tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29968516
01.09.2019
Huỳnh Quang
Người con của mẹ Năm Bê (10)


Đầu năm 1983, tôi vừa kết thúc xong đề tài “Đo công suất lọt của rada COH-9A”, đề tài này nằm trong chương trình “Nghiên cứu ảnh hưởng của bức xạ sóng điện từ trong cabin rada đối với sức khỏe của trắc thủ rada” do Bộ Quốc phòng giao cho Viện thì tôi nhận được quyết định về Cục Cán bộ công tác biệt phái, theo lệnh của Đại tướng Hoàng Văn Thái, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Về Cục Cán bộ, tôi sinh hoạt ở Phòng Quản lý 3, anh Lê Thanh Diệu là Trưởng phòng. Ngày hôm sau, anh Diệu đưa tôi đi gặp Cục trưởng Lê Đình Số. Cục trưởng giải thích nội dung và yêu cầu nhiệm vụ mà Đại tướng đã giao cho Cục là làm một báo cáo dưới dạng một tài liệu “Nghiên cứu đánh giá việc quản lý và sử dụng cán bộ có trình độ trên Đại học trong toàn quân”. Việc này, theo ý Cục trưởng nên giao cho một đồng chí có học vị trên Đại học thực hiện thì thuận lợi hơn. Vì thế, Cục điều tôi về Cục công tác biệt phái một thời gian, xong việc rồi trở về Viện Kỹ thuật Quân sự.


Nhiệm vụ Cục giao rất nặng nề đối với tôi, bởi tôi chưa bao giờ động đến lĩnh vực này. Tôi đã nghiên cứu các nguồn tài liệu có thể tìm được về cơ cấu ngành nghề và tỷ lệ cán bộ trên Đại học của Quân đội một số nước khác nhau về dân số, chế độ chính trị, các nước tiên tiến về khoa học kỹ thuật và các nước đang phát triển. Tôi đã đi đến tất cả các đơn vị trong Quân đội có cán bộ có học vị trên Đại học để tìm hiểu, nghe cơ quan cán bộ của đơn vị nhận xét, đánh giá đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nói chung và cán bộ có trình độ trên Đại học nói riêng.                                    


Bản báo cáo đã nêu được những số liệu so sánh về cơ cấu và tỷ lệ cán bộ trên Đại học của Quân đội các nước và của Quân đội ta. Từ đó, có thể nhìn thấy những chỗ mất cân đối ngành nghề, chưa hợp lý về tỷ lệ cán bộ trên Đại học của Quân đội ta. Việc đào tạo cán bộ trên Đại học của Quân đội ta nếu không có điều chỉnh ngay từ đầu vào, ngay từ bước thẩm định đề tài nghiên cứu của luận văn trên Đại học theo nhu cầu Quân đội mà cứ để tự phát theo khả năng đào tạo của các trường Đại học trong nước thì sự mất cân đối ngành nghề sẽ còn tăng. Ở các nước giảng viên dạy các môn khoa học cơ bản phần lớn họ sử dụng giảng viên của các trường dân sự.


Bản báo cáo đã được Thủ trưởng Cục Cán bộ và Đại tướng đánh giá tốt. Do đó, Cục muốn điều tôi về Cục Công tác chính thức chứ không biệt phái nữa, nhưng tôi chỉ muốn xin trở về Viện Kỹ thuật Quân sự. Trong một lần trò chuyện với Cục phó phụ trách nhân sự Hồ Xuân Lựu, tôi thổ lộ tôi không muốn xa công tác trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Ở đó tôi có nhiều niềm vui khi hoàn thành một công trình, ở đó tôi là cựu binh, còn ở Cục Cán bộ tôi chỉ là tân binh mới học việc, làm sao có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được. Anh Lựu không đồng ý và bảo: “Làm gì có trường đào tạo người làm công tác cán bộ, trường là thực tiễn hoạt động của Quân đội, Cục chọn người từ trong thực tiễn có đủ những tố chất cần thiết cho công tác cán bộ và anh có đủ những tố chất ấy”. Sau một thời gian chờ đợi, anh Lựu bảo với tôi: “Anh là một trường hợp đặc biệt, người không muốn làm việc ở Cục Cán bộ! Nhưng giữa tổ chức và cá nhân thì cá nhân phải phục tùng tổ chức, tôi sẽ cho làm quyết định điều anh về đây”.


Ngày 15 tháng 11 năm 1984, trong thời gian tôi đang công tác ở Cục Cán bộ, Viện Kỹ thuật Quân sự điện mời về Viện dự lễ trao Huân chương Quân Công. Đây là đợt khen thưởng tổng kết về nghiên cứu khoa học phục vụ chiến tranh chống Mỹ, trong đó tôi có những đề tài với kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng rộng rãi trong cuộc chiến chống phong tỏa của giặc Mỹ. Trên tấm Huân chương ghi: “Đã có nhiều thành tích xuất sắc góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam”. Cho đến thời điểm ấy, Huân chương Quân Công là huân chương cao quí tặng cho các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, các đơn vị và cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang. Tôi được tặng Huân chương Quân Công hạng Ba trong đợt khen thưởng này.


*


Trong thời gian tôi công tác biệt phái ở Cục Cán bộ, có lần tôi thổ lộ với anh Diệu nguyện vọng của Phương muốn chuyển vô Sài Gòn công tác, vì bà ngoại và anh em đã chuyển cả vào Sài Gòn rồi. Phương đã hai lần đi Sài Gòn tự xin việc nhưng đều không có kết quả. Có lẽ còn thiếu khoản “đầu tiên”, mà hai vợ chồng tôi đều không thể làm được cái việc “đầu tiên” ấy. Anh Lê Thanh Diệu- Trưởng phòng Quản lý 3 rất thông cảm và ủng hộ. Anh Diệu giao cho anh Nguyệt tìm cách giúp tôi giải quyết chuyện hậu phương. Anh Nguyệt đã tâm sự với tôi: Thời buổi này mà xin lệnh điều cán bộ ngoài dân sự vào Quân đội sẽ rất khó thuyết minh với Thủ trưởng Cục. May là anh đang làm việc cho Đại tướng Hoàng Văn Thái nên cũng có thể được quan tâm. Anh Nguyệt đã nhanh chóng giúp tôi ổn định chuyện hậu phương. Anh xuống Viện Kỹ thuật Quân sự làm việc với anh Phan Thu và được Viện ủng hộ, vì Phương là Kỹ sư tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội. Phương đã được điều từ cơ quan dân sự vào Quân đội. Cục Cán bộ đã điều Phương về Viện Kỹ thuật Quân sự, được sắp xếp làm việc ở cơ sở ll tại thành phố Hồ Chí Minh.


 


               


CỤC CÁN BỘ - BỘ QUỐC PHÒNG


 


   Ngày 20 tháng 9 năm 1984, tôi nhận quyết định của Bộ Quốc phòng điều về Cục Cán bộ. Cục trưởng Cục Cán bộ là Thiếu tướng Nguyễn Trọng Hợp, Cục phó- Đại tá Hồ Xuân Lựu; Cục phó- Đại tá Trần Khôi và Cục phó Chính trị- Thiếu tướng Trần Đức Long. Tôi được giao nhiệm vụ trợ lý nhân sự thuộc Phòng Quản lý 3, Đại tá Lê Thanh Diệu là Trưởng phòng, Đại tá Đặng Ngọc Diễm là Phó phòng. Phòng giao cho tôi quản lý nhân sự cán bộ thuộc Tổng cục Kỹ thuật, trong đó có Viện Kỹ thuật Quân sự và Học viện Kỹ thuật Quân sự, những đơn vị có nhiều cán bộ có trình độ Đại học và trên Đại học.


  Cục Cán bộ là một tập thể gồm những người đã được lựa chọn kỹ từ các đơn vị trong toàn quân. Tinh thần trách nhiệm trong công tác của mỗi người rất cao, cuộc sống thường ngày rất đầm ấm, chân tình. Tôi đã có những bậc đàn anh, những đồng đội rất tuyệt vời như anh Trần Đức Long, anh Hồ Xuân Lựu, anh Lê Thanh Diệu, anh Đặng Ngọc Diễm, anh Nguyễn Quốc Thịnh, anh Nguyễn Xuân Nguyệt, anh Dương Đức Thục, anh Hoàng Hải, anh Trần Bá... Tuy nhiên, tôi vẫn ước ao được quay trở về với công tác khoa học kỹ thuật, bởi lẽ công việc ở Cục ít mang lại cho tôi cơ hội sáng tạo để có niềm vui riêng khi hoàn thành một công trình. Phương thức làm việc ở Cục không ít khâu còn rất thủ công, cho nên năng suất lao động thấp. Ví dụ, mỗi mùa đề bạt, bổ nhiệm người trợ lý nhân sự phải tự viết tay trên giấy than thành năm bản, mỗi trang bao gồm tóm tắt nhân sự và nhận xét của bốn cán bộ để gửi cho mỗi thủ trưởng Cục một bản khi họp xét đề bạt. Tôi phụ trách hai đơn vị có nhiều cán bộ, mỗi mùa xét đề bạt phải làm cho vài ba trăm cán bộ. Một công việc bàn giấy thật nặng nề!                          


Với mong muốn ứng dụng khoa học kỹ thuật vào công tác cán bộ, giảm nhẹ những công việc thủ công, tăng năng suất làm việc, để cán bộ làm công tác nhân sự có thời gian đi công tác xuống đơn vị nắm tình hình, anh Lê Thanh Diệu đã đề nghị thủ trưởng Cục mở dự án đưa tin học vào công tác cán bộ. Nhưng ý tưởng ấy bị ngâm để nghiên cứu hơi lâu! Anh Diệu đã phải đến Học viện Kỹ thuật Quân sự mượn máy vi tính và mượn người về Phòng Quản lý 3 triển khai thử nghiệm việc quản lý hồ sơ cán bộ bằng vi tính. Tôi là người tích cực ủng hộ ý tưởng này của anh Diệu với hy vọng “trăm nghe không bằng một thấy” đối với các thủ trưởng. Khi thủ trưởng nhìn thấy việc truy xuất hồ sơ một cán bộ nào đó từ máy vi tính và in ra giấy chỉ mất năm ba phút, so với việc truy lục qua Phòng Hồ sơ sẽ không có thể ít hơn nửa giờ. Tuy vậy, phải mấy năm sau khi tôi đã rời Cục Cán bộ thì dự án tin học hóa công tác cán bộ mới được triển khai.


Ngày 29 tháng 10 năm 1985, khi tôi đang công tác ở Cục Cán bộ đã được trao tặng Huân chương Kháng Chiến hạng Nhất trong dịp khen thưởng tổng kết hai cuộc chiến tranh.


 


 Họp mặt CCB Cục Cán bộ thường trú tại TP Hồ Chí Minh.


 


 


TRUNG TÂM NHIỆT ĐỚI VIỆT - XÔ


 


Ngày 7 tháng 3 năm 1987, Nhà nước Việt Nam- Liên Xô đã ký Hiệp định về việc cùng hợp tác xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam một công trình đặc biệt: “Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Thử nghiệm Nhiệt đới Hỗn hợp Việt Nam - Liên Xô” gọi tắt là “Trung tâm Nhiệt đới Việt - Xô”.


Ngày 20 tháng 7 năm 1987, tôi nhận quyết định của Bộ Quốc phòng điều công tác biệt phái từ Cục Cán bộ về Đoàn 7387. Đoàn 7387 là đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, có con dấu tương đương cấp Sư đoàn, nhưng quân số chỉ có 13 người đều là cán bộ biệt phái: Phan Thu, Đoàn Nhâm, Mai Xuân Kỳ, Trần Đình Toại, Lương Đức Tuân, Hoàng Thị Cơ, Lê Văn Tiệp, Nguyễn Văn Thi đến từ Viện Kỹ thuật Quân sự; Nguyễn Quỳ đến từ Đại học Kỹ thuật Quân sự, Nguyễn Duy Nhất, Bùi Xuân Khoát đến từ Cục Quản lý Khoa học, Đỗ Phúc Khuyến đến từ Cục Vật Tư và Huỳnh Quang đến từ Cục Cán bộ. Thiếu tướng Phan Thu, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Quân sự kiêm nhiệm Đoàn trưởng Đoàn 7387. Thiếu tướng Phan Thu và Thiếu tướng Nguyễn Quỳ mỗi tuần chỉ làm việc ở Đoàn 7387 một ngày, quản lý công việc thường xuyên của đoàn anh Thu giao cho tôi phụ trách.


Đoàn 7387 có nhiệm vụ cùng với đại diện phía Liên Xô chuẩn bị mọi việc cho sự ra đời của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô, bao gồm:


- Cùng với đại diện phía Liên Xô soạn thảo bản dự thảo “Qui chế hoạt động của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô” mà hai bên sẽ ký kết sau khi có quyết định thành lập Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô của Chính phủ Việt Nam. Đây là văn bản dưới Hiệp định sẽ do đại diện hai thành viên ký.


- Cùng với đại diện Liên Xô soạn thảo bản dự thảo “Cơ cấu tổ chức và biên chế cán bộ của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô”.


- Thay mặt phía Việt Nam chuẩn bị mặt bằng và giới thiệu những địa điểm có thể xây dựng chính thức các công trình của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô sử dụng lâu dài để phía Liên Xô chuẩn bị các tài liệu thiết kế các công trình mà hai bên sẽ cùng thảo luận và quyết định lựa chọn.


- Tìm các khu nhà và địa điểm có thể dùng làm phòng thí nghiệm, chỗ làm việc cho cơ quan quản lý của cơ sở chính tại thành phố Hồ Chí Minh, Chi nhánh phía Bắc ở Hà Nội và Chi nhánh Ven biển ở Nha Trang trong giai đoạn 1 khi Liên Xô chưa xây dựng xong các công trình chính thức ở ba cơ sở, như Hiệp định đã qui định.


- Tìm nhân sự cụ thể cho những chức danh lãnh đạo chủ chốt của cơ sở chính và hai Chi nhánh đến cấp Trưởng phòng, lập danh sách trình Cục Cán bộ ra quyết định điều động. Việc này Cục Cán bộ đã giao cho tôi trước khi cử tôi công tác biệt phái sang Đoàn 7387 và căn dặn khi nào cần đến đơn vị nào đó để tìm cán bộ thì về Cục lấy giấy giới thiệu.


- Tìm cơ sở kho tàng để tiếp nhận xe cộ, xăng dầu, trang thiết bị phòng thí nghiệm để Trung tâm có thể sớm đi vào hoạt động ngay sau khi Trung tâm có quyết định thành lập của Chính phủ Việt Nam.


- Tiếp nhận, nghiên cứu bản dự thảo chương trình nghiên cứu khoa học của Trung tâm 5 năm, năm 1988 và trao đổi với các Đoàn khoa học của bạn để thống nhất ý kiến trình Ủy ban Phối hợp trong phiên họp lần thứ nhất của Ủy ban Phối hợp.


- Chuẩn bị cho phiên họp đầu tiên của Ủy ban Phối hợp bao gồm danh sách Phân ban Việt Nam, nội dung và kế hoạch phiên họp, xin ý kiến phê duyệt của Bộ Quốc phòng trước khi cuộc họp bắt đầu.


Trụ sở làm việc của Đoàn 7387 là ngôi nhà kiểu biệt thự số 11, đường Phan Huy Chú, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.


Thủ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp chỉ đạo công tác của đoàn 7387 là Thượng tướng, Thứ trưởng Trần Sâm. Tất cả mọi công văn của Bộ Quốc phòng gửi các Bộ liên quan xin cử người đại diện trong Phân ban Việt Nam và gửi các tỉnh xin cấp đất làm địa điểm đóng quân để xây dựng các công trình chính thức cho Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô đều do Thứ trưởng Trần Sâm ký. Ông có nhiều ý kiến chỉ đạo giải quyết linh hoạt và có tầm nhìn xa. Ví dụ xin đất để xây dựng các khu đóng quân chính thức của Trung tâm nếu diện tích lớn hơn 2 hecta thì xin của địa phương, nhỏ hơn 2 hecta thì xin đất do Quân đội quản lý. Các khu nhà cần có ngay cho Trung tâm sử dụng trong giai đoạn 1 cũng chỉ xin trong Quốc phòng để có thể nhanh chóng giải quyết cho kịp thời gian. Nhờ vậy mà Bộ Quốc phòng chỉ phải gửi công văn xin 8 hecta đất của thành phố Hồ Chí Minh để xây dựng cho cơ sở chính, đất cho Chi nhánh Ven biển Bộ Quốc phòng cắt của Trường Sĩ quan Thông tin 2 hecta, đất cho Chi nhánh phía Bắc Bộ Quốc phòng lấy của Tổng cục Kỹ thuật ở Nghĩa Đô 2 hecta.


Nhà cửa cho Trung tâm hoạt động trong giai đoạn 1 tại cơ sở chính cần diện tích rộng nên Bộ đã giao cho Trung tâm khu Trường 481 ở số 3 đường 3 tháng 2, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh và Viện Kỹ thuật Quân sự cho mượn một tòa nhà ba tầng ở 243 Hoàng Văn Thụ. Nhà cửa cho Chi nhánh phía Bắc Viện Kỹ thuật Quân sự cho mượn nửa tòa nhà B6 ở khu Nghĩa Đô. Còn lại chỉ có nhà đất sử dụng tạm trong giai đoạn 1 của Chi nhánh Ven biển là chưa mượn được ở đâu. Anh Phan Thu cử tôi đi QK5 tìm mượn. May là khi tôi đến QK5 gặp ngay anh Lê An, Thiếu tướng Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Quân khu. Anh An và tôi trước đó hai mươi hai năm đã cùng là chiến sĩ Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 90 Pháo binh ở Vĩnh Yên. Cả hai đều không ngờ còn có cơ hội gặp nhau. Sau một hồi hàn huyên chuyện trên trời dưới đất, tôi nêu mục đích của chuyến công tác đến Quân khu để mượn đất sử dụng tạm cho Chi nhánh Ven biển, khi nào xây dựng xong khu chính thức trên khu đất phía trước cổng Trường Sĩ quan Thông tin thì Trung tâm sẽ trả lại đất mượn của QK5. Anh An cho biết anh có ba miếng đất ở Nha Trang, hai miếng nằm giữa đường Trần Phú và bãi tắm, một miếng ở địa chỉ 34 Nguyễn Thiện Thuật, anh bảo cứ vô Nha Trang xem, ưng miếng nào thì báo cho anh và cử người ra Quân khu làm thủ tục nhận bàn giao.


Tôi đến Nha Trang, nghiêng người chui qua cổng không có người gác, nhìn thấy một khu đất hơn một hecta, cỏ cây um tùm đến quá thắt lưng, nhiều nhà cấp bốn có từ thời Mỹ đóng ở Nha Trang, nhà còn tốt có thể sử dụng ngay được. Tôi mừng quá không cần phải đi xem hai khu đất kia. Về đến Hà Nội tôi báo ngay với anh Phan Thu và gọi điện ngay cho anh Lê An giữ khu 34 Nguyễn Thiện Thuật cho Trung tâm mượn và sẽ đến Quân khu làm thủ tục sau khi Trung tâm có tư cách pháp nhân.


Thứ trưởng Trần Sâm có câu hỏi mà tôi rất lưu ý về tên gọi “Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Thử nghiệm Nhiệt đới Hỗn hợp Việt Nam - Liên Xô”, trong đó có chữ “thử nghiệm”. Ông hỏi thế thì họ sẽ thử nghiệm cái gì? Có thử nghiệm vũ khí vi trùng, vũ khí sinh học, hóa học gây hậu quả không tốt cho sức khỏe của nhân dân ta không? Cũng câu hỏi giống y như vậy, chúng tôi đã nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt hỏi khi đến gặp để báo cáo về bản dự thảo Hiệp định.


Thứ trưởng Trần Sâm đã có những ý kiến chỉ đạo cụ thể có tầm nhìn rất xa. Ông đã chỉ đạo xe cho người Liên Xô sử dụng phải xin cấp biển xanh mặc dù Trung tâm là đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng. Bộ Quốc phòng qui định xe chở người Liên Xô đi ra khỏi thành phố phải do người Việt Nam cầm lái. Với qui định này, nếu Trung tâm chấp hành đúng thì năm 1998 đã không xảy ra tai nạn giao thông làm chết Giám đốc phía Nga của Chi nhánh Ven biển Borozitskii, Phó tiến sĩ Kasian và hai cán bộ khoa học Nga bị thương nặng. Đó là một tổn thất rất nặng nề và một thiếu sót nghiêm trọng trong chấp hành qui định của Bộ Quốc phòng và Qui chế hoạt động của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô của cả phía Nga và Việt Nam, mà tôi không thấy ghi chép trong lịch sử của Trung tâm cho thế hệ sau rút bài học. Không hiểu tại sao?


Ngày 15 tháng 12 năm 1987 đã diễn ra phiên họp Ủy ban phối hợp về Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô lần thứ nhất và lễ ký văn bản “Qui chế hoạt động của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô”. Đại diện hai thành viên ký Qui chế là Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô - Viện sĩ Sokolov, phía Việt Nam là Bộ Quốc phòng - Thứ trưởng Trần Sâm. Đây là văn bản quan trọng kèm theo và không tách rời Hiệp định, đã được thông qua Vụ Pháp chế Bộ Ngoại giao, Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng và Bộ Quốc phòng. Nội dung quan trọng nhất của bản Qui chế, theo tôi là qui định chế độ “đồng giám đốc” ở cả ba cơ sở, giám đốc phía Việt Nam và giám đốc phía Liên Xô. Một quyết định nào đó nếu một trong hai giám đốc không đồng ý thì quyết định ấy không có hiệu lực. Về những vấn đề chung, quyền lực của giám đốc mỗi bên chỉ có giá trị 50%.


Cuộc họp của Ủy ban Phối hợp đã thông qua “Chương trình kế hoạch nghiên cứu khoa học 5 năm 1988 - 1992 và năm 1988”, thông qua bản dự thảo “Cơ cấu tổ chức và biên chế cán bộ của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô”.


Ngay sau phiên họp Ủy ban Phối hợp, ông Prishevpo Iuri Porfirovich Phó Chủ tịch Phân ban Nga đề nghị anh Phan Thu và tôi xếp lịch cho một cuộc gặp hành lang để ông giới thiệu nhân sự Tổng Giám đốc phía Liên Xô Korzun Leonhich Petrovich và Phó Tổng Giám đốc Khoa học phía Liên Xô Procofiev X. K. sẽ sang Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô công tác ngay sau khi có quyết định thành lập Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô của Chính phủ Việt Nam, để hai bên có thể nhận mặt nhau ở sân bay khi các đồng chí ấy sang Việt Nam làm việc sau này.


Chiều ngày 7 tháng 3 năm 1988, trong buổi giao ban tuần của Đoàn 7387, chúng tôi nhận điện từ Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng do anh Lê Minh Lập thông báo đã có Quyết định thành lập Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô và giao cho Bộ Quốc phòng là cơ quan chủ quản. Niềm vui vỡ òa về kết quả một năm làm việc của Đoàn 7387.


Ngày 20 tháng 2 năm 1988, tôi nhận Quyết định của Bộ Quốc phòng điều động và bổ nhiệm Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô.


Ngày 18 tháng 3 năm 1988, trong khi đang họp giao ban hàng tuần ở Đoàn 7387, chúng tôi nhận được điện từ Cục Liên lạc Đối ngoại của Bộ Quốc phòng cho biết GTU thông báo ngày 28 tháng 3 năm 1988 Tổng Giám đốc và Phó Tổng Giám đốc Khoa học phía Liên Xô đến thành phố Hồ Chí Minh nhận nhiệm vụ chính thức ở Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô. Chiều ngày 18 đúng vào lịch họp hàng tuần của đoàn 7387, cuối buổi họp anh Phan Thu giao cho tôi nhiệm vụ ngày 28 tháng 3 đi thành phố Hồ Chí Minh đón Tổng Giám đốc và Phó Tổng Giám đốc phía Liên Xô. Thay mặt Ban Tổng Giám đốc phía Việt Nam cùng với bạn bắt đầu triển khai hoạt động của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô theo Hiệp định và Qui chế đã ký giữa hai Chính phủ và kế hoạch năm 1988 của Trung tâm mà Ủy ban Phối hợp đã thông qua trong phiên họp đầu tiên ngày 15 tháng 12 năm 1987. Anh Phan Thu bảo triển khai hoạt động của Trung tâm từ con số 0, chưa có nơi làm việc, chưa có tài khoản ngân hàng, chưa có cơ quan giúp việc, chưa có điện thoại liên lạc, chưa có xe cộ, chưa có con dấu... Vì chưa có quyết định thành lập Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô của Bộ Quốc phòng nên Trung tâm chưa có thứ gì cả, nhưng vẫn phải bắt đầu. Tất cả đều dựa vào sự năng nổ của người thi hành nhiệm vụ. Anh gợi ý trước mắt hãy dựa vào sự giúp đỡ của cơ sở ll Viện Kỹ thuật Quân sự về tài chính, xe cộ, xăng dầu, thông tin liên lạc.Anh Phan Thu hứa sẽ gọi điện cho cơ sở ll quan tâm giúp đỡ. Ngoài ra, anh khuyên tôi nên phát huy lợi thế đã có nhiều quen biết với các đơn vị ở phía Nam khi tôi còn công tác ở Cục Cán bộ để nhờ anh em giúp đỡ những vấn đề liên quan khác.


Trong mấy ngày tiếp sau, tôi chuẩn bị cho mình mấy thứ cần thiết làm “bảo bối” trước khi vào thành phố Hồ Chí Minh công tác. Tôi vào Văn phòng Bộ Quốc phòng ký sao một bản Hiệp định và một bản Nghị định 25/HĐBT. Hồi ấy, Đoàn 7387 có bản sao Hiệp định và Nghị định do Tổng Thư ký Hội đồng Bộ trưởng Nguyễn Hữu Thụ ký. Tôi nghĩ hai văn bản này sẽ cần cho tôi khi phải làm việc với một số cơ quan ngoài Quân đội. Tôi chuẩn bị sẵn một loạt giấy giới thiệu đến một số đơn vị, cơ quan trong và ngoài Quân đội như thường trực phía Nam của Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật, Văn phòng Bộ Quốc phòng, Cục Vật tư, Đoàn tiếp nhận 25, Quân khu 7, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Cục Hải quan thành phố... xin chữ ký anh Phan Thu, đóng dấu Đoàn 7387, nhưng chưa ghi ngày. Sau đó tôi đến Viện Kỹ thuật Quân sự tạm ứng một số tiền làm “ngân sách” cho Trung tâm và về Cục Cán bộ ứng lương tháng Tư của tôi. Phải đến hai đơn vị để ứng tiền vì tuy rằng Đoàn 7387 là đơn vị trực thuộc Bộ nhưng nguồn ngân sách không nhận từ Cục Tài chính mà tạm ứng từ ngân sách của Viện Kỹ thuật Quân sự và quyết toán với Viện. Cán bộ của Đoàn 7387 đều được điều động biệt phái từ các đơn vị, sinh hoạt Đảng và mọi đảm bảo hậu cần đều ở đơn vị cũ, cho nên tôi phải về Cục Cán bộ để nhận lương.


Trưa ngày 28 tháng 3 năm 1988, chiếc máy bay Quân sự tôi đi từ Hà Nội đã hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất lúc 10 giờ, khoảng 30 phút trước giờ hạ cánh của máy bay hãng hàng không Liên Xô từ Mascova đến thành phố Hồ Chí Minh. Tôi nhanh chóng ra khỏi nhà ga sân bay Quân sự thì thấy anh Bùi Hoàng Báu, Trưởng ban Hành chính của Cơ sở ll Viện Kỹ thuật Quân sự đã chờ sẵn. Hóa ra anh Phan Thu đã điện cho Cơ sở ll đưa xe ra sân bay đón tôi và hai bạn Liên Xô. Mừng quá vì có xe, tôi tranh thủ trong khi còn chờ hai bạn Liên Xô làm thủ tục ở sân bay, nhờ xe đưa sang thường trực phía Nam của Tổng cục Kỹ thuật gặp Thiếu tướng Nguyễn Văn Tiên, Phó Chủ nhiệm Tổng cục để nhờ giúp đỡ chỗ nghỉ tạm vài ba ngày cho hai cán bộ Liên Xô mới sang. Sở dĩ tôi tìm đến anh Tiên vì trước kia tôi đã từng là cán bộ dưới quyền anh ở Tổng cục Kỹ thuật, cũng như thời gian tôi công tác ở cơ quan Bộ Quốc phòng, đã nhiều lần được tiếp xúc với anh. Anh là một cán bộ cấp trên rất dễ gần và rất khảng khái giúp đỡ cán bộ cấp dưới khi cần thiết. Anh Tiên bảo Tổng cục Kỹ thuật không có nhà khách nào phù hợp cho cán bộ Liên Xô tạm nghỉ. Anh khuyên tôi nên sang Cục Hậu cần Quân khu 7, anh biết Quân khu có một số nhà khách không nằm trong khu vực Quân sự. Rồi anh gọi điện luôn cho Cục trưởng Cục Hậu cần quân khu 7. Cục trưởng trả lời là có nhà khách ở số 431 Hoàng Văn Thụ, quận Tân Bình có thể giúp bố trí cho chuyên gia Liên Xô nghỉ tạm. Anh Tiên đưa ống nói điện thoại cho tôi để tôi trình bày trực tiếp với Cục trưởng, đỡ phải chạy đến cơ quan Cục mất thời gian. Cục trưởng hứa sẽ gọi điện báo trước cho nhà khách, tôi cứ việc đưa hai chuyên gia Liên Xô đến thẳng địa chỉ 431 Hoàng Văn Thụ. Tôi thật vui mừng và xúc động, đã giải quyết một việc khó khăn đầu tiên chỉ trong hơn 30 phút, nhờ có sự giúp đỡ tận tình của đồng đội.


Tôi trở lại sân bay và còn phải đợi hơn một giờ nữa thì Korzun L.P và Procofiev X. K mới xuất hiện. Hồi ấy, guồng máy sân bay chạy chậm lắm. Tôi cùng anh Báu đưa hai bạn về nhà khách, báo cho hai bạn xuất cơm chiều và hai xuất ăn sáng ở nhà khách, hẹn sáng hôm sau gặp nhau trong bữa sáng. Tôi phải đưa hai bạn về nhà khách Quân đội nghỉ tạm là vì hồi ấy cán bộ và chuyên gia Liên Xô, kể cả chuyên gia Quân sự sang Việt Nam công tác không được đảm bảo theo “cơ chế thị trường” như bây giờ. Bạn được nhà nước Liên Xô đảm bảo theo cơ chế bao cấp do cơ quan đại diện GTU ở Việt Nam thực hiện. Bạn sang Việt Nam công tác đâu có được mang theo đô la hay đồng rup để đổi sang tiền đồng Việt Nam tại sân bay để chi tiêu. Theo kinh nghiệm công tác của tôi với chuyên gia Liên Xô trước đây ở Z119, các bạn không có sẵn tiền để trả cho khách sạn ngay trong những ngày đầu. Về sau khi cùng làm việc với Korzun và Procofiev, tôi để ý thấy bạn sử dụng một loại tiền rup chỉ in một mặt. Tiền này bạn sử dụng trong hệ thống các cửa hàng của GTU phục vụ ưu đãi cho riêng người Liên Xô ở Việt Nam. Những ngày sau đó, thỉnh thoảng bạn phải qua Lãnh sự quán để mua sắm thức ăn và những thứ cần thiết khác bằng loại tiền đặc biệt ấy.


Hôm sau, 29 tháng 3 năm 1988, chúng tôi “khai mạc” ngày làm việc đầu tiên của Trung tâm Nhiệt đới Việt Xô tại phòng ăn của nhà khách ngay sau bữa ăn sáng. Chúng tôi bàn kế hoạch triển khai những việc cấp thiết trước mắt cần làm ngay. Đó là:


1. Ký hợp đồng thuê chỗ ở dài hạn và ngắn hạn cho cán bộ Liên Xô làm việc tại Trung tâm.


2. Thuê một chiếc xe sử dụng chung cho Ban Tổng Giám đốc.


3. Tìm một địa điểm làm việc tạm thời cho Trung tâm.


4. Chuẩn bị điều kiện cho đợt công tác khoa học dã ngoại đầu tiên đã được xác định trong kế hoạch năm 1988.


Việc ký hợp đồng thuê chỗ ở cho bạn đã được làm ngay trong vài ngày sau đó và không gặp khó khăn gì. Đây là việc thuộc phần trách nhiệm của phía Liên Xô như Phụ lục 1 của Hiệp định. Bạn thích ở khu Thanh Đa, nơi được coi như là dành riêng cho người Liên Xô làm việc ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và một số tỉnh lân cận. Nhưng lúc này Trung tâm chưa có tư cách pháp nhân, cho nên tôi phải đi cùng với hai bạn Liên Xô đến Thanh Đa bàn với Giám đốc khách sạn và tôi phải thay mặt bạn ký hợp đồng tạm thời với anh Sang, Giám đốc khách sạn, trên cơ sở tin cậy lẫn nhau. Những thông tin của bên thuê là địa chỉ nhà ở và số chứng minh thư sĩ quan của tôi. Chữ ký của bên thuê không có đóng dấu. Chính từ lần gặp và ký hợp đồng này mà tôi và anh Sang trở thành bạn của nhau cho đến bây giờ.


Việc thuê một chiếc xe cũng không gặp khó khăn và cũng là trách nhiệm của phía Liên Xô trong Phụ lục 1. Chúng tôi đến Cơ sở ll Viện Kỹ thuật Quân sự gặp anh Nguyễn Nầy, Chỉ huy phó và nhận được sự giúp đỡ tận tình. Anh Nầy có thể cho mượn một chiếc GAZ-69 hoặc xe Jeep cùng với lái xe, Trung tâm chỉ việc mua xăng để chạy. Thế nhưng trong túi chúng tôi không có “ngân sách” để mua xăng. Tôi đề nghị anh Nầy cho mượn luôn cả xăng, sau vài tháng nữa chúng tôi sẽ tiếp nhận khoảng 200 tấn xăng, khi đó chúng tôi sẽ hoàn trả lại cho Viện số xăng đã sử dụng, cộng với chi phí dầu mỡ, hao mòn xe và công lao động của lái xe, tất cả cũng trả bằng xăng. Anh Nầy đồng ý sau này sẽ thanh toán bằng xăng, nhưng không muốn nhận tiền trả công cho lái xe. Anh cho rằng lái xe là quân nhân, đã có lương Quốc phòng, anh chỉ yêu cầu nếu đi xa thì Trung tâm phải lo bữa ăn, chỗ ngủ cho lái xe là được rồi. Chúng tôi đã thỏa thuận miệng với nhau như vậy và đã thực hiện cho đến khi Trung tâm tiếp nhận loạt xe ô tô đầu tiên.


Việc tìm một địa điểm làm trụ sở tạm thời là việc thuộc phần trách nhiệm của phía Việt Nam trong Phụ lục 2 của Hiệp định. Việc này trước đây nhóm “nhà, đất, xây dựng công trình” của Đoàn 7387 đã làm việc với Cục Doanh trại nhưng chưa có kết quả. Tôi đến cơ quan Thường trực phía Nam của Tổng cục Hậu cần xin gặp Thiếu tướng Nguyễn An, Phó chủ nhiệm Tổng cục. Tôi chưa có dịp nào tiếp xúc với ông nên cũng hơi lo. Nhưng khi tiếp xúc, sau khi nghe tôi báo cáo sơ qua nội dung của Hiệp định và Nghị định 25, trong đó nhà nước giao cho Bộ Quốc phòng là cơ quan chủ quản của phía Việt Nam, có nhiệm vụ thực hiện trách nhiệm của phía Việt Nam trong Phụ lục 2. Thiếu tướng hiểu rất nhanh đề nghị của tôi và nêu ngay đề xuất hai địa điểm để tôi trực tiếp đến đó khảo sát. Một là, trạm khách T41 của Tổng cục ở đường Trường Sơn; hai là, nhà kho của Cục Quân y trên đường Trần Hưng Đạo, quận 1. Ông cho rằng T41 làm trụ sở cho Trung tâm thì có nhược điểm là phải chung với Trạm vì Tổng cục vẫn cần Trạm khách, không thể giao hết mặt bằng cho Trung tâm mượn và nhà ăn của Trạm có thể chưa đạt yêu cầu đối với người Liên Xô. Nhà kho trên đường Trần Hưng Đạo thì có thể cho mượn toàn bộ, bao gồm cả khuôn viên có tường bao riêng biệt, vì đó là ngôi biệt thự được xây từ thời Pháp thuộc, nhưng muốn sử dụng phải sửa chữa nhiều phần, nhất là điện nước. Tôi đi một mình đến hai nơi khảo sát và thấy T41 phù hợp hơn. Những nhược điểm ông nêu, tôi lại cảm thấy thuận lợi, bởi vì “sống chung” với Trạm có ảnh hưởng gì đâu, đây chỉ là trụ sở tạm thời, không phải mất thời gian sửa chữa, có bảo vệ và có nhà ăn để báo cơm. Những năm 80, lương sĩ quan không đủ cho sinh hoạt, nếu ngày nào cũng phải ăn cơm quán thì vợ con coi như treo niêu. Thế là tôi xin Phó Chủ nhiệm cho mượn một phần T41. Sau đấy, khi các bạn Liên Xô sang thực hiện đợt khảo sát thực địa đầu tiên, nhiều hôm cũng ăn trưa ở Trạm và bạn cũng ăn cơm bằng đũa, ăn rau muống luộc chấm nước mắm ớt tỏi ngon lành.


Việc chuẩn bị điều kiện cho đợt công tác khoa học dã ngoại sẽ bắt đầu từ hạ tuần tháng 4, theo đề nghị của phía bạn, là công việc có nhiều nội dung và cũng nhiều khó khăn nhất. Đây là đợt công tác khoa học dã ngoại đầu tiên, nhằm tiến hành một loạt khảo sát về sinh thái nhiệt đới và hậu quả của chiến tranh hóa học, ảnh hưởng của chất độc dioxin-da cam đến thực vật và động vật, trong đó có con người. Nội dung khoa học của đợt công tác rất rộng, liên quan đến 4 đề tài khoa học thuộc Ecolan E, tiến hành trên địa bàn cũng bao la, chạy dài từ phía Nam tỉnh Lâm Đồng qua Nam Cát Tiên, Trị An, Mã Đà, Hiếu Liêm, Xuyên Mộc của tỉnh Đồng Nai, kéo ra đến huyện Cần Giờ của thành phố Hồ Chí Minh. Số cán bộ cần có của mỗi bên để tham gia đề tài cũng nhiều. Trong khi đó, Trung tâm coi như chưa có gì, kể cả cán bộ khoa học. Ý kiến của tôi thì muốn tiến hành đợt khảo sát khoa học muộn hơn một thời gian nữa, vì chưa biết bao giờ có quyết định thành lập Trung tâm của Bộ Quốc phòng để có tư cách pháp nhân, tiện làm việc với các cơ quan ngoài Quân đội và các địa phương. Nhưng phía bạn thì muốn tiến hành càng sớm càng tốt. Như là bạn lo rằng càng muộn bao nhiêu thì “dấu vết” của dioxin trong các mẫu đất sẽ thu thập trong đợt khảo sát này sẽ càng khó tìm thấy. Cuối cùng thì chúng tôi cũng thống nhất ý kiến với nhau là sẽ chuẩn bị theo mốc thời gian như phía bạn đề nghị. Chúng tôi liệt kê những việc cần phải chuẩn bị, rồi theo Phụ lục 1 và 2 mà phân định trách nhiệm mỗi bên. Việc phân định này chủ yếu là để ghi nhận ai sẽ chi trả khi cần chi, còn việc tiến hành công việc thì ba người chúng tôi phải cùng nhau làm, vì chưa có cơ quan giúp việc. Tôi vừa làm nhiệm vụ của một thành viên Ban Tổng Giám đốc, vừa làm nhiệm vụ của một phiên dịch, trợ lý kế hoạch, hành chính, tài vụ...


Việc thứ nhất là cán bộ thực hiện đề tài. Theo Hiệp định thì mỗi bên tự lựa chọn và cử cán bộ của mình. Korzun thông báo phía Liên Xô đã có đủ cán bộ và sẵn sàng sang Việt Nam. Cán bộ khoa học của phía Việt Nam tham gia thực hiện đề tài thì trước đây, khi chuẩn bị kế hoạch năm 1988, nhóm “khoa học” của đoàn 7387 cũng đã phối hợp với lãnh đạo các Viện của Viện Khoa học Việt Nam cử cán bộ tham gia. Tôi thông báo việc này cho anh Mai Xuân Kỳ ở Đoàn 7387 chuẩn bị cán bộ khoa học cho đợt dã ngoại theo mốc thời gian bắt đầu ngoài 20 tháng 4.


(còn tiếp)


Nguồn: Người con của mẹ Năm Bê. Truyện ký của Huỳnh Quang. NXB Hội Nhà văn, 2019.


www.trieuxuan.info


 


       


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »