tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29966502
01.09.2019
Huỳnh Quang
Người con của mẹ Năm Bê (11)


Việc thứ hai là chuẩn bị phương tiện, dụng cụ, thiết bị khoa học cần thiết cho đợt công tác dã ngoại. Phần này thuộc trách nhiệm phía Liên Xô, Procofiev X.K. thông báo là tất cả những thứ cần thiết bạn đã chuẩn bị đầy đủ, sẽ gửi theo đường hàng không cùng chuyến bay mà Phó Tổng Giám đốc Guxep V.M. sẽ sang Việt Nam khoảng sau 20 tháng 4. Đây là vận đơn hàng hóa đầu tiên của Hợp đồng 84/866603560-I đã được hai bên ký trước đấy. Thế là quả bóng đã được chuyền sang cho tôi, vì việc tiếp nhận hàng hóa là trách nhiệm của phía Việt Nam, theo Phụ lục 2. Tôi biết đây sẽ là việc khó khăn. Tiếp nhận hàng hóa dân sự mà lại miễn thuế thì phải giải trình cặn kẽ và phải qua nhiều cửa. Đúng như vậy, khi đón Guxep V.M. sang, tôi mang vận đơn đến kho hàng sân bay Tân Sơn Nhất làm thủ tục nhận, nhân viên Hải quan yêu cầu làm tờ khai thuế. Tôi giải thích thế nào họ cũng không nghe, họ nói miễn thuế phải có ý kiến của Tổng cục Hải quan. Đã sát ngày đoàn công tác lên đường đi dã ngoại, nếu điện cho Đoàn 7387 ở Hà Nội đi làm việc với Tổng cục Hải quan thì sẽ không kịp. Tôi quyết định gặp Chi Cục trưởng Hải quan sân bay để đề nghị cho nhận hàng trước, rồi sẽ giải quyết thủ tục miễn thuế sau. Khi tôi bước vào phòng làm việc của Chi Cục trưởng, tôi không ngờ lại gặp đồng đội cũ, anh Nguyễn Trung Học. Trong chiến tranh chống Mỹ, chúng tôi cùng công tác ở đơn vị Z119, khi đó anh Học là cán bộ kỹ thuật, tôi là Phó Giám đốc Kỹ thuật. Sau vài phút hàn huyên về cuộc gặp mặt bất ngờ sau 12 năm xa cách, anh Học nghe tôi giải trình sự việc và cho xem bản sao Hiệp định và Nghị định 25, anh hiểu ngay đây đúng là hàng được miễn thuế. Thế là trong chốc lát, tôi và Guxep đã nhận xong hàng.


Việc thứ ba là tham quan và gặp gỡ lãnh đạo các cơ sở nghiên cứu khoa học, bệnh viện trong và ngoài Quân đội nằm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh bị rải chất độc hóa học như Sông Bé, Đồng Nai, nhằm tìm những khả năng hợp tác khoa học, hỗ trợ, giúp đỡ nhau. Cùng nhau tổ chức những buổi gặp mặt trao đổi khoa học giữa cán bộ của hai bên, nhất là trong thời gian các nhà khoa học Liên Xô sang Việt Nam thực hiện đợt công tác khoa học đầu tiên. Danh sách các cơ quan, đơn vị mà chúng tôi muốn tìm hiểu khá nhiều. Đơn vị đầu tiên chúng tôi đến tham quan là Cơ sở ll Viện Kỹ thuật Quân sự, tiếp đến là Viện Pasteur, tiếp nữa là bệnh viện tỉnh Sông Bé... việc này còn kéo dài đến mấy tháng sau khi Trung tâm đã có đông cán bộ và nơi làm việc ổn định. Những cuộc gặp gỡ đã diễn ra rất chân tình. Đến đâu Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô cũng được đón tiếp nồng nhiệt. Nhiều thỏa thuận hợp tác khoa học đã được ghi nhận. Các nhà khoa học Việt Nam - Liên Xô rất phấn khởi được hợp tác với nhau. Trong những buổi gặp mặt trao đổi khoa học thời gian này, có một chuyện khoa học đáng nhớ. Tại buổi trao đổi khoa học tổ chức ở Viện Thủy sản II, do Viện trưởng, Tiến sĩ Phan Lương Tâm chủ trì. Tham gia buổi họp có khá đông cán bộ khoa học của Viện, một số Trung tâm nuôi trồng thủy sản lân cận thành phố Hồ Chí Minh và đoàn cán bộ khoa học Liên Xô đang có mặt ở Việt Nam trong chuyến công tác dã ngoại của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô. Khi mọi người trao đổi đến nội dung di nhập một số giống loài thủy sản từ nước ngoài vào Việt Nam để tăng sản lượng và mặt hàng xuất khẩu. Một số ý kiến nêu lợi ích của việc nuôi ốc bươu vàng có lợi, bởi môi trường Việt Nam phù hợp, dễ nuôi, sinh sản nhanh, thịt ốc ngon và nhiều nước đang săn tìm mua thịt ốc bươu vàng... Duy chỉ có ý kiến của một nhà khoa học Liên Xô đang trong đoàn công tác của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô là ngược lại. Ông cho rằng nuôi ốc bươu vàng lợi bất cập hại. Một khi cơ sở nuôi để lọt ốc ra ngoài môi trường tự nhiên, thì nó sẽ là một đại dịch phá hoại lúa nước ghê gớm. Tôi là người ngoại đạo về thủy sản nên không dám bàn. Các nhà khoa học Việt Nam khác thì không đả động gì đến ý kiến trái ngược này. Có lẽ họ còn suy ngẫm hoặc không tin ý kiến ấy đúng, vì nghĩ rằng Liên Xô đâu có lúa nước mà ông này biết ốc bươu vàng phá lúa!


Sau đó ốc bươu vàng đã được di nhập vào Việt Nam. Và quả thực như ý kiến cảnh báo của nhà khoa học Liên Xô, chỉ sau một thời gian ngắn, trên đồng ruộng Việt Nam đã diễn ra cuộc chiến chống ốc bươu vàng rất cam go trong ngành nông nghiệp, như chúng ta đã biết.


Việc thứ tư là phải làm công tác tiền trạm cho đợt dã ngoại. Phải xin phép Ủy ban nhân dân các tỉnh và phải đến tận địa bàn, nơi đoàn sẽ tiến hành khảo sát để hợp đồng với các cơ quan sở tại chuẩn bị nơi ăn, nghỉ cho Đoàn những ngày ở dã ngoại. Đây là việc chung của Ban Tổng Giám đốc, sẽ mất nhiều thời gian vì phải đi xa và nhiều lần, mà xe thì chỉ có một chiếc. Chúng tôi dự kiến gần đến ngày bắt đầu đợt công tác dã ngoại thì mới đi lo việc này cho địa điểm dã ngoại, đầu tiên là khu rừng quốc gia Nam Cát Tiên. Chính quyền địa phương đầu tiên mà ba chúng tôi đến gặp để xin phép là Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Những khu vực dã ngoại tiếp sau thì sẽ đi tiền trạm trong các kỳ nghỉ giữa hai đợt dã ngoại. Việc này thực tế về sau do hai anh Mai Xuân Kỳ và anh Vũ Trọng Hùng thực hiện.


Còn một việc thứ năm, chỉ liên quan đến Giám đốc Việt Nam, nên tôi không đưa ra bàn với bạn mà tự mình giải quyết. Tôi nghĩ Trung tâm tổ chức đợt công tác khoa học dã ngoại dài ngày, mà cán bộ đi thực hiện chỉ bao gồm cán bộ Liên Xô và người của Viện Khoa học Việt Nam, không có người của Trung tâm đi theo suốt thời gian ở dã ngoại thì không yên tâm. Bao nhiêu sự cố có thể xảy ra như tai nạn, ốm đau, hổ báo, rắn rết, an toàn và bảo vệ Đoàn làm việc trong rừng... Nếu có sự cố, ai sẽ lo liệu xử lý. Vậy phải có cán bộ về Trung tâm sớm để đi theo Đoàn. Ở thời điểm ấy, danh sách một số cán bộ mà trước đấy, khi ở Đoàn 7387 tôi đã phát hiện và làm việc với các Phòng Cán bộ đơn vị để xin về Trung tâm, đã được thủ trưởng các đơn vị đồng ý cho đi và anh Phan Thu đã ký công văn của Đoàn 7387 gửi lên Cục Cán bộ xin điều động, nhưng anh Lê Thanh Diệu, Trưởng phòng Quản lý 3, Cục Cán bộ bảo phải chờ sau khi có quyết định thành lập Trung tâm của Bộ Quốc phòng và Trung tâm có địa điểm đóng quân thì Cục Cán bộ sẽ làm quyết định điều động. Thế là trong mấy ngày đầu tháng 4, tôi phải ra Hà Nội báo cáo tình hình công việc của Ban Tổng Giám đốc với anh Phan Thu và xin anh “cho mượn” anh Mai Xuân Kỳ về Trung tâm sớm. Tất nhiên là anh Phan Thu đồng ý. Tôi thông báo việc “mượn” này cho anh Kỳ biết, anh rất hăng hái vào thành phố Hồ Chí Minh sớm để làm việc với đoàn Liên Xô. Đồng thời anh Kỳ đề nghị tôi mượn thêm một người nữa, chọn người giỏi tiếng Nga cho công việc đỡ bớt áp lực. Tôi thấy ý kiến hay, “mượn” một được, thì “mượn” hai cũng sẽ được. Hôm sau tôi sang Phòng Cán bộ Tổng cục Kỹ thuật gặp anh Hoàng Lương, Trưởng phòng Cán bộ xin “mượn” anh Vũ Trọng Hùng. Anh Hùng cũng là người có tên trong danh sách xin Cục Cán bộ điều về Trung tâm, anh giỏi tiếng Nga, từng là phiên dịch tiếng Nga trước khi sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh về vật lý. Tôi với anh Hoàng Lương đã quen biết nhau từ trước, khi tôi còn là cán bộ của Tổng cục Kỹ thuật, cho nên việc “vay mượn” này nhanh chóng được anh Lương đồng ý. Ngày 10 tháng 4 thì anh Mai Xuân Kỳ và anh Vũ Trọng Hùng đã có mặt ở thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó, công việc hàng ngày của tôi và Ban Tổng Giám đốc nhẹ đi rất nhiều. Hai anh là những cán bộ làm việc rất nhiệt tình, xông xáo, miệng nói tay làm và rất trách nhiệm, được các bạn Liên Xô yêu mến và kính trọng.


Công việc của Ban Tổng Giám đốc tiến hành trong hoàn cảnh “tướng không có quân” còn tiếp diễn một thời gian dài, ngay cả sau khi đã có quyết định thành lập Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô của Bộ Quốc phòng và anh Trần Xuân Thu đã về Trung tâm nhận nhiệm vụ. Thời gian ấy, anh Trần Xuân Thu và tôi thường phải đi công tác ra Hà Nội làm việc với các cơ quan của Bộ Quốc phòng để xác lập các điều kiện, cơ sở pháp lý cho việc hình thành Trung tâm và đi vào hoạt động như Hành chính, Hậu cần, Chính trị, Quân lực, Tài chính, trang bị... Đi đâu anh Trần Xuân Thu cũng giao tôi giữ và mang theo con dấu của Trung tâm vừa mới nhận được, để tự làm công tác văn thư cho nhanh chóng.


Ngày 26 tháng 4 năm 1988, bắt đầu chuyến khảo sát thực địa hỗn hợp Việt Xô thuộc chương trình Ecolan-1 đầu tiên của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô, nhằm tìm dấu vết của chất độc dioxin (chất độc da cam) trên toàn miền Nam. Tôi là Đoàn trưởng phía Việt Nam, Tiến sĩ Puzachenco Iurii Georgievich là Đoàn trưởng phía Liên Xô. Đoàn Việt Nam có 13 người, trong đó 10 cán bộ khoa học đến từ Viện Khoa học Việt Nam và ba người của Trung tâm là tiến sĩ Vũ Trọng Hùng, tiến sĩ Mai Xuân Kỳ và tôi. Thời gian này cán bộ khoa học phía Việt Nam của Trung tâm, Cục Cán bộ chưa điều về kịp. Số cán bộ khoa học của Đoàn Việt Nam do Đoàn 7387 mời từ Viện Khoa học Việt Nam. Đoàn Liên Xô gồm 15 người đều là cán bộ khoa học. Nội dung khảo sát bao gồm việc lấy mẫu đất ở các độ sâu khác nhau để tìm lượng tồn dư chất độc dioxin trong lòng đất. Khảo sát các chủng loại động vật, thực vật sống trên các địa bàn mà đoàn đi qua. Hành trình mà Đoàn đi qua bắt đầu từ Lâm Đồng, Đồng Nai, Sông Bé, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu đến Cần Giờ của thành phố Hồ Chí Minh. Hành trình đi của Đoàn đã được xác định dựa theo bản đồ Mỹ rải chất độc dioxin trên toàn miền Nam. Lần đầu tiên tôi đi theo đoàn khoa học về sinh thái môi trường, lĩnh vực khoa học mà tôi không có kiến thức, cho nên về khoa học chủ yếu dựa vào các anh từ Viện Khoa học Việt Nam cùng làm việc với bạn. Tôi và anh Hùng, anh Kỳ chủ yếu lo công tác quản lý, tổ chức, đảm bảo hậu cần nơi ăn, chỗ nghỉ, đảm bảo an toàn cho chuyến đi thực địa dài ngày trên địa bàn của nhiều tỉnh khác nhau. Việc quản lý các mẫu đất lấy được ở hiện trường phải làm đúng qui định của Chính phủ để sau đó nếu cần đưa sang Liên Xô phân tích xác định độ tồn lưu dioxin trong đất, thì Trung tâm sẽ có đủ yếu tố pháp lý để xin phép Chính phủ đưa mẫu nghiên cứu ra nước ngoài phân tích. Tại thời điểm ấy cả thế giới chỉ có Liên Xô, Mỹ và Hà Lan có máy phân tích chất độc có độ nhạy đến một phần mười ba triệu. Trước khi đến khảo sát trên địa bàn của tỉnh nào, chúng tôi phải xin phép Ủy ban nhân dân tỉnh, phải mang theo một bản sao Hiệp định có đóng dấu của Văn phòng Bộ Quốc phòng để trình bày với Ủy ban công việc khảo sát chất độc da cam của Đoàn là theo Hiệp định đã ký giữa hai Chính phủ. Thời gian này Trung tâm chưa có tư cách pháp nhân vì chưa có Quyết định thành lập của Bộ Quốc phòng. Khi chính quyền địa phương hiểu rõ nhiệm vụ của chúng tôi, chính quyền địa phương rất ủng hộ. Địa phương cung cấp cho chúng tôi biết tình hình an ninh chính trị, xã hội ở những nơi mà chúng tôi đi qua. Tỉnh báo cho các địa phương biết để hỗ trợ khi cần thiết.


Sau mỗi đợt đi thực địa, Đoàn về thành phố Hồ Chí Minh nghỉ mấy ngày tại Trạm T41 của Tổng cục Hậu cần mà tôi đã mượn trước đó. Trong kế hoạch khảo sát thực địa đã có hai cuộc hội thảo khoa học. Cuộc hội thảo thứ nhất với chủ đề “Ảnh hưởng của chất độc dioxin đến sức khỏe con người” được tổ chức tại bệnh viện tỉnh Sông Bé, nơi đã lưu giữ nhiều quái thai của các sản phụ sống tại Sông Bé. Cuộc hội thảo đã phác họa con đường di truyền, hậu quả của chất độc dioxin đến các thế hệ sau. Cuộc hội thảo thứ hai với chủ đề “Ảnh hưởng của chất độc dioxin đến sinh vật dưới nước” được tổ chức tại Viện Thủy sản ll của Bộ Thủy sản tại thành phố Hồ Chí Minh.


Giữa đợt khảo sát thực địa có cuộc họp sơ kết và cuối đợt có cuộc họp tổng kết trong nội bộ Đoàn tại Trạm T41. Trong những ngày cuối cùng ở thành phố Hồ Chí Minh, Tiến sĩ Puzachenco bị bệnh sốt rét, tôi đề nghị ông ở lại Việt Nam điều trị vì bệnh này ở Việt Nam rất phổ biến, nhất là trong Quân đội thời kỳ chiến tranh, nên Quân y viện có nhiều kinh nghiệm chữa trị, nhưng ông nhất định không chịu. Ông đã tạm biệt tôi trước khi lên máy bay trong cơn rét run giữa trời nắng.


Trong đợt đi khảo sát thực địa này, một hôm trên đường đến Ủy ban nhân dân tỉnh Sông Bé xin phép, tôi và anh Mai Xuân Kỳ đã tạt vào một gia đình bán trái cây ven đường, thấy anh chủ nhà thương binh mất một cánh tay đang ngồi vuốt đầu đứa con trai tật nguyền ngồi bên cạnh bằng cánh tay còn lại, trông rất xúc động về tình cha con. Anh kể anh vốn là chiến sĩ Sư đoàn 5 Quân khu 7 trong chiến tranh chống Mỹ, mấy lần bị dính chất độc da cam nhưng anh vẫn khỏe mạnh cho đến khi chiến tranh kết thúc và phục viên, nhưng đứa con trai đầu lòng đã bị tật nguyền đôi chân từ khi mới sinh ra. Đầu óc cháu phát triển bình thường, cháu luôn cố gắng tự chăm sóc mình và giúp đỡ cha mẹ. Nhiều lúc anh không nhịn được khóc khi nhìn thấy con mặc dù tật nguyền nhưng luôn cố gắng tự chăm sóc mình và quan tâm đến cha mẹ. Ngay tối hôm đó, tôi đã bắt đầu viết bài thơ “Cha ơi đừng khóc nữa” để kính tặng những đồng đội là nạn nhân chất độc da cam: 


                


CHA ƠI, ĐỪNG KHÓC NỮA…!


   Mẹ nói cha là người mạnh mẽ,


                      không chịu cúi đầu trước mọi khó khăn!     


   Mẹ nói cha là người dũng cảm,


          bom đạn quân thù không cản được bước chân!


    Mà con thấy có lần cha khóc,


                       chỉ khóc một mình, cha giấu người thân.


    Cha ơi! Có phải cha buồn vì con kêu khóc,


                       cha cho con cuộc đời mà thiếu đôi chân!


    Con không thể theo cha đi vào bộ đội,


                       bước tiếp con đường vì nước, vì dân.        


     Con không thể thay cha ra đồng giúp mẹ,


                       cho toại ước nguyền của một đứa con.   


     Giờ con đã hiểu, cha ơi! Con không khóc nữa.


                       Bất hạnh đời con, nặng trĩu đời cha.


     Cha mà khóc, mẹ đau lòng thắt ruột,


                                 vì đứa con mẹ đã sinh ra.          


     Cha ơi!


                    Sao tàn nhẫn thế nền văn minh nước Mỹ?       


     Không thắng được đời cha,


                                   họ tàn phá đời con.          


    Mỹ muốn gì trong chiến tranh thuở ấy?        


    Muốn Việt Nam không còn có màu xanh,


    Muốn chúng con có thân thể không nguyên lành,


    Hay chỉ bởi không cam lòng thua trận,


    Họ đã gây tội ác chiến tranh.         


    Cha ơi!


    Đến bao giờ nền văn minh nhân loại,


    Sẽ cho con có được đôi chân?


    Để con đứng như con người phải biết đứng,


    Để con đi, đi khắp mọi miền.


    Nối vòng tay những mảnh đời bất hạnh.


    Cùng thét lên,


                       Hãy chấm dứt chiến tranh!           


    Đừng khóc nữa,


                    Cha ơi!


                            Đừng khóc nữa.


   Cha mà khóc là nhân đôi nỗi buồn của mẹ,          


   Làm cháy mòn khát vọng sống của con,


   Quyết đứng được trên đôi chân nghị lực.


   Dẫu với thân tàn nhưng không phế, như cha.


                                             Tháng 5 năm 1988


Bài thơ này tôi viết để kính tặng những đồng đội đã bị nhiễm chất độc da cam-dioxin trong chiến tranh chống Mỹ. Bài thơ đã được đăng trên báo Cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh.


*


Năm 1988 là năm Liên Xô ồ ạt đưa sang Trung tâm nhiều xe cộ, tàu thuyền, xăng dầu và vật tư thiết bị sử dụng ngay cho nghiên cứu khoa học. Theo Phụ lục 1 và Phụ lục 2 kèm theo Hiệp định qui định trách nhiệm của phía Liên Xô và phía Việt Nam trong việc giao nhận hàng hóa cho Trung tâm theo phương thức CIB, nghĩa là trách nhiệm của bạn chỉ đến cảng Việt Nam, từ cảng trở đi thuộc trách nhiệm của phía Việt Nam. Nhưng trong thời gian đầu, Trung tâm gặp rất nhiều khó khăn vì chưa hề có một mét vuông nhà kho nào, phòng Vật tư kỹ thuật của anh Bùi Văn Đống rất vất vả. Chúng tôi phải mượn xe của Viện Kỹ thuật Quân sự hoặc của Tổng cục Kỹ thuật để chở hàng, phải mượn kho của Cục Vật tư để tập kết hàng. Thời gian đầu khi Liên Xô chưa đưa sang cho Trung tâm 200 tấn xăng, chúng tôi phải mượn xăng của Viện Kỹ thuật Quân sự để vận chuyển hàng. Khó nhất là khi nhận các mặt hàng siêu trường, siêu trọng như nhận tàu Thủy Sinh Học và cano cho Chi nhánh Ven biển. Tàu Thủy Sinh Học có kích thước: dài 26,75m, rộng 6,15m, trọng lượng 168 tấn, được cố định trên boong một tàu vận tải rất lớn. Chúng tôi phải thuê cẩu nổi 300 tấn của Công ty Dầu khí Việt Xô nhấc tàu Thủy Sinh Học từ trên boong tàu vận tải đặt xuống nước, rồi thuê tàu lai dắt vào cảng Vũng Tàu neo đậu. Chờ xin xong biển số của Phòng Tàu thuyền Quân đội cấp thì kíp thủy thủ Liên Xô đưa tàu ra Nha Trang.


Ngày 13 tháng 3 năm 1989, tôi được cử dẫn đầu một đoàn cán bộ khoa học phía Việt Nam của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô sang Liên Xô theo chương trình trao đổi khoa học giữa Việt Nam và Liên Xô trong Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô. Đoàn gồm có: Tiến sĩ Lương Đức Tuân, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Ân, Tiến sĩ Hoàng Kim Trọng, Tiến sĩ khoa học Phạm Hữu Hoan, Tiến sĩ Đỗ Ngọc Lanh và tôi. Mục tiêu của chuyến đi là tìm hiểu cấu trúc và cơ chế hoạt động khoa học của Viện Sinh thái Tiến hóa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, cơ quan chủ quản phía Liên Xô của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô và Viện nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Không quân Liên Xô, Viện 13; Khảo sát thiết bị phân tích dioxin và một số thiết bị thí nghiệm về độ bền nhiệt đới; Tham quan Phòng Nghiên cứu độc học sinh thái thuộc Bộ Quốc phòng Liên Xô. Mỗi người được phân công đi sâu tìm hiểu một số vấn đề khoa học của một trong ba hướng khoa học mà Trung tâm đang hoạt động là Độ bền nhiệt đới, Sinh thái nhiệt đới và Y sinh nhiệt đới, tôi đi sâu về Độ bền nhiệt đới. Phần lớn thời gian tôi làm việc ở Viện 13. Ở Viện 13 tôi học được rất nhiều về cách tổ chức quản lý trang bị Quân sự theo trạng thái kỹ thuật. Tìm hiểu việc nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới đến trạng thái kỹ thuật của sản phẩm công nghệ cao. Bạn có những buồng thử khí hậu với nhiều lựa chọn về nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ, thời gian và các bài toán thử nhanh nhưng cho kết quả tương đương kết quả phơi mẫu tại các trạm phơi mẫu thời gian dài.


***                             


Liên Xô tan rã dẫn đến nguy cơ Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô cũng tan rã theo. Cả cán bộ Liên Xô và cán bộ Việt Nam đều cùng trải qua những ngày tháng đầy lo âu về số phận tồn tại của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô. Cán bộ khoa học Liên Xô tranh thủ xin trở về Liên Xô để giữ chỗ làm việc ở nơi cũ, vì họ sang Việt Nam công tác từ các Viện Hàn lâm Khoa học khác nhau của các nước Cộng hòa trong Liên bang Xô Viết. Có những đôi vợ chồng xuất thân từ hai nước Cộng hòa khác nhau, khi tâm sự với tôi về việc trở về Liên Xô, họ thường buồn bã buông một câu: “Tôi biết sẽ trở về Tổ quốc nào của tôi đây?!” hoặc “Tôi sang Việt Nam từ Liên Xô, bây giờ về Liên Xô không còn nữa! Tôi về với Tổ quốc nào?” hoặc “Ôi đau lòng! Mình sẽ là người nước ngoài của chính quê hương mình”. Tôi đã rất đồng cảm với các bạn Liên Xô và đã viết cho mình mấy câu thơ không đề để ghi nhớ nỗi đau tâm hồn của bạn:


             Nhớ Liên Xô hay nỗi nhớ nhà,          


             Mà sao ánh mắt anh buồn thế,


             Hỡi người bạn tốt quê nước Nga!


             Hỡi tình đồng chí anh với ta!


Bao nhiêu dự định về khoa học của cán bộ Liên Xô trước khi sang Việt Nam công tác đột nhiên bị đóng băng. Khi mới sang Việt Nam các bạn vui vẻ, hân hoan nhường nào, giờ bạn trở về Liên Xô với vẻ đau buồn xót xa nhường ấy. Khi Liên Xô chưa tan rã không khí làm việc ở khu số 3 đường 3 tháng 2, quận 10 luôn nhộn nhịp. Mỗi sáng, hai ba mươi xe qua cổng tỏa đi khắp ngả làm đề tài. Sau khi Liên Xô tan rã, gần hai trăm cán bộ Liên Xô rút về nước, đâu còn người đi làm đề tài, khu số 3 đường 3 tháng 2 trở nên yên lặng, buồn vắng. Guxev - Phó tổng Giám đốc phía Liên Xô phụ trách về đảm bảo kỹ thuật, vật tư, trang thiết bị của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô, người có nhiều thời gian cùng làm việc với tôi, chúng tôi rất thân nhau và thường tâm sự với nhau về quan điểm chính trị. Anh là một trong rất ít người Liên Xô thích trò chuyện chính trị với tôi. Trong thời gian một năm trước đó, khi tình hình Liên Xô có nhiều biến động, nhất là sau khi ra đời “Ủy ban nhà nước về tình trạng khẩn cấp”, những buổi trò chuyện riêng giữa chúng tôi nhiều nội dung chính trị hơn khoa học. Anh yêu cầu tôi hàng ngày nói lại cho anh nghe những tin tức thời sự trên báo đài Việt Nam đưa tin về tình hình Liên Xô. Hai chúng tôi cùng chung một tâm trạng, cùng hồi hộp lo lắng cho tình hình Liên Xô. Sau mỗi lần nghe thông báo về những sự kiện đang diễn ra ở Liên Xô, tôi cảm thấy lòng anh nặng trĩu hơn, đôi mắt anh buồn hơn. Vì những tin tôi nói lại toàn là những tin đau lòng, anh đau lòng và tôi đau lòng. Hôm thì có tin Gorbatrov từ chức Tổng Bí thư và kêu gọi Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tự giải tán; hôm thì có tin sửa đổi hiến pháp Liên Xô theo chế độ Tổng thống; hôm thì có tin Nguyên soái Cố vấn Quân sự của Tổng thống tự sát; rồi vài hôm lại có tin Bộ trưởng Bộ Nội vụ Liên Xô tự sát...  Và tiếp theo nữa là các nước Cộng hòa lần lượt tách ra khỏi Liên Xô... Vâng, đây là thời kỳ nặng nề đối với các anh và đối với cả chúng tôi, những người đã từng được đào tạo ở Liên Xô - những người rất yêu Liên Xô, rất yêu nhân dân Liên Xô. Trong bữa ăn, chúng tôi cố tránh nói chuyện chính trị, chỉ nói chuyện về gia đình, về ước muốn sẽ được gặp nhau trong tương lai. Nhưng chuyện gia đình mà anh nói ra, lại để lại cho tôi một nỗi buồn thương vô hạn: “Cha tôi là người Nga chính gốc, bởi ông nội, bà nội đều gốc Nga. Mẹ tôi lại là người Ucraina chính gốc, ông bà ngoại đều gốc Kiev. Tôi lại được sinh ra ở một nơi không phải Nga cũng không phải Ucraina. Tuổi thơ của tôi trôi qua trên nhiều nước Cộng hòa thuộc Liên Xô và cả ở Đông Đức, khi gia đình theo cha làm nhiệm vụ ở các đơn vị Quân đội đóng quân ở nhiều nơi khác nhau. Tôi tốt ngiệp Đại học Lomonoxov và lấy cô vợ cùng học nhưng là người gốc Latvia. Vậy giờ đây tôi sẽ trở về Tổ quốc nào? Quê nội, quê ngoại, quê vợ hay nơi chôn nhau cắt rốn!”. Anh nói anh đã khóc khi thấy Liên Xô tan rã. Anh đau lòng khi thấy nhiều nước Cộng hòa trong Liên bang Xô Viết ngả theo phương Tây. Anh có quan điểm chính trị tương đồng với quan điểm của tôi. Trong thời kỳ nước sôi lửa bỏng trên chính trường Liên Xô ấy, tôi có viết mấy câu thơ như để lưu giữ một nỗi đau lòng của các bạn Nga:


       Nhìn hướng Tây chờ đón bình minh,


       Ivan ngỡ trời thêm cao đẹp,


       Nhưng mùa đông càng thêm rét mướt,


       Và chính anh tự đánh mất mình!


Guxev cũng muốn trở về Liên Xô sớm vì hoàn cảnh gia đình, nhưng anh phải về chậm hơn số cán bộ khoa học. Anh còn phải tổng hợp xem tài sản của Liên Xô đã chuyển cho Trung tâm đến thời điểm ấy có giá trị hơn mười triệu đôla, đã sử dụng, tiêu hao bao nhiêu, còn lại bao nhiêu để anh cầm về báo cáo cấp trên. Tôi không ngờ rằng lần chia tay với anh năm 1991 lại là lần chia tay vĩnh biệt. Mấy năm sau, tôi có dịp sang Nga, tôi muốn tìm thăm anh nhưng vợ anh nói anh đã mất. Chị đã đưa tôi đến nghĩa trang viếng anh trong nỗi nhớ thương người bạn Nga tốt bụng và chân tình. Cũng trong dịp này tôi đã tận mắt chứng kiến cảnh đổ nát của nền kinh tế Nga trong chương trình 500 ngày tái cơ cấu nền kinh tế từ kinh tế xã hội chủ nghĩa sang kinh tế tư bản chủ nghĩa của Thủ tướng Gaida. Chính phủ đã đem tài sản của nhà nước bán cho tư nhân. Dưới thời Liên Xô tôi chưa bao giờ gặp người ăn xin, nhưng lần này tôi gặp quá nhiều người ăn xin, trước kia chưa bao giờ có chuyện những nhà khoa học của Viện Hàn Lâm Khoa học xuống đường biểu tình đòi tăng lương, đòi khôi phục kinh tế xã hội chủ nghĩa. Trước kia nhân dân Liên Xô rất yêu quí Lenin, nhưng chỉ sau mấy năm biến động chính trị đã có những tiếng nói lạc lõng của những người đi nhầm đường chính trị, đòi đưa thi hài Lenin ra khỏi lăng và xây nhà thờ lên nơi ấy. Để giữ cho mình nỗi buồn nhìn thấy người Nga trở nên nghèo đói, xã hội Nga trở nên lộn xộn, tôi đã làm cho mình hai bài thơ không đề:        


Bài thứ nhất:


               Ngày xưa đâu thấy em hành khất,


               Cùng với con thơ, với mẹ già.                    


               Nước Nga giàu lắm em có biết?


               Của cải đâu rồi hỡi Kachia!                                             


               Em nhớ chăng nước Nga Xô Viết?             


               Tuy ít nhà thờ, nhưng nhiều người tốt,


                Giờ lắm người tu và lắm Mafia!


Bài thứ hai:


                 Tôi đứng đây bên vách Điện Kremlinh,


                 Trong dòng người chờ vào lăng viếng,                 


                 Lãnh tụ thiên tài Ilich Lenin,


                 Lòng bộn bề suy ngẫm liên miên.


                 Ai rắp tâm dời lăng đi khuất ?                   


                 Để nhà thờ án ngữ nơi đây.                


                 Lenin ơi! Người đâu có biết,


                 Cổng Hồng Trường giờ hẹp lắm thay!              


                 Xưa binh hùng qua đây ra trận,                  


                 Xe tăng, tên lửa với pháo binh,                  


                 Giờ lối hẹp xe không qua được,


                 Mất hay còn nhuệ khí đấu tranh ?


                 Ivan ơi! Liệu có thể tin ?               


                 Không cần nữa binh hùng, tướng mãnh                   


                 Qua Hồng Trường xông ra phía trước,                 


                 Giữ nước Nga như thuở cha anh.                                                              


                 Ôi Rasxii - Rasxia!


                 Nhân dân vĩ đại - Nhân dân Nga,


                 Truyền thống anh hùng xưa còn đó,


                 Xin đừng để mất Rasxia!        


                                                    7- 1991                                                              


 


Đầu năm 1992, tôi được Bộ Quốc phòng cấp cho một suất đất. Đến thời điểm ấy tôi đã 55 tuổi đời và 39 tuổi quân nhưng chưa hề có được một nếp nhà cho riêng mình. Thời ở ngoài Bắc, tôi thuộc diện “chó nằm gầm chạn” theo cách nói vui của lính. Khi nghe tôi được cấp miếng đất ở đường 3 tháng 2, quận 10, anh Thuân trước cùng công tác ở Cục Cán bộ cười khà khà bảo: “Ông là trâu chậm nhưng không uống nước đục, mà là trâu chậm uống bia lon”.


         Trước khi xếp hàng vào lăng viếng  V.I. Lenin


Lịch sử con trâu chậm được uống bia lon là thế này. Một hôm chủ nhật tôi và Trịnh Đồng đứng chơi gần cổng của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô ở số 3 đường 3 tháng 2, quận 10; nhìn sang bên kia đường phía Z-756 Công binh, thấy đất đã được chia và người ta đã xây dựng gần hết chỉ còn một khoảng trống chừng hai mươi mét chưa thấy xây. Tôi thắc mắc hỏi Đồng sao họ để trống chỗ ấy làm gì. Trịnh Đồng giải thích đó là mấy suất đất Công binh dành cho Cục Cán bộ để Cục cấp cho cán bộ thuộc diện Bộ có trách nhiệm chăm lo chỗ ở, anh cũng thuộc diện Bộ có trách nhiệm chăm lo chỗ ở đấy, vì Trung tâm là đầu mối trực thuộc Bộ. Trịnh Đồng nói thêm: “Anh làm đơn gửi Cục Cán bộ xin một suất đi, được thì tốt, không được cũng chẳng mất gì của bọ”. Đồng động viên tôi làm ngay kẻo hết. Tôi nghe lời Đồng tính chuyện làm đơn ngay nhưng sợ không còn đất, nên gọi điện cho anh Hiển Cục trưởng Cục Chính trị hỏi xem sự thể ra sao. Anh Hiển rất nhiệt tình bảo đất còn đấy, ông viết đơn ngay đi kẻo hết, sáng mai ông mang ra sân bay đưa tôi cầm ra Hà Nội nộp cho Hội đồng nhà đất của Bộ. Tôi viết ngay đơn và cầm đến nhà anh Hiển nhờ xem có phải thêm bớt gì không. Anh Hiển bảo nên thêm một câu khẳng định từ trước đến nay chưa được cấp đất, cấp nhà lần nào. Tôi về nhà viết thêm câu anh Hiển góp ý và sáng hôm sau ra sân bay nhờ anh Hiển cầm ra Hà Nội. Sau một thời gian tôi có việc ra Hà Nội công tác, ghé về Cục Cán bộ thăm anh em, gặp anh Nguyễn Quí Đà, Phó Phòng Chính sách của Cục Cán bộ, anh Đà bảo: “Đơn của ông xin đất đã về đến đây rồi, Phòng Chính sách là thư ký của Hội đồng nhà đất của Bộ Quốc phòng”. Tôi hỏi liệu tôi có được lọt vào danh sách không. Anh ấy bảo còn tùy thuộc số đơn xin và số đất hiện có. Cứ chờ rồi sẽ biết kết quả. Một thời gian sau, anh Hoàng Hải- Trưởng Phòng Chính sách Cục Cán bộ gặp tôi và hỏi thêm: “Nhà ở khu Yên Lãng khi anh còn làm việc ở Cục Cán bộ là nhà của ai?”, tôi trả lời đó là nhà của mẹ vợ do Ban Tổ chức Trung ương cấp cho bà khi bà từ chiến trường ra Hà Nội, tôi sẽ photo giấy tờ nhà đưa anh xem. Anh Hải bảo có được thì tốt, tư liệu báo cáo đầy đủ hơn. Tôi mừng vì thấy các anh ở Phòng Chính sách của Cục Cán bộ làm việc rất chặt chẽ và chính trực. Khoảng cuối năm 1992, sau giờ làm việc tôi nhận được bức điện từ Bưu điện do anh Dương Đức Thục, Phòng Quản lý 3 gửi chúc mừng tôi đã được cấp đất. Tôi liền chạy về phòng ở của gia đình ngay trong cơ quan báo cho vợ biết. Vợ chồng ôm nhau nước mắt lưng tròng mừng vui, xúc động về tình cảm chân tình mà đồng đội đã dành cho mình. Thời điểm ấy, gia đình tôi trú ngụ trong một phòng được ngăn ra từ một dãy nhà dài của Trường 481 trong khu số 3 đường 3 tháng 2, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Trong phòng ở không có bếp, không có phòng vệ sinh riêng. Nhà vệ sinh chung là một dãy ở đầu khu nhà. Đêm đêm, một đứa trẻ khóc, cả dãy nhà tập thể đều nghe oang oang!


Nguồn tài chính chuẩn bị xây nhà chỉ có vẻn vẹn hơn bốn trăm triệu đồng mẹ vợ cho từ tiền bà bán căn nhà số 33 đường Trần Hưng Đạo, quận 5 chia cho các con và hai tấn sắt phía Liên Xô cho từ chương trình hỗ trợ hai trăm tấn sắt xây dựng để giúp cán bộ phía Việt Nam từ các nơi về thành phố Hồ Chí Minh công tác ở Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô nhưng chưa có nhà ở. Nhà tôi dự định xây được thiết kế bốn tầng, nhưng phải xây gần 5 năm chia làm ba đợt: Đợt một, xây một năm gần xong hai tầng thì hết kinh phí, phải vay mượn của bạn bè và người thân để hoàn thiện hai tầng. Đợt hai, bắt đầu xây sau ba năm cho thuê tầng một, gia đình ở tầng hai. Xây được một tầng rưỡi nữa thì hết tiền. Đợt ba, xây nửa tầng còn lại một phòng ngủ để đón mẹ tôi vào Sài Gòn để có điều kiện chăm sóc bà. Từ khi có nhà ở, cuộc sống gia đình đã từng bước cải thiện theo thời gian, nhờ vợ chồng biết “kinh doanh địa ốc” kiểu gia đình ở một phần, cho thuê một phần.


Có nhà riêng, chất lượng cuộc sống gia đình được nâng lên một bậc đáng kể, có điều kiện đón các cháu từ quê nhà vào thành phố học tập có nơi tá túc tạm thời. Trong số này có Phạm Huỳnh Trinh đã ở với bác từ năm học lớp 8 cho đến sau khi tốt nghiệp Đại học và đi làm. Cháu đã ở với vợ chồng tôi như một đứa con gái cho đến bây giờ. 


(còn tiếp)


Nguồn: Người con của mẹ Năm Bê. Truyện ký của Huỳnh Quang. NXB Hội Nhà văn, 2019.


www.trieuxuan.info


 


       


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »