tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29370585
Tiểu thuyết
10.09.2019
Thomas Hardy
Jude - Kẻ vô danh


CHƯƠNG BỐN


Đi hơi chậm vì tập trung suy nghĩ, thằng bé – một ông cụ non trong một vài ý tưởng, nhỏ hơn lứa tuổi nhiều so với những đứa trẻ khác ở ngoại hình – bị một người đi bộ nhanh chân khác vượt qua. Dù ánh sáng khá mờ, có thể nhận thấy ông ta đội một cái nón cao khác thường, mặc một cái áo đuôi tôm, đeo một sợi dây đồng hồ bỏ túi đong đưa qua lại như điên và lấp lánh dưới ánh sáng bầu trời khi chủ nhân của nó đi rất nhanh trên một đôi chân lỏng khỏng và một đôi ủng êm ru. Bắt đầu cảm thấy cô đơn, Jude cố bắt kịp ông ta.


“Chà, anh bạn trẻ! Ta đang vội, thế nên cháu phải đi khá nhanh nếu cháu muốn đi chung với ta. Cháu có biết ta là ai không?”


“Có, cháu cho là vậy. Ông là thầy thuốc Vilbert?


“Ờ, ở đâu mọi người cũng biết ta, ta thấy! Cũng tất nhiên thôi khi là một người giúp đỡ cho công chúng.”


Vilbert là một thầy lang vườn lưu động, được nhiều dân quê biết tới, và tuyệt đối vô danh đối với bất kỳ ai khác, vì thật sự ông ta rất thận trọng né tránh những cuộc điều tra gây bất tiện. Dân quê là bệnh nhân duy nhất của ông, và tiếng tăm ở vùng Wessex của ông chỉ phổ biến trong số họ. Địa vị của ông khiêm tốn hơn và chuyên môn của ông ít được biết tới hơn so với những thầy thuốc có nhiều vốn và một hệ thống quảng bá có tổ chức. Thật ra, ông là một thầy lang truyền thống còn sót lại. Những khoảng cách ông đã đi bộ qua rất lớn, và mở rộng hầu như toàn bộ chiều dài và chiều rộng của vùng Wessex. Một ngày nọ Jude đã nhìn thấy ông bán một lọ mỡ lợn có màu để chữa chân đau cho một bà cụ; bà ta phải trả một ghi-nê tiền góp, mỗi nửa tháng một siling, vì theo ông thầy lang, vì món thuốc quý giá này chỉ có thể kiếm được từ một loài thú đặc biệt chuyên kiếm ăn trên núi Sinai[1], và người ta chỉ bắt được nó khi đánh liều với tính mạng. Dù nghi ngờ các thứ thuốc của quý ông này, Jude cảm thấy ông ta chắc chắn là một kẻ đi lại rất nhiều, và có thể là một nguồn thông tin đáng tin cậy về những vấn đề không thuộc lĩnh vực chuyên môn.


“Cháu cho là ông đã tới Christminster rồi, phải không ông?”


“Phải đó, nhiều lần,” người đàn ông cao gầy đáp. “Đó là một trong các trung tâm hoạt động của ta.”


“Nó có phải là một thành phố tuyệt vời của sự thông thái và tôn giáo?”


“Cháu có thể nói thế, nhóc ạ, nếu cháu nhìn thấy nó. Sao chứ, con trai của những bà lão rửa bát đĩa trong các trường đại học cũng có thể nói chuyện bằng tiếng Latin. Không phải thứ tiếng Latin lưu loát, ta thừa nhận, với tư cách một nhà phê bình: thứ tiếng Latin bồi, như bọn ta hay gọi hồi thời còn là sinh viên.”


“Còn tiếng Hy Lạp thì sao?”


“Ờ, thứ tiếng đó dành cho những kẻ được đào tạo để trở thành giám mục, để họ có thể đọc bản gốc Tân Ước.”


“Cháu cũng muốn học tiếng Latin và Hy Lạp.”


“Một ước vọng cao quý. Cháu phải nắm được ngữ  pháp của mỗi thứ tiếng.”


“Cháu định ngày nào đó sẽ tới Christminster.”


“Khi nào thực hiện điều đó, cháu cứ nói rằng thầy lang Vilbert là chủ nhân duy nhất của những viên thuốc lừng danh luôn chữa khỏi mọi loại rối loạn tiêu hóa, cũng như bệnh hen và khó thở. Hai siling ba xu một hộp, được đặc biệt cấp phép bởi con dấu của chính quyền.”


“Ông có thể cho cháu cuốn sách ngữ pháp nếu cháu hứa nói điều đó với mọi người quanh đây không?”


“Ta sẽ vui lòng bán cho cháu kiến thức mà ta từng sử dụng khi còn là sinh viên.”


“Ồ, cám ơn ông!” Jude nói, rất đỗi biết ơn, nhưng hơi hổn hển, tốc độ đi bộ quá nhanh  của ông thầy lang khiến nó phải vừa đi vừa chạy, và bị xóc hông.


“Ta nghĩ tốt hơn cháu nên tụt lại sau, anh bạn trẻ ạ. Giờ ta sẽ nói cho cháu biết ta sẽ làm gì. Ta sẽ đưa cho cháu cuốn ngữ pháp, và giảng bài học thứ nhất, nếu cháu nhớ giới thiệu thứ thuốc mỡ vàng, những giọt nước trường sinh và những viên thuốc dành cho phái nữ của ta với mọi ngôi nhà trong làng.”


“Ông sẽ dạy cháu ngữ pháp ở đâu?”


“Ta sẽ đi ngang qua đây đúng nửa tháng tính từ hôm nay, đúng vào giờ này, bảy giờ hai mươi lăm phút. Những hoạt động của ta cũng đúng giờ giấc như chuyển động của các hành tinh trên quỹ đạo của chúng.”


“Cháu sẽ tới đây để gặp ông.”


“Với những đơn đặt hàng cho các thứ thuốc của ta chứ?”


“Vâng, thưa ông.”


Sau đó Jude tụt lại phía sau, nghỉ chút xíu để thở, rồi đi về nhà, nghĩ rằng nó đã đấu tranh vì Christminster.


Suốt nửa tháng chờ đợi, nó chạy tung tăng khắp thôn và mỉm cười với những ý nghĩ thầm kín, như thể chúng là những người đang gặp và gật đầu chào nó – mỉm cười với tia sáng đẹp đẽ lạ lùng thường lan tỏa trên những gương mặt trẻ trung khi họ chợt nghĩ ra một ý tưởng tuyệt vời nào đó, như thể một ngọn đèn siêu nhiên được thắp lên trong bản chất trong suốt của họ, nâng cao ảo tưởng rằng khi đó thiên đường nằm quanh họ.


Nó trung thực thực hiện lời hứa với ông thầy lang, người mà giờ đây nó chân thành tin tưởng, đi đây đi đó khắp những thôn xung quanh với tư cách đại diện được cử tới trước của ông thầy thuốc. Vào buổi tối đã hẹn, nó đứng bất động trên đồi, ngay tại địa điểm nó đã chia tay với Vilbert, chờ ông tới. Vị thầy thuốc lang thang tới khá đúng giờ; nhưng trước sự ngạc nhiên của Jude, khi đi tới gần nó với tốc độ rất nhanh nhưng vẫn tỏ ra không mất chút sức lực nào, dường như ông hầu như không nhận ra người bạn đồng hành trẻ tuổi, dù sau nửa tháng, đêm đã sáng tỏ hơn trước. Jude nghĩ có lẽ đó là do nó đội một cái nón khác, và nó cất tiếng chào Vilbert với lòng tự trọng.


“Hả, gì thế anh bạn nhỏ?” Vilbert lơ đãng nói.


“Cháu đã tới,” Jude đáp.


“Cháu? Cháu là ai? Ồ, phải, chắc chắn rồi! Có kiếm được ai đặt hàng không cậu nhỏ?”


“Có.” Và Jude nói cho ông ta nghe tên và địa chỉ của những dân làng sẵn lòng dùng thử những viên thuốc và thuốc mỡ nổi tiếng khắp thế giới. Vị thầy lang cẩn thận ghi nhớ chúng trong đầu.  


“Thế còn ngữ pháp Latin và Hy Lạp thì sao ạ?” Giọng của Jude run rẩy vì nôn nóng.


“Thì sao chứ?”


“Ông đã bảo sẽ mang tới cho cháu những cuốn sách mà ông đã dùng trước khi lấy bằng.”


“Ờ, phải, phải! Ta quên khuấy mất, hoàn toàn! Quá nhiều cuộc sống phụ thuộc vào sự quan tâm của ta, cháu thấy đó, anh bạn nhỏ, thế nên ta không thể nghĩ nhiều tới những điều khác như mong muốn.”


Jude cố giữ bình tĩnh hồi lâu để chắc chắn về thực tế này; và nó lặp lại, với một giọng buồn bã, “Ông không mang chúng tới!”


“Không. Nhưng cháu cứ kiếm cho ta thêm đơn đặt hàng từ những người đau ốm, và lần sau ta sẽ mang chúng tới cho cháu.”


Jude tụt lại phía sau. Nó là một thằng bé đơn giản, nhưng trực giác thiên phú bất ngờ vẫn đôi khi được ban cho trẻ con chỉ cho nó thấy ngay rằng vị lang băm này không phải là người tốt. Không có ánh sáng tri thức nào từ nguồn này cả. Những chiếc lá rơi rụng khỏi cái vòng nguyệt quế vinh quang trong trí tưởng của nó; nó đi tới một cánh cổng, ngồi tựa lưng vào đó, và khóc nức nở.


Theo sau nỗi thất vọng là một khoảng thời gian hoàn toàn trống rỗng. Có lẽ nó sẽ học ngữ pháp ở Alfredston, nhưng muốn thế phải có tiền và phải biết cần mua những cuốn sách nào; và dù sống khá ổn về mặt vật chất, nó hoàn toàn phụ thuộc nên chẳng có xu nào trong túi cả.


Ngay thời đỉểm đó, ông Phillotson báo tin sẽ cử người tới lấy cây đàn dương cầm, và việc này gợi cho Jude một ý tưởng. Sao nó không viết thư cho ông hiệu trưởng, và hỏi ông có vui lòng gửi cho nó những cuốn sách ngữ pháp ở Christminster? Nó có thể nhét một lá thư vào thùng đàn, và chắc chắn nó sẽ tới tay người nhận. Vì sao không xin ông gửi bất cứ cuốn sách cũ đã dùng nào, những cuốn sách hẳn phải thấm đẫm sức mê hoặc của bầu không khí ở trường đại học?


Việc nói dự định này với bà cô sẽ làm hỏng chuyện. Nó cần phải hành động một mình.


Sau khi cân nhắc thêm vài ngày, nó quyết tâm hành động, và vào hôm cây đàn được mang đi, cũng là ngày sinh nhật của nó, nó bí mật đặt lá thư trong thùng đựng đàn, gửi thẳng cho người bạn rất đáng ngưỡng mộ của nó, không hề tiết lộ với bà cô Drusilla, e rằng nếu biết chuyện bà sẽ buộc nó từ bỏ kế hoạch này.


Cây đàn được mang đi, và Jude chờ suốt nhiều ngày, nhiều tuần, sáng nào cũng ghé tới bưu cục trước khi bà cô nó thức dậy. Cuối cùng một gói sách đã thật sự về tới làng, và khi nhìn vào đầu cái gói, nó thấy trong đó có hai cuốn sách mỏng. Jude mang cái gói tới một nơi vắng người, rồi ngồi trên một cây du đã ngã và mở nó ra.


Kể từ khi có viễn tượng đầu tiên về Christminster và những khả năng ở đó, Jude đã suy nghĩ nhiều về quá trình chuyển những cách thể hiện của một ngôn ngữ sang một ngôn ngữ khác. Nó kết luận rằng ngữ pháp của thứ ngôn ngữ cần học nói chung chứa đựng một quy tắc hoặc gợi ý về bản chất của một thứ mật mã mà một khi đã biết sẽ cho phép nó tùy ý thay đổi mọi từ ngữ của tiếng mẹ đẻ sang tiếng nước ngoài, chỉ đơn giản bằng cách áp dụng quy tắc này. Thật sự, ý tưởng trẻ con của nó là một cố gắng vươn tới với độ chính xác toán học cao nhất điều mà mọi nơi đều biết tới dưới tên gọi Định luật Grimm[2] – một sự mở rộng những quy tắc thô sơ tới sự toàn vẹn lý tưởng. Do vậy nó cho rằng những từ của ngôn ngữ cần học luôn có thể được tìm thấy tiềm ẩn đâu đó trong những từ của ngôn ngữ mẹ đẻ bởi những kẻ nắm được nghệ thuật khám phá ra chúng. Nghệ thuật đó được cung cấp bởi những cuốn sách ngữ pháp.


Khi nhận thấy gói bưu kiện có đóng dấu bưu cục Christminster, nó cắt dây, mở hai cuốn sách ra, và quay sang ngữ pháp tiếng Latin, vốn có khả năng ở vị trí cao nhất. Và nó hầu như không tin vào mắt của mình.


Cuốn sách này rất cũ; in từ ba mươi năm trước, hoen ố, bị viết đè lên một cách ngẫu nhiên với một cái tên xa lạ theo mọi tâm trạng thù địch khác nhau đối với chữ in, và thi thoảng được đánh dấu bởi những ngày tháng trước khi nó chào đời hai mươi năm. Nhưng đây không phải là nguyên do cho sự kinh ngạc của Jude. Lần đầu tiên nó hiểu ra rằng không có quy luật chuyển ngữ nào cả, như nó đã ngây thơ lầm tưởng (có, ở mức độ nào đó, nhưng tác giả cuốn sách ngữ pháp không công nhận), mà từng từ một của tiếng Latin hoặc Hy Lạp phải được phải được chuyển vào ký ức một cách riêng lẻ, với cái giá của nhiều năm cần mẫn.


Jude vất cuốn sách xuống, ngã người lên thân cây du to rộng, và trở thành một đứa bé cực kỳ đau khổ trong khoảng mười lăm phút. Theo thói quen, nó kéo cái nón xuống che mặt và quan sát mặt trời đang âm thầm nhìn nó qua những khe hở. Đây là tiếng Latin và tiếng Hy Lạp, vậy đây có phải là một ảo tưởng to lớn hay không! Sự mê hoặc mà nó đã cho rằng sẽ xảy ra với nó thật sự là một sự lao dịch khổ sai giống như của dân Israel ở Ai Cập.[3]


Sinh viên của những ngôi trường lớn ở Christminsters phải có một bộ não tuyệt vời, nó nghĩ, để học từng từ một cho tới khi thuộc lòng mười ngàn từ! Bộ não trong đầu nó không tương xứng với công việc này; và trong lúc những tia nắng nhỏ xíu tiếp tục luồn qua những khe hở soi lên mặt nó, nó ước phải chi nó chưa từng nhìn thấy cuốn sách nào và sẽ không bao giờ nhìn thấy một cuốn khác, và phải chi nó chưa từng được sinh ra. 


Có thể sẽ có người đi qua con đường đó và sẽ hỏi xem nó gặp rắc rối gì, và có thể sẽ làm cho nó vui lên bằng cách nói rằng những ý tưởng của nó tiến bộ hơn những ý tưởng của tác giả cuốn sách ngữ pháp. Nhưng không ai tới cả, vì không ai đi qua con đường đó; và với nhận thức chua xót về sai lầm to lớn của mình, Jude tiếp tục ước gì bản thân nó không còn ở trong thế giới này.


 


CHƯƠNG NĂM


Trong ba bốn năm sau đó, người ta thường nhìn thấy một cỗ xe ngựa lạ lùng kỳ quặc di chuyển trên những con đường làng và đường nhỏ gần Marygreen, được điều khiển theo một cung cách cũng khá lạ lùng kỳ quặc.


Suốt một hai tháng sau khi nhận được hai cuốn sách, Jude đã trở nên chai lì với trò bịp xấu xa của những thứ tử ngữ dành cho nó. Thật ra, sau một thời gian, nỗi thất vọng của nó đối với bản chất của những ngôn ngữ đó đã trở thành phương tiện cho sự tôn vinh kiến thức uyên bác ở Christminster. Việc thủ đắc các ngôn ngữ, tử ngữ hoặc sinh ngữ, bất chất những trở ngại mà giờ đây Jude đã biết rõ, là một công việc khó khăn và ngày càng khiến cho thằng bé quan tâm nhiều hơn. Sức nặng như núi của vật chất mà bên dưới đó là những ý tưởng của những cuốn sách bụi bặm gọi là sách cổ điển Hy-La thúc đẩy nó thực hiện một nỗ lực ngoan cường, khéo léo, giống như cách thức một con chuột tha miếng thịt vụn.  


Nó đã cố làm cho sự hiện diện của mình trở nên dễ chịu đối với bà cô gắt gỏng bằng cách hết sức giúp đỡ bà, và hoạt động của cái tiệm bánh nhỏ rốt cuộc đã phát triển khá hơn. Một con ngựa già với cái đầu gục xuống đã được mua với giá tám bảng trong một cuộc đấu giá, thêm một cỗ xe cũ kỹ với cái mui màu nâu đã bạc phếch với giá vài bảng, và rốt cuộc hóa ra công việc của Jude là chở những ổ bánh mì tới giao cho dân làng và những trang trại lẻ loi quanh vùng Marygreen.


Nói cho cùng, sự lạ lùng ở chính cỗ xe không bằng sự lạ lùng trong cung cách Jude điều khiển nó trên đường. Đó là cảnh tượng Jude đang “tự học”. Ngay khi con ngựa đã quen với đường đi và những ngôi nhà mà Jude phải dừng lại một lúc, thằng bé, ngồi trước cỗ xe, thường thả hai sợi dây cương lên cánh tay, khéo léo mở ra và cố định cuốn sách nó đang đọc nhờ một sợi dây nối liền với mui xe, đặt cuốn tự điển trên đầu gối, và chìm đắm vào những đoạn văn đơn giản của Caesar, Virgil hay Horace, theo cách thức mù mờ dò dẫm của nó, với một nỗ lực học hỏi ghê gớm đến độ có thể khiến cho một nhà mô phạm có bản tính đa cảm phải rơi nước mắt. Thế nhưng theo cách nào đó nó cũng hiểu được ý nghĩa của những gì nó đọc, hiểu bằng trực giác hơn là nhìn thấy bằng mắt thường tinh thần của nguyên bản, thường là một cái gì đó khác với điều mà nó được dạy phải tìm kiếm.


Những cuốn sách mà nó có thể đặt tay lên là những bản in cũ của nhà xuất bản Delphin, học sinh thời nay không còn dùng chúng nữa, do đó chúng rất rẻ. Nhưng dù tồi tệ đối với những học sinh trong trường, chúng cũng khá tốt đối với nó. Tay xà ích lưu động lẻ loi và bị cản trở cố che đậy việc đọc trong lúc đánh xe, và chỉ tiến hành khi có sự hướng dẫn của một người bạn hiểu biết hoặc một gia sư tình cờ đi ngang qua. Và dù Jude có rất ít cơ may trở thành một học giả với cách học thô thiển đại khái này, nó đang bắt đầu bước vào con đường mà nó muốn đi theo.


Trong lúc nó bận rộn với những trang sách cổ từng được lật ra bởi những bàn tay giờ có thể đang nằm dưới mộ, khai quật tư tưởng của những tâm hồn rất xa xăm nhưng cũng rất gần gũi, con ngựa già đi theo những lối quen, và Jude thường thoát khỏi những nỗi buồn của Dido[4] khi cỗ xe đột ngột dừng lại và một bà cụ nào đó la lên: “Hôm nay hai ổ, chú thợ làm bánh, và tôi trả lại ổ bánh cũ này.”


Khách bộ hành cũng như nhiều người khác thường gặp nó trên đường, nhưng nó không hề nhìn thấy họ, và ở nhiều mức độ khác nhau, dân quanh vùng bắt đầu bàn tán về cung cách kết hợp giữa làm và chơi của nó (họ xem việc đọc của nó là thế), mà, dù chắc chắn là khá thuận tiện đối với bản thân nó, lại hoàn toàn không an toàn chút nào đối với những kẻ di chuyển cùng con đường với nó. Có những lời xì xầm. Sau đó một cư dân gần đó báo cáo với viên cảnh sát địa phương rằng không nên cho phép thằng bé giao bánh mì đọc trong lúc đánh xe, và khăng khăng rằng nhiệm vụ của ông ta là bắt quả tang nó, đưa nó ra tòa án ở Alfredston, và phạt tiền nó vì những thực hành có tính chất nguy hiểm  trên đường lộ. Do đó viên cảnh sát đã phục kích Jude, và một ngày nọ đã gặp nó để cảnh cáo.


Vì phải thức dậy từ ba giờ sáng để đốt lò, sắp xếp và đặt vào xe số bánh mì mà sau đó nó giao cho khách hàng, Jude buộc phải đi ngủ ngay sau khi tắm rửa xong; thế nên nếu không đọc sách trên đường, nó hầu như không học được chút gì. Do đó, điều duy nhất cần làm là luôn hết sức cảnh giác quan sát phía trước và xung quanh, và giấu biến cuốn sách ngay khi có bất cứ kẻ nào xuất hiện từ xa, nhất là viên cảnh sát. Tuy nhiên, trong việc thực hiện công vụ đó, ông ta không thường xuất hiện trên đường đi của cỗ xe giao bánh mì cho lắm, vì cho rằng trong một huyện vắng vẻ như thế mối nguy chủ yếu là đối với chính bản thân Jude, và thông thường khi nhìn thấy cái mui xe trắng lấp ló bên trên những bờ giậu, ông ta sẽ đi theo một hướng khác.


Một hôm, trên đường trở về nhà, Jude Fawley - giờ nó đã mười sáu tuổi, khá tiến bộ trên bước đường tự học và đang mò mẫm đọc bài thánh thi “Carmen Sæculare”[5] – nhận ra mình đang đi ngang qua khu vực rìa cao nguyên cạnh Ngôi Nhà Nâu. Ánh sáng đã thay đổi, và chính cảm nhận về điều này đã khiến Jude ngẩng đầu lên. Mặt trời đang xuống thấp, và vầng trăng tròn cùng lúc nhô lên phía sau cánh rừng đối diện. Tâm hồn nó đang thấm đẫm bài thơ đến độ, trong khoảnh khắc, với cảm giác thôi thúc từng khiến nó quỳ xuống trên nấc thang mấy năm về trước, Jude giật cương cho con ngựa dừng lại, xuống xe và liếc quanh xem có ai ở gần đó hay chăng, rồi quỳ xuống vệ đường với cuốn sách mở ra. Trước tiên nó lật tới đoạn viết về nữ thần của ánh trăng, kẻ dường như đang dịu dàng và nghiêm trang nhìn những hành động của nó, rồi tới đoạn ánh sáng biến mất, và bắt đầu ngâm nga:


“Phœbe silvarumque potens Diana!”[6]


Con ngựa đứng yên cho tới khi Jude kết thúc bài thánh thi mà nó lặp đi lặp lại dưới sự chi phối của một ảo tưởng đa thần giáo mà hẳn nó không bao giờ nghĩ là quá khôi hài trong ánh sáng ban ngày.


Khi về tới nhà, nó trầm ngâm suy nghĩ về sự mê tín kỳ lạ, không biết do bẩm sinh hay mới có, khi làm điều này, và tính hay quên lạ lùng dẫn tới một sự suy đồi về lương tri và tập quán ở một kẻ từng ao ước trở thành một học giả hồi đầu, rồi kế đến là trở thành một linh mục. Tất cả là do nó chỉ toàn đọc những tác phẩm ngoại đạo. Càng nghĩ về vụ này, nó càng chắc chắn về sự bất nhất của mình. Nó bắt đầu tự hỏi nó có thể đọc toàn những cuốn sách đúng với mục đích trong đời của mình hay chăng. Đương nhiên dường như có rất ít hòa hợp giữa nền văn chương ngoại giáo này với những trường đại học cổ xưa ở Christminster.


Cuối cùng nó quyết định rằng trong tình yêu tuyệt đối dành cho việc đọc, nó đã có một cảm xúc sai lầm đối với một thiếu niên Thiên Chúa giáo. Nó đã thử đọc Homer của Clarke, nhưng chưa từng bỏ ra nhiều công sức với cuốn Tân Ước tiếng Hy Lạp, dù nó có một bản in, mua qua đường bưu điện từ một người bán sách cũ. Nó từ bỏ phương ngữ Ionic hiện đang quen thuộc để nghiên cứu một phương ngữ mới, và suốt một thời gian dài sau đó giới hạn việc đọc của mình gần như chỉ trong phạm vi các văn bản Phúc âm và Thư của Sứ đồ của Griesbach[7]. Ngoài ra, một hôm khi tới Alfredston, nó được giới thiệu với văn chương giáo lý khi tìm thấy trong tiệm sách vài cuốn của Các Đức Cha đã bị gán nợ bởi một giáo sĩ không đủ khả năng trả nợ trong vùng.


Một kết quả khác của sự chuyển hướng này là nó tới thăm tất cả các nhà thờ trong phạm vi có thể đi bộ vào những ngày Chủ nhật, giải mã những câu văn Latin trên những tấm bia mộ bằng đồng và những ngôi mộ. Một hôm, trong những chuyến hành hương kiểu này, nó gặp một bà cụ lưng gù rất thông thái, đã đọc mọi thứ bà có thể đặt tay lên, và bà nói cho nó biết nhiều điều về sự mê hoặc lãng mạn của thành phố của ánh sáng và tri thức. Nơi mà nó vẫn dứt khoát sẽ tới.


Nhưng nó sống ở thành phố đó bằng cách nào đây? Hiện tại nó không có nguồn thu nhập nào cả. Nó không có nghề nghiệp có đôi chút phẩm giá hay sự ổn định nào để mưu sinh trong lúc học hỏi nghiên cứu, và việc này có thể kéo dài suốt nhiều năm.


Và những công dân cần tới thứ gì nhất nhỉ? Thực phẩm, y phục và nơi ở. Một khoản thu nhập từ bất cứ công việc nào cũng đủ để trang trải cho khoản thứ nhất vì nó sẽ ăn uống rất đạm bạc; với khoản thứ hai thì nó không quan tâm mấy; nhu cầu thứ ba mới quan trọng. Họ đã xây dựng một thành phố; do đó nó sẽ học xây nhà. Nó nghĩ tới ông chú vô danh của mình, cha của cô em họ Susanna, một thợ chuyên chế tác các thứ đồ kim loại cho nhà thờ, và theo cách nào đó nghệ thuật cổ xưa ở bất cứ chất liệu nào là một nghề nghiệp mà nó khá ưa thích. Nó không thể mắc nhiều sai lầm trong việc nối bước chú nó, và gắn bó một thời gian với những cái xác chứa đựng những linh hồn thông tuệ.


 Bước đầu tiên là nó kiếm một số khối đá đẽo nhỏ vì kim loại không có sẵn, tạm hoãn việc nghiên cứu một thời gian, miệt mài sao chép theo những đề từ và chữ hoa trong nhà thờ giáo xứ.


Ở Alfredston có một người thợ đá loại xoàng, và ngay khi tìm được người giao bánh mì thay cho mình, nó tới giúp việc cho người đó với một khoản tiền công ít ỏi. Ở đây, Jude có cơ hội học được ít ra là những kiến thức cơ bản trong việc chế tác đá đẽo. Sau đó ít lâu, nó tới giúp việc cho một nhà thầu xây dựng nhà thờ cũng trong vùng đó, và dưới sự hướng dẫn của vị kiến trúc sư này nó trở nên khéo léo trong việc trùng tu những công trình phụ đã xuống cấp của nhiều ngôi nhà thờ của các làng quanh đó.


Không quên rằng nó chỉ theo nghề thủ công này như một chỗ dựa tạm thời trong lúc chuẩn bị cho những mục tiêu lớn mà nó đã tự lừa phỉnh là sẽ phù hợp hơn, nó vẫn tập trung chú ý học hỏi. Hiện tại nó ở lại thị trấn nhỏ này suốt tuần và chỉ trở về làng Marygreen mỗi chiều Thứ bảy. Jude đã tới và bước qua tuổi mười chín của mình như vậy đó.


CHƯƠNG SÁU


Một ngày Thứ bảy nọ trong thời điểm đáng nhớ này, vào lúc khoảng ba giờ chiều, Jude từ Alfredston trở về làng Marygreen. Tiết trời mùa hè đẹp, ấm và dễ chịu, anh[8] bước đi với túi đồ nghề khoác sau lưng, những cái đục nhỏ lanh canh chạm vào những cái lớn hơn trong túi. Vì hôm đó là ngày cuối tuần, anh nghỉ việc sớm, rời khỏi thị trấn theo một con đường vòng không thường xuyên đi, do đã hứa sẽ ghé vào một xưởng xay bột gần Cresscombe để thực hiện một việc cho bà cô già.


Tâm trạng của anh đang hưng phấn. Dường như anh đã tim ra cách thức để sống thoải mái ở Christminster trong khoảng một hai năm, và gõ cửa một trong những pháo đài của học thức mà anh luôn mơ ước. Dĩ nhiên hiện giờ anh cũng có thể tới đó, xét theo mức độ khả năng, nhưng anh thích bước vào thành phố đó khi đã chuẩn bị chắc chắn hơn chút nữa. Một cảm giác tự mãn ấm áp lan ra khắp cõi lòng anh khi anh nhẩm lại những gì đã làm được. Thỉnh thoảng, trong lúc đang đi, anh quay sang để đối diện với những cái nhìn lén lút của dân quê ở phía này hoặc phía khác. Nhưng anh hầu như không nhìn thấy ai cả; động tác đó là một sự lặp lại tự động của phản xạ mà anh đã trở nên quen thuộc khi ít tập trung suy nghĩ hơn; và vấn đề khiến anh thật sự bận tâm hiện giờ là ước đoán về sự tiến bộ của anh cho tới lúc này.


“Mình đã đạt được khả năng của một sinh viên trung bình trong việc đọc những tác phẩm Hy Lạp cổ điển phổ biến, và cả tiếng Latin nữa.” Điều này đúng, Jude có một vốn liếng tri thức đủ để dễ dàng tự tiêu khiển bằng những cuộc độc thoại sau đây trong những chuyến đi bộ một mình.


“Mình đã đọc hai cuốn sách của bộ Iliad, ngoài ra còn khá quen thuộc với nhiều đoạn thơ, chẳng hạn phát biểu của Phœnix trong tập chín, trận đánh của Hector và Ajax trong tập mười hai, sự xuất hiện tay không của Achilles và bộ áo giáp thần của chàng trong tập mười tám. Và những nghi thức tang lễ trong tập hai mươi ba. Mình cũng đã đọc xong một số đoạn trong Hesiod, một đoạn nhỏ trong Thucydides, và nhiều đoạn trong Tân Ước tiếng Hy Lạp… Ước gì chỉ có một loại phương ngữ trong tất cả mấy cuốn sách đó.”


“Mình cũng đã đọc một số sách toán, bao gồm sáu cuốn đầu, cuốn thứ mười một và mười hai của Euclid; và đại số ở mức các phương trình cơ bản.”


“Mình biết đôi điều về Các Đức Cha, và đôi điều về lịch sử La Mã và lịch sử nước Anh.”


“Những thứ này chỉ là một sự bắt đầu. Nhưng mình sẽ không tiến bộ nhiều lắm tại đây, do khó tìm được sách. Vì vậy kế tiếp mình phải tập trung mọi khả năng vào việc định cư ở  Christminster. Khi đã ở đó mình sẽ tiến bộ nhanh, với sự hỗ trợ nhận được ở đó, đến độ kiến thức hiện tại đối với mình sẽ giống như sự dốt nát của trẻ con. Mình phải để dành tiền, và sẽ để dành; và một trong những trường đại học đó sẽ mở cửa chào đón mình – sẽ đón mừng kẻ mà giờ đây nó khước từ nếu mình cứ chờ sự chào đón suốt hai mươi năm mà chẳng làm gì.”


“Mình sẽ trở thành tiến sĩ thần học trước khi chết!”


Cứ thế, Jude tiếp tục mộng mơ, và nghĩ thậm chí anh có thể trở thành một giám mục bằng cách sống một cuộc đời đức hạnh, sôi nổi, khôn ngoan. Và anh sẽ trở thành một tấm gương tuyệt vời! Nếu thu nhập của anh là 5000 bảng một năm, anh sẽ cho đi 4500 bảng bằng cách này hay cách khác, và sống thoải mái với số còn lại. Chà, khi nghĩ lại, một giám mục là chuyện phi lý. Anh sẽ dừng lại ở vị trí phó giám mục. Có lẽ người ta cũng có thể tốt, có học vấn và hữu ích với vị trí phó giám mục không khác chi một giám mục. Rồi sau đó anh lại nghĩ tới địa vị giám mục.


“Trong lúc đó mình sẽ đọc, ngay khi ổn định nơi chốn ở Christminster, những cuốn sách mà mình không thể tìm được ở đây: Livy, Tacitus, Herodotus, Æschylus, Sophocles, Aristophanes…”


“Ha, ha, ha! Anh chàng tự phụ!” Những giọng nữ trong trẻo vang lên từ mé bên kia bờ giậu, nhưng Jude không chú ý tới chúng. Anh tiếp tục suy nghĩ lan man:


“…Euripides, Plato, Aristotle, Lucretius, Epictetus, Seneca, Antoninus. Sau đó mình phải tinh thông những cuốn khác: Các Đức Cha thật triệt để; Bede và lịch sử giáo hội nói chung; một ít tiếng Do Thái cổ - mình chỉ mới biết những mẫu tự…”


“Anh chàng hợm mình!”


“…nhưng mình có thể làm việc chăm chỉ. Mình có thừa năng lực, tạ ơn Chúa! Và gì nhỉ… Phải, Christminster sẽ là Alma Mater[9] của mình;  và mình sẽ là con trai yêu dấu của Người, và  Người sẽ rất hài lòng về mình.”


Chìm sâu trong suy nghĩ về những việc sẽ thực hiện trong tương lai, bước chân của Jude đã chậm lại, và lúc này anh đang đứng im lìm, nhìn xuống đất, như thể tương lai được ném xuống đó bởi một cái đèn lồng kỳ diệu. Đột nhiên có gì đó va mạnh vào tai anh, và anh chợt nhận ra một thứ lạnh, mềm đã được ném vào anh, và đã rơi xuống chân anh.


Một cái liếc mắt cho Jude biết đó là gì – một miếng thịt, một bộ phận đặc trưng của một con heo đực thiến[10], mà dân quê dùng để bôi lên ủng, vì nó vô dụng đối với bất kỳ mục đích nào khác. Ở đây có khá nhiều heo, được nuôi và vỗ béo với số lượng lớn trong những vùng nhất định ở Bắc Wessex.


Ở bên kia bờ giậu có một dòng suối, từ đó, như giờ đây anh mới nhận ra lần đầu tiên, những tiếng cười và giọng nói trong trẻo đã vang lên, hòa vào những mộng mơ của anh. Jude trèo lên mô đất và nhìn qua bờ giậu. Ở mé xa của dòng suối có một ngôi nhà, với một khu vườn và một dãy chuồng heo nối liền nhau; ở phía mặt tiền, bên cạnh dòng suối, ba cô gái đang quỳ gối, với những cái xô và dĩa lớn đựng những khúc ruột heo, và họ đang rửa chúng trong dòng nước chảy. Một hai đôi mắt e thẹn liếc lên, khi nhận thấy cuối cùng họ đã thu hút được sự chú ý của anh, và anh đang quan sát, họ bắt đầu làm duyên làm dáng, kín đáo chúm môi lại và tiếp tục rửa ruột heo với vẻ chăm chú.


“Cám ơn!” Jude nghiêm trang nói.


“Không phải tôi ném đâu nhé!” Một cô gái nói với bạn mình, như thể không biết tới sự hiện diện của chàng trai.


“Tôi cũng không,” người thứ hai đáp.


“Ồ, Anny, sao chị có thể nói thế!” Cô gái thứ ba lên tiếng.


“Nếu như tôi có ném bất cứ thứ gì, tôi cũng sẽ không ném thứ đó!”


“Chà! Tôi không quan tâm tới anh ta!” Họ cười to, rồi tiếp tục công việc, không nhìn lên, và vẫn ồn ào đổ lỗi cho nhau.


Jude nghe thấy những lời đó, và vừa lau mặt anh vừa nói với vẻ mỉa mai:


“Cô đâu có làm điều đó, ồ, không đâu!” Anh nói với một trong ba cô gái ở mé trên dòng suối.


Người anh hướng tới là một cô gái mắt đen xinh xắn, không chính xác là đẹp, nhưng có thể coi là thế ở một khoảng cách hơi xa, dù trông hơi thô kệch. Nàng có một bộ ngực tròn đầy, môi dày, hai hàm răng tuyệt đẹp, và nước da hồng hào như vỏ một quả trứng gà Cochin. Nàng là một tạo vật giống cái có thật và hoàn hảo – không hơn không kém; và Jude hầu như chắc chắn rằng nàng chính là kẻ đã táo bạo lôi sự chú ý của anh từ giấc mơ về những mẫu tự có tính nhân văn hơn tới cảm giác đang sôi sục trong những cô gái đó.


“Anh sẽ không bao giờ biết được,” nàng đáp, có vẻ nghiêm túc.


“Ai làm việc đó là người lãng phí tài sản của kẻ khác.”


“Ồ, thứ đó chẳng là gì cả.”


“Nhưng cô muốn nói chuyện với tôi, tôi cho là vậy?”


“Ồ, vâng, nếu anh thích.”


“Tôi sẽ trèo qua đó, cô tới chỗ cây cầu ván được không?”


Có lẽ nàng đã đoán trước một cơ hội; bởi theo cách nào đó, đôi mắt của cô gái da nâu này dán vào mắt anh khi anh nói dứt câu, và có một giao cảm lóe lên trong chớp mắt, một tuyên bố câm lặng về sự đồng cảm có thể có giữa nàng và anh, mà trong chừng mực Jude quan tâm, không có dự tính trước nào trong đó. Nàng thấy anh đã chọn nàng trong nhóm ba người, như một phụ nữ sẽ được chọn trong những trường hợp như thế, không vì mục đích đi xa hơn nữa mà chỉ vì sự tuân phục bình thường đối với những mệnh lệnh liên tiếp từ não bộ, được vô thức tiếp nhận bởi những gã đàn ông không may khi dự định cuối trong đời họ là chịu sự khống chế của giống cái.


Nàng đứng lên và nói, “Hãy mang trả lại cái thứ đang nằm ở đó.”


Lúc này Jude biết rằng việc nàng ra hiệu cho anh không dính dáng gì tới công việc của cha nàng. Anh đặt cái túi đồ nghề xuống, nhặt cục thịt vất đi lên, đưa gậy vẹt một lối đi và bước qua bờ giậu. Họ đi theo hai đường song song, mỗi người từ mỗi bờ của dòng suối, tiến tới cây cầu ván nhỏ. Khi tới gần chiếc cầu, nàng kín đáo nút nhẹ mỗi phía bên trong của hai gò má, không để cho anh nhận thấy, và với thao tác lạ lùng đơn sơ đó, nàng tạo nên, như thể bởi phép màu, hai lúm đồng tiền tuyệt hảo bên trên gương mặt mịn màng tròn trĩnh, và có thể duy trì nó chừng nào nàng vẫn còn tiếp tục mỉm cười. Kỹ thuật tạo ra lúm đồng tiền tùy thích này là một kỹ thuật ít người biết tới, vì đã có nhiều người thử nhưng chỉ rất ít thành công.


Họ gặp nhau ở giữa cầu, và Jude ném trả cho nàng mẩu thịt nhỏ, tỏ vẻ như đang chờ nàng giải thích vì sao nàng ngăn bước chân của anh bằng thứ phi đạn này thay vì cất tiếng gọi anh.


Nhưng nàng e thẹn nhìn sang hướng khác, đong đưa thân hình tới lui, tay nắm chặt thanh vịn của lan can cầu; cho tới khi, bị thôi thúc bởi sự hiếu kỳ và mãnh lực ái tình, nàng quay lại, nhìn anh với đôi mắt dò xét.


“Anh không nghĩ là tôi đã ném nó vào người anh à?”


“Ồ, không.”


“Bọn tôi đang làm việc cho cha tôi, và đương nhiên là ông không muốn bất cứ thứ gì bị vất đi. Ông sẽ chế biến nó thành mỡ để bôi da thuộc.” Nàng hất đầu về phía mẩu thịt nằm trên cỏ.


“Điều gì khiến cho một trong hai người kia ném nó, tôi tự hỏi?” Jude nói, lịch sự chấp nhận lời khẳng định của nàng, dù anh rất hồ nghi tính chân thật của nó.


“Sự trơ trẽn. Đừng nói với dân làng là tôi ném, nhớ đấy!”


“Sao tôi có thể làm điều đó chứ? Tôi chưa biết tên cô.”


“À, không. Tôi có nên nói cho anh biết hay không?”


“Nói đi!”


“Arabella Donn. Tôi sống ở đây.”


“Chắc chắn tôi phải biết tên cô nếu tôi thường đi qua lối này. Nhưng đa phần tôi đi thẳng theo đường lớn.”


“Cha tôi là một chủ trại heo, và hai cô gái này đang giúp tôi rửa lòng heo để làm bánh puđinh đen và các thứ bánh tương tự.”


Họ trò chuyện thêm chút nữa, rồi thêm chút nữa, trong lúc đứng nhìn nhau và tựa lưng vào lan can cầu. Tiếng gọi vô thanh của phụ nữ với đàn ông, vốn được thốt ra rất rõ ràng bởi thái độ của Arabella, giữ Jude lại đó trái với ý muốn của anh – hầu như trái với ý chí nữa, và theo một cách thức rất mới mẻ đối với kinh nghiệm của anh. Hầu như không có gì cường điệu khi nói rằng cho tới giây phút này Jude chưa từng nhìn một phụ nữ theo cách này, mà chỉ mơ hồ xem giới tính này như những tạo vật ở bên ngoài cuộc đời và những mục đích của mình. Anh chăm chú nhìn từ đôi mắt tới miệng của nàng, rồi tới bộ ngực, rồi hai cánh tay để trần tròn lẳn, ẩm ướt, nổi da gà vì hơi nước lạnh, và rắn chắc như cẩm thạch.


“Trông cô rất xinh!” Anh lẩm bẩm, dù để thể hiện cảm nhận về sự thu hút của nàng, những từ này đã không còn cần thiết nữa.


“Chà, anh nên nhìn thấy tôi vào những ngày Chủ nhật!” Nàng nói, hơi chảnh.


“Tôi có thể sao?”


“Anh hãy suy nghĩ về việc đó. Chưa có ai theo đuổi tôi ngay lúc này, nhưng một hai tuần nữa thì rất có thể.” Nàng không cười khi nói câu này, và hai cái lúm đồng tiền biến mất.


Jude cảm thấy thân thể mình bềnh bồng một cách lạ lùng, nhưng không thể cưỡng lại nó. “Cô sẽ cho phép tôi chứ?”


“Tôi không thấy phiền đâu.”


Lúc này nàng đã có lại một lúm đồng tiền sau khi quay đi giây lát và lặp lại thao tác lạ lùng đã nói, nhưng ngoài một ấn tượng chung về ngoại hình của nàng, Jude hoàn toàn vô ý thức với chuyện này. “Chủ nhật sau?” Anh đánh bạo hỏi. “Nghĩa là ngày mai?”


“Vâng.”


“Tôi có thể tới thăm cô chứ?”


“Vâng.”


Mặt nàng sáng bừng với một vầng hào quang đắc thắng, nàng dịu dàng nhìn anh rồi quay đi, men theo bãi cỏ ven bờ suối trở về chỗ hai người bạn.


Jude Fawley khoác túi đồ nghề lên vai và tiếp tục chuyến đi đơn lẻ, khắp người bừng bừng một cảm giác không tên. Anh vừa hít vào một luồng không khí mới, rõ ràng đã bao quanh anh từ trước đó, nhưng theo cách nào đó nó đã bị tách khỏi hơi thở thật sự của anh bởi một tấm kính mỏng manh, không biết kể từ lúc nào. Những dự tính về việc đọc, làm việc, và học hỏi, mà anh đã hình thành mới trước đó vài phút đã sụp đổ một cách lạ lùng, nhưng anh không biết vì sao.


“Chà, đây chỉ là chút vui đùa,” anh tự nhủ, mơ hồ ý thức rằng, xét theo lẽ thường tình, có một thiếu sót nào đó, tuy nhiên rõ ràng cũng một sự thừa thãi nào đó trong bản chất của cô gái đã cuốn hút anh. Thế nên anh cần xác định về phần mình rằng nguyên do anh tìm kiếm cô ta chỉ mang tính chất vui đùa - trong con người nàng có gì đó hoàn toàn trái ngược với khát khao dành cho việc nghiên cứu văn chương và giấc mơ Christminster tuyệt vời của anh. Một kẻ chọn ném thứ đó để mở màn cuộc tấn công vào anh không thể là một người trong trắng. Anh nhìn thấy điều này với con mắt lý trí, chỉ trong một khoảnh khắc vô cùng ngắn ngủi, giống như nhờ ánh sáng của một ngọn đèn bị đánh rơi người ta có thể tạm thời nhìn thấy một câu văn viết trên tường trước khi mọi thứ chìm vào bóng tối. Rồi sau đó khả năng phân biệt thoáng qua này biến mất, và Jude hoàn toàn lạc hướng trước sự xuất hiện của một lạc thú tinh khôi và mãnh liệt, thứ lạc thú phát hiện ra một nguồn cảm xúc mới mẻ mà cho tới lúc đó anh không thể nào ngờ tới, dù nó vẫn nằm sát bên cạnh anh. Anh sẽ phải tới gặp người khác giới khêu gợi này vào Chủ nhật tới.


Trong lúc đó cô gái đã nhập bọn với hai người bạn, và nàng lặng lẽ tiếp tục công việc rửa lòng heo trong dòng suối trong veo.


“Tóm được chàng rồi hả, chị thân yêu?” Cô gái tên Anny hỏi vắn tắt.


“Tôi không biết. Tôi ước gì đã ném thứ nào đó khác hơn!” Arabella lẩm bẩm với vẻ hối tiếc.


“Ôi Giời! Hắn chẳng là ai cả, dù chị có thể nghĩ thế nào. Hắn từng đánh chiếc xe ngựa giao bánh mì của bà cụ Drusilla Fawley ở Marygreen, rồi sau đó học nghề ở Alfredston. Kể từ đó hắn rất vênh váo và lúc nào cũng đọc. Họ bảo hắn muốn trở thành một học giả.”


“Ồ, tôi không quan tâm anh ta là gì, hoặc bất cứ điều gì về anh ta. Đừng có nghĩ vớ vẩn nữa, cô gái!”


“Vậy chị cũng thế nhé! Chị không cần lừa bọn tôi! Chị rề rà trò chuyện với anh ta để làm gì nếu không muốn anh ta? Dù chị có muốn hay không, anh ta đơn giản như một đứa trẻ. Tôi có thể nhìn thấy điều đó khi chị đang tán tỉnh trên cầu, khi anh ta nhìn chị như thể chưa từng nhìn thấy một phụ nữ nào trong đời. Chà, anh ta sẽ thuộc về bất kỳ người đàn bà nào có thể khiến cho anh ta quan tâm tới, nếu người đó muốn giăng bẫy để tóm anh ta theo đúng cách thức.”


(còn tiếp)


JUDE – Kẻ vô danh. Tiểu thuyết của Thomas Hardy. Quyển tiểu thuyết gây chấn động nước Anh thời Victoria. Được The Guardian.com xếp hạng thứ 29 trong số 100 tác phẩm tiếng Anh hay nhất mọi thời đại. Nguyễn Thành Nhân dịch Dịch từ nguyên tác: Jude The Obscure của Thomas Hardy.


Nhà văn, Dịch giả Nguyễn Thành Nhân gửi www.trieuxuan.info


 







[1] Nằm trên bán đảo Sinai, Ai Cập; được các tôn giáo bắt nguồn từ Abraham xem là ngọn núi thiêng. Nó được nhắc tới nhiều lần trong Kinh Thánh, và là nơi Moses đã được Chúa Trời ban cho Mười điều răn.




[2] Grimm’s Law (còn gọi là First Germany Sound Shift hoặc Rask’s Rule): những trình bày của Jacob Grim, nhà ngôn ngữ học và thần thoại học người Đức (1785-1863) và Rasmus Rask, nhà ngôn ngữ học người Đan Mạch (1787-1832 ) nhằm nhận diện những biến đổi của các phụ âm, từ những ngôn ngữ cổ thuộc hệ Ấn-Âu, đặc biệt là tiếng Phạn, Hy Lạp và Latin, cho tới những ngôn ngữ hiện đại thuộc hệ Đức ngữ (ví dụ: pater trong tiếng Hy Lạp và Latin, vater trong tiếng Đức và father trong tiếng Anh.




[3] Người Israel từng bị buộc trở thành nô lệ tại Ai Cập. (Xuất Ai Cập ký – Kinh Thánh).




[4] Nữ hoàng đã sáng lập Đế quốc Carthage. Nhân vật trong trường ca Aeneid của thi hào Virgil.




[5] Bài thánh thi do Horace viết năm 17 TCN theo đặt hàng của Augustus (63 TCN-14) hoàng đế đầu tiên của Đế chế La Mã để khai mạc Lễ hội Thi đấu (110 năm một lần) tại Đấu trường La Mã. Nội dung của bài thơ là lời cầu nguyện thần ánh sáng Phoebe (Appollo) và thần ánh trăng Diana và ca tụng Augustus.




[6] Hỡi Phoebe, và Diana, nữ hoàng của rừng xanh!




[7] Bản in thơ Homer của Samuel Clark ( xuất bản 1818) và bản in Tân Ước bằng  tiếng Hy Lạp của Johann Jakob Griesbach (xuất bản lần đầu năm 1779). Phương ngữ Ionic của bản Homer tiếng Hy Lạp có khá nhiều khác biệt với bản Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp ra đời sau đó rất lâu.




[8] Jude đã trưởng thành, vì vậy người dịch tạm dùng đại từ nhân xưng “anh” thay cho “nó”.




[9] Từ gốc Latin có nghĩa đen là Bà Mẹ Dưỡng Dục, nghĩa thông thường chỉ trường phổ thông hay đại học.




[10] Tức dương vật của con heo đực thiến.




 

Mục lục:
1.
2.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 28.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
xem thêm »