tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29967075
29.08.2019
Huỳnh Quang
Người con của mẹ Năm Bê (8)


Tôi bị thương lần thứ hai


Ngày 25 tháng 8 năm 1972, tôi bị thương ở trận địa tên lửa Phùng trong khi cùng với nhóm nghiên cứu đánh B52 của Cục Quân giới do Nguyễn Duy Ninh phụ trách. Hồi ấy việc nghiên cứu đánh B52 trong màn nhiễu dày đặc trên màn hình rada là vấn đề hóc búa cả về chiến thuật và kỹ thuật. Bộ Tổng tham mưu muốn huy động toàn bộ lực lượng khoa học kỹ thuật trong Quân đội phối hợp với Quân chủng Phòng không - Không quân cùng nghiên cứu đánh B52, tùy theo điều kiện có thể của từng đơn vị và từng người trong nhóm. Từ Z119 đăng ký tham gia nhóm có tôi và Kỹ sư Ngô Song Bỗng, ai đi được vào thời gian nào thì cứ tự đến trận địa mà nghiên cứu, không khuyến khích đi cùng một lúc vì đài điều khiển rất chật, không được làm ảnh hưởng đến kíp trắc thủ đang chiến đấu.


Ban ngày, tôi vẫn làm việc bình thường theo nhiệm vụ của mình ở nhà máy Z119, buổi tối đạp xe đến trận địa tên lửa Phùng để phối hợp với tiểu đoàn tên lửa Phùng tìm cách tách mục tiêu B52 ra khỏi màn nhiễu dày đặc trên màn hình rada. Chúng tôi chỉ có mặt trên đài điều khiển khi tiểu đoàn chuyển sang trạng thái chiến đấu. Khi tiểu đoàn không ở trong trạng thái chiến đấu thì chúng tôi tranh thủ ngủ. Khi tôi đang ngủ dưới công sự nửa nổi nửa chìm thì có còi báo động, tôi vùng dậy chạy nhanh lên đài điều khiển của trận địa, một tiếng nổ của tên lửa Srai do máy bay Mỹ phóng xuống trận địa, nổ cách tôi không xa, may mắn là nó không trúng đài điều khiển. Khi tôi leo lên đài điều khiển, đã thấy Tiểu đoàn trưởng Hùng có mặt ở đó và anh phát hiện tôi bị thương. Lúc này tôi mới biết mình bị thương và cảm thấy có máu chảy từ mông đít xuống chân, tôi sờ mông mình biết bị rách một đoạn dài nhưng không vào đến xương. May là tôi chạy nhanh, nếu chậm một chút thôi mảnh đạn đã khoét vào bụng đứt ruột thì chỉ có đi đời. Trong khi trắc thủ và sĩ quan điều khiển tiếp tục làm nhiệm vụ chiến đấu, thì tiểu đoàn trưởng băng vết thương cho tôi, anh vừa băng vừa càu nhàu:


- May mà anh không chết, anh chết tôi thêm việc. Đánh máy bay Mỹ là việc của chúng tôi, các anh ra đây hứng bom đạn làm gì?


- Ra đây chia lửa với các anh. Đấy, chúng nó vừa chia cho tôi một miếng đó, các anh đâu còn phần. Nói đùa chứ chúng tôi ra đây hưởng ứng phong trào toàn quân đánh B52. Biết đâu, tiểu đoàn anh sẽ là tiểu đoàn tìm ra cách lôi đầu thằng B52 ra khỏi màn nhiễu.


- Nhất định rồi chúng ta cũng sẽ tìm ra cách đánh B52 hiệu quả.


- Anh ở đây là có nhiều thằng ghé qua đấy. Chúng luồn theo vùng mù rada phía sau dãy Ba Vì rồi vọt lên qua đầu các anh tiến về Hà Nội.


Tôi bị thương nhưng giấu biệt không cho vợ biết, chờ vết thương lành mới dám về nhà thăm con vì không muốn Phương phải lo lắng cho tính mạng chồng nơi bom đạn.


      


 Cha vợ hy sinh


Đêm 22 tháng 12 năm 1972, cha vợ Nguyễn Đình Phụng hy sinh trong đợt 12 ngày đêm Mỹ ném bom hủy diệt Hà Nội bằng B52. Ông hy sinh trong đêm trực tại nơi sơ tán của cơ quan tại khu Đuôi Cá, ngoại thành Hà Nội. Ông chết vì sức ép, trên người không có vết thương nào. Phương nhận được tin báo của cơ quan và thời gian thành phố qui định việc chôn cất những người chết trong trận bom B52 đêm 22 tháng 12 ở khu vực Đuôi Cá. Phương có con nhỏ mới chín tháng tuổi, hai em Phong, em Phúc đang có ở Hà Nội nhưng vừa thoát chết trong trận bom B52 cùng với cha ở Đuôi Cá, nên Phương và hai em không thể đi dự đám tang của cha, Phương báo cho tôi đang ở đơn vị biết tin và sắp xếp thời gian thay mặt gia đình đi dự đám tang của cha.


Sáng ngày 24 tháng 12 năm 1972, gần 30 người chết trong trận Mỹ ném bom B52 đêm 22 tháng 12 năm 1972 ở khu vực Đuôi Cá đã được chôn cất tại nghĩa trang của làng. Tôi đã cùng một anh du kích địa phương và hai người đại diện tổ chức Đảng và Công đoàn của cơ quan ông lo việc khâm liệm và chôn cất ông. Ông được khâm liệm trong một quan tài mộc chưa kịp sơn, do hai người đại diện cơ quan mang đến. Quan tài ông được đưa ra nghĩa trang trên một chiếc xe ba gác, nghĩa trang không xa làng lắm nhưng đường đi rất hẹp, xe ba gác thì ngắn, phải gác một đầu quan tài lên xe ba gác còn một đầu kia tôi đi phía sau nâng giữ thăng bằng, hai người đại diện cơ quan đi hai bên đẩy xe, anh du kích đã đào huyệt biết đường cầm càng. Sau khi chôn xong, chúng tôi đã đốt hương và mặc niệm. Điếu văn được thay bằng mấy lời vĩnh biệt của người đại diện tổ chức Đảng của cơ quan ông. Theo qui định việc mai táng phải hoàn thành trước khi trời sáng vì sợ máy bay nó lại đánh.            


 


Em Ninh ra Bắc


Ngày 18 tháng 1 năm 1974, Phương nhận tin em Ninh được Tỉnh ủy Phú Yên cử ra Bắc học ở trường Nguyễn Ái Quốc nhưng đi giữa đường thì bị ốm chưa biết khi nào thì ra đến nơi! Vợ chồng tôi thấp thỏm mong em từng ngày. Khi tôi rời gia đình đi bộ đội em mới 4 tuổi, bây giờ em đã là một cán bộ của Đảng được cử đi học Nguyễn Ái Quốc, nơi đào tạo cán bộ lãnh đạo cho các đảng bộ tỉnh, trong đó có Phú Yên. Em đã phát huy tốt truyền thống của gia đình, đã được tôi luyện và trưởng thành trong khói lửa chiến tranh. Những lúc có khoảng thời gian rảnh giữa những công việc thường ngày ở đơn vị tôi lại nghĩ đến em, hình dung em có cao to như cậu Thọ không hay gầy ốm như má.


Ngày 23 tháng 2, được tin em Ninh đã ra đến K15 Hà Đông, Phương đã đi đón em về nhà trong khi tôi còn đang giờ làm việc ở Z119. Tối về nhà, anh em nói chuyện đến ba giờ sáng mới thôi để em nghỉ, còn tôi suốt đêm không thể nào ngủ được. Những điều em kể về má cứ văng vẳng trong tai tôi: Với gia đình, má là người trụ cột. Má bị địch bắt giam. Ở nhà, em với bà ngoại khổ như ăn mày. Lúc ấy em còn nhỏ, thường ngày em đi chơi với mấy đứa con bà Xếp cạnh nhà mình. Bọn em ăn rất ngon khi lượm được những mắt vỏ thơm hoặc vỏ chuối nấu người ta đổ bên đường. Cuộc đời của má hai lần làm vợ và cả cuộc đời vừa làm cha, vừa làm mẹ của hai đứa con. Má chưa có lúc nào thanh thản, hạnh phúc mà luôn lo lắng, chia xẻ, bù đắp cho con và cho chồng. Với Tổ quốc má là một công dân trung thành và kiên định. Với Đảng má là một Đảng viên chân chính, tuyệt đối trung thành và dũng cảm chiến đấu vì Đảng, vì dân. Má đã nhiều năm làm nhiệm vụ Đảng giao ngay trong lòng địch. Má sống ở đâu, bất kỳ tình hình xã hội như thế nào cũng luôn là người biết chỉ huy, đi đầu, có uy tín nhất được mọi người mến phục. Thương má vô cùng, một người MẸ, một ĐẢNG VIÊN, một CÔNG DÂN VIỆT NAM đúng với đầy đủ ý nghĩa của những từ ấy. Má đã khổ suốt cuộc đời trong việc nhà cũng như việc nước, chưa có lúc nào được sống thảnh thơi. Má đã trọn đời sống vì các con và vì cách mạng.           


Chuyến đi phép lịch sử


Khi chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, tôi ao ước được có mặt trong đoàn quân tham gia chiến dịch, nhưng không được. Chiến dịch giải phóng miền Nam phát triển quá nhanh. Lệnh của cấp trên yêu cầu tất cả cán bộ trong đơn vị phải sẵn sàng, khi nhận lệnh sau 5 phút phải có mặt tại địa điểm tập trung. Chính phủ qui định giải phóng đến đâu thì các Bộ ngành phải có người tiếp quản theo nguyên tắc tương đương. Bộ nào tiếp quản tài sản, công trình, đất đai thuộc Bộ ấy của chính quyền Sài Gòn. Cán bộ của Z119 lần lượt được cấp trên rút đi theo các đoàn tiếp quản hơn nửa số lượng nhưng trong đó không có tên tôi. Tôi bị anh Trần Trọng Toản gọi đi cùng anh tham gia đàm phán với phía Liên Xô về công trình 75633 do Liên Xô viện trợ và chuẩn bị đi Liên Xô!


Cuối năm 1975, khi đất nước đã hoàn toàn được giải phóng, trong khi chờ phía Liên Xô thông báo chính thức kế hoạch tiếp nhận 24 kỹ sư của nhà máy đi thực tập theo công trình 75633, tôi xin anh Toản tranh thủ về miền Nam thăm gia đình sau bao năm xa cách. Anh Toản nói để suy nghĩ và trao đổi trong Ban Giám đốc, sau đó anh thông báo Ban Giám đốc đồng ý cho tôi về quê với điều kiện hễ có điện của đơn vị thì phải ra ngay.


Lần đầu tiên tôi trở về quê sau hơn 22 năm xa cách, vợ chồng tôi và bé Phương Mai 3 tuổi, Minh còn nằm trong bụng mẹ. Chúng tôi đi tàu hỏa từ Hà Nội đến Tuy Hòa. Hành trang không có gì bởi miền Bắc lúc ấy rất nghèo, không có gì để mà mua làm quà. Quà cho má là cô con dâu và đứa cháu nội dễ thương cùng những câu chuyện về cuộc đời của tôi từ một đứa trẻ nghèo, học sinh phổ thông đã lớn lên trong khói lửa chiến tranh, được Quân đội đào tạo bồi dưỡng trưởng thành.


Những giây phút xúc động khi về đến nhà gặp má, ngoại và cháu Ngọc khiến tôi rơm rớm nước mắt. Tôi chỉ vào cháu Ngọc và hỏi đây là đứa nào, má tôi bảo nó là cháu ngoại của má, má không có con gái nhưng lại có đứa cháu ngoại rất dễ thương, má sẽ kể chuyện cho con nghe sau. Nhà của má là một túp lều tranh nhỏ xíu chừng 15 mét vuông. Bà ngoại mắt đã mờ, bà sờ vuốt tôi từ đầu đến chân mà vẫn không tin thằng Bê đã về. Nó đâu mà cao to thế này, ngày xưa nó nhỏ xíu thôi mà... Bà con đến chơi rất đông. Suốt cả đêm hôm tôi mới về, má không muốn ngủ, chỉ muốn kể chuyện 22 năm qua.        


 


CHUYỆN MÁ KỂ: Khi kẻ địch quay trở lại Phú Yên, địch bắt đầu tổ chức tố Cộng. Má bị địch bắt giam tại nhà lao Ông Ù, ngay tại xã An Định. Bị đánh đập, tra tấn thảm khốc. Chúng tập trung dân và các Đảng viên phản đảng từng thôn hoặc toàn xã thành một điểm để đấu tố, đánh đập những Đảng viên trung thành, buộc ly khai ra khỏi Đảng, gây hận thù, mất lòng tin trong nội bộ Đảng, mất lòng tin giữa quần chúng với Đảng, buộc phải ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm. Má bị địch bắt cả thảy ba lần. Hai lần sau chúng giam má ở nhà lao Phú Tân, quận lỵ của địch lúc đó. Má là đảng viên có người nhà đi tập kết, chúng xếp vào đối tượng số 1. Má bị tra tấn dã man, chúng kẹp một đầu điện cực vào ngón chân cái, một đầu điện cực vào tai, khi chúng đóng điện, toàn thân má giật nảy lên và sau đó má không còn biết gì. Chúng nó làm đi làm lại nhiều lần cho đến khi má không tỉnh lại được thì chúng nó mới tạm ngưng. Má ở trong nhà lao, em Ninh con ở nhà với bà ngoại. Lâu lâu, bà ngoại gửi em đi theo bà Rát, mẹ của anh Rến hoặc bà Xếp buôn bán ở chợ Phú Tân vào thăm má, chiều em theo họ về nhà. Thời gian má bị tù, bà ngoại với em ở nhà khổ lắm. Dì Ba Gạc nghèo nhưng thương ngoại và em. Dì Bảy giàu nhưng không giúp được gì vì phụ thuộc dượng Bảy. Dượng Bảy là Đảng viên đã phản Đảng, làm tay sai đắc lực cho chính quyền ngụy, tố cáo, đánh đập Đảng viên không chịu ly khai, đã đánh chết đồng chí Đào Tấn Côn trong tù. Tháng 8 năm 1962, tổ công tác đặc biệt của huyện đã phục kích bắn chết, bắt ổng đền tội. Nhà dì Sáu cũng rất tốt, dượng Sáu bị Mỹ -Diệm bắn chết, dì Sáu thường quan tâm giúp đỡ bà ngoại và má.


  Những năm sau khi má được thả về, má không về ở nhà bà ngoại mà chuyển ra ở theo xóm nhà dân giữa đường tàu và đường quốc lộ, cất quán nhỏ buôn bán và may thuê. Một thời gian thì chính quyền địch lập ấp chiến lược không cho ở đó nữa, má phải dời vào bên trong đường sắt, tiếp tục buôn bán và may thuê. Nhà mình chỗ đó cất chung với anh Tự làm thợ cắt dép lốp và đóng guốc rồi chia làm hai, mình một nửa, anh Tự một nửa.


Lúc này, má đã bắt liên lạc với cơ sở và hoạt động hợp pháp trở lại, thường xuyên liên lạc với cách mạng, cung cấp tin tức, tiền bạc. Nhiều thư từ chiến khu gửi về, hai má con vào bếp, em đọc cho má nghe để hướng dẫn cho các cơ sở khác hoạt động. Má xây dựng thêm cơ sở, đưa anh Tự tham gia tổ chức Thanh niên Cộng hòa của địch, anh Tự theo đạo Thiên Chúa.


Thời kỳ này, Ngô Đình Diệm thi hành Luật 10-59, kéo lê máy chém đi khắp nơi để chặt đầu người kháng chiến cũ, những Đảng viên không chịu ly khai Đảng và có người thân đi tập kết, loại người chúng xếp là đối tượng số 1. Một buổi tối, anh Tự đã mật báo cho má biết chúng nó sẽ bắt má cùng một số người nữa đưa đi thủ tiêu. Và cũng ngay trong đêm ấy, anh Tự đưa cả nhà chạy ra Đà Nẵng sống cho đến sau giải phóng nên tổ chức đã quyết định má phải đi thoát ly ngay. Má và em đã bàn tính cách đi. Má may mấy bộ quần áo đen cho má và em đem theo vào chiến khu. Tất cả chuẩn bị như một chuyến đi Tuy Hòa lấy hàng về bán. Thế là bỏ tất cả ra đi, chỉ mang theo tiền. Bà ngoại không biết vì bà đang sang nhà dì Bảy chơi.


Ngày 2 tháng 7 năm 1962, sáng sớm má dẫn em đi theo quốc lộ xuống hướng Chí Thạnh, lúc đó thôn mình địch đã rào ấp chiến lược, có thanh niên Cộng hòa bảo vệ ấp, ngăn cấm tiếp tế giữa nhân dân và cách mạng. Trên đường đi gặp bọn Liên gia, ấp Trưởng đi ngủ ở Chí Thạnh về, chúng hỏi má: “Chị Năm đi đâu sớm thế?”. Má nói đi Tuy Hòa lấy hàng. Xuống đến Phong Hậu, má và em con băng qua đường sắt vào vùng 7- Phong Thăng. Phong Thăng lúc này là căn cứ cách mạng của xã An Định vì địa hình có núi Bà liên kết với An Lĩnh. An Lĩnh là địa bàn huyện Tuy An mở ra để giải phóng các xã phía bắc: An Thạch, An Dân, An Ninh, An Hải, An Cư. Má và em vào đến vùng 7 thì gặp các chú của cơ quan huyện chờ sẵn và đưa về cơ quan huyện đóng ở vùng 8 xã An Lĩnh. Má được phân về Ban Kinh tài của huyện. Em được về Văn phòng Huyện ủy làm liên lạc cho Bí thư Huyện ủy, lúc đó em con mới 13 tuổi. Nói là cơ quan huyện nhưng cũng chỉ có mấy người. Sau này phát triển dần, má phụ trách tổ may mặc, may mũ tai bèo, ba lô, quần áo cho cán bộ dân chính và anh em bộ đội khi cần. Lương thực lúc đó huy động được chủ yếu để cung cấp cho bộ đội. Cán bộ dân chính phải tự túc sản xuất.


Năm 1963, địch mở chiến dịch Hải Yến, càn quét đốt phá liên miên. Các cơ quan của huyện phải rút vào trong rừng sâu, càng thêm khó khăn gian khổ, thiếu thốn đủ bề. Má và em con nhiều tháng không gặp nhau, vì mỗi cơ quan đi theo mỗi hướng hoạt động của mình.


Má bảo tôi: - Ngay trong đợt nghỉ phép lần này, con phải đi cùng má ra Đà Nẵng và con tạ ơn anh Tự đã cứu má, không có anh Tự mật báo thì má con mình không có ngày gặp mặt hôm nay.


Sau đó ít ngày, má tôi đã nhắn em Ninh đang công tác ở cơ quan Tỉnh ủy về nhà, rồi ba má con tôi đã đi Đà Nẵng tạ ơn anh Tự.


 


   CHUYỆN MÁ KỂ về ba chị em cháu Ngọc: Cha Ngọc là ông Lê Phụng Cương Bí thư Đảng ủy xã An Lĩnh. Năm 1965, Mỹ đưa Sư đoàn Ngựa Trắng của Hàn Quốc sang Việt Nam tham gia bình định các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Chúng nó nghi xã An Lĩnh là khu căn cứ bí mật của Huyện ủy Tuy An. Bọn Hàn Quốc tổ chức tập kích đường không đổ quân xuống An Lĩnh bằng trực thăng. Chúng thực hiện khẩu hiệu giết sạch, đốt sạch. Chúng bắt được cha mẹ Ngọc nhốt vào nhà và phóng hỏa. Cha mẹ Ngọc đã chết trong trường hợp như vậy. May cho ba đứa con Châu, Ngọc, Thạch đi chăn bò nên thoát chết. Các xã An Lĩnh, An Xuân, An Nghiệp, An Thọ, các thôn Phong Thăng, Phong Hanh của An Định bị địch dồn dân đi hết. Nhà cửa bị đốt phá sạch. Trâu bò chúng bắn hết, con nào còn sót chúng dùng trực thăng bắn chết. Tình hình Tuy An lúc đó quá ác liệt.


Khoảng tháng 4 năm 1967, em con bị quân Nam Hàn khui hầm bí mật bắt cùng một số đồng chí khác ở Ban Kinh tài và Huyện đội Tuy An. Má cũng ở hầm bí mật gần em nhưng địch không phát hiện được. Chúng đánh đập, tra tấn những người bị bắt ngay tại chỗ, nhưng ai cũng chịu đựng, không ai nói một lời nào. Không khai thác được, chúng kêu trực thăng chở tất cả xuống bãi cát Phú Mỹ. Em con bị giam ở Phú Mỹ trong căn cứ của bọn Đại Hàn, nên má đi tìm khắp nơi mà không tìm được. Chừng nửa tháng sau thì em con tìm cách vượt nhà tù, bơi qua sông Ngân Sơn, rồi trở về vùng 7 An Định.


Thời gian này, các làng mạc cạnh đường quốc lộ người dân sống nửa hợp pháp với chính quyền Sài Gòn, chúng coi những vùng này đã được bình định xong, đã giết sạch người kháng chiến cũ theo luật 10-59 của Ngô Đình Diệm. Người dân trước đây bị dồn vào các trại tập trung có thể quay về quê hương làng xóm của mình. Lúc này, dượng Bảy đã bị bắt đền tội rồi. Huyện ủy đã cử má trở về làng Phong Niên để có điều kiện làm kinh tế, tích lũy tài chính mua thuốc men gửi lên chiến khu Huyện ủy. Má làm cái nhà mình đang ở đây, trên đất của dì Hai Tiến, dì Hai Tiến là Đảng viên, sống hợp pháp. Má tiếp tục cùng dì Hai Tiến và các cơ sở khác hoạt động, chuyên góp tiền bạc, đưa người ra cho cách mạng, tổ chức đấu tranh chính trị nhận anh em bộ đội, du kích, cán bộ bị địch bắn hy sinh đem về chôn cất và báo tin cho gia đình.


Một hôm, má đi chợ Ngân Sơn nhìn thấy ba chị em Châu, Ngọc, Thạch dắt nhau đi ăn xin. Lòng má quặn đau khi nhìn thấy con đồng chí mình phải sống cuộc đời ăn mày! Má muốn đưa chúng nó về nhà ngay, nhưng má biết rằng trong chợ lảng vảng không ít mật vụ, không cẩn thận sẽ bị lọt vào mắt chúng. Má vòng đi vòng lại mấy lần mới có cơ hội nói nhỏ với con Ngọc: “Lúc nào đó, ba chị em ghé qua nhà ngoại”. Một tuần sau, cả ba chị em tìm đến nhà mình. Má giữ chúng nó ở lại luôn, má mua sắm cho mỗi đứa hai bộ quần áo, để chúng nó ở tạm với bà ngoại rồi tính sau. Má tính không thể nuôi cả ba đứa vì nhà mình nghèo không đủ cơm cho chúng nó ăn. Thằng Thạch nhỏ nhất chưa biết làm gì má gửi cho dì Bảy nuôi, dì nhận ngay vì dì thương má. Con Châu lớn nhất đã có thể làm việc nhà, má dẫn vô Tuy Hòa gửi chị Ba Trà nhận làm đứa giúp việc trong nhà. Má nuôi con Ngọc như một đứa cháu ngoại. Má tính rồi sẽ đưa cả ba đứa về nhà mình, nuôi cho chúng nó ăn học. Bây giờ thì chưa được vì nhà mình đang ở nhờ đất nhà dì Hai Tiến, nhà chật quá không có chỗ cho chúng nó ngủ.


Hồi chưa giải phóng, đã mấy lần Tổ chức “bắt” chúng nó lên chỗ tập trung để đưa ra Bắc Chính phủ nuôi ăn học, nhưng vừa “bắt” lên ngày hôm trước, ngày hôm sau đã thấy ba đứa chạy về, má nói thế nào chúng nó cũng không chịu nghe. Chúng nó tuyên bố: “Khi nào ngoại mất chúng con sẽ đi ra Bắc, ngoại còn sống chúng con chỉ ở với ngoại thôi”. Nghe chúng nó nói vậy, má xúc động vì lòng hiếu thảo của ba đứa nhỏ, má khóc, ba đứa nhỏ chạy lại ôm má và khóc theo.


Mấy năm sau đó, khi má tôi mua được cái nhà của ông Hồ Xuyên ở Chợ Đèo, má tôi đã đưa cả ba đứa Châu, Ngọc, Thạch về nuôi và cho ăn học chu đáo. Chúng nó đã coi má tôi như bà ngoại của chúng.


 


CHUYỆN MÁ KỂ: “Năm 1970, em con được bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tuy An, huyện tăng cường về làm Bí thư kiêm Chủ tịch xã An Định. Những năm đó, phong trào cách mạng xã An Định phát triển mạnh, toàn diện, được tỉnh chọn là một Đảng bộ “Bốn tốt” của Phú Yên. Được cử đi báo cáo điển hình về công tác xây dựng Đảng ở Khu 5. Họp xong, tỉnh quyết định em con phải ở lại học lớp tổ chức xây dựng Đảng của Khu 5 tổ chức. Căn cứ Khu 5 lúc đó đóng ở rừng Quảng Nam, mưa lạnh liên miên, ăn toàn sắn mì, thiếu thốn quá mức chịu đựng, thêm vào đó hậu quả của lần bị thương và bị tra tấn đánh đập trong tù, hiện còn một mảnh đạn trong người, nên em con suy kiệt sức khỏe từ đó. Học xong, em con về ở lại Ban Tổ chức Tỉnh ủy Phú Yên công tác”.


CHUYỆN MÁ KỂ: “Năm nay, má đã 60 tuổi, đã già và sức khỏe rất yếu, tự thấy mình không còn khả năng lãnh đạo quần chúng. Má muốn xin ra Đảng”. Tôi cảm thấy rất đột ngột và lúng túng trước ý kiến của má. Trong thực tế sinh hoạt Đảng mấy chục năm của tôi, người muốn vào Đảng thì nhiều còn người muốn ra Đảng không phải vì bất mãn với Đảng thì tôi chưa gặp. Tôi không biết nên khuyên má thế nào, đành an ủi bà nên ở lại sinh hoạt chi bộ với dì Hai Tiến và các đảng viên khác trong thôn cho vui. Má tôi không đồng ý. Bà nói: “Đi sinh hoạt Chi bộ chứ đi xem văn công đâu mà vui. Dì Hai Tiến thì ở ngay đây, ngày nào không gặp, người trong làng thì má muốn thăm ai, cứ đến nhà thăm chơi thoải mái, cần gì phải chờ đến họp Chi bộ mới thăm nhau được. Má xin ra Đảng đâu phải vì má bất mãn với Đảng, chỉ vì má già yếu thôi. Má có ra Đảng thì má vẫn là má, chứ má có đánh mất phẩm chất Đảng viên đâu, còn nếu má vẫn cứ mang danh Đảng viên thì má cũng không thể tốt hơn, mà lại mang danh Đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo quần chúng. Má già rồi không còn sức đi ra đồng, ra ruộng xem hợp tác xã làm ăn thế nào, nghe dân phàn nàn điều gì, vậy họp Chi bộ má biết nói gì”.


Tôi chịu thua lý lẽ của bà, nhưng vẫn thấy nó thế nào ấy, rất khác lạ. Bà có hai thằng con, đứa nào cũng là Đảng viên, là cán bộ của Đảng. Bản thân bà cũng là một Đảng viên đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ Đảng giao trong cuộc chiến đầy hy sinh gian khổ. Bà đã từng bị tù đày, tra tấn nhưng vẫn trung kiên. Bà đã hoạt động cách mạng ngay trước mặt kẻ địch. Bà đã được tổ chức Đảng đánh giá cao, được đồng chí, nhân dân tin yêu và kính trọng. Thế mà đùng một cái má tôi muốn xin ra Đảng. Hồi ấy, chưa có quy định miễn sinh hoạt Đảng đối với đảng viên lớn tuổi như bây giờ, cho nên tôi chưa có thể xuôi theo ý của má, tìm cách hoãn binh, chờ có dịp cả hai anh em cùng ở nhà rồi sẽ bàn.


Tôi nghỉ phép ở quê chỉ được 5 ngày thì có điện của nhà máy Z119 gọi ra Hà Nội ngay. Trước khi tôi trở ra Hà Nội, má tôi bảo:


- Con mang cái xe cúp 50 ra ngoài đó mà dùng, má mới mua cho em nó đi công tác, má sẽ mua cho em cái khác.


- Má mua cho em nó đi công tác, thì để cho em nó dùng. Em đang công tác ở tỉnh, phải đi công tác khắp tỉnh, em cần hơn con. Ở Hà Nội con đi làm việc gần, đi xe đạp nhẹ hơn em ở trong này. Má nghèo, lấy tiền đâu mà mua đến hai cái xe?- Tôi hỏi má.


- Cái xe này má mua bằng tiền bán cho bà Nhượng nửa con bò má đang nuôi.


- Sao lại bán nửa con bò được?


- Được chứ sao không. Bà Nhượng đưa cho má số tiền bằng nửa giá trị của con bò đang nuôi. Khi nào má bán cả con bò này thì má sẽ đưa cho bà Nhượng tiền của nửa con bò lúc bán. Bà Nhượng không thiệt mà má cũng được việc. Con đem xe đi rồi má sẽ bán con bò, đưa cho Bà Nhượng nửa tiền bán con bò, còn một nửa má mua cho em cái xe khác ngay.


Tôi thấy rất khó xử bởi biết má và em đều nghèo, nhưng không dám làm khác ý má, má sẽ buồn. Má còn đưa tôi xuống Chí Thạnh mua của nhà quen một cái quạt bàn hiệu Sanyo đã dùng rồi. Hai món quà mà má và em đã cho tôi là những món quà vô giá trong thời gian gia đình tôi sống ở Hà Nội. Khi gia đình tôi chuyển vô Sài Gòn đã mang theo như là báu vật. Chiếc quạt vẫn được sử dụng cho đến bây giờ và giao cho cháu Trinh gìn giữ báu vật của bà nội để lại cho bác.


 


Công trình 75633


Ngày 25 tháng 12 năm 1975, tôi nhận lệnh dẫn đầu một đoàn 24 kỹ sư đi Liên Xô thực tập để chuẩn bị tiếp nhận công trình 75633 do Liên Xô viện trợ. Đây là một nhà máy sửa chữa đại tu các loại rada và máy chỉ huy với toàn bộ dây chuyền công nghệ sửa chữa từng loại khí tài. Mỗi kỹ sư thực tập trong dây chuyền đại tu một loại khí tài. Đoàn thực tập chia thành nhiều nhóm theo các chủng loại khí tài khác nhau: rada cảnh giới tầng cao, rada cảnh giới tầng thấp, rada dẫn đường Không quân, rada ngắm bắn, rada khí tượng, máy chỉ huy, máy phát điện. Tôi thực tập nhiệm vụ Kỹ sư trưởng nhà máy. Người giúp tôi tìm hiểu công việc của Kỹ sư trưởng nhà máy cũng chính là Kỹ sư trưởng đương chức Grixenko của nhà máy sửa chữa rada Kiev. Năm 1968, Grixenko đã dẫn đầu một đoàn chuyên gia Liên Xô sang Việt Nam giúp Quân chủng Phòng không- Không quân nâng cấp rada cảnh giới, anh đã đề nghị Quân chủng cho gặp thăm tôi. Phòng Đối ngoại của Quân chủng đã tổ chức cho chúng tôi gặp thăm nhau với một bữa tiệc rượu kiểu Nga rất chân tình.


Trước khi đi, Cục trưởng Phạm Như Vưu đã căn dặn tôi: “Một là, tìm hiểu kỹ những vấn đề kỹ thuật, công nghệ khó mà ta chưa có, đang bế tắc trong xử lý kỹ thuật khi sửa chữa khí tài. Hai là, tìm cách đọc cho được Bản Điều lệ công tác sửa chữa trang thiết bị Quân sự. Bản Điều lệ là tài liệu mật, anh xin người ta không cho đâu. Anh phải ghi chép mục lục bản Điều lệ và những nội dung chính. Khéo léo đưa những trang ghi được về nhà ở, trước khi về nước ghé qua Phòng Tùy viên Quân sự nhờ họ chuyển về nước cho Cục theo con đường của Phòng Tùy viên. Những vấn đề kỹ thuật học được ngoài nội dung thực tập, tốt nhất là ghi vào đầu, không ghi vào sổ thực tập để trong cặp bảo mật. Anh lăn lộn nhiều với kỹ thuật, tôi tin rằng anh chỉ nhìn qua là hiểu vấn đề ngay.


Trước khi mình về họ sẽ kiểm tra toàn bộ vở ghi chép của mình trong cặp bảo mật và xóa những gì không liên quan nội dung thực tập của mỗi người.”


Đúng như Cục trưởng nói, trong quá trình sửa chữa khí tài nhà máy gặp một số vấn đề kỹ thuật nhiều năm nghiên cứu không giải quyết được. Ví dụ như sửa chữa máy UF-13B trong máy chỉ huy K6, do nam châm vĩnh cửu suy giảm cường độ từ trường nên điện áp một chiều không đủ cho máy chỉ huy K6 tính toán chính xác, mà nhà máy không biết làm thế nào để nâng cường độ từ trường của nam châm vĩnh cửu nằm trong UF-13B. Hoặc các đồng hồ đo điện cấp chính xác cao trong Phòng Đo lường của nhà máy không đảm bảo dung sai cho phép do cường độ từ trường của vòng nam châm vĩnh cửu trong đồng hồ suy giảm cường độ.


Khi tôi đến làm việc tại Phòng Đo lường của nhà máy sửa chữa rada Kiev, khi nhìn thấy thiết bị nạp từ 6 cực, tôi hiểu ngay đó là thiết bị dùng trong sửa chữa UF - 13B và tôi hình dung được ngay cấu trúc thiết kế thiết bị nạp từ 6 cực. Hoặc khi tôi nhìn thấy cuộn dây sinh từ chạy điện xoay chiều, hỏi qua cách sử dụng tôi hiểu đó là thiết bị nạp từ cho vòng nam châm trong đồng hồ đo điện. Thiết bị này có thể điều chỉnh dòng điện xoay chiều tăng đến mức bão hòa từ trường của vòng nam châm sau đó giảm dần dòng điện về không để đưa đường từ hóa có điểm dừng cuối cùng nằm ngoài đường từ hóa của vòng nam châm. Đó là cách từ hóa khiến vòng nam châm lâu mất từ.


Ngày 2 tháng 1 năm 1976, chúng tôi lên tàu liên vận Hà Nội- Bắc Kinh- Mascova- Kiev. Khi đoàn đến Bắc Kinh tôi nhận được điện báo cho nhóm thực tập máy chỉ huy quay trở về, vì phía bạn chưa tiếp nhận được. Nhóm thực tập máy chỉ huy gồm có Dược, Đạo, Nguyệt và Việt. Thật buồn cho bốn anh em này, tôi vận động số anh em không phải quay về dồn tất cả tiền ăn và tiền tiêu vặt được cấp cho những ngày đi đường trên đất Trung Quốc, đã tiêu trên tàu chặng Hà Nội - Bắc Kinh, còn được bao nhiêu nhờ anh Vận bạn của tôi, Phó Giám đốc Z119 trước kia, đang làm việc ở Phòng Tùy viên Quân sự đưa đi phố mua quà cho bốn anh em phải quay trở về. May mà tàu liên vận đến Bắc Kinh phải nghỉ chờ 2 ngày để sang tàu và nhờ có anh Vận nên đã lo mua được quà cho các anh.


Tàu liên vận giữa ba nước có khổ đường sắt không giống nhau, Việt Nam 1000mm, Trung Quốc 1435mm, Liên Xô 1520mm. Từ Hà Nội đi tàu Việt Nam đến Bằng Tường phải chuyển sang tàu Trung Quốc chạy đến Bắc Kinh. Đến Bắc Kinh phải chuyển sang tàu Trung Quốc chạy tuyến Bắc Kinh- Mascova, đến ga biên giới Trung Quốc- Liên Xô, ga Cáp-Nhĩ-Tân tàu phải thay gầm toa sang khổ 1520mm như khổ đường của Liên Xô. Khi tàu đến ga Cáp-Nhĩ-Tân tôi tò mò muốn xem họ thay gầm toa thế nào. Đến ga, họ yêu cầu hành khách xuống toa, tôi xuống toa và đi lững thững theo đoàn tàu chừng 300 mét, đứng xa quan sát họ thay gầm toa. Đoàn tàu dừng lại nơi có hệ thống kích nâng phần toa của cả đoàn tàu lên cao chừng nửa mét. Sau đó, họ kéo phần gầm toa khổ 1435mm của đoàn tàu tiến về phía trước, rồi đưa phần gầm toa khổ 1520mm của đoàn tàu vào vị trí của toa tàu đang chờ. Sau đó, hai đầu tàu khổ 1520mm được lắp vào đoàn tàu. Tất cả những việc ấy họ đã làm xong trong hơn nửa giờ, nhanh thật!


Trong thời gian làm việc ở Kiev- Thủ đô Cộng hòa Ucraina, Liên Xô tôi nhận được thư của vợ báo đã sinh con trai, nặng 3,4kg đặt tên là Huỳnh Quang Minh.


Kết thúc đợt thực tập, tôi đã báo cáo với anh Trần Trọng Toản và Cục trưởng Phạm Như Vưu về những thu hoạch của mình. Về kỹ thuật đặc biệt là việc xử lý từ cho nam châm vĩnh cửu trong đồng hồ đo và UF-13B. Về tổ chức sản xuất, tôi tâm đắc nhất là nhà máy sửa chữa khí tài điện tử nhưng phải có xưởng gia công cơ khí rất mạnh với nhiều thiết bị gia công cơ khí chính xác để có thể chế tạo bất kỳ bộ phận thay thế nào cần thay trong quá trình sửa chữa khí tài. Ở nhà máy sửa chữa rada Kiev họ có một số sản phẩm dân dụng nổi tiếng như ống nhòm, pháo đối kính, máy ảnh hiệu KIEV rất được khách hàng ưa chuộng. Họ sản xuất hàng dân dụng bán ra thị trường không phải để kiếm tiền tăng thu nhập cho người lao động trong nhà máy hay nộp cho cấp trên, mà để duy trì hoạt hoạt động của thiết bị và chống “thất nghiệp” nội bộ, nâng cao trình độ công nhân. Lương công nhân trả theo giờ lao động, không trả theo bảng lương như cán bộ quản lý.


Hơn sáu năm sống và làm việc ở nhà máy Z119, đời chiến sĩ đã cho tôi những đồng đội yêu thương và kính trọng như anh Trần Trọng Toản, anh Dương Thôn, anh Vũ Văn Vận, anh Nguyễn Văn Bay, anh Nguyễn Long Trảo, anh Nguyễn Chí Phúc, anh Nguyễn Sĩ Diệp, Nguyễn Đức Nho, Nguyễn Trọng Bỉnh, Đào Thị Bích Ngọc, anh Tạ Ngọc Quỳnh, em Sinh, em Ngọ ở phòng Thiết kế, em Trinh, em Bích ở Phòng Đo lường, chị Hương quản lý bếp ăn, chị Bình bác sĩ quân y...


Những năm tháng làm việc ở Z119 đã cho tôi nhiều cơ hội học tập ở các thủ trưởng cấp trên trực tiếp của mình như Cục trưởng Nguyễn Duy Thái, Cục trưởng Phạm Như Vưu, Giám đốc Trần Trọng Toản, những cán bộ lãnh đạo đã toàn tâm cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp xây dựng ngành Quân giới Việt Nam và nền công nghiệp Quốc phòng Việt Nam. Tôi cho rằng các anh thật xứng đáng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.


(còn tiếp)


Nguồn: Người con của mẹ Năm Bê. Truyện ký của Huỳnh Quang. NXB Hội Nhà văn, 2019.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »