi… ngủ đi…”. Tôi hát ru anh bằng những bài hát mà người ta thường nhớ lại từ thuở xa xôi của những người mẹ ru con, người chị ru em. Có thể anh không nghe hết hoặc không hiểu được những lời như thế, nhưng về khả năng cảm nhận tình cảm của đồng loại mình, con người không phải hoàn toàn bất lực, cho dầu đó là người điên, và ở trong mảnh đất khô cháy của tâm hồn anh hẳn còn một rẻo nhỏ có thể cấy trồng. Nếu không hy vọng mỗi ngày nới rộng thêm lên diện tích của rẻo đất ấy, tôi cũng cố gắng để nó khỏi teo tóp đi, và gieo vào đấy được một mầm xanh, tưới vào một giọt nước mát.


Sự chăm sóc ân cần và những lời nói ngọt dịu, chân thành của tôi đã làm êm bớt những cơn điên loạn, phá phách của người đồng phòng. Ngoại trừ những tối được đưa ra ngoài, trở vào là anh lại tấn công tôi quyết liệt, còn vào các giờ giấc khác khi xông đến để cào cấu, đánh đấm, anh thường dừng lại đột ngột nhìn tôi chăm chú như muốn tìm hiểu tôi là người nào. Rồi anh ngồi thừ ra đó, lảm nhảm những tiếng rời rạc, mơ hồ, có khi lại nằm gục xuống im lặng. Những lúc như thế, tôi lại bên anh, vỗ về, an ủi, thỉnh thoảng tôi cũng bắt gặp ánh mắt của anh nhìn tôi, sáng lên một chút dịu dàng. Đã có chút gì ở trong cảm nhận của anh rằng tôi không phải kẻ thù.


Tất nhiên những tiến bộ ấy xảy ra tuần tự, chậm chạp, kéo dài nhiều ngày, có lúc khó nhìn thấy được, nhưng bằng trực giác tôi hiểu người bạn cùng phòng đang có đổi thay. Tôi phải cố gắng thận trọng trong mỗi cử chỉ, tránh gây xáo động trong những chuyển đổi âm u ở cõi vô thức của con người đó. Tôi tránh mọi sự khiêu khích, cố ý hay là vô tình khi anh tấn công, và tránh tất cả biểu hiện của sự sợ hãi. Tỏ ra sợ hãi với anh là xác nhận anh điên loạn và đồng thời cũng khuyến khích sự điên loạn ấy.


Đối với phân bã nhầy nhụa đầy phòng tôi không được quyền ghê tởm, hoặc là khó chịu. Phải giúp cho anh hiểu được, bằng cách nào đó, qua những nẻo đường ý thức mập mờ rằng giữa chúng tôi không có phân biệt, không có đường ranh. Chúng ta là những anh em cùng chung trận tuyến, không phải là kẻ thù địch, và nghĩ cho cùng những phân bã ấy chỉ là biến chất của những thức ăn, một sự biến chất hết sức hiền lành - vì không biết đến ngụy trang - nếu so với những biến chất đáng sợ hằng ngày ta gặp ở trong lãnh vực con người. Thế mà đối với hạng này chúng ta đã bắt tay chúng, đã ngồi uống ăn với chúng rất đỗi vui vầy, thậm chí có kẻ lại còn ôm ấp chúng nữa, hoặc viết những bài để ca ngợi chúng.


Cái Tết bên ngoài đã đến với những tiếng pháo vọng lại mơ hồ ở nơi xà lim quá kín đáo này. Thấm thoát tôi đã ở đây được ba tuần rồi. Nhà giam là con quái vật khổng lồ nuốt từng ngoạm lớn thời gian mà không bao giờ cảm thấy no lòng.


Tết với tôi thật vô nghĩa vì tôi không được thăm nuôi, không biết tin tức gia đình, không có bạn bè gần gũi chung quanh. Tuy vậy tôi hiểu vì sao tôi bị giam giữ nơi đây vào thời khoảng này. Tất cả đều được tính toán theo một tinh thần khoa học của các bậc thầy tàn bạo. Đây là thời điểm con người dễ giao động nhất vì dễ nhớ nhà, nhớ sự quây quần đầm ấm, nhớ những cuộc vui và những kỷ niệm, vì Tết mang ở nơi mình cả một truyền thống với cái quá khứ ngàn đời. Kẻ thù không có quyền năng đối với tương lai, và lúc cùng quẫn đã phải quay tìm quá khứ làm một đồng minh. Những người chiến đấu là lớp chúng tôi biết yêu cái Tết thực sự lớn lao của toàn dân tộc, của toàn nhân loại, và cái Tết ấy vẫn đang thuộc về tương lai, đó là độc lập, hòa bình, đó là yên vui, hạnh phúc cho mọi con người.


Chỉ có anh bạn cùng chung xà lim với tôi có vẻ ăn Tét được nhiều, dĩ nhiên không phải là do lòng tốt của những cai ngục. Bao nhiêu thức ăn, thức uống tạp nhạp và những món đồ thừa thãi khác nhau của những tiệc nhậu đã làm rối loạn tiêu hóa của anh, dẫn đến phóng uế tràn ngập cả phòng. Hương vị ngày Tết của tôi là như vậy đó.


Tôi đã lấy bộ đồ cũ còn lại xé ra làm khăn lau chùi cho anh và đẩy các đóng phân bã ra cửa xà lim. Phân bã quyện với nước tiểu theo kẽ hở lớn tuôn chảy ra ngoài hành lang để lớp cai ngục hưởng bớt phần hôi thúi.


Qua năm mới này, tôi đã thấy được rõ hơn khá nhiều dấu hiệu đáng mừng. Những cú đấm đá người bạn trao tặng cho tôi đã được giảm bớt cả về số lượng cũng như cường độ. Luôn luôn anh bạn điên này dừng tay giữa chừng, nhìn sững vào tôi rồi thường là quay mặt đi. Giữa khuya lạnh lẽo, tôi nâng đầu anh đặt lên trên cánh tay mình, ôm lấy con người khốn khổ và run rẫy đó, con người nhếch nhác bẩn thỉu, hôi hám, nhưng là con người hết sức đáng thương. Trong những bệnh viện tâm thần các nước phương Tây, trước đây người ta thường nhốt những loại người điên hung hãn trong các xà lim chứa đầy rong biển, sau khi lột họ trần truồng. Loại rong biển này đã được phơi khô, bền dai hơn cả vải nhựa, chứa đầy i-ốt tỏa ra một hơi nồng ấm, và những người điên có thể tha hồ cấu xé, tha hồ nhai gặm hay là nô đùa, hoặc chui vào đó để ngủ trong những tháng ngày giá lạnh. Ở đây, tôi là một thứ rong biển cho người bạn mình và tôi tin rằng hơi ấm ở nơi lòng tôi, những lời ân cần, ngọt dịu và sự chăm sóc của tôi có thể ích lợi hơn chất i-ốt vô tình.


Khoảng một tuần sau, tôi đang nằm ngủ trong đêm bên người bạn tù, bỗng nghe có tiếng khua động bên ngoài. Tiếng một người nói:


- Báo cáo với xếp, ít ai chịu nổi hai tuần mà nó cầm cự cả hai tháng trời rồi đó. Quả là trưởng ban thứ thiệt.


Tôi lại là trưởng ban nữa! Hầu hết viên chức mà tôi đã gặp ở các nhà giam đều mang nơi mình cái cách suy luận hồ đồ đã mấy ngàn năm, là xét giá trị con người theo các chức vị. Giọng nói vừa rồi lại tiếp:


- Thưa xếp, còn phải nhốt bao lâu nữa?


- Vô ích. Nó đã chịu được hai tháng thì có thể chịu một đời. Mai mốt cho nó ra ngoài Côn Đảo mà nằm nghỉ mát. Lôi cái thằng điên đem bỏ vô phòng số bốn, chỗ nhốt thằng tiểu đoàn trưởng Việt cộng mang về hồi chiều…


Cánh cửa lại được mở ra, người bạn của tôi được đánh thức dậy bằng một cú đá của chiếc giày lính. Lập tức anh được lôi lên, kéo xệch ra ngoài. Trong ánh đèn bấm tôi thấy vẻ mặt ngơ ngác, hốt hoảng của anh quay về phía tôi và anh níu lấy khung cửa, nhưng liền bị giằng ra ngay và cửa được đóng sầm lại. Có một cái tát nặng nề, tiếng thét: “Đồ vô tích sự!”, tiếng huỵch của một thân người ngã xuống.


Một tiếng khóc bỗng nổi lên trong đêm thanh vắng, tiếng khóc ai oán lạ lùng, có lúc thét lên như lời kêu cứu quay vọng về chỗ tôi nằm. Tiếng khóc bỗng lại tắt đi đột ngột rồi lại bùng ra thảm thiết như cố vùng vẫy khỏi vòng trấn áp, càng lúc càng nghe nhỏ lại, xa đi, nhưng rồi ngân vọng một cách não nùng.


Như bị tiếng khóc cuốn hút, tôi vụt đứng dậy lao ra phía cửa, chạm vào cái mảng sắt lớn đã khóa kín lấp lối đi. Tiếng khóc bây giờ như văng vẳng lại, xa xôi, mơ hồ, nhưng như chứa đầy oán trách và nỗi bi thương. Tôi bám chặt cửa xà lim, cảm thấy đau đớn hơn bao giờ hết về sự bất lực khốn khổ của mình.


Và tôi ngồi xuống nền đất, oà ra tiếng khóc. Chỉ có bóng đêm và những vách tường lạnh lẽo, không ai có thể lấy dòng nước mắt của tôi làm điều dị nghị nên tôi đã khóc hồn nhiên như đứa trẻ thơ.


Viết lại một kỷ niệm lao tù của anh Huỳnh Xuân Đài,
tức Bảy Lâm Viên


VH.


Rút từ Tuyển tập Vũ Hạnh, tập 1. Triệu Xuân tuyển chọn. Bản thảo do nhà văn Triệu Xuân biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Vũ nữ Ba Lê - Olga Tokarczuk 15.10.2019
Người đàn bà xấu nhất hành tinh - Olga Tokarczuk 15.10.2019
Người cha anh hùng của nữ thủy thần Undine - Heinrich Böll 11.09.2019
Mùi vị bánh mì - Heinrich Böll 11.09.2019
Cuộc đời trôi nổi của cái tách không quai - Heinrich Böll 11.09.2019
Chuyện đời của một trí thức - Vũ Hạnh 11.09.2019
Người chồng của vợ tôi - Vũ Hạnh 11.09.2019
Ăn Tết với một người điên - Vũ Hạnh 11.09.2019
Cho nó có đạo đức - Lê Mai 06.09.2019
Nhốt gió - Bình Nguyên Lộc 22.08.2019
xem thêm »