tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29369857
Tiểu thuyết
05.09.2019
Khái Hưng
Tiêu sơn tráng sĩ


Hồi 9


Trong rừng Đình Bảng


Quang Ngọc đi trước dẫn đường, rẽ cương lượn qua cửa Tây, tức cửa chính phủ Từ Sơn.


Lê Báo cho ngựa chạy ngang hàng và hỏi:


- Sao đại huynh lại cho ngựa chạy về phía này?


Nhưng Quang Ngọc không trả lời, im lặng cho ngựa phi thật nhanh mãi khi tới


chỗ ngã ba mới kìm cương nhảy xuống đất. Nhị Nương cũng nhanh nhẹn nhảy


ngoắt theo xuống, hỏi:


- Đại huynh dừng lại làm gì vậy?


- Hiền muội không biết đây là ngã ba ư?


Thấy ở bên đường có một người bắt ếch giơ cao bó đuốc nứa đứng nhìn.


Quang Ngọc gọi lại bảo soi ánh lửa xuống đường xem. Chàng chau mày chép


miệng lẩm bẩm nói:


- Thế thì lạ quá nhĩ Cả hai ngã cùng có vết móng ngựa... Hay họ đến một lối


mà đi một lối... Cũng vô lý, vì xét kỹ thì vết chân ngựa đều đi tản ra hai phía.


Lê Báo thấy Quang Ngọc loay hoay tìm đường thì cười bảo:


- Sao hiền huynh không hỏi ngay tên bắt ếch xem họ chạy đường nào?


Người bắt ếch ngơ ngác:


- Thưa ai cơ?


Nhưng Quang Ngọc đã theo ý Lê Báo và lớn tiếng hỏi:


- Tên kia, vừa giờ có một bọn qua đây. Vậy họ chạy về ngã nào?


Người bắt ếch chỉ con dường Kim Lũ:


- Có hơn mười người cười ngựa đi về ngã này.


- Đã bao lâu?


- Họ đi chưa xa đâu. Nhưng các ông làm gì mà cưỡi ngựa đi chơi khuya thế?


Ngững ông ban nãy cũng vậy, làm ếch của tôi sợ trốn biệt.


Phạm Thái chú mục nhìn thẳng vào mặt người bắt ếch thấp thoáng dưới ánh


lửa. Thì thầm chàng bảo Nhị Nương:


- Thằng này không phải làm nghề bắt ếch đâu, trông dữ tợn lắm, mà ngôn ngữ,


cử chỉ của nó có vẻ bướng bỉnh, tuy nó cố làm ra bộ rù rờ, ngớ ngẩn, sợ hãi.


Có lẽ Quang Ngọc cũng cùng một ý nghĩ, nên chàng vặn.


- Anh nói láo...


Chàng ngừng bặt, rồi nhảy phắt lên mình ngựa vẫy mọi người theo đường Phù


Lưu, Đình Bảng thẳng tiến. Lê Báo hỏi:


- Sao người ta nói ngã kia, hiền huynh lại đi ngã này?


Quang Ngọc cười đáp:


- Thế thì hiền đệ thật thà quá. Hiền đệ phải biết ban chiều khi viên phân suất


rầm rộ dẫn quân đi, thế nào bọn kia chẳng rõ. Nhất họ lại đã rắp định đêm nay đến


phủ cướp hoàng phi thì họ càng phải xem xét binh thế trong phủ lắm. Thế mà họ


còn đi cùng một đường với quan quân, thì họa chăng họ không óc mà ngu huynh


thì chắc rằng họ có óc. Đó là một lẽ. Lẽ nữa là trước đây một lát ở trong phủ có


đánh nhau. Vậy thì tên bắt ếch kia, nếu là một tên bắt ếch, sao còn đủ can đảm ở


lại đây bắt ếch. Nó đứng ngay chỗ ngã ba, há không phải chỉ cốt để trỏ đường láo


cho quan quân đuổi theo. Nó có ngờ đâu quân đuổi theo lại chính là bọn ta, nghĩa


là bao giờ cũng khôn hơn quan quân.


Chàng thích chí cười ha hả. Mọi người cũng cất tiếng cười theo. Lê Báo hỏi:


- Còn vết chân ngựa sao lại có ở cả hai ngã đường?


- Điều ấy thỉ phỏng khó gì. Cho ngựa phi về đường kia, rồi khi trở lại thì rẽ


xuống ruộng. Hiền đệ không thấy ruộng khô à?


Bọn ky sĩ vượt qua làng Đình Bảng, Quang Ngọc kìm cương lại bảo mọi


người:


- Bây giờ cho ngựa đi bước một, vì đây gần đến nơi rồi.


Phạm Thái kinh ngạc hỏi:


- Sao đại huynh biết?


Quang Ngọc cười:


- Làm một ông tướng phải biết địa thế khắp vùng mình hoạt động. Ta xét ra


gần đây có hai nơi hiểm trở, nếu ban ngày cũng ít người lai vãng: một là rừng Sặt


ở mạn Tràng Liệt, hai là rừng Bát Đế ở sau làng Đình Bảng. Rừng Sặt ở gần


đường Thọ Khê, chắc họ không đến. Còn rừng Bát Đế thì họ có thể giấu người


trong đó được. Thực là một nơi thâm u. Nguyên cùng vua chúa đời Lý đến nghỉ


mát, bỏ hoang lâu ngày cây cối mọc um tùm thành rừng. Lại thêm có hào chung


quanh khiến khó ai tìm được lối vào, chắc thế nào bọn kia chẳng có thuyền chờ


sẳn ở trước cửa đền Lý Bát Đế?


Mọi người đều phục tài xét đoán của Quang Ngọc. Nhưng Lê Báo cười thầm,


chỉ mong Quang Ngọc đoán sai để sau này chế riễu chơi. Quang Ngọc lại nói:


- Còn một điều ngu huynh nghĩ mãi không ra. Là bọn kia cướp hoàng phi làm


gì? Hay là lũ trung thần nhà Lê đến cứu bà? Phải chờ khi nào gặp nhau mới biết rõ


được


Bấy giờ chỉ còn cách đến Lý Bát Đế độ vài trăm bước, Phạm Thái bàn buộc


ngựa một nơi, rồi đi bộ lại đền. Chàng nói:


- Ngày theo Nguyễn Đoàn, ngu đệ cũng đã nhiều lần trốn ở đó. Quả thực là


một nơi bí hiểm nhưng ngu đệ thuộc đường lối trong rừng như đường lối chùa


Tiêu Sơn, vậy xin đến dọ thám trước đã, rồi hãy kéo đại quân đến sau.


Lê Báo cười:


- Đại quân có tất cả bốn người.


Nhị Nương khảng khái nói:


- Bốn người này lại không địch nổi một trăm quân ư? Vậy thì Phạm hiền đệ cứ


đi trước xem binh thế họ ra sao, rồi về báo, dẫu họ đông đến đâu ta cũng không sợ.


Phạm Thái tuân lời đi thẳng. Biết chắc thếo nào bên địch cũng có quân canh


trên con đường tới rừng, chàng rẽ xuống ruộng đi vòng về phía sau đền rồi quay


lên mạn Nam. Chàng biết ở đó có một quãng hào vừa hẹp vừa nông, nước chưa tới


thắt lưng.


Đến đlo Phạm Thái cởi quần áo ra lội qua để vào rừng. Trời rét, nước giá


buốt, nhưng chàng chẳng coi vào đâu. Cái thân chiến sĩ phiêu lưu đã từng xông


pha tên đạn, đã từng làm quen với cái chết giữa đám can qua, có quản gì một dòng


nước lạnh.


Tới rừng, chàng se sẽ mặc lạiquần áo vào, rồi cúi lam khom, tay cầm kiếm, rón


rén đi quanh bờ hào một vòng để dò xem trong rừng có ánh lửa không. Khi đến


mạn Bắc khu rừng, và nghe có tiếng sột soạt răng rắc như tiếng bàn chân đi lên


đám cành lá khô, chàng vội nằm rạp xuống, vì chàng sợ ở trong rừng nhìn ra, bên


địch sẽ thấy bóng chàng thấp thoáng in trên nền trời.


"Đích là họ núp ở đây rồi, vì rõ ràng có tiếng nhiều người nói chuyện. Trần đại


huynh thực đoán việc như thần", Phạm Thái vừa nghĩ vậy, vừa men bờ hào, vòng


sang phía đông rừng.


Bỗng chàng mừng quýnh, suýt buột miệng kêu lên. Một chiếc thuyền buộc ở


gốc cây si cỗi, dưới đám lá rườm rà phủ xuống che lấp.


Chàng bước vào thuyền cầm bơi chèo nhẹ nhàng chở sang bờ bên kia rồi hấp


tấp về chỗ cũ báo tin cho anh em biết. Tức thì cả bọn kéo đến thuyền bơi sang bên


rừng. Vừa bước chân lên đất thì một bọn đông ẩn sau khóm cây xồ ra ai nấy tay


cầm khí giới. Một người hỏi:


- Các ngươi đến đây tìm cái chết, phải không?


Chẳng nói chẳng rằng anh em Quang Ngọc xông vào múa kiếm đánh liền. Bên


địch, có ai thét:


- Khoan? Đánh nhau phải có cớ. Vậy vì cớ gì chúng ta đâm chém nhau?


Lê Báo hùng hổ cầm thanh kiếm dài vẫn đứng giữ miếng. Nghe bọn kia hỏi,


chàng liền trả lời:


- Chẳng vì cớ gì hết.


Người kia cười, ôn tồn nói:


- Xin tiểu tướng đừng vội giận. Ta hỏi thế là vì trước ta vẫn tưởng chư tướng


là quân trong phủ đi đuổi bắt chúng ta Nhưng thiết tưởng đội binh trong phủ khi


nào lùng biết mà đến đây. Mà dù có đến đây nữa cũng chẳng có đủ can đảm dám


lội qua hào để vào tới rừng. Vậy ta hỏi, sao chư tướng lại lần mò theo chúng ta?


Lê Báo nóng nẩy thét:


- Vì bọn ngươi cướp bà hoàng phi đem đi. ta hãy hỏi: Có phải các người định


đem bà giải nộp để lĩnh thưởng chăng?


Người kia mắng:


- Đồ hỗn xược? Nếu ta không thương ngươi còn nhỏ dại, thì ta đã thí cho một


mũi kiếm.


Lê Báo nổi thịnh nộ xông vào đánh, Quang Ngọc phải lôi bạn mà bảo rằng:


- Sao hiền đệ hấp tấp thế?


Rồi chàng nói với bên địch:


- Tôi xem ra các ông đều là tay khảng khái có dõng cảm. Chắc không phải là


bọn cướp tầm thường. Vậy sao chúng ta không đem lễ nhượng ra đối đãi nhau, dù


vì việc nghĩa phải đánh nhau đi nữa.


Một người bên địch đáp lại:


- Ư, ông này biết điều đấy, chớ như cái ông kia thì hung hăng quá. Các ông


phải biết, đánh nhau thì chúng tôi cũng vui lòng đánh nhau với các ông. Nhưng


bên các ông có bốn người mà bên chúng tôi những hơn hai chục, chẵng lẽ lấy


nhiều lấn ít, e không tiện.


Lê Báo thét:


- anh em ta không sợ nhiều đâu. Đánh thì đánh ngay, không cần phải trì hoãn.


Người kia giọng chế nhạo:


- Hãy khoan? Can gì mà vội thế? Để đến sáng cũng không muộn kia mà... Bây


giờ các ông đã đến đây, chúng tôi hãy xin lấy địa vị chủ nhân mời các ông lại đằng


nhà xơi chén rượu với chúng tôi cho vui.


Thấy anh em Quang Ngọc do dự, người kia cười:


- Các ông đừng ngại, chúng tôi không coi các ông như một bọn tù binh vô giá


trị đâu


Lê Báo hầm hầm nổi giận:


- à bọn này láo, dám bảo chúng ta là tù binh.


Người kia giọng bình tĩnh ôn tồn:


- Gớm? ông này sao mà nóng như Trương Phi thế?


Phạm Thái từ nãy vẫn đứng im. Chàng bỗng thủng thỉnh tiến đến gần bên địch,


dõng dạc nói:


- Các ông đã lấy lễ độ chủ nhân mà đón tiếp chúng tôi lẽ nào chúng tôi lại


không lấy lễ độ tân khách mà nhận lời. Vậy thanh kiếm của tôi đây tôi xin gửi các


ông (vừa nói chàng vừa théo kiếm đưa cho bọn kia). Sau khi cùng nhau hội ẩm,


mà chúng tôi cần phải đấu gươm, thì lại xin các ông trả kiếm tôi. Còn như nếu các


ông không phải là tay hảo hán mà hất định chiếm đoạt thanh kiếm của tôi, thì lúc


đlo ta hãy nói chuyện. Xin các ông kíp dẫn đường cho chúng tôi theo về nhà,


chẳng trời sáng thì lỡ mất cả công việc của chúng tôi.


Cảm động vì khí phách anh hùng, vì sự thành thực và nhã nhặn của Phạm


Thái, bên địch lễ phép đưa anh em chàng tới một nếp nhá tranh làm ở giữa mấy


khóm cây đầy lá che kín mít tứ phía, sau khi đã đi quanh co trong rừng rậm.


Vừa bước chân vào trong nhà, Nhị Nương kinh hoảng kêu:


- Trời ơi? Bà hoàng phi?


Quả thực, trên một cái ổ rươm giải chiếu, bên ngọn đèn dầu ánh sáng lờ mờ,


hoàng phi đương ngồi hơ hai bàn tay lên trên than hồng đựng trong cái nồi đất. Bà


ngước mắt đăm đăm nhìn mấy người lạ mặt có vẻ lo lắng.


- Ai đấy? nghe tiếng hình như quen quen.


- Em đây mà? Em Nhị Nương mà bà không nhận ra sao? (Trong khi trốn tránh,


hoàng phi thường xưng chị với Nhị Nương, và gọi Nhị Nương bằng em).


Hoàng phi mừng quýnh, đứng dậy ôm lấy Nhị Nương vừa khóc nức nở vừa kể


- Em Nhị Nương ơi... Chị đã tưởng không bao giờ còn nhìn thấy mặt em nữa...


Ai ngờ trời chưa nỡ chia rẽ chị em ta.


Nhị Nương thuật lại cho bà nghe công việc xếp đặt từ hôm trước để tối nay


đến phủ phá ngục cứu bà ra, ngờ đâu khi đến nơi thì được tin một bọn đã cướp bà


đem đi...


Một người đứng gần đấy cười có vẻ tự phụ nói riễu:


- Hừ? Trâu chậm uống nước đục?


Hoàng phi trỏ người ấy bảo Nhị Nương:


- Đây là Đào Phùng, người làng Phù Lưu. Chính Đào quân đã họp anh em đến


cứu chị. ơn ấy thực không bao giờ chị dám quên.


Đào Phùng đáp:


- Tâu lệnh bà, nhà kẻ hạ thần đời đời đội ơn thánh đến, nay kẻ hạ thần dẫu chết


cũng chưa đủ báo đền, lệnh bà nói đến ơn huệ làm chi, khiến hạ thần thêm xấu hổ.


Để lệnh bà bị quân giặc bắt được, tội kẻ hạ thần cũng đã nặng lắm rồi.


Hoàng phi rót một chén rượu đầy đưa cho Đào Phùng mà rằng:


- Đào anh hùng trung nghĩa ai bì kịp? Xin tặng anh hùng một chén rượu.


Đào Phùng đỡ lấy nói:


- Lệnh bà ban, hạ thần xin bái lĩnh.


Hoàng phi đưa mắt nhìn Quang Ngọc, Phạm Thái, và Lê Báo đứng chắp tay ở


một bên và thì thầm hỏi Nhị Nương:


- Ai thế em?


- Tâu lệnh bà, đó là ba tráng sĩ, bạn thân của em, đã cùng em kết nghĩa anh em.


Hoàng phi rót ba chén rượu nữa rồi bảo Nhị Nương bưng mời ba chàng. Đoạn,


bà hỏi Đào Phùng:


- Công tử đã cứu tôi thoát nạn, bây giờ công tử bảo nên đi ẩn lánh ở đâu?


Bà rơm rớm nước mắt, thở dài nói tiếp:


- Bệ hạ có rõ cảnh lưu lạc này cho thiếp không?


Quang Ngọc bàn:


- Tâu lệnh bà, bây giờ người ta đã nhận được dung nhan lệnh bà, thì lệnh bà


đến nương náu cửa thiền, thiết tưởng có phần chắc chắn hơn nhiều.


Hoàng phi vui mừng đáp:


- Phải, tướng quân bàn rất phải. Vả lại ta cũng nên thế phát quy y thôi.


Quang Ngọc lại nói:


- Tâu lệnh bà, ở làng Ngô Xá có một ngôi chùa sư nữ, vậy mai mời lệnh bà


đến ẩn ở đó.


Quay ra, chàng bảo Nhị Nương:


- Ngu huynh giao cho hiền muội việc đó. Sáng mai...


Nhị Nương ngắt lời:


- Sáng mai không bằng đêm nay. Ngu muội xin phò giá lên đường ngay bây


giờ.


- Thế thì càng hay lắm.


Mọi người đều lấy làm phải, liền chở thuyền đưa hoàng phi và Nhị Nương qua


hào. Hai người lên ngưạ đi thẳng.


Phạm Thái cũng xin đi theo. Quang Ngọc giữ lại mà rằng:


- Một mình Nhị Nương cũng đủ rồi.


- Nhưng thưa hiền huynh, ngu đệ phải về xem hạt Kim Lũ ra sao. Hiền huynh


hẳn chưa quên rằng có hơn hai trăm binh lính đang hoành hành ở đó.


Đào Phùng hỏi:


- Cphải hai trăm binh lính Từ Sơn không?


- Chính.


- Vậy thì không lo.


Chàng kể cho anh em Quang Ngọc nghe cái mưu kế của chàng. Chàng cho


một thám tử giả làm người làng Yên Phụ đến phủ báo ở vùng ấy có bọn giặc rất


đông, mà người đi đầu là nhà sư. Chàng bịa ra điều đó, là vì nghe người ta tuyên


truyền có một nhà sư rất hung tợn thường đem đồ đảng đi tống tiền bọn nhà giàu.


Chàng chắc báo có một nhà sư, mà lại nói khích thì thế nào viên phủ chỉ còn một ít


lính ở lại canh giữ và việc phá ngục cứu hoàng phi dễ như trở bàn tay.


Phạm Thái nghe truyện mỉm cười đưa mắt nhìn Quang Ngọc rồi phàn nàn:


- Tội nghiệp? Người ta đã xuất gia tu hành mà công tử còn đổ cho người ta cái


tội tầy trời?


Đào Phùng đáp:


- Chẳng qua cũng là một sự bất đắc dĩ Không thế, sao cứu được hoàng phi.


Mọi người cùng cười, rồi mời nhau uống rượu cho mãi tới gần sáng mới chịu


chia tay giải tán, hẹn thỉnh thoảng lại đến rừng hội họp uống rượu múa gươm.


 


Hồi 10


Chín và sống


Từ hôm đánh hụt trận Kim Lũ thì hai viên phân phủ, phân suất đem lòng thù oán bọn cựu thần nhà Lê lắm, vì họ chắc rằng cánh quân đến phá ngục cứu Lê hoàng phi chỉ có thể là bầy tôi nhà Lê. Phân phủ bàn với phân suất:


- Việc nầy ta nên giữ bí mật. Quan trên với triều đình đều chưa biết tin ta bắt


được Thị Kim. May mà chưa kịp cho chạy giấy về kinh đấy!


Phân suất hậm hực tức tối:


- Tôi thề không đội trời chung với bọn này. Không nhưng chúng nó giết mất


viện đội nhất của chúng ta mà chúng nó còn làm cho tôi lặn lội đêm khuya cất


quân đi, rồi lại đem quân về, thực là mình làm trò múa rối cho dân vùng Kim Lũ


coi


Phân suất cười khà nói tiếp:


- Rõ đen cho mấy tên lái thuyền vô tội bị chặt đầu.


- Ngài chặt đầu?


- Vâng, Bực mình về nỗi bị lừa nên gặp mấy thằng lái đò đương họp nhau ở


dưới thuyền đánh bài phu, tôi cầm dao khoa tay một lượt, bốn, năm cái đầu rơi


xuống ván? Như thế cũng hả lòng được đôi chút.


Phân phủ ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Cái bực tức của ngài, ngài cho còn gắp


năm gắp mười cái bực tức của phân suất. Đêm hôm ấy còn bao giờ ngài quên


được? Trốn vào chuồng ngựa nằm ở máng ăn, lấy rơm phủ chùm kín người, rất là


khó thở, lại thêm mùi phân ngựa khai quá đỗi, thế mà ngài phải nằm dí ở đấy cho


tới lúc sáng rõ, trong mấy canh dài đằng đẳng lắng tai nghe động tĩnh ra sao. Giữa


lúc ấy thì gia quyến ngài đang bị nhốt ở trong buồng chứa, lo sợ im hơi lặng tiếng.


Nhớ lại những sự đau đớn đáng kỷ niệm ấy phân phủ mỉm cười. Đối với con


nhà võ như phân suất thì cái tức giận hiện ra nét mặt, thốt ra lời chửi rủa thề


nguyền. Nhưng đối với con nhà văn, đối với nhà thâm nho như phân phủ thì cái


tức giận dẫu dữ dội đến đâu cũng chỉ ngụ trong một khoé mỉm cười chua chát.


Chẳng thế ngài lại thường mỉa tính võ đoán của phân suất bằng những câu thơ đại


ý nói: Trăm quân hùng tráng không mạnh bằng một lời văn mát mẻ của nhà cầm


bút.


Lần này lại là một dịp để ngài phô cái sức mạnh của sự giận đương yên lặng


ngấm ngầm cháy trong lòng ngài. Ngài không làm thơ nữa. Ngài chỉ mở tráp lấy ra


một cái bảng mà theo sự dò xét cẩn mật của bọn thám tử, ngài đã làm ra. Đó là


bảng chua đủ tên những bực trung thần nhà Lê trốn trong địa hạt Từ Sơn.


Phân phủ gõ xuống cái bảng ấy bảo phân suất:


- Bấy lâu tôi để bọn chúng ăn ngon ngũ yên là cũng tưởng họ hiểu thời thế,


không hoạt động nữa. Ai ngờ ngày nay lại chính họ gây sự. Vậy bất đắc dĩ ta phải


mời ngững ông tướng đến chơi ít bữa.


Lời ngài thật ngọt như mía lùi. Ngài lại mỉm cười nhìn phân suất nói tiếp, ý


chừng để được lòng ông bạn đồng thành:


- Việc đó phải nhờ đến bàn tay sắt của tướng quân.


Tướng quân phổng mũi đáp liền:


- Đại nhân cứ truyền, việc dẫu khó đến đâu tôi cũng xin đảm nhận.


- Vậy chúng ta cùng bàn xem nên bắt những tay nào trước.


Tức thì phân phủ mở rộng cái bảng đẹp đẽ của ngài ra.


- Đây đại nhân coi, tất cả có bãy mươi ba tên. Nhưng xét ra chỉ có bảy tên thực


lợi hại. Bảy tên đó là cho con ngự sử Nguyễn Bặc, người chứa chấp Thị Kim. Hai


tên này ta hãy để đ 1 o vì hiện chúng còn trốn tránh, mà trốn thì hẳn trốn ở nơi


khác Nếu ta bẩm tỉnh sức giấy đi lùng thì cũng bắt được, nhưng là thế là làm cỗ


sẳn cho kẻ khác ăn. Chi bằng ta cứ để yên, ít lâu thế nào chim chẳng bay về tổ, lúc


ấy ta hãy mời nhẹ hai ngài vào cũi.


Phân suất cười lớn:


- Hay? mưu hay lắm? Còn ai nữa, thêu đại nhân?


- Kế đến Đào Phùng. Tên này tuy còn trẻ, nhưng đáng lo ngại lắm đây. Nhiều


bài thơ hắn ngâm vịnh có ý nghĩa cuồng bột, phạm thượng. Mà hắng tụ họp anh


em ĩ chè luôn luôn. Trong một bữa tiệc hắn ngà ngà say có nói một câu hỗn


xược mà thám tử đã chép lại đem nộp tôi. Câu ấy đây.


Phân phủ vừa nói vừa đưa cho phân suất một mảnh giấy. Phân suất vốn không


biết chữ, cười gượng nói:


- Đại nhân đọc cho tôi nghe xem nào.


- Xin vâng. Hắn ta nói thế này: Kẻ sĩ cúi cổ khom lưng làm tôi bọn Bùi Đắc


Tuyên, Nguyễn Quang Toản thì khác gì bán rẻ linh hồn cho bọn đồ tể.


Phân suất đập mạnh tay xuống ghế ngựa quát tháo:


- Nó bảo thế? Thực nó bảo thế? Được đễ nó đấy rồi ta bán rẻ linh hồn nó cho


Diêm vương. Nhưng còn ai nữa?


- Còn Hoàng An ở Phù Đổng, Nguyễn Tiết ở Phù Ninh, Nguyễn Đắc ở Đồn


Kỹ. Trần Xá ở Phú Xuân. Đó toàn là những tay ghê gớm cả?


- Được, đại nhân cũng nên cẩn thận, vì chúng không phải là những tay tầm


thường. Mà biết đâu chúng nó lại không mật thông với đồ đảng Phạm Thái?


Phân suất lớn tiếng cười, toan nói câu gì để tỏ lòng khinh bỉ đối với bọn kia.


Bỗng ngài ngừng bặt, hoảng hốt quay ra hỏi:


- Cái gì thế?


Một tên lính mặt tái mét như gà cắt tiết chạy xồng xộc vào trong phòng đứng


thở không ra hơi:


- Bẩm... hai ông lớn... có người... chết ở cổng phủ...


- Người chết?... Ai?


Tên lính đứng thở một hồi nữa rồi mới thuật lại rằng một võ sĩ trông rất mạnh


mẽ, dữ tợn, phi ngựa qua cổng phủ và ném xuống đó một cái xác người chết.


Phân phủ và phân suất vội vàng theo lính ra cổng. Một người trần truồng nằm


sấp ở giữa đường, ngay bên cầu treo. Phân suất cúi xuống lật ngửa cái thây lên thì


thấy một con dao sáng loáng cắm trúng chỗ trái tim. Thốt nhiên phân phủ hét lớn:


- Trời ơi? Nguyễn Kha? Nguyễn Kha bị giết rồi?


Phân suất kinh hải vội hỏi:


- Nguyễn Kha là ai vậy?


Phân phủ vẫn đứng yên lặng nhìn tròng trọc vào cập mắt trắng đã mở to của


người chết và nói một mình hai, ba lần:


- Trời ơi? Nguyễn kha bị giết? Ai giết Nguyễn Kha? Nguyễn Kha? Ai giết?


- Vâng, tôi cũng hỏi đại nhân: Ai giết người này, mà người này là ai?


Phân phủ như chợt tỉnh, quay lại bảo phân suất:


- ngài cho lính cời ngựa đuổi theo lùng bắt ngay lấy nó... Mau chẵng nó trốn


thoát


- Nhưng biết nó chạy ngả nào?


- Cho mỗi người đuổi một ngả.


Phân suất ra lệnh, tức thì hai chục lính ky mã chia làm bốn bọn, đem theo bốn


cây súng hỏa mai rầm rộ kéo đi.


Phân suất theo phân phủ vào công đường và nhắc lại câu hỏi:


- Nguyễn Kha là ai vậy, thưa đại nhân?


Phân phủ có vẻ lo sơ, nhìn trước nhìn sau, rồi nói khẽ:


- Người đến báo tối hôm ấy, ngài đã quên? Hắn là một viên thám tử rất có tài


của tôi?


- à? Tôi nhớ ra rồi. Chính hắn đã đến báo cho ta biết người con gái ở nhà


Nguyễn Bặc làng Hà Vị là Thị Kim, vợ Lê chiêu Thống.


- Chính hắn, Nguyên tôi sai hắn giả danh là một bậc trung thần nhà Lê đi lại


chơi bời với bọn kia để dò tin tức. Nhưng không rõ sao bọn kia biết là thám tử của


ta.


Nghĩ một lát, phân phủ lại nói:


- Việc này ta phải ra tay mới xong... Phiền ngài đem quân áp đến bắt ngay năm


tên đầu sỏ, hiềm nghi phạm điệu về phủ cho.


Phân suất tuân lời, xem lại bảng kê tên tuổi vả chỗ ở của những người kia rồi


điểm binh mã ra đi.


Chiều hôm ấy, quân lính khiêng về phủ ba cái củi đóng sơ sài, trong mổi cái có


một người bị trói ngồi lom khom như con khỉ lớn. Phân suất xuống ngựa vào công


đường hớn hở bảo phân phủ:


- Tuy không bắt được đủ năm tên, nhưng trong ba tên này có tên Đào Phùng.


Mời ngài ra coi.


Phân phủ vui mừng vừa theo ra sân vừa hỏi:


- Có Đào Phùng? Làm thế nào mà ngài bắt được hắn?


- Ngài tính đã bắt thì được chứ!


Có tiến cười the thé trong một cái cũi đưa ra. Phân suất tức giận vì giọng cười


chế nhạo, đạp mạnh vào cái cũi làm nó đổ lăn ra. Tiếng cười càng ròn, càng to, rồi


người bị nhốt dằn từng tiếng hỏi phân suất:


- ông bảo ông bắt được tôi. Vậy dám hỏi ông: ông bắt được tôi ở đâu?


Sau một cái đạp thứ hai của phân suất, người kia khẳng khái nói tiếp:


- Than ôi? Kẻ chiến sĩ anh hùng mong ước được bỏ mạng ở nơi trận địa, da


ngựa bọc thây, nhưng tôi đây vô tội được người anh hùng bắt trói giữa lúc tôi yên


giấc ở nơi buồng tối, nhưng tôi đây vô tội được người anh hùng giơ chân đạp một


cái mạnh bạo, trong khi tôi bị nhốt trong cũi hẹp. Dáng kính thay cái dõng cảm


của người anh hùng.


Thấy phân suất rút gươm hầm hầm xông lại, phân phủ vội ngăn cản và ung


dung nói:


- Ngài cần gì phải nóng thế, cứ để Đào quân đấy cho tôi.


Rồi trỏ hai cái cũi khác hỏi:


- Còn hai ông này?


- Thưa ngài, đó là Nguyễn Tiết với Trần Xá. Còn Hoàng An, Nguyễn Đắc đi


đâu mất từ tháng trước.


Phân phủ truyền lệnh tháo cũ lôi ba người ra, rồi lại gần ôn tồn hỏi:


- Thưa ba ngài, nếu ba ngài làm ơn cho tôi biết ba ngài dấu bà hoàng phi ở


đâu, thì tôi xin cho lính đem kiệu rước ba ngài về nhà ngay.


Nguyễn Tiết và Trần Xá cùng cãi.


- Hai ngài không biết Lê hoàng phi là ai, vậy chắc ngài Đào Phùng thì hẳn


biết?


Đào Phùng thản nhiên đáp:


- Tôi ấy à? Có, tôi có biết Lê hoàng phi, khi ngài còn ở trong cung điện kinh


thành Thăng Long. Ngài thật là bậc quốc sắc, khuynh thành.


- Vâng, ngài cũng là bậc quốc sắc khuynh thành? Bữa nọ tôi đã được hân hạnh


gặp long nhan. Nhưng tôi muốn biết Đào quân giấu ngài ở nơi nào?


Đào Phùng vờ ngơ ngác:


- Giấu ngài? Chết ai giấu được ngài?


- Đào quân? Nhà tôi có quen Đào tướng công, vì thế tôi không muốn để Đào


quân bị hình phạt đau đớn. Vậy Đào quân chẳng nên chối cãi. Việc này tôi biết


tường tận lắm rồi.


Đào Phùng mỉm cười:


- Thưa Nguyễn đại nhân, tôi biết tường tận hơn nhiều, vì tôi biết đích xác rằng


tôi không giấu hoàng phi.


- Có lẽ Đào quân không giấu thực, nhưng Đào quân biết nơi ẩn núp của Lê


ho àng phi.


Rồi nhìn thẳng vào mặt Đào Phùng, phân phủ đột ngột hỏi:


- Phạm Thái vẫn được mạnh đấy chứ?


Đào Phùng chau mày hỏi lại:


- Phạm Thái? Tôi tưởng Phạm Thái bị giết với Nguyễn Đoàn rồi?


Phân phủ cáu tiết gắt:


- Chú đừng trách tôi ác nhé? Vì bổn phận, tôi không thể không trừng phạt chú


được


Liền ra lệnh đánh mỗi người hai chục tĩg. Một tên lính lực lưỡng giơ roi


song ráng sức quật vào mông, vào lưng phạm nhân, khiến Nguyễn Tiết, người


chịu hình phạt thứ nhất, kêu la ầm ỹ và Trần Xá một nhà văn yếu đuối mới đến roi


thú mười lăm đã chết ngất đi rồi.


Đến lượt Đào Phùng, chàng chỉ cười và cắn chặt hàm răng trên xuống môi


dưới, không thốt một tiếng kêu ca, đến nỗi chú lính cáu tiết, đánh thêm cho ba roi


rất mạnh. Đào Phùng giơ hai tay bị trói lên lau mồ hôi trán, bảo tên kia:


- Chú rõ quá cẩn thận? Quan truyền đánh có hai mươi roi, chú lại ra thêm cho


ba roi nữa.


Phân suất căm tức trừng mắt nhìn, còn phân phủ thì có ý khen thầm.Trong khi


ấy Trần Xá được một tên lính lấy nước phun vào mặt, đã tỉnh dậy, lim dim cặp


mắt và nằm thở hổn hển. Phân suất hỏi:


- Trần Xá? Ngươi đã chịu cung khai chưa?


- Bẩm đại nhân... Đoái thương tôi... già yếu. Tôi không biết một tí gì thì cung


khai... làm sao được?


Nghe lời nói có vẻ thành thực, phân phủ xuống lệnh hãy giam Xá vào ngục, rồi


quay ra bảo Nguyễn Tiết:


- Còn ông này nghĩ sao?


Nguyễn Tiết lại gần nói thầm mấy câu. Phân phủ vui mừng truyền cởi trói và


mời vào trong nhà, Đào Phùng vội kêu:


- Hắn sợ đòn nên đã khai láo, ngài chớ nghe.


Phân phủ tức giận thét:


- Im ngay?


Rồi sai lính đi lấy một cái hỏa lò than hồng và hai cái kìm. Một lát sau thịt đùi


Đào Phùng cháy xèo xèo, xông lên mùi giẻ khét. Đào Phùng bảo phân phủ:


- Xin ngài miển cho cái hình phạt này.


Phân phủ hớn hở:


- Vậy ông chịu cung khai?


Đào Phùng nói luôn:


- Vì khó ngửi lắm. Tôi đến lợm nôn vì mùi thịt cháy mất thôi.


- Bản chức bằng lòng chuẩn lời xin của Đào quân.


Lền quay ra gọi:


- Lính đâu dúng ngay kìm và nước lạnh.


Tiếng dạ ran... Họ lại bắt đầu kẹp dùi bên kia của Đào Phùng, hẳn kìm sống


đau hơn kìm chín nhiều, vì kẻ bị hình phạt nghiến hai hàm răng vào nhau, tiếng


kêu ken két, và tuy chàng cố cười gượng, nước mắt chảy ràn rụa ướt dẫm hai bên


má. Phân phủ bỡn cợt hỏi:


- Thế nào, bây giờ thì đỡ khét chứ?


Đào Phùng muốn trả lời một câu chua chát, nhưng vì phần đau quá, phần hai


hàm răng nghiến mạnh như đã sai khớp, chàng nói không ra tiếng nữa. Đưa hai tay


bị trói lên, nắn lại hàm dưới, rồi khi đã hơi hoàn hồn, ôn tồn bảo phân phủ:


- Thưa ngài, tôi còn biết phân trần sao cho ngài tin được, vì ngài yên trí rằng


tôi là đồ đảng của Phạm Thái mà tôi không biết mặt, lại buộc cho tôi cái tội tàng


nặc Lê hoàng phi mà tôi tưởng đã chết. Nay đối với ngài tôi như con cá đối với


người hỏa đầu, sống chết ở tay ngài. Vậy ngài muốn dùng cách hình phạt nào mà kẻ vôi tội này chẳng phải chịu.


- Đào quân nói có lý lắm... Lính đâu hãy mời Đào quân vào nghỉ tạm trong ngục thất mấy bửa cho lại sức đã, rồi ta sẽ nói chuyện sau.


(còn tiếp)


Nguồn: Tiêu sơn tráng sĩ . Tiểu thuyết lịch sử của Khái Hưng. In lần đầu năm 1934, các NXB tái bản nhiều lần.


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 28.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
xem thêm »