tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29967659
29.08.2019
Huỳnh Quang
Người con của mẹ Năm Bê (7)


Máy ức chế bom từ trường NH -72


Máy ức chế bom từ trường là đề tài nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, do Tiến sĩ Khoa học Vũ Đình Cự chủ trì. Tham gia đề tài có một số giảng viên khoa Vật lý và hai cán bộ biệt phái từ Bộ Giao thông và Bộ Quốc phòng, tôi được Bộ Quốc phòng cử tham gia biệt phái. Nguyên lý hoạt động của máy ức chế bom từ trường dựa trên ý tưởng khai thác nguyên lý hoạt động của “bộ phận khóa ngòi” trong ngòi nổ MK-42. Ngòi nổ MK-42 hoạt động theo nguyên lý biến thiên của từ trường trái đất để kích nổ bom. Người thiết kế ngòi nổ MK-42 đã tính đến khả năng có biến thiên từ trường trái đất do những nguyên nhân khác trong thiên nhiên như sét chẳng hạn. Dòng điện sét rất lớn, hàng vạn ampe có thể gây biến đổi từ trường quả đất trong phạm vi rộng lớn. Vì thế, sự biến thiên từ trường của dòng điện sét cũng có thể kích nổ bom từ trường. Mặc dù biến thiên từ trường của dòng điện sét có dạng xung nhọn. Cho nên người thiết kế đã cài vào ngòi MK-42 một bộ phận khóa ngòi khi có sét. Nhóm đề tài đã khai thác nguyên lý hoạt động của bộ phận khóa ngòi, để thiết kế chế tạo máy ức chế bom từ trường đạt mục tiêu khống chế bom từ trường không cho bom nổ, khi trên xe có lắp đặt máy ức chế bom từ trường.


Sau khi Đại học Bách khoa đã có sản phẩm chế thử, chúng tôi đã cùng với nhóm đề tài của Đại học Bách Khoa tổ chức thử nghiệm đánh giá sản phẩm trên nhiều địa hình với điều kiện thời tiết khác nhau. Sự hồi hộp của chúng tôi trong mỗi lần thử nghiệm được xóa tan bởi niềm vui hồ hởi khi nhìn thấy đèn tín hiệu lóe sáng báo hiệu ngòi MK-42 đã bị khóa. 


 


Xe phá bom từ trường BTR-2 do nhà máy Z119 sản xuất. Đây là một trong 68 chiếc đã được Binh đoàn Trường Sơn sử dụng trong chiến tranh chống Mỹ còn lưu giữ ở Bảo tàng Đường Hồ Chí Minh


Sản phẩm chế thử của Đại học Bách khoa được xác nhận kết quả bằng biên bản. Sản phẩm đã được chuyển cho Bộ Quốc phòng đánh giá và Bộ Quốc phòng đã giao nhiệm vụ cho nhà máy Z119 nghiên cứu hoàn thiện công nghệ chế tạo để sản xuất hàng loạt với số lượng lớn. Tôi không nhớ hồi ấy nhà máy Z119 đã sản xuất bao nhiêu máy ức chế bom từ trường, nhưng tôi còn nhớ một chi tiết vui: Sau hai đợt sản xuất loạt máy ức chế bom từ trường đầu tiên, thì trong kho của Z119 không còn các loại bán dẫn mà máy ức chế bom từ trường cần có, Cục Vật tư Bộ Quốc phòng không thể cung cấp ngay các loại linh kiện bán dẫn cần thiết ấy để nhà máy sản xuất số lượng lớn. Qua nghiên cứu tìm tòi, chúng tôi biết trong chiếc đài bán dẫn Orionton có loại linh kiện ấy. Thông tin này đã được cơ quan nào đó trên Bộ Tổng báo cáo trong giao ban của Bộ và chuyển đến Tổng cục Chính trị. Tổng cục Chính trị đã gửi tặng nhà máy 50 chiếc đài bán dẫn Orionton do Hungari tặng bộ đội ta nghe đài, để nhà máy lấy linh kiện sử dụng trong sản xuất máy ức chế bom từ trường. Máy ức chế bom từ trường do nhà máy Z119 sản xuất mang ký hiệu NH-72.


Tôi thấy cần phải nói thêm rằng việc nghiên cứu “Máy ức chế bom từ trường” đã được tiến hành rất bí mật cả ở Đại học Bách khoa và ở nhà máy Z119. Bởi lẽ nếu chúng ta để lộ bí mật, địch biết chúng ta đang làm gì. Mỹ sẽ cho thay đổi ngay ngòi nổ bom từ trường, ít nhất là bộ phận khóa ngòi. Về sau, khi nhà máy sản xuất hàng loạt máy ức chế bom từ trường NH-72 và tổ chức lắp đặt lên các xe UAZ đưa cán bộ cao cấp đi công tác chiến trường, cả nhà máy chỉ có ba người biết việc này: Giám đốc Trần Trọng Toản, tôi và một trợ lý của tôi. Mỗi lần chuẩn bị xe cho cán bộ cao cấp đi chiến trường, người lái xe phải đưa xe đến nhà máy lúc một giờ sáng, trong vòng ba mươi phút chúng tôi lắp lên xe hai máy ức chế bom từ trường. Chúng tôi cũng không được biết ai đi xe và đi đâu, chỉ có một lần tôi được biết xe đưa bà Nguyễn Thị Định trở về miền Nam sau khi họp Trung ương, qua câu chuyện làm quà của anh lái xe. Theo qui định những chiếc xe này trước khi đi đã được thay biển số và khi xuất phát xe không đi về hướng cần đi. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngành Quân giới Việt Nam, tôi có viết bài “Z119 với cuộc chiến tranh chống phong tỏa” đăng trên Tạp chí Quân giới Việt Nam, thì nhiều người trong ngành Quân giới và cả ở nhà máy Z119 mới biết có cái máy “buộc bom từ trường không được nổ!”. Sản phẩm máy ức chế bom từ trường mang ký hiệu NH-72 là theo ý tưởng của anh Trần Trọng Toản, NH là của chữ NHIỄU, 72 là năm nó ra đời - 1972.


 


Mô hình “Máy ức chế bom từ trường NH-72” đang lưu giữ ở phòng Truyền thống của nhà máy Quốc phòng Z 119.


Viết về những đóng góp của chúng tôi trong việc tạo nên hai thiết bị quân sự đã được sử dụng rộng rãi trong chiến tranh chống Mỹ, tôi thấy cần nhắc đến một số nhân vật đã có những đóng góp quan trọng trong cuộc chiến này, nếu không mình sẽ có lỗi với lịch sử. Trước hết, đó là những chiến sĩ công binh, thanh niên xung phong đã lấy được ngòi nổ MK-42 còn nguyên vẹn từ trong ruột của quả bom từ trường. Tôi không biết họ đã lấy được MK-42 trong hoàn cảnh nào và bằng cách nào, có phải đổi bằng xương máu hay không. Nhưng tôi biết chắc chắn rằng họ đã làm việc ấy trong những giây phút mà sự sống cận kề bên cái chết. Nếu không có được ngòi MK-42 trong tay, chúng ta không thể có được xe phá bom từ trường và máy ức chế bom từ trường. Kế đến là việc giải bài toán ngược, biến ngòi MK-42 nguyên mẫu thành MK-42 trên sơ đồ nguyên lý, tạo điều kiện cho các nhà khoa học đi bước tiếp theo. Công việc này đã được tiến hành tại Viện Kỹ thuật Quân sự với sự chủ trì của giáo sư Vũ Minh Tiêu, trưởng Bộ môn Kỹ thuật xung số, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Nhờ có sơ đồ nguyên lý mà chúng ta có thể hiểu cặn kẽ ngòi MK-42 và bom từ trường.


Nếu như xe phá bom từ trường BTR-2 là một thiết bị nặng nề đặt trên xe bọc thép đồ sộ, xe đi đến đâu bom nổ vang trời ai cũng biết đến. Thì máy ức chế bom từ trường NH-72 lại là một thiết bị nhỏ xíu, chỉ bằng chiếc đài bán dẫn, vỏ bằng sắt, mặt mũi không xinh xẻo, không có mồm nên lúc nào cũng im thin thít, không mấy ai biết đến. Có thể cả những cán bộ cao cấp được máy làm vệ sĩ thầm lặng cũng không biết. Hồi ấy, chưa có cơ quan quản lý khoa học cho nên không có thống kê số liệu. Nhà máy Z119 chưa bao giờ nhận được thông báo máy ức chế bom từ trường NH-72 đã bao nhiêu lần lập công trong nhiệm vụ bảo vệ cán bộ cao cấp đi chiến trường an toàn trong chiến tranh chống Mỹ và bao nhiêu lần máy không hoàn thành nhiệm vụ?!


Máy ức chế bom từ trường được giữ bí mật từ khi nó được sinh ra cho đến tuổi nghỉ hưu, vì vậy rất ít người biết đến. Thậm chí thiết bị KC 70 mà Bảo tàng Đường Hồ Chí Minh sưu tầm để trưng bày tại Bảo tàng cũng đã có sự nhầm lẫn, đó không phải là máy ức chế bom từ trường, đó là khối nguồn điện của xe phá bom từ trường BTR. Cả đến khi nhà nước trao “Giải thưởng Hồ Chí Minh” cho những sản phẩm Quân sự “Xe phá bom từ trường BTR-2” và “Máy ức chế bom từ trường NH-72” đã có nhiều đóng góp trong cuộc chiến chống chiến tranh phong tỏa của giặc Mỹ cũng không thấy nhắc đến Cục Quân giới và nhà máy Quốc phòng Z119! Tôi cho rằng đây là một trường hợp bất công trong việc xem xét khen thưởng mà nhà nước nên xem lại.   


 Dự án sản xuất “Máy phát điện quay tay”


Dự án nghiên cứu thiết kế chế tạo máy phát điện quay tay được đặt ra khi Bộ Tổng có chủ trương đặt các đài quan sát trên núi cao dọc biên giới, trên các hải đảo xa bờ hẻo lánh mà các chiến sĩ quan sát leo được lên đỉnh núi đã rất khó khăn, không thể mang theo được các máy phát điện nặng nề, để có nguồn điện giữ liên lạc với các sở chỉ huy. Yêu cầu máy phát điện phải nhỏ gọn, trọng lượng không quá 20kg, có dây đeo như mang ba lô khi hành quân. Để đảm bảo chỉ tiêu kỹ thuật về trọng lượng, vỏ của máy phát điện phải được đúc từ hợp kim nhôm, rotor phải được chế tạo bằng công nghệ đúc nhôm để cấy ghép 6 thỏi nam châm vĩnh cửu vào vị trí chính xác.


Tại thời điểm nhà máy Z119 được giao nhiệm vụ với thời gian rất gấp rút, Cục Vật tư BQP không thể cung cấp cho nhà máy một số lượng lớn các thỏi nam châm vĩnh cửu với kích thước theo yêu cầu. Phòng Nghiên cứu- thiết kế đề nghị Giám đốc Nhà máy cho sử dụng các bộ nam châm sừng trâu trong các đài rada đã loại khỏi biên chế trang bị.


Để sử dụng được bộ nam châm sừng trâu vào máy phát điện, phải cắt nhỏ nam châm sừng trâu ra thành các thỏi nhỏ có kích thước theo yêu cầu để cấy vào rotor khi đúc. Quá trình cắt nam châm sừng trâu ra thành thỏi nhỏ và cấy ghép các thỏi nam châm vào rotor bằng công nghệ đúc, nhiệt độ cao đã làm cho từ tính của nam châm hầu như mất hết. Vì vậy, nam châm cần phải được nạp từ trở lại. Chúng tôi đã phải thiết kế chế tạo một thiết bị chuyên dùng- “máy nạp từ 6 cực”. Rotor của máy phát điện sau khi đúc ghép sáu thỏi nam châm với trục quay phải được nạp từ trở lại để đạt yêu cầu kỹ thuật của máy phát điện.


Với một nhà máy sửa chữa các loại khí tài điện tử, không có nhiều thiết bị gia công cơ khí chính xác và không mạnh về công nghệ đúc chính xác, mà hồi ấy nhà máy đã hoàn thành nhiệm vụ trên giao với hàng trăm máy phát điện xuất xưởng trong thời gian chưa đến nửa năm. Với chúng tôi đó là thành quả ngoài sức tưởng tượng. Thành quả của quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ của công nhân, cán bộ nhà máy Z119 trong chiến tranh chống Mỹ.


Những dự án nghiên cứu cải tiến rada COH9A


Rada COH9A là rada ngắm bắn, nằm trong tổ hợp một trận địa pháo phòng không tầm cao 57mm và 100mm. Tầm bắn của pháo phòng không 57mm khoảng bảy cây số, của pháo phòng không 100mm khoảng mười cây số. Sau khi nhận bàn giao mục tiêu từ các đài rada cảnh giới tầm xa, rada COH9A sẽ khóa mục tiêu đã được chọn vào tầm ngắm, tự động bám theo mục tiêu và liên tục chuyền phần tử góc tà, góc phương vị và cự ly của mục tiêu cho máy chỉ huy và các khẩu pháo phòng không nhả đạn khi có lệnh bắn.


Cuộc chiến đấu đảm bảo cho tuyến đường 559 thông suốt giữa ta và địch không cân sức. Địch sử dụng máy bay B52 ném bom rải thảm bất kỳ khu vực nào trên tuyến đường nghi có đoàn xe, kho tàng hoặc bộ đội miền Bắc đang trên đường hành quân chi viện chiến trường miền Nam. Đặc biệt, Mỹ sử dụng máy bay vận tải AC-130, lắp lên máy bay hai khẩu pháo 30mm bắn đạn chạm nổ. Máy bay có thể chở hàng chục tấn đạn, có thể bay liên tục hai ba giờ liền trên bầu trời ở độ cao 5 cây số và nhả đạn xuống các mục tiêu trên tuyến đường. Máy bay AC-130 có thể nhận tiếp dầu trên không, nên nó có thể cày đi cày lại một đoạn đường trong nhiều giờ. Không quân ta không thể tiến sâu vào phía Nam để đánh AC-130 vì không đủ nhiên liệu bay. Pháo cao xạ 37mm thì có thể chuyển vào sâu hơn, nhưng tầm bắn chỉ đến 4 cây số, không thể với tới AC-130 bay ở độ cao 5 cây số và trắc thủ bằng mắt thường không thể nhìn thấy máy bay khi chiến đấu ban đêm!


Bộ Tổng tham mưu đã có đề xuất đưa pháo phòng không 57mm vào tuyến đường 559 đánh máy bay AC-130. Nhưng pháo 57mm không thể bắn trúng mục tiêu nếu không có rada COH9A. Việc đưa được pháo 57mm vào đường 559 đã rất khó, nhưng đưa rada COH9A vào đường 559 còn khó hơn. Bởi vì COH9A nặng tới 11 tấn, gầm rada thấp và phải do một xe ZIL157 kéo, nên khó có thể đưa vào 559 được. Bộ Tổng tham mưu yêu cầu Cục Quân giới giao nhiệm vụ cho nhà máy Z119 nghiên cứu đưa COH9A lên xe ZIL-157. Biến rada phải có xe kéo thành rada tự hành. Đó là lý do “Dự án nghiên cứu cải tiến rada COH9A” ra đời.


Nhà máy giao cho Phòng Nghiên cứu- thiết kế chuẩn bị bản báo cáo “Đề án triển khai nghiên cứu cải tiến rada COH9A” để báo cáo cấp trên phê duyệt. Nội dung báo cáo bao gồm: 1. Mục đích nghiên cứu cải tiến rada COH9A, 2. Yêu cầu kỹ thuật cần đạt được của sản phẩm nghiên cứu. 3. Số lượng COH9A và xe ZIL-157 cần xuất từ kho dự trữ của Bộ. 4. Dự toán kinh phí cần có để thực hiện nhiệm vụ. 5. Các mốc thời gian hoàn thành những nội dung chính và dự kiến thời gian xuất xưởng.


Sau khi nhà máy đã chuẩn bị xong bản báo cáo, Bộ Tổng tham mưu và Cục Quân giới đã tổ chức hội nghị thẩm định và phê duyệt bản đề án ngay tại nhà máy. Đến dự hội nghị nghe nhà máy báo cáo có Thứ trưởng Trần Sâm, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Trần Đại Nghĩa, Cục trưởng Cục Quân giới Nguyễn Duy Thái và Cục phó Phạm Như Vưu cùng nhiều cán bộ từ cơ quan Cục Quân giới, Bộ Tổng tham mưu và Phòng không - Không quân. Hội nghị đã đóng góp nhiều ý kiến thiết thực, sát với yêu cầu chiến đấu và hành quân.  


Việc đưa rada lên xe ZIL-157 đã gặp hai khó khăn lớn: một là, xác định trọng tâm của đài rada tự hành để từ đó tính ra độ nghiêng bao nhiêu thì xe có thể bị lật, tốc độ tối đa bao nhiêu thì xe không bị lật; hai là, chế tạo và lắp đặt hệ thống cân bằng rada khi đưa đài vào trạng thái chiến đấu.


Đài rada COH9A tự hành đầu tiên được đặt tên là K-103. Sau khi K-103 chạy thử nghệm trên mọi địa hình và bắt mục tiêu đạt kết quả ổn định. Bộ Tổng tham mưu đề nghị nhà máy nghiên cứu cải tiến thêm một rada COH9A tự hành với hai băng tần làm việc, một băng tần sẵn có của COH9A và thêm một băng tần thứ hai cách xa băng tần sẵn có vì tần số làm việc chính của COH9A nằm trong dải nhiễu dày đặc do Mỹ gây ra và tần số làm việc của COH9A cũng là tần số mà tên lửa không đối đất của Mỹ có thể dò tìm để đánh trúng. Chiếc rada COH9A tự hành thứ hai với hai tần số làm việc cũng đã được nhà máy Z119 hoàn thành và được đặt tên là K-104. Băng tần thứ hai của K-104 trong hoàn cảnh khi ấy không thể nâng công suất lên cao hơn được, nên cự ly bắt mục tiêu chỉ đạt 30 km. Rada K-104 đã được chạy thử nghiệm và bắt mục tiêu trên nhiều tuyến đường khác nhau, trong đó có đường 1B gồ ghề nhất thời kỳ ấy. Theo dõi cuộc thử nghiệm có cán bộ từ Cục Quân giới và Quân chủng Phòng không - Không quân, trong đó có thiếu tá Phan Thu, mà sau này tôi có nhiều năm làm việc dưới quyền ông ở Viện Kỹ thuật Quân sự và Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga.


Đầu năm 1971, Bộ Tổng Tham mưu quyết định đưa K-104 cùng với kíp trắc thủ rada COH9A và bốn khẩu đội pháo cao xạ 57mm của Phòng không vào chiến trường 559 thử nghiệm. Phòng Nghiên cứu- thiết kế của nhà máy Z119 cần cử kỹ thuật viên đi theo K-104 để theo dõi sản phẩm. Tôi muốn đi theo nhưng Giám đốc Trần Trọng Toản không cho, anh em trong Phòng Nghiên cứu - thiết kế có nhiều người xung phong đi, tôi phải họp Phòng bàn bạc. Trong cuộc họp, anh Đỗ Sĩ Đổng phát biểu: “Tôi đề nghị để tôi đi, trong Phòng ta chỉ có tôi và anh Quang chưa có gia đình, nhưng anh Quang thì không nên đi vì nhà máy đang còn nhiều việc cần đến anh hàng ngày. Các anh khác đều có vợ con, nếu có điều gì không may nơi bom đạn, các chị và các cháu phải mang khăn tang, tội nghiệp. Tôi đi là rảnh nhất, có chuyện gì cũng không để lại hậu quả cho ai”.


Tôi rất xúc động nghe những lời chân thành và thẳng thắn, nặng trĩu tình thương yêu đồng đội của anh Đỗ Sĩ Đổng và thấu hiểu rằng còn một điều nữa anh chưa nói ra đó là anh muốn được trải qua thử thách nơi đạn bom để chứng minh động cơ muốn vào Đảng của mình không vì lợi ích cá nhân. Anh sẵn sàng đổ máu, hy sinh.


Anh Đổng đã được nhà máy Z119 cử đi theo rada K104 cùng với kíp trắc thủ rada của Phòng không vào chiến trường 559 thử nghiệm. Trước khi K104 được đưa vào đội hình chiến đấu, anh Đổng đã được lệnh rút trở ra Bắc và anh đã về đến nhà máy an toàn.


Dự án “Mục tiêu giả đoàn xe đi trong đêm”


Máy bay AC-130 bay rì rầm suốt đêm trên bầu trời tuyến đường 559 để dò tìm những đoàn xe đang đi trong đêm. Chúng dùng pháo 30mm với đầu đạn chạm nổ bắn dồn dập xuống đoạn đường phát hiện có đoàn xe, gây tổn thất cho ta rất nặng nề. Xe đi trong đêm chỉ được bật đèn gầm, từ trên cao nhìn xuống chỉ thấy mờ mờ một khoảng sáng nhỏ. Những lúc xe sụp ổ gà phía sau, đầu xe phía trước nghếch lên một chút hoặc xe leo dốc thì từ trên cao máy bay trinh sát, máy bay AC-130 mới thấy lóe lên ánh đèn xe. Bộ đội công binh cần có những mục tiêu giả đoàn xe để đánh lừa máy bay trinh sát và AC-130. Bộ Tổng yêu cầu Cục Quân giới giao nhiệm vụ cho nhà máy Z119 nghiên cứu chế tạo thử nghiệm 300 bộ “Mục tiêu giả đoàn xe đi trong đêm”. Nhà máy Z119 đã giao cho Phòng Nghiên cứu - thiết kế nghiên cứu thiết kế chế tạo mục tiêu giả theo yêu cầu kỹ thuật, chiến thuật của công binh. Nhưng trong điều kiện vật tư kỹ thuật thời ấy, sản phẩm không thể tự động hoàn toàn. Mỗi bộ “mục tiêu giả đoàn xe đi trong đêm” phải có một chiến sĩ công binh điều khiển, được trải dài trên một đoạn đường chừng 500 mét. Chiến thuật sử dụng thế nào, đó là việc của công binh, chúng tôi không biết. Chỉ biết rằng mục tiêu giả sẽ kéo sự chú ý của địch đến đoạn đường có mục tiêu giả, trong khi đoàn xe thật đang đi trên những đoạn đường khác.   


Chiến dịch sản xuất xe chở tù hàng binh


Ngày 17 tháng 1 năm 1975, tôi nhận Quyết định của Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật bổ nhiệm Phó Giám đốc Kỹ thuật nhà máy Z119. Chức vụ thì “cao” nhưng quân hàm thì “lùn”, chỉ có ba sao một gạch. Làm việc trong một đơn vị hơn 1000 người, các xưởng trưởng, trưởng phòng ban đều lớn tuổi hơn và lương cao hơn, nhưng tôi vẫn cảm thấy thoải mái, được quí trọng, thương yêu.


Chỉ sau vài ngày tôi nhận chức vụ mới, nhà máy Z119 nhận được lệnh sản xuất gấp một số lượng lớn xe chở tù hàng binh. Xe phải có ghế băng ngồi, cửa sổ thông thoáng, phía sau có phòng vệ sinh. Từ đầu năm 1974 nhà máy đã nhận được lệnh đến tất cả các đơn vị Phòng không kiểm tra trạng thái kỹ thuật của tất cả các xe ZIL và GAZ ít cần sử dụng đến hoặc không còn chạy được, lập danh sách xin lệnh của Bộ thu hồi về nhà máy. Như vậy là từ đầu năm 74, khi hơn một năm sau chiến dịch Hồ Chí Minh mới bắt đầu, nhưng Bộ Tổng đã nhìn thấy triển vọng thắng lợi to lớn của chiến dịch nên đã cho chuẩn bị trước hàng trăm đầu xe.


Mệnh lệnh yêu cầu phải nhanh chóng có xe xuất xưởng đi nhận nhiệm vụ. Số xe đã thu hồi đang nằm ở bãi xe của nhà máy. Nhà máy tổ chức sản xuất liên tục hai ca. Số xe còn chạy được giao cho xưởng rada A4 đóng thùng xe theo bản vẽ của Phòng Nghiên cứu - thiết kế đã có tính đến yêu cầu của Bộ Tổng tham mưu. Số xe còn lại giao cho xưởng sửa chữa ô tô.


Loạt xe tù hàng binh đầu tiên xuất xưởng đúng ngày 6 tháng 4 năm 1975, ngày mở đầu chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.


Những nhiệm vụ đột xuất và cấp bách cùng với những đề tài, dự án nghiên cứu khoa học phục vụ chiến đấu, mà sản phẩm của nó đã được các quân binh chủng sử dụng rộng rãi, đã góp phần xứng đáng vào thành tích của đơn vị để nhà máy Z119 được nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.   


Những năm tháng sống và làm việc ở Z119 là quãng đời đã cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp thắm tình đồng chí, đồng đội nhất là trong chiến tranh phá hoại miền Bắc và trong cuộc chiến chống phong tỏa của giặc Mỹ. Cuộc sống rất nhiều gian khổ nhưng cũng rất nhiều niềm vui mỗi khi hoàn thành một nhiệm vụ hoặc một đề tài nghiên cứu khoa học mà kết quả nghiên cứu được các quân binh chủng sử dụng phục vụ cho nhiệm vụ chiến đấu. Kế hoạch sửa chữa rada và các loại khí tài điện tử phục vụ các quân binh chủng hàng năm đầy ắp, chưa kể những hỏng hóc đột xuất trong thực tế chiến đấu mà khả năng sửa chữa của đơn vị không thể giải quyết được phải đưa về nhà máy sửa chữa gấp để đảm bảo đội hình chiến đấu. Ngoài kế hoạch nhiệm vụ hàng năm, nhà máy còn thường xuyên được cấp trên giao đột xuất những nhiệm vụ nghiên cứu khoa học kỹ thuật phục vụ chiến đấu khi xuất hiện nhu cầu. Những năm chiến tranh ác liệt, nhất là sau khi Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, hầu như nhà máy phải làm việc cả ngày lẫn đêm. Những công nhân, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý đang thực hiện những nhiệm vụ đột xuất phải làm việc không kể thời gian. Buồn ngủ quá thì lăn ra sàn nhà mà ngủ, đói thì gặm lương khô nhà máy phát hoặc húp cháo đậu phộng bồi dưỡng ca đêm. Cháo bồi dưỡng nhưng không có thịt vì tem phiếu thực phẩm chỉ đủ đảm bảo cho bữa ăn chính. Thiếu đạm trong bữa ăn là chuyện thường ngày. Anh Nguyễn Văn Bay, Trưởng phòng Đo lường tìm đâu ra một khẩu súng hơi, đêm đêm anh đội đèn pin vào nhà máy săn chuột cống. Được vài ba con thì bàn giao cho anh Vũ Văn Vận, Trưởng phòng Sửa chữa xuống bếp xử lý hàng đặc sản. Anh Vận làm món nướng theo kiểu chuột đồng nướng Bắc Ninh thơm phức và mang đến Phòng Thiết kế, vì phòng tôi có đông anh em kỹ thuật trực đêm theo công nhân làm các nhiệm vụ đột xuất. Tôi với anh Bay, anh Vận đã cùng sang Nam Kinh học Trung văn nên thân nhau từ trước khi về nhà máy. Hai anh lớn tuổi hơn tôi nên rất thương tôi. Dù tôi đã đi ngủ, hai anh cũng cố dựng tôi dậy cho bằng được để ăn “bồi dưỡng”, có thêm sức khỏe mà làm việc. Nói ăn bồi dưỡng cho nó vui, không phụ lòng anh Vận, anh Bay chứ thực ra với vài ba con chuột mà bảy, tám người ăn thì mỗi người được bao nhiêu miếng thịt chuột, nhưng lại rất bổ vì bữa “tiệc” rất vui.                       


Tôi cưới vợ


Ngày 18 tháng 4 năm 1971, tôi cưới vợ. Vợ tôi tên là Nguyễn Thị Phương. Bố vợ là ông Nguyễn Đình Phụng, mẹ vợ là bà Trần Thị Phát. Tiệc cưới được tổ chức  khiêm tốn theo hình thức tiếp khách tại nhà, chỉ có nước trà, thuốc lá Tam Đảo và một ít kẹo với bánh qui gai làm từ 4kg đường của anh Bốn Trọng cho. Không có quần áo cưới, tôi mặc quân phục, Phương mặc kiểu sinh viên áo trắng ngắn tay và quần dài đen. Không có ảnh cưới, không có nghi thức lễ cưới, không có chụp hình, quay video. Tiệc cưới không tổ chức ở nhà hàng mà tổ chức ngay tại nhà Phương ở C5 khu tập thể Kim Liên, bởi chúng tôi không có khả năng tài chính. Tuy nhiên, tiệc cưới được rất đông khách mời đến dự, bởi vì đám cưới diễn ra trong thời kỳ chiến tranh đang căng thẳng, mẹ chồng và mẹ vợ đều đang ở chiến trường miền Nam. Bạn bè của cha mẹ vợ thương cảm, nên đã đến dự tiệc để an ủi chúng tôi. Bạn bè của cô dâu đang còn là sinh viên năm cuối, của chú rể là bộ đội cũng rất đông. Tiếp khách của người lớn cả chiều và tối thứ bảy, tiếp khách bạn bè cô dâu, chú rể cả ngày chủ nhật. Quà mừng đám cưới không có phong bì như bây giờ mà chỉ có ba món đã được nhận từ mấy ngày trước. Đó là: Phiếu mua giường đôi do chính quyền tặng khi đăng ký kết hôn, một chiếc nhẫn vàng 1 chỉ của mẹ vợ gửi từ chiến trường Khu 5 ra Hà Nội cho con gái và một bộ ấm trà Trung Quốc của anh Bốn Trọng tặng.


Những năm 70 mặc dù chiến tranh căng thẳng, nhưng ở Hà Nội vẫn có nhà hàng tiệc cưới hoạt động vào ban đêm. Đám cưới của chúng tôi không thể tổ chức ở nhà hàng vì chúng tôi không có khả năng tài chính. Lương trung úy của tôi chỉ có 75 đồng một tháng, sống tập thể ở đơn vị, lại thường xuyên đi công tác. Đến khi nghĩ đến chuyện cưới vợ thì mới lo tích lũy, nhưng đến trước ngày cưới trong túi cũng chỉ có 200 đồng! Tôi thành thật thổ lộ với Phương rằng chuẩn bị đám cưới mà tôi chỉ có 200 đồng, nhưng thật bất ngờ và xúc động khi nghe Phương trả lời: “Anh còn có 200 đồng chứ em đâu có đồng nào!”. Câu trả lời của Phương đã cho tôi hiểu bản chất chân thực và khiêm tốn, đức tính mà tôi quí nhất ở con người, khiến tôi càng thêm yêu Phương.                               


Vì không có tiền nên không dám tổ chức ở nhà hàng, nhưng ông cha vợ thì chỉ muốn tổ chức ở nhà hàng. Ông bảo Phương là đứa con đầu tiên trong sáu đứa con của ông lập gia đình, phải tổ chức đám cưới cho đàng hoàng như các đám cưới con của bạn ba mà ba đã đi dự. Sau nhiều lần thuyết phục ông không được, chúng tôi phải nhờ dì Kinh sang nhà thuyết phục hộ. Cuộc nói chuyện giữa dì Kinh và ông cha vợ kéo dài nhưng bất phân thắng bại, đến khi dì Kinh ra điều kiện: “Đám cưới của chúng nó thì phải để chúng nó quyết định, có phải đám cưới của anh đâu mà anh quyết định. Nếu anh quyết định thay cho chúng nó thì anh hãy bỏ tiền ra tổ chức cho chúng nó”. Lý lẽ của dì buộc ông phải chịu thua. Ông đang phải nuôi 6 đứa con làm sao dành dụm được bốn, năm nghìn đồng để tổ chức đám cưới ở nhà hàng, trong khi lương của ông có lẽ dưới 100 đồng một tháng.         


Đứa con đầu lòng


Ngày 25 tháng 3 năm 1972, con gái Huỳnh Phương Mai chào đời trong cuộc sinh nở khó khăn của Phương. Bà Bé, bạn của bà ngoại làm việc ở Bệnh viện C, phố Tràng Thi đã tận tình giúp đỡ. Phương bị vỡ ối khi đang làm việc ở cơ quan. Hồi ấy, chế độ nghỉ sau sinh chỉ có ba tháng, cho nên ai cũng cố làm việc cho đến sát ngày sinh, dành thời gian nghỉ đẻ cả ba tháng sau khi sinh cho con ổn một chút để sau đó người mẹ phải đi làm. Chỉ có bà Bé là người được chứng kiến thời khắc chào đời của con gái Phương Mai, tôi chỉ được ngồi chờ ở cổng bệnh viện. Con được sinh bằng cách phải dùng phosep để trợ sinh. Lúc mới sinh con chỉ nặng 2,9 kg. Sau khi sinh con, Phương vẫn khỏe. Bà Bé chạy ra cổng bệnh viện báo tin vui: “Nó sinh được rồi, con gái xinh xẻo. Mày chạy đi mua cho nó một tô phở to thật ngon, nó ăn hết đấy, đang vui và kêu đói”. Tôi đã cầm theo từ nhà cái cặp lồng và ngồi chờ ở cổng bệnh viện hơn 4 giờ đồng hồ.


Sau khi sinh mấy ngày thì dì Kinh và dượng Thúy đến tận bệnh viện thăm và đón về nhà dì chăm sóc. Dì nói: “Má con đang ở chiến trường, dì sẽ thay má con chăm sóc con, dạy cho con cách nuôi con nhỏ”. Sau khi hai mẹ con Phương ra viện, tôi chỉ được nghỉ ở nhà chăm vợ đẻ hai ngày. Con gái là đứa cháu nhỏ đầu tiên của hai gia đình nên được ông ngoại, bà Kinh, ông Thúy và các dì, các cậu quan tâm chăm sóc, nhất là cậu Trung vì cậu tàn tật có thời gian ở nhà với hai má con nhiều hơn. Những người khác ngày thường phải đi làm, đi học. Không ít lần con gái đã tè, đã ị trên tay cậu.


Cũng trong những tháng đầu đời ở nhà bà Kinh, con gái đã “hứng chịu” một “may mắn” lớn đến từ chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ. Một quả bom phá dài hơn 1,5m, nặng hơn 300kg đã rơi ngay trước thềm nhà bà Kinh trong khi con gái còn đang trên tay mẹ và các cậu chưa kịp chạy xuống hầm trú ẩn. Đó là quả bom mà có lẽ máy bay Mỹ định ném xuống khu chỉ huy Phòng không của Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân, nhưng đã chệch sang khu dân cư Kim Liên. Rất may quả bom không nổ, nếu quả bom ấy nổ thì tòa nhà sáu tầng B15 đã sụp đổ nặng nề, hai má con cùng các cậu đã bị vùi lấp trong đống bê tông đổ nát, vì đó là một quả bom xuyên có thể xuyên phá các hầm công sự bê tông kiên cố của Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân.


Trước khi sinh con, Phương được cơ quan phân cho một chỗ ở để có điều kiện nuôi con. Hồi ấy thời bao cấp, chính sách nhà ở áp dụng tại các thành phố thật lẩm cẩm khó chịu. Nhà ở chỉ cấp cho phụ nữ đã có gia đình, người được cấp chỗ ở mới có tên trong sổ hộ khẩu, có tên trong hộ khẩu mới được cấp tem phiếu. Chính sách này đã đẩy anh em bộ đội vào cuộc sống “chó nằm gầm chạn” theo cách nói vui của lính, bởi cái vòng luẩn quẩn mà chính sách tạo ra: “Có nhà mới được cấp hộ khẩu - Có hộ khẩu mới được cấp nhà”, mặc dù bộ đội đóng quân ở thành phố cũng đi bầu cử như công dân của thành phố ấy.


Chỗ ở mà cơ quan của vợ tôi cấp cho Phương là một cái phòng rộng ba mét, dài bốn mét rưỡi, với một cửa đi và một cửa sổ cho hai gia đình, ngăn cách nhau bằng một tấm rèm vải. Không có phòng vệ sinh, không có bếp. Diện tích sử dụng của mỗi gia đình vừa đủ kê một cái giường đôi và lối đi đủ để chiếc xe đạp khi đi ngủ. Tất cả những đồ dùng gia đình từ nồi niêu, bát đũa, bếp dầu, xô chậu... đều để dưới gầm giường.


Chúng tôi đã nhận nhà, đã kê giường, đã mua bếp dầu, mua xô chậu... đã sống thử ở nhà của mình một ngày, nhưng cảm thấy không thể sống nổi ở nhà đó. Nuôi con nhỏ mà phải đi xách nước từ xa, phải giặt quần áo, tã lót ở nơi có vòi nước công cộng rất xa, phải đi vệ sinh ở nhà xí công cộng cũng rất xa... Cho nên sau tháng ở cữ dì Kinh nuôi, hai mẹ con phải về sống chen chúc trong một căn hộ tập thể một phòng nhỏ xíu ở khu Kim Liên của ông ngoại cùng với sáu con của ông và cháu ngoại Phương Mai.


Năm đầu đời của con gái, thời gian sống dưới hầm trú ẩn nhiều hơn ở trong nhà trẻ trên mặt đất. Năm 1972, Mỹ đã đưa chiến tranh phá hoại đến Hà Nội kèm theo lời đe dọa: “Mỹ sẽ đưa miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá”. Mỹ mở chiến dịch đánh phá Hà Nội mười hai ngày đêm bằng B52 nhằm làm nhụt ý chí và quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ của nhân dân Việt Nam. Đêm 22 tháng 12 năm 1972, Không lực Hoa Kỳ ném bom rải thảm khu vực Đuôi Cá phía Nam Hà Nội bằng B52 làm chết hơn 30 người, trong đó có ông cha vợ của tôi. Cũng trong đêm 22 tháng 12 năm 1972, chúng đã ném hơn 100 quả bom xuống Bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện lớn nhất miền Bắc, trong khi có hơn 300 bệnh nhân đang điều trị dưới hầm ngầm, san bằng cả một khu bệnh viện làm chết 28 bác sĩ và điều dưỡng viên, 22 người bị thương. 


Tiếp đến 22 giờ ngày 26 tháng 12 năm 1972, Không lực Hoa Kỳ đã dùng B52 đánh bom hủy diệt cả khu phố Khâm Thiên giữa lòng Hà Nội, đánh sập gần 2000 ngôi nhà, làm chết 283 người, trong đó có 40 cụ già, 56 trẻ em, 94 phụ nữ, 178 trẻ em mồ côi từ đêm ấy. Mặc dù trong chiến dịch mười hai ngày đêm Mỹ đánh phá Hà Nội rất ác liệt: Ban ngày, chúng huy động hàng trăm máy bay các loại đánh vào các trận địa phòng không xung quanh Hà Nội; Ban đêm, chúng dùng B52 đánh bom rải thảm vào các khu dân cư, trận sau ác liệt và tàn nhẫn hơn trận trước, hòng uy hiếp tinh thần và ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ của nhân dân ta. Tuy nhiên, người dân Hà Nội vẫn sống bình tĩnh, không hề run sợ. Người già, trẻ em sơ tán ra ngoại thành. Tất cả các cơ quan, công sở vẫn làm việc bình thường. Hai trận địa phòng không tầm thấp đặt trên đỉnh hai đầu cầu Long Biên của Tự vệ Hà Nội súng vẫn ngẩng cao nòng. Công nhân vệ sinh vẫn quét dọn đường phố hàng đêm. Cuộc sống của Hà Nội vẫn như không có gì thay đổi sau các trận bom ác liệt vào ban đêm và những trận không chiến trên bầu trời Hà Nội vào ban ngày. Khi có còi báo động mọi người phải xuống hầm trú ẩn, tan giặc trên bầu trời cuộc sống trên mặt đất lại trở lại bình thường.


Nhiều ngành như ngành điện, cán bộ, nhân viên không được vắng mặt nơi làm việc. Phương, vợ tôi làm việc trong ngành điện nên không đi sơ tán. Hai mẹ con phải sống trong cảnh chiến tranh phá hoại, bom đạn cận kề. Tôi phải nêu ý kiến “chỉ đạo”: Nếu Mỹ đánh căng, nhà mình ở gần khu Bộ Tư lệnh Phòng không sợ bom rơi đạn lạc thì chuyển sang ở nhà chị Năm Hương trong khu A Kim Liên, khu chuyên gia Liên Xô đang sống. Mỹ không dám đụng vào khu ấy đâu. Nếu căng thẳng hơn nữa thì lên nhà chú Lâm ở gần Đại sứ quán Liên Xô, đó cũng là khu an toàn, Mỹ chưa dám đụng vào. Nhưng sau đêm 26 tháng 12, Mỹ đánh bom khu dân cư Khâm Thiên tàn nhẫn quá, Phương xin phép cơ quan cho con đi sơ tán và trong ngày 27 tháng 12 hai mẹ con chạy lên Sơn Tây ở nhà cậu Tước. Ở đó chỉ mấy ngày thì Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, hai mẹ con lại bồng bế nhau trở về Hà Nội để Phương tiếp tục đi làm.


Bây giờ nhớ lại, tôi cũng không thể hình dung nổi làm sao vợ tôi hàng ngày vẫn phải đến cơ quan làm việc, lại vừa phải nuôi con trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, điều kiện sống rất khó khăn. Hà Nội thường mất điện và luôn thiếu nước sạch, muốn giặt quần áo phải thức dậy từ 2 giờ sáng hứng nước. Ăn uống vô cùng thiếu thốn của thời bao cấp. Trẻ em dưới một tuổi mỗi tháng được cấp tem phiếu một hộp sữa đặc và một trăm gam thịt. Vợ tôi là cán bộ sơ cấp, kỹ sư mới ra trường mỗi tháng được cấp tem phiếu hai trăm năm mươi gam thịt... làm sao đủ dinh dưỡng để người mẹ có sữa và đứa con có thể lớn được. Công của những người mẹ nuôi con thời chiến tranh và bao cấp như sông dài, biển rộng, núi cao.


(còn tiếp)


Nguồn: Người con của mẹ Năm Bê. Truyện ký của Huỳnh Quang. NXB Hội Nhà văn, 2019.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »