tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29966585
29.08.2019
Huỳnh Quang
Người con của mẹ Năm Bê (9)


Tôi đi học Sau Đại học


Khoảng tháng 3 năm 1977, tôi nhận được thông báo của Cục Cán bộ gửi về đơn vị cho tạm nghỉ công tác để chuẩn bị đi làm nghiên cứu sinh. Thật bất ngờ vì tôi vừa đi thực tập theo công trình 75633, nghĩa là sẽ phải làm việc theo công trình 75633 như Tổng cục Kỹ thuật đã dự kiến sắp xếp. Nhưng lệnh của Cục Cán bộ có sức mạnh hơn nên đơn vị phải chấp hành. Năm 1977 là năm đầu tiên trong Quân đội chọn cán bộ đi đào tạo sau Đại học phải thực hiện theo qui chế của Bộ Đại học, nghĩa là phải thi tuyển. Anh Nguyễn Quốc Thịnh, cán bộ Phòng Quản lý 3 đã báo cho tôi biết Cục Cán bộ sẽ điều tôi về Đoàn 871 để chuẩn bị thi tuyển đi nghiên cứu sinh. Tôi nghĩ mình đã may mắn được cùng sinh hoạt chung với Đoàn của anh Nguyễn Quốc Thịnh trong ký túc xá của trường Rada ở Kiev 13 năm trước, khi tôi được nhà trường tặng bằng khen về nghiên cứu khoa học của học viên, vì thế anh Thịnh đã biết tôi đam mê với nghiên cứu khoa học nên đã đưa tôi đi theo con đường khoa học mà tôi yêu thích và tôi đã gắn bó suốt cuộc đời với khoa học kỹ thuật trong Quân đội.


Tôi được đơn vị cho nghỉ hai tháng rưỡi, tính từ ngày 15 tháng 3 để ôn thi hai môn và viết đề cương đề tài nghiên cứu sinh. Đề cương đề tài nghiên cứu do Hội đồng khoa học Bộ Quốc phòng thẩm định. Ngoài ra, chúng tôi còn phải thi môn kinh tế chính trị học. Vì hồi ấy, đường lối chính trị của ta và các nước Xã hội Chủ nghĩa không giống nhau, Bộ Quốc phòng không muốn anh em ta sang đó phải học và thi môn kinh tế chính trị học theo quan điểm của bạn. Mười lăm ngày đầu tháng 6 thi các môn và bảo vệ đề cương nghiên cứu.


Ngày 17 tháng 6 năm 1977, tôi rời nhà máy Z119 về Đoàn 871, đơn vị quản lý học viên Quân sự đi học ở nước ngoài.


Ngày 13 tháng 8 năm 1977, đoàn nghiên cứu sinh chúng tôi lên tàu liên vận Hà Nội-Bắc Kinh-Mascova-Praha-Brno. Đoàn gồm có tám người: Nguyễn Xuân Anh, Hoàng Đình Cường, Nguyễn Xuân Cư, Vũ Hữu Hưng, Nguyễn xuân Thiêm, Nguyễn Đình Thắng, Dương Ngọc Thái và tôi. Tôi được Cục Cán bộ giao nhiệm vụ đoàn trưởng. Cùng đi với đoàn nghiên cứu sinh còn có đoàn học viên Quân sự đi đào tạo kỹ sư hàng không Quân sự cũng đến Học viện Quân sự VAAZ Brno, Tiệp Khắc. Trong thời gian làm nghiên cứu sinh, tôi được Cục Cán bộ và Phòng Tùy viên Quân sự giao phụ trách chung toàn bộ nghiên cứu sinh và học viên Quân sự Việt Nam tại Học viện Quân sự VAAZ và chỉ định tôi vào Đảng ủy Quân sự của Phòng Tùy viên Quân sự Việt Nam tại Tiệp Khắc. Đoàn học viên Quân sự Việt Nam tại Học viện VAAZ rất đông, gồm 78 học viên Quân sự bậc Đại học và 33 nghiên cứu sinh.


Giám đốc Học viện VAAZ Tiệp Khắc là Trung tướng Josef Cepicky. Thầy phụ trách nghiên cứu sinh của tôi ở Học viện là Đại tá Giáo sư Tiến sĩ Jaroslav Taborskii. Thầy phụ trách nghiên cứu sinh của tôi ở Viện nghiên cứu Vô truyến điện Praha là Tiến Sĩ Janechek. Phụ trách học viên Việt Nam học tại Học viện VAAZ là Đại tá Kshish. Học ở Học viện này còn có học sinh quân sự Libi và Xyri. Họ cũng ở chung trong cùng ký túc xá với chúng tôi nhưng học riêng vì họ học Trung cấp Kỹ thuật. Học viện VAAZ là Học viện Kỹ thuật duy nhất của Tiệp Khắc vào những năm tôi học ở đó. Học viện đào tạo nhiều bậc học khác nhau từ Trung cấp Kỹ thuật, kỹ sư Cao đẳng, Kỹ sư, Phó tiến sĩ, Tiến sĩ. Đây là mô hình đào tạo phù hợp với một nước quân thường trực ít. Dân số Tiệp Khắc thời gian ấy chỉ khoảng 15 triệu người. Địa lý hành chính chia thành 15 tỉnh. Tiệp Khắc có nền công nghiệp cơ khí rất mạnh, có những trường dạy nghề bên cạnh nhà máy rất nổi tiếng.


Đoàn học viên Quân sự Việt Nam học tại Học viện Quân sự VAAZ Tiệp Khắc rất đông, tất cả đều được Cục Cán bộ lựa chọn kỹ cho nên sinh hoạt của đơn vị rất có nề nếp. Hoạt động thể dục thể thao luôn sôi nổi. Kết quả học tập, nhất là khối học viên bậc Đại học luôn đạt kết quả cao. Chi bộ Đảng luôn đạt trong sạch, vững mạnh, kế hoạch phát triển Đảng trong học viên bậc Đại học luôn đạt chỉ tiêu. Trong dịp Đoàn cán bộ Bộ Quốc phòng Việt Nam do Thượng tướng Trần Văn Trà dẫn đầu sang thăm Tiệp Khắc, Đoàn đã đến thăm Học viện VAAZ và thăm Đoàn học viên Quân sự Việt Nam. Thượng tướng đã khen ngợi kết quả học tập và công tác Đảng của đơn vị, nhất là công tác phát triển Đảng trong học viên trẻ. 


Những năm bảy mươi, Việt Nam vừa ra khỏi chiến tranh, đời sống còn nhiều khó khăn. Sinh viên Việt Nam đi học theo đường dân sự, trong những tháng hè không được về phép, thường tìm việc làm để có thêm thu nhập mua quà cho gia đình. Nhiều anh em học viên Quân sự cũng muốn được đi lao động trong tháng hè, chúng tôi cho rằng đó là nguyện vọng chính đáng, nhưng chúng tôi không thể để anh em đi làm tự do không quản lý được, đề phòng tai nạn lao động và những nảy sinh khác không thể lường trước, vì quân số đơn vị rất đông. Tôi báo cáo Phòng Tùy viên Quân sự xin phép đơn vị đứng ra tổ chức cho anh em đi lao động hái quả ở vườn cây ăn quả của Viện Nghiên cứu Cây ăn quả của thành phố Brno.


Tôi giao cho anh Cẩm, trưởng một nhóm học viên Quân sự Việt Nam đã đến Học viện năm trước, đã có kinh nghiệm lao động hè đứng ra tổ chức. Được đơn vị tổ chức, nên toàn đơn vị đều tham gia lao động. Hè ở Học viện VAAZ học viên được nghỉ 35 ngày, chúng tôi đi lao động 25 ngày, còn 10 ngày anh em đi chơi tự do, thăm bạn bè ở các thành phố khác. Tiền công của 25 ngày lao động, anh em tự nguyện góp quĩ đơn vị 3 ngày công để sử dụng trong các dịp lễ, Tết.


Chúng tôi ký hợp đồng với Viện Nghiên cứu cây ăn quả, sáng họ cho xe đón, giữa buổi họ cho ăn phụ, trưa họ cho ăn trưa miễn phí ở nhà ăn của Viện. Thành quả lao động được tính theo số lượng sọt đựng trái cây thu hoach được. Viện rất thích ký hợp đồng thu hoạch trái cây với chúng tôi vì chúng tôi nhẹ ký, trèo cây không làm gãy cành. Nhờ có lao động hè mà đơn vị có quĩ hàng vạn curon, có kinh phí tổ chức các buổi gặp mặt với sinh viên, nghiên cứu sinh dân sự tại hội trường của ký túc xá Học viện nhân dịp lễ Quốc khánh, ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và Tết Nguyên đán. Nhờ có quỹ chung tương đối khá, nên nhân dịp Đoàn cán bộ Bộ Quốc phòng đến thăm, chúng tôi đã tặng mỗi người một bộ xích -líp xe đạp Tiệp Khắc, các anh đều vui vẻ nhận quà. Về món quà xích-líp xe đạp, những năm sau đó khi tôi về Viện Kỹ thuật Quân sự công tác, có lần anh Phan Thu đã nhắc lại món quà nhỏ nhưng thiết thực trong hoàn cảnh kinh tế hồi ấy và thắc mắc lấy đâu ra tiền mà mua nhiều quà thế. Tôi kể cho anh Phan Thu nghe chuyện lao động hè gây quỹ và giá trị một ngày công lao động có thể mua được hai bộ xích líp xe đạp, ở nhà có thể dùng được nhiều năm mới hỏng. Anh Thu rất tâm đắc với sáng kiến tổ chức lao động hè của chúng tôi.  


 


Tấm bằng Tiến sĩ


   


Thượng tướng Trần Văn Trà thăm học viên Quân sự Việt Nam đang học tại Học viện Quân sự VAAZ Tiệp Khắc.


Ngày 15 tháng 5 năm 1981, tôi bảo vệ luận án Tiến sĩ: “Anten mạng pha thấu kính 2 dải tần số”. Tại thời điểm tôi bảo vệ luận án, kiểu “Anten mạng pha thấu kính 2 dải tần số” lần đầu tiên được chứng minh đầy đủ về lý thuyết và phương trình truyền sóng của anten. Lý thuyết và phương trình truyền sóng đã được Viện nghiên cứu Vô tuyến điện tính toán thử nghiệm với 2 dải tần số cm và mm. Phần chứng minh về lý thuyết và phương trình truyền sóng tôi hoàn thành ở Học viện VAAZ Brno. Phần tính toán thử nghiệm với hai dải tần số cm và mm tôi hoàn thành ở Viện nghiên cứu Vô tuyến điện Praha. Hai năm đầu, tôi thi các môn học bắt buộc và hoàn thành nửa đầu của đề tài, sáu tháng đầu năm thứ ba tôi làm việc ở Viện nghiên cứu Vô truyến điện Praha, để hoàn thành nửa thứ hai của đề tài. Thời gian làm việc ở Viện hàng ngày tôi phải đi từ Brno đến Praha bằng tàu hỏa. Sáng đi từ 4 giờ, chiều về đến ký túc xá 19 giờ.


Hội đồng đánh giá Luận văn tốt nghiệp của tôi đã đánh giá cao về triển vọng ứng dụng trong thực tiễn kiểu “anten mạng pha thấu kính 2 dải tần số”. Với lý do lần đầu tiên “anten mạng pha thấu kính hai dải tần số” được chứng minh đầy đủ về lý thuyết và phương trình truyền sóng nên một ủy viên Hội đồng đã đề nghị cho tôi tiếp tục làm nghiên cứu sinh Tiến sĩ khoa học với đề tài này. Đối với tôi, lời đề nghị của vị Ủy viên Hội đồng là phần thưởng cao quí, nhưng tôi không muốn tiếp tục làm nghiên cứu sinh Tiến sĩ khoa học vì tôi đã nhiều tuổi và hoàn cảnh gia đình đang có nhiều khăn, con còn nhỏ.


Luận án Tiến sĩ của tôi được Hội đồng đánh giá xuất sắc. Tôi là người Việt Nam đầu tiên nhận bằng Phó Tiến sĩ  của Học viện VAAZ Tiệp Khắc. Số anh em cùng sang một đợt đều tốt nghiệp sau do thời gian học tiếng Tiệp dài hơn. Tôi biết tiếng Nga tốt nên chỉ học tiếng Tiệp 7 tháng, thay vì một năm. Trước khi về nước tôi được Học viện cử đi dự Hội nghị Khoa học quốc tế ở Hungari về rada sử dụng tại các sân bay quốc tế cùng với thầy Taborskii. Tại hội nghị thầy Taborskii và tôi là đồng tác giả của bài tham luận.


Hình minh họa cấu trúc hệ thống anten mạng pha 2 dải tần số


Tôi trở về Việt Nam ngày 7 tháng 8 năm 1981 bằng đường hàng không Praha- Mascova- Hà Nội.


Ngày 10 tháng 10 năm 1981, tôi nhận quyết định của Cục Cán bộ điều về Tổng cục Kỹ thuật.     


            


VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ


 


Ngày 28 tháng 1 năm 1982, tôi nhận Quyết định của Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật điều về Viện Kỹ thuật Quân sự và bổ nhiệm Viện phó Viện Rada thuộc Viện Kỹ thuật Quân sự. Trước khi về Viện tôi được Trung tướng Lê Văn Tri, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật gặp và có cuộc trò chuyện vui vẻ nhưng căng thẳng. Ông muốn đưa tôi trở về nhà máy Z119, nơi tôi đã được bổ nhiệm Phó Giám đốc Kỹ thuật những năm trước khi đi làm nghiên cứu sinh, để nhận chức vụ Giám đốc. Tôi đã xin ông cho tôi từ chối vì tôi vừa nhận bằng Tiến sĩ, cho tôi làm nghiên cứu khoa học phù hợp hơn. Tôi làm Giám đốc trong khi tôi không có kiến thức quản lý kinh tế, nhiệm vụ ấy không phù hợp với tôi. Ông bảo:


- Ừ, thì tôi cho anh đi học lớp quản lý kinh tế Liên Xô hai năm đang có đấy.


- Thủ trưởng ơi, nếu đưa tôi về nhà máy thì chỉ nên để tôi làm Phó Giám đốc kỹ thuật thôi hợp với sở trường của tôi hơn. Thủ trưởng ép tôi làm Giám đốc chắc chắn tôi sẽ phá hỏng nhà máy rồi thủ trưởng lại kỷ luật tôi.


- Nhưng mà nhà máy chúng nó bảo chỉ có anh làm Giám đốc là tốt nhất.


- Lãnh đạo nhà máy thương tôi, các anh ấy nói thế thôi, chứ nhà máy thiếu gì người làm Giám đốc tốt.


Cuộc nói chuyện đã khiến ông hơi khó chịu, nhưng ông là vị tướng không chỉ biết ra lệnh mà còn biết lắng nghe. Ông đã cho tôi tranh luận thoải mái với ông về nhiệm vụ của tôi. Cuối cùng ông đành chịu thua và tặng tôi một câu cụt lủn “anh là một thằng bướng”. Có lẽ vì lần gặp này mà ông nhớ mặt và nhớ tên tôi rất dai, cả đến khi ông đã nghỉ hưu và bị tai biến nằm một chỗ, tôi đến nhà thăm ông, ông vẫn nhớ mặt, nhớ tên tôi. Con trai ông bảo chú là một trường hợp rất đặc biệt, bố cháu không quên.               


Ngày đầu tiên đến Viện kỹ thuật Quân sự nhận nhiệm vụ, tôi gặp anh Dương Phấn Đấu, Trưởng phòng Cán bộ của Viện, sau đó anh Đấu đưa sang gặp anh Trần Đức Long Phó Giám đốc Chính trị của Viện, hai anh em nhận ra nhau ngay. Lần đầu tiên hai anh em gặp nhau ở Liên Xô, khi đó anh Long là cán bộ của Phòng Tùy viên Quân sự Việt Nam tại Liên Xô, quân hàm Đại úy, còn tôi là học viên Quân sự từ Việt Nam sang Liên Xô học tập, quân hàm Trung sĩ. Thời gian đã trôi qua hơn 20 năm thế mà anh vẫn nhận ra tôi.


Làm việc ở Viện Rada có Viện Trưởng Nguyễn Duy Ninh người đã cùng nhau làm việc ở Phòng Sửa chữa Cục Quân giới từ năm 1966; cùng một nhóm nghiên cứu đánh B52 của Tổng cục Hậu cần những năm Mỹ dùng B52 đánh phá miền Bắc.


Cuối tháng 2 năm 1982, tôi đi công tác Campuchia. Từ Viện Kỹ thuật Quân sự ở Hà Nội đi máy bay Quân sự vào thành phố Hồ Chí Minh đến Trung đoàn rada 294. Từ Trung đoàn 294 đến các trạm rada của 294 đặt ở sân bay Phnompenh, Pochentong, Campuchia bằng xe Jeep của cơ sở ll Viện Kỹ thuật Quân sự. Mục đích của chuyến đi là khảo sát trạng thái kỹ thuật của ba trạm rada thuộc Trung đoàn 294 đặt trên lãnh thổ Campuchia. Hồi ấy, Campuchia vừa thoát khỏi nạn diệt chủng Polpot nên lực lượng vũ trang của chính quyền mới còn non yếu, nhất là những ngành kỹ thuật cao như rada. Bạn không có rada để canh giữ bầu trời, không có sĩ quan và trắc thủ rada để trực chiến. Chính quyền Polpot được Trung Quốc hậu thuẫn thi hành chính sách diệt chủng. Hầu hết những người được Chính phủ Xihanuc cử sang Việt Nam học tập bất kể dân sự hay quân sự, bất kể nam hay nữ, kể cả những nữ bác sĩ tốt nghiệp ở Việt Nam đều bị coi là phần tử nguy hiểm cần phải thủ tiêu. Họ đối xử với giới trí thức theo kiểu cách mạng văn hóa của Trung Quốc. Lực lượng tinh hoa của dân tộc Campuchia chỉ còn lại là hàng triệu bộ xương người.                   


Nghe tin có chúng tôi sang, anh em ở Trạm rất phấn khởi vì biết rada sẽ được kiểm tra trạng thái kỹ thuật. Chúng tôi đi từ thành phố Hồ Chí Minh lúc 6 giờ sáng đến mười hai giờ rưỡi thì đến Trạm rada trong sân bay Phnompenh. Cả Trạm ùa ra cổng đón chúng tôi như đón người thân từ quê nhà. Hồi ấy chưa có điện thoại di động, chưa có Internet cho nên ai cũng thiếu thông tin, nhất là tin tức từ quê nhà. Sau hơn một giờ trò chuyện tầm phào kiểu lính với đủ loại chủ đề từ thời sự quốc tế, trong nước, miền Bắc, miền Nam, biết đến đâu nói đến đấy...  Khi mọi người thấy cần trở về với công việc của mình. Tôi hỏi Hoàng Cường - Đại úy, Trạm trưởng:


- Cường ơi, mình đi lên đài được không, có đài nào hết phiên trực không?


- Dạ được, Trạm có hai đài, đài P15 đang nghỉ, đài P12 trực đến 17 giờ.


- Thế thì tốt quá, ta có thể làm việc buổi tối.


- Dạ để em gọi Vũ- Trạm phó kỹ thuật đi cùng.


- Anh Quang ơi! Trung đoàn có gửi gì cho chúng em không?


- Không, không thấy ai gửi gì cả!- Nét mặt Cường chùng xuống, đượm vẻ buồn.


- Hai tháng rồi chúng em chưa có lương, không hiểu tại sao!


- Xong việc về thành phố Hồ Chí Minh tôi sẽ hỏi Trung đoàn xem vì sao các em bị chậm lương và sẽ gọi điện cho Cường qua đường dây quân sự. Mà đồng lương bây giờ tiêu chả được mấy ngày, nhất là như tụi anh ở Viện thường đi công tác. Cho nên ở Viện anh có mấy câu thơ trào phúng kiểu dân gian thế này nè, anh đọc em nghe:


             Không địch không ta là lũ con phe,


             Nói không ai nghe là dân tuyên huấn,                             


             Làm ăn gian lận là dân ngân hàng,


             Nhà cửa đàng hoàng là dân thương nghiệp, 


             Dở sống dở chết là bà con nông dân,


             Cơm không đủ ăn là con nhà lính!


- Nói thật với anh, tụi em ở đây mắt thì phải nhìn về phía trước để làm nhiệm vụ, nhưng cái đầu thì quay về phía sau, quay về hậu phương. Đã hơn ba năm rồi chúng em chưa có được một ngày nghỉ. Mình sang đây đổ xương đổ máu, giữ đất cho người ta mà phải mang theo hạt gạo, hạt muối để tự nuôi mình. Đói không biết xin ai.


- Bạn cũng còn rất khó khăn, ta mới đánh sập chế độ Polpot ở thủ đô và các tỉnh phía đông thôi. Tàn quân của nó đang dồn về phía Tây sát biên giới Thái Lan. Nhiều đơn vị của Quân đoàn 4 vẫn còn đang chiến đấu để quét cho sạch quân Polpot và bắt cho hết bọn đầu sỏ thì dân ta mới yên được. Bác Hồ đã từng dạy: “Giúp bạn là tự giúp mình”, khi Bác nói chuyện với các đơn vị Tây tiến chuẩn bị sang giúp Lào giải phóng Thượng Lào. Nếu ta không giúp bạn lật đổ chế độ Polpot thì nhân dân các tỉnh biên giới còn phải chịu thêm nhiều vụ thảm sát cả dân làng như các vụ ở Tân Biên tỉnh Tây Ninh, Sa Thầy tỉnh Kon Tum, Thổ Chu tỉnh Kiên Giang...  Nhiều lắm anh không nhớ hết chỉ nhớ rằng ở các tỉnh biên giới từ Kon Tum cho đến Kiên Giang ở tỉnh nào nhân dân ta cũng đã từng chịu những cuộc thảm sát điên cuồng và man rợ của Khơ Me Đỏ. Tất cả những vụ thảm sát này đều bắt nguồn từ một âm mưu thâm độc và sâu xa của Trung Quốc có từ thời Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình còn sống là “Vẽ lại đường biên giới Việt Trung”. Họ muốn vẽ lại đường biên giới bằng hai cách: gặm nhấm lấn chiếm từng mét vuông đất và dùng lục lượng Quân sự đánh chiếm rồi giữ đất. Cách thứ nhất họ giao cho  địa phương khuyến khích nhân dân lặng lẽ thực hiện, ví dụ như nhà có người chết thì mang sang đất Việt Nam mà chôn, để rồi sau đó họ nói đó là đất Trung Quốc của cha mẹ, ông bà họ để lại. Cách thứ hai họ phải chờ khi có cơ hội hoặc họ phải tạo cớ kiểu như trước đây Mỹ tạo cớ để mở rộng chiến tranh ra miền Bắc bằng vụ ta đánh tàu Madoc. Trung Quốc đã đầu tư tiền của xây dựng cho Khơ Me Đỏ năm sư đoàn chủ lực với đầy đủ pháo binh, xe tăng. Sau đó, họ khuyến khích Khơ Me Đỏ đưa quân sang Việt Nam tàn sát nhân dân ta buộc ta không thể ngồi yên để nhân dân bị sát hại nên ngày 25 tháng 12 năm 1978 cuộc chiến biên giới Tây nam bắt đầu, sau khi ta nhận được lời yêu cầu giúp đỡ của lực lượng cách mạng Campuchia. Và đó là cái cớ do Trung Quốc đã công phu tạo ra để Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới Việt Trung ngày 17 tháng 2 năm 1979 với Việt Nam. Họ nói Việt Nam xâm lược Campuchia, cho nên họ phải dạy cho Việt Nam một bài học. Họ đã tấn công ồ ạt khắp biên giới sáu tỉnh Việt Nam bằng sáu trăm ngàn quân chính qui và bốn trăm xe tăng. Anh nói nhiều quá hai em nghe có chán không?


- Dạ không, không, anh nói hay lắm, chúng em ở xa và ở dưới thấp có được nghe gì mấy đâu, anh nói nữa đi.


- Ừ, anh nói thêm nhé! Các em than mấy năm rồi chưa được về nhà, chúng mình ai mà không nhớ nhà, ở nơi càng xa quê nỗi nhớ càng lớn. Nhưng Quân đội ta đang ở trong tình trạng chiến tranh. Vì vậy, chỉ có phép tranh thủ vài ba ngày khi gia đình có việc rất cần, chứ không có nghỉ phép theo chế độ. Hiện tại, Quân đội gánh trên vai hai cuộc chiến tranh ở hai đầu đất nước. Chiến tranh biên giới phía Bắc tuy Trung Quốc đã tuyên bố rút quân ngày 16 tháng 3 năm 1979, sau khi họ nghe tin ta đưa Quân đoàn 1 lên phía Bắc, sợ bị ta khóa chặt đường rút nên đã vội vàng tuyên bố rút quân và ta đã để cho họ rút quân theo truyền thống nhân đạo của ông cha ta cư xử với quân xâm lược phương Bắc. Họ đã rút quân an toàn, nhưng chiến tranh biên giới phía Bắc chưa kết thúc, một số vùng đất của ta dọc biên giới họ vẫn còn chiếm giữ và ta vẫn còn phải tiếp tục chiến đấu để giành lại tất cả.


- Sao em chả nghe báo đài nói gì cả?


- Báo đài cũng có nói nhưng ít hơn, có lẽ truyền thông thấy rằng dân mình đã ngán cái món “tin chiến tranh” ấy rồi, chứ bản tin Quân sự ở Viện anh thì không thiếu trận đánh nào, có cả phân tích nguyên nhân thắng thua từng trận đánh. Theo anh có lẽ cấp trên cũng không muốn áp dụng chiến thuật đánh nhanh thắng nhanh, vì muốn thắng nhanh thì phải đánh lớn, mà ta đánh lớn thì họ đáp trả lớn, tổn thất cả hai bên đều lớn. Chậm một chút có thể có lợi cho ta về dư luận Quốc tế và những tổn thất về sinh mạng, binh lính Trung quốc sẽ thức tỉnh người dân Trung Quốc về số phận của kẻ xâm lược.


 - Còn chiến tranh phía Nam thì sao, Polpot sụp đổ rồi mình ở đây làm gì nữa, em muốn về lắm rồi.


- Chiến tranh ở Campuchia cũng chưa chấm dứt, tàn quân Khơ Me Đỏ vẫn còn nhiều, đang rút về phía biên giới Thái Lan. Chúng nó chuyển sang đánh du kích với ta, phía sau lưng chúng được Trung Quốc tiếp tế hậu cần từ phía Thái Lan. Chúng nó đánh kiểu du kích chúng ta khó diệt hết một lúc. Hồi mới đi tập kết ra Bắc, đơn vị anh cũng đã đi đánh phỉ ở Quảng Ninh hai tháng; sợ lắm, nó núp ở đâu mình chẳng thấy, nó gài mìn ở đâu mình cũng chẳng biết. Đánh phỉ hai tháng mà đơn vị anh có diệt được thằng nào đâu, trong khi đó bạn cùng quê với anh hy sinh ngay ngày đầu tiên vào trận. Về sau, đơn vị rút kinh nghiệm không tìm diệt mà chặn nguồn tiếp tế từ gia đình của lũ phỉ đưa vào rừng cho chúng. Sau độ một tuần, ta dùng loa phóng thanh cho người nhà của chúng nó kêu gọi chúng nó về nhà. Ta báo cho chúng nó chỉ có một con đường có thể đi trở ra được thôi, những con đường khác đã bị phong tỏa bằng mìn. Mình nói thế thôi cho chúng nó sợ, dân nghe dân cũng sợ không dám đi vào rừng, chứ mình có gài mìn đâu. Ngày nào ta cũng bắn vãi đạn vào rừng, tối nào cũng cho nổ lựu đạn lúc chỗ này, lúc chỗ kia, gây cho chúng đói ăn, đói ngủ, mệt mỏi, hoang mang. Không chịu nổi đói khát chúng lần lượt ra hàng. Đứa nào ra hàng cũng cho nói lời tự khai rồi giao cho địa phương đưa về tận nhà giao cho gia đình. Thế là sau hai tháng đơn vị anh đã phá xong ổ phỉ ở Quảng Ninh. Nhưng ở Campuchia này, quân Khơ me Đỏ được tiếp tế từ bên đất Thái Lan, ta không cắt được nguồn hậu cần của chúng, cho nên vẫn phải dùng chiến thuật tìm diệt. Hơn nữa quân chúng nó còn đông, phải có thời gian cho quá trình tự tan rã, ta đỡ tốn xương máu, bạn có thời gian xây dựng chính quyền cơ sở. Ta không làm đơn độc được đâu. Cấp trên cũng không muốn để ta ở bên này lâu. Truyền thông Trung Quốc ngày nào cũng lải nhải Việt Nam xâm lược Campuchia. Liên Xô thì thán phục ta giải quyết vấn đề nhanh, kẻ địch không kịp trở tay.


Thôi, bây giờ ta lên đài P15 làm việc nhé, chuyện tầm phào anh còn nhiều lắm, trong nước, ngoài nước, lúc nào rổi muốn nghe thì bảo anh sẽ phục vụ vô điều kiện.


- Cho em hỏi chiều nay anh ăn cơm với chúng em ở trạm hay anh ra ngoài ăn. Chúng em muốn mời anh ăn cơm ở trạm với chúng em, nhưng anh thông cảm chúng em hết tiền đi chợ mấy ngày rồi, có gì ăn nấy nhé.


- Anh chỉ thích ăn với các em thôi. Năm 1966 anh có chuyến công tác đi kiểm tra trạng thái kỹ thuật của tất cả các trạm rada trên toàn miền Bắc từ biên giới Việt Trung đến Vĩnh Linh, đến làm việc ở trạm nào ăn ở trạm đó chứ làm gì có thể ra ngoài ăn. Em biết đấy rada chỉ có trên núi cao và xa dân chứ đâu được như trạm của em ở đây nằm giữa thủ đô Phnompenh thế này. Gần đây em có về Trung đoàn lần nào không?                                 


- Chúng em ít được về lắm. Cuối năm ngoái em có về dự tổng kết năm của Trung đoàn mấy ngày, nhân tiện xin phép Trung đoàn nghỉ thêm ba ngày để đưa bố em ở Vũng Tàu lên Sài Gòn chữa bệnh ở bệnh viện 175 theo chế độ gia đình quân nhân tại ngũ. Nhưng mà cực lắm anh ơi, xếp hàng đông ơi là đông. Bây giờ Quân y viện cũng nhận chữa cho dân, cho nên dân họ đến đông lắm, họ nghĩ bệnh viện cấp trung ương Quân đội thì chữa bệnh phải giỏi. Không biết có phải bệnh viện muốn làm thêm để cải thiện cho cán bộ nhân viên hay không!


- Không phải đâu em, đừng nghĩ oan cho họ. Ở Hà Nội cũng đã có ý kiến phản đối Quân y viện làm kinh tế bằng cách chữa bệnh cho dân thu tiền. Không thu tiền thì lấy gì chữa cho dân. Cái bệnh viện cần chính là bệnh nhân, không có bệnh nhân thì trình độ của bác sĩ giỏi lên sao được. Bây giờ lính ta đều rất khỏe, cán bộ thì đến tuổi nghỉ hưu trông vẫn còn rất đẹp mã. Không có chiến tranh, bộ đội ít thương vong, bác sĩ khoa ngoại thiếu những bài học khó, không thể có bác sĩ giỏi.


- À ra thế. Thảo nào chữa cho gia đình quân nhân đang tại ngũ, bệnh nhân chỉ phải trả nửa phí. Coi như Quân đội bỏ tiền ra dụ bệnh nhân đến với Quân y viện, góp phần xây dựng Quân y viện. Hay đấy! Thôi anh ở đây làm việc với Vũ nhé, em về lo bữa cơm tối đãi anh.


Chúng tôi làm việc trên đài P15 chưa đến kẻng cơm thì đã xong, độ nhạy máy thu hơi thiếu một chút, tôi điều chỉnh độ khuếch đại của cấp khuếch đại siêu cao tần là xong. Khi chúng tôi về đến gần nhà ăn thì nghe kẻng ăn cơm, bước vào nhà ăn thì đã thấy anh em đang ngồi chờ. Có lẽ anh em đã được thông báo chiều nay có khách nên tập trung rất nhanh. Tôi nhìn thấy có ba bàn, một bàn ngồi năm người, một bàn ngồi bốn, còn một bàn chỉ có Trạm trưởng Cường.


Cường đứng dậy đưa tay mời tôi và Vũ đến ngồi cùng mâm. Trên bàn đã bày sẵn bát đũa, một tô to ốc nấu chuối xanh và một đĩa cá rô chiên giòn. Ở hai bàn kia chỉ có một chậu ốc nấu chuối xanh. Tôi hỏi Cường:


- Cường ơi, ở trạm ta sĩ quan và chiến sĩ ngồi ăn riêng nhau à?


- Dạ không, thường ngày thì gặp đâu ngồi đấy cho đủ mâm, chứ làm gì có chuyện phân chia sĩ quan, chiến sĩ.


- Thế sao không bớt bên mâm năm sang đây một người cho đủ bốn?


- Anh nuôi xếp lái xe của anh ngồi chung mâm với mình, nhưng anh ấy không chịu đi, chỉ thích ngồi với cậu chiến sĩ cùng quê.


- Thế thì kéo anh nuôi sang đây.


Khi cậu chiến sĩ làm nhiệm vụ “anh nuôi” bước sang mâm với chúng tôi thì Trạm trưởng Cường đứng dậy giới thiệu tôi và tuyên bố bữa liên hoan bắt đầu. Tôi ngạc nhiên hỏi cậu chiến sĩ nuôi quân:


- Em nè, sao hai mâm kia chưa có món cá rô chiên, còn đang chiên trong bếp hay sao?


- Dạ không, chiều nay anh Cường vận động anh em ra mấy cái ao hố bom ở cuối sân bay bắt ốc và tát một cái ao nhỏ bắt được mười chín con cá rô nhỏ xíu đấy thôi, xếp chưa kín một đĩa nhỏ, chia đều ra mỗi mâm được mấy con trông không đẹp, em để luôn cho mâm khách trông đẹp hơn. Hai hôm nay đơn vị toàn ăn cơm rau luộc chấm nước mắm thôi.


- Nhưng anh ăn không cảm thấy ngon bằng chia đều ra đâu. Ở quê anh nhà đông con người ta thường hay nói câu: “Ăn cho đều, kêu cho sẵn”, nghĩa là món ăn thì cho ăn như nhau, khi có việc cha mẹ gọi đứa nào cũng phải sẵn sàng.


- Anh thấy có chán không, sống giữa thủ đô Phnompenh có chùa Vàng, chùa Bạc xây bằng vàng thật, bạc thật mà bọn em phải ăn cơm với rau luộc chấm nước mắm. Tiêu chuẩn bồi dưỡng cho trắc thủ trực chiến cũng không có tiền nấu bồi dưỡng cho anh em làm chỉ huy bọn em thấy xót xa quá- Vũ nói thêm vào.


- Ở đây bây giờ có còn tiêu được tiền Việt Nam không?


- Dạ, còn- Cường trả lời.


- Thế thì anh đưa cho các em một ít tiền mang theo từ Hà Nội đây, lo cho anh em ăn tạm mấy ngày, anh về Sài Gòn sẽ kêu toáng lên với Trung đoàn để họ cho người mang tiền sang ngay cho tụi em.


- Dạ không, một tuần nữa chúng em vẫn chịu được, lâu lâu cho dạ dày nó nghỉ ngơi, cơm chưa ăn gạo còn đó. Anh để tiền hôm nào em đưa anh đi chợ có muốn mua gì thì mua.


- Không, anh không cần mua gì. Anh chỉ thích chạy xe một vòng ngắm thành phố Phnompenh thôi, nhưng phải chờ cuối đợt công tác nếu tính còn đủ xăng chạy một vòng thành phố và về đến Sài Gòn thì sẽ đi chơi.


- Ồ, thế thì đấy là chuyện nhỏ, mai em đưa anh đi tham quan Phnompenh, chỉ có điều anh phải chịu khó ngồi xe tải. Em có cái xe tải chở nước và đi chợ, trên cabin ngồi được ba người. Xăng dầu thì không thiếu, xe dùng chung dầu với máy phát điện cho rada trực chiến, anh yên tâm. 


- Thế thì tối nay ta làm việc trên đài P12, sáng mai cho anh đi chơi một vòng thành phố, chiều mai anh đi Pochentong, nếu các em liên lạc được với trạm Pochentong thì báo giúp anh hai suất cơm chiều, để anh nuôi đỡ vất vả khi mình đến đột xuất.


Sau khi làm xong việc ở trạm rada Pochentong, chúng tôi chạy một mạch về Trung đoàn 294 thì được biết sự cố hết tiền ăn ở trạm đã được giải quyết trước  đó một ngày. Trung đoàn muốn nhân dịp kỷ niệm ngày truyền thống bộ đội rada mồng 1 tháng 3, hậu cần cơ quan Trung đoàn mổ một con lợn chăn nuôi làm liên hoan, nhà bếp trích ra mấy ký thịt ướp muối, trung đoàn cho xe Jeep chạy sang Campuchia giao cho các trạm để cùng liên hoan. Chủ trương “bí mật bất ngờ” để xem các trạm có “bị động” đối phó kịp thời không. Vui quá, các anh vận dụng khẩu hiệu của bộ đội rada: “Không để Tổ quốc bị bất ngờ” đến cả bữa liên hoan.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Người con của mẹ Năm Bê. Truyện ký của Huỳnh Quang. NXB Hội Nhà văn, 2019.


www.trieuxuan.info


 


       


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »