tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29370328
Tiểu thuyết
28.08.2019
Đỗ Quang Tiến
Seo Mỉ


19


Một tối kia, Seo Mỉ đến nhà cụ Ma Cai. Trời se lạnh.


Ngoài kia, tiếng con tắc kè thả vào bóng tối, đã đuối hơi.


Trong nhà, con thạch sùng vừa tắc lưỡi cũng đã nằm im.


Không còn một tiếng động. Dưới ánh đèn đang chao đi chao


lại, gian nhà buồn lặng hiện ra trước mặt Seo Mỉ. Ở một góc,


chôn một chiếc giường ngoãm. Gần đấy, kê một chiếc hòm


gắn vào bốn cái chân vững chắc. Góc bên kia, đặt cái khung


cửi cũ kỹ. Tất cả đều bằng gỗ đã ám khói bếp, với những vết


đẽo xù xì. Đã từ lâu, đồ đạc ở chỗ nào nằm nguyên chỗ ấy.


Đúng hơn, từ lâu lắm rồi, không một cái nào xê dịch. Cả cái


quang đèn muội bám đen thui, trong đặt chiếc đĩa bóng


nhẫy dầu xứ chủ(1), cũng vẫn treo ở khe bức tường đất. Còn


bà cụ thì ngồi trên khúc gỗ, cạnh đấy tay run run xé lanh. Cụ


ngồi ở chỗ quen thuộc đó và lặng thinh. Nom cụ như pho


tượng tạc vào phiến đá.


Cụ Ma Cai là một trong những người già nhất bản Mèo.


Tuổi cụ độ tám chục lần lúa chín trên nương. Khi cái chân


còn dẻo như chân con hoẵng, cụ đã theo chồng đi phát


__


(1) Dầu ép bằng hạt xứ chủ dùng để thắp đèn.


nương trên nhiều triền núi. Khi nào nương cằn, vợ chồng lại


ra đi. Đi mãi, đi mãi, rồi cặp vợ chồng cô độc trôi dạt về đây.


Vào một ngày động rừng, chim bay nhớn nhác, “Chử lầu” cất


cho chồng cụ cái lù cở đầy nỗi khổ đeo sau lưng. Chồng cụ


chết như chiếc lá rơi trong buổi động rừng kia. Lúc ấy, cụ


cũng đã già. Trên núi cao, chỗ nào chẳng là quê hương người


Mèo? Cụ ở lại bản Lù Chải, hồi đó mới có một vài ba nóc


nhà. Cuộc sống bồng bềnh như mây núi khiến cụ quên tuổi,


quên cả tên. Thấy cụ từ Sin Ma Cai tới, dân bản lấy tên đấy


mà gọi. Lâu dần tên đất trở thành tên người. Cụ Ma Cai!


 Muốn biết nơi ăn chốn ở của một gia đình người Mèo


ngày xưa ra sao, hãy đến nhà cụ Ma Cai. Qua một người già


đã từng uống nước ở nhiều khúc suối, sẽ thấy cả một nếp


sống của họ. Sau khi thành lập hợp tác xã, mấy lần ban quản


trị mời cụ vào. Lần nào cụ cũng từ chối. Cụ nghĩ, người Mèo


phải ăn mèn mén ở mảnh nương của mình. Nương của cụ đã


teo lại bởi cụ chẳng còn giỏi tay phát nương nữa. Cụ phải


đắp đất vào hốc đá trồng tỉa thêm. Tuy vậy, nhờ có hợp tác


xã giúp đỡ, cụ vẫn được no lành. Đàn bà con gái trong bản,


nhiều người đã mua vải ở cửa hàng mậu dịch, may váy áo.


Họ mua cả vải làm nẹp, can vào tay áo cho đỡ mất công


thêu. Những bộ váy áo đó trông rất đẹp. Cụ Ma Cai nghĩ,


người đàn bà Mèo phải làm lấy váy áo mà mặc.


Mặc dù đã già yếu, cụ vẫn trồng lanh, dệt vải nhuộm


chàm mua của người Dao. Rồi đêm này qua đêm khác, cụ


cặm cụi thêu sau nắng, ta, ù deo như thời con gái. Khi dầu hỏa


tràn lên vùng cao, nhiều nhà liền thay chiếc đèn đĩa bằng


chiếc đèn Hoa Kỳ. Vì lẽ đèn dầu hỏa ít muội, sáng sủa, di


chuyển dễ dàng hơn đĩa đèn dầu xứ chủ. Dầu hỏa lại rẻ, mua


về dùng được ngay. Dầu xứ chủ thì khác hẳn. Phải trồng cây,


lấy hạt đem ép, mất bao nhiêu công được một ít dầu. Dẫu


vậy, tối đến, trong nhà cụ Ma Cai vẫn hiu hắt ánh đĩa đèn


dầu. Cụ nghĩ, nhà người Mèo phải có ngọn đèn dầu xứ


chủ…Còn nhiều việc khác nữa. Tất cả là vì từ lúc mới khôn


lớn, cụ đã trông thấy những bóng áo chàm bạc màu cúi gập


dưới nương. Trên là trời mù sương, dưới là mảnh đất khô


gầy. Và chung quanh, thấp thoáng bóng lão thầy cúng và các


“cái ma”. Đêm đến, khi bóng tối mênh mông chụp xuống,


lửa bếp, ánh đèn đĩa lẻ loi trong các căn nhà đứng


chênh vênh trên mái núi. Trước kia đã như thế, bây giờ vẫn


phải như vậy. Bởi vì cụ Ma Cai thường nghĩ, mình là


người Mèo…


 Seo Mỉ đưa mắt nhìn quanh một lượt. Không có gì thay


đổi. Có chăng là đồ đạc ám thêm một ít khói bếp. Muội dầu


xứ chủ bám thêm vào chiếc quang đèn. Các mảnh giấy dán


trên bàn thờ tổ tiên đã bạc hết màu hồng điều. Và căn nhà


tựa hồ cách biệt hẳn với bản Mèo. Bỗng chốc chị cảm thấy


nỗi xót thương nhói lên trong lòng mình. Thương xót một


người già sống cô đơn!


Cụ Ma Cai đã nhận ra Seo Mỉ. Cụ chưa đến nỗi lú lẫn.


Mỗi lần được hợp tác xã cưu mang, cụ hiểu có hạt thóc, bắp


ngô nọ chính là nhờ có chị chủ nhiệm. Thỉnh thoảng chị lại


đến nhà thăm hỏi, đỡ đần cụ những việc nặng nhọc. Cho nên


cụ quý mến, hơn thế nữa, biết ơn chị.


- Cháu Seo Mỉ đấy à? Một tuần trăng rồi, ta không thấy


cháu đến chơi. - Cụ Ma Cai ân cần chào hỏi.


Seo Mỉ đi lại, ngồi xuống bên cụ Ma Cai:


- Tuần trăng vừa rồi cháu bận lắm. Ban ngày, cháu phải


lo việc hợp tác xã. Tối đến, cháu thường phải đi họp hay


đi học.


Cụ Ma Cai dừng tay xé lanh, nhìn Seo Mỉ:


- Cháu được nhiều tuổi rồi mà còn phải đi học à?


- Cháu phải đi học cho có nhiều chữ. Bụng có sáng, làm


việc cho bản mới tốt được.


- Con gái Mèo cũng muốn có nhiều chữ trong bụng để


làm mú cống à?


Seo Mỉ tủm tỉm:


- Bây giờ con trai con gái Mèo không ai muốn làm mú


cống đâu. Họ chỉ muốn cùng dân bản làm ra nhiều lúa, bắp,


vải lanh để không một người nào phải đói rét như trước nữa.


- Được thế thì tốt đấy, cháu Seo Mỉ à.


Seo Mỉ liếc nhìn đĩa đèn. Bấc đã lụt. Ngọn lửa cháy thoi


thóp trong cái đĩa két cắn dầu. Chị lấy cái que ghếch trên


miệng đĩa, khêu sợi bấc. Ánh lửa bừng lên ngả nghiêng


trong hơi gió luồn qua khe cửa.


- Cụ Ma Cai à! Bản ta sắp có đèn điện đấy.


Quả thật, gần trọn một đời người rồi mà cụ Ma Cai chưa


trông thấy ngọn đèn điện bao giờ. Cụ sống quanh quẩn trên


núi cao. Họa hoằn cụ mới bỏ ra một ngày đi chợ mua muối,


sắm lưỡi cuốc, lưỡi dao thay những chiếc đã mòn vẹt. Chợ


đó là chợ Pha Long. Hình như cụ có đi chợ Mường Khương


vài ba lần. Dạo ấy, phố huyện chưa có đèn điện.


- Đèn…điện là cái gì cháu Seo Mỉ? Ta còn chưa biết đấy.


- Cụ Ma Cai hỏi, gương mặt chi chít vết nhăn ngẩn ra.


Seo Mỉ lúng túng. Nói cách nào để người già hiểu được?


Chị sực nhớ hình dáng cái bóng đèn điện:


- Đèn điện là… cái đèn nhỏ bằng quả mắc coọc mà sáng


hơn đèn dầu xứ chủ nhiều lắm. Khi nào muốn thắp hay


muốn tắt, ta chỉ cần gạt cái nút. Tiện lắm cụ à.


- Nó có thắp bằng cái bấc với dầu xứ chủ không?


- Không đâu. Nó thắp bằng điện, rẻ hơn dầu xứ chủ.


Cụ Ma Cai buông một câu, giọng dửng dưng:


- Thật à!


Không chú ý, Seo Mỉ hào hứng nói tiếp:


- Muốn chóng có điện, mỗi nhà trong bản góp một vài


cây thông để làm cột đưa đường dây về đây. Sau đấy, các


đồng chí công nhân nhà máy điện sẽ mắc cho mỗi nhà một


ngọn đèn. Cụ có muốn mắc một ngọn thay cho đĩa đèn dầu


này không?


Cụ Ma Cai lắc đầu, rung mái tóc bạc phơ:


- Không đâu.


- Nhà nào muốn có đèn điện đều phải trả tiền dây, bóng


đèn. Riêng nhà ta, hợp tác xã giúp đỡ, cụ không phải trả tiền.


Lần này, cụ Ma Cai trả lời dứt khoát:


- Không mà. Ta là người Mèo, ta chỉ thắp đèn dầu xứ chủ


có cái bấc thôi.


- Cháu nói rồi, cụ không phải trả tiền mà. - Seo Mỉ


nói gặng.


Cụ Ma Cai hạ giọng, vẻ cảm động:


- Ta biết cháu thương người già có nhiều cái khổ. Nhưng


ta sắp tuột sức rồi. Tối đến, ta phải trông thấy cái đèn dầu xứ


chủ. Bao giờ ta chết, cho ta nghe mú cống.


Ti¬u thuy!t Ti¬u thuy!t 1047


Seo Mỉ chưa quên những câu nói của chị Chấn Hoa hôm


vừa rồi. Cái lý của người Mèo! Qủa là dân tộc chị đã bị “Chử


lầu”, "mú cống", “cái ma” trói buộc bằng một sợi dây vô


hình. Sợi dây dài, đầy gai như sợi mây, đến bây giờ vẫn chưa


cởi gỡ xong. Mặc dù vậy, chị vẫn ngạc nhiên. Bụng chị lành,


lời chị tốt. Vậy mà người già vẫn chưa tin. Chị ngồi ngây ra.


Thái độ lạnh nhạt của chủ nhà khiến chị sượng sùng. Chị


đứng lên, chào người già, đoạn đi ra. Cụ Ma Cai gọi giật lại:


- Cháu Seo Mỉ à! Vườn nhà ta có ba cây thông làm cột


nhà được rồi. Cháu đến lấy mà làm…cái cột điện.


- Cảm ơn cụ! Nếu thiếu cây thông làm cột, cháu sẽ


đến xin.


Seo Mỉ khẽ đẩy cửa bước ra ngoài. Trong nhà, cụ Ma Cai


lại cúi xuống, xé lanh bên đĩa đèn. Tất cả lại chìm vào im


lặng và màn sương đã ken dầy. Cái bóng người mờ ảo như


áng mây lúc chiều bầm tím, vẫn chập vào tâm trí Seo Mỉ.


Mây chiều chẳng cản lối ngăn đường song nó quẩn vào bước


chân. Chị thấy nao nao buồn. Bất chợt chị nhớ lại câu chuyện


cổ người già trong bản đã kể cho con cháu nghe.


Ngày trước, họ Giàng chia làm hai dòng: Dòng cũ và


dòng mới. Dòng cũ là người ở chỗ đất này từ lâu. Dòng mới


là gia đình mới dọn tới. Hôm đó, theo tục lệ, người họ Giàng


mới mổ lợn làm bữa cơm mời họ Giàng cũ ăn để người họ


Giàng này chỉ bảo cho các tập tục lâu đời của ông cha.


Lợn mổ xong, thịt để riêng, chưa nấu. Còn tim, gan,


lòng, phổi, thủ, cẳng giò thì bỏ vào chảo, đổ đầy nước, chất


củi đun. Nước canh sôi sùng sục. Đến bữa, người ta lần lượt


vớt các thứ ra. Riêng quả tim, tìm mãi vẫn không thấy.


Người họ Giàng cũ hỏi người họ Giàng mới:


- Này, tại sao lại mất quả tim? Người ta buồn, vui là ở


quả tim mà ra. Người ta giận dữ, thù ghét nhau cũng ở quả


tim mà ra. Nó lại là một miếng ăn ngon. Quả tim quan trọng


lắm. Khi người Mèo ta buồn, các cô gái chẳng vẫn hát: “Thôi


nửa buồng gan, thôi nửa quả tim…” là gì?


Người họ Giàng mới chưa biết nói sao, người họ Giàng


cũ lại tiếp, giọng kém vui hơn:


- Ban nãy, đứa con trai của anh quanh quẩn gần chỗ ấy,


hỏi xem nó có ăn không.


Đứa con của người họ Giàng mới vừa tròn ba tuổi. Lúc


nãy, nó quanh quẩn bên cái chảo thật. Người bố bế con ra


chỗ vắng, hỏi: “Con có ăn tim lợn không? Đứa bé ngơ ngác,


tưởng bố sắp cho ăn, liền đáp: “Có ăn”. Người bố nghi ngờ


hỏi lại: “Lúc nãy, con ăn tim lợn rồi à?”. Đứa bé đáp: “Không


ăn”. Người bố chẳng hiểu thực hư ra sao, rất sợ người họ


Giàng cũ giận, không chịu chỉ bảo tất cả phong tục, tập quán


của người già để lại thì sống không được tốt. Nghĩ ngợi một


lúc, người bố bế con ra sau nhà giết đi, mổ ngực con, cắt quả


tim đứa con hiếm hoi cho vào chảo nước canh.


Bữa rượu linh đình, mọi người ăn uống vui vẻ. Người


bố đứa bé kia hết sức đau đớn nhưng vẫn phải tỏ vẻ thản


nhiên. Khi bắt đầu ăn cơm, người ta múc canh. Lúc múc cạn


chảo, có người nói to: “Ô này, sao giết một con lợn mà có hai


quả tim?”. Người họ Giàng mới uất lên như điên dại. Anh


rủa người họ Giàng cũ:


- Các anh lòng đã không tốt. Các anh nghi ngờ con ta,


làm ta sợ hãi. Ta đã giết đứa con đầu lòng yêu quý của ta rồi!


Chỉ cốt đền quả tim lợn cho các anh mà thôi.


Không khí bữa rượu trầm lặng. Vô cùng đau đớn, người


bố mất đứa con trai nói tiếp, dằn từng tiếng:


- Đã thế, từ nay người họ Giàng bất kể mới hay cũ, ở xa


hay gần, không ai được ăn tim nữa, bất cứ tim loại gì. Ai


không nhớ lời nguyền này thì bị mù mắt, què chân hoặc bị


một tật nguyền đến hết đời!


Sau khi có lời nguyền đó, đàn ông Mèo không ai ăn tim


nữa. Còn đàn bà thì ăn được vì không dính dáng tới việc mổ


lợn, nấu nướng hôm đó(1)…


Seo Mỉ rùng mình. Chuyện cổ, hư hư thực thực, vậy mà


nhớ tới lại thấy ghê rợn và thương xót. Chị không giận mà


chỉ thương cụ Ma Cai. Người dân tộc chị trọng tập tục, nếp


sống người già đã dặn lại con cháu trước khi qua đời. Trong


việc đưa điện về bản, có nhiều người như cụ Ma Cai không?


Phải xem đã.


Seo Mỉ về đến nhà được một lúc, bất chợt vợ chồng


Vàng đến chơi. A Sinh, chồng Vàng, trạc hai mươi lăm,


hai mươi sáu, ăn vận theo lối Kinh. Áo bông cổ nhung, quần


ka-ki, giày bộ đội Liên Xô. Chiếc mũ len đan, có lưỡi trai, đội


ngay ngắn trên đầu. Những năm ở tập thể, làm việc trong


nhà máy vừa qua đã đem lại cho anh công nhân điện cái


dáng vẻ rắn rỏi, lanh lợi.


__


(1) Truyện cổ dân tộc Mèo; (Lê Trung Vũ sưu tầm và biên soạn).


- Anh A Sinh về phép hay đi công tác đây? - Seo Mỉ


niềm nở hỏi.


- Năm ngoái, tổ tôi bận lắm. Tôi nhường anh em ở dưới


xuôi nghỉ phép năm trước, bây giờ tôi mới nghỉ.


- Bản ta sắp có điện, anh A Sinh biết chưa?


Có lẽ người công nhân điện nào cũng náo nức vui khi


thấy ánh điện rực sáng ở một nơi chưa từng có. Nếu như nơi


đó lại là quê hương mình, niềm vui sẽ nhân lên gấp bội. Anh


A Sinh săn đón:


- Thật à, chị Seo Mỉ? Tôi chỉ biết nhà máy điện đang cho


kéo đường dây về huyện về phố Pha Long. Lúc chiều, trên


đường về đây, tôi thấy đường dây sắp về đến nơi rồi. Nếu


đường dây ấy nối liền với bản ta thì tốt quá.


Seo Mỉ lại vui lên:


- Thật mà. Chị Chấn Hoa bảo rồi. Các bản gần đồn, phố


sẽ có điện trước, sau đấy đến các bản xa. Chúng tôi đang vận


động các gia đình trong bản đóng góp vật liệu, ngày công để


đưa điện về.


A Sinh lấy làm lạ:


- Ở trên núi cao mà có điện thì đáng mừng lắm rồi, sao


lại phải vận động? Có những bản ở xa nơi phát điện còn cố


đưa điện về nữa là bản ta.


Vàng xen vào:


- Anh A Sinh đi công tác thoát ly nên chưa hiểu thực tế ở


bản ta đâu Seo Mỉ à! - Chị quay sang phía chồng - Đưa nước


về bản, đỡ bao nhiêu công địu thuồng ra suối lấy nước thế


mà còn khó đấy.


A Sinh im lặng, vẻ tư lự. Seo Mỉ nói:


- Biết tin này, người trẻ đều vui mừng, sẵn sàng đóng


góp sức người sức của như anh nói. Nghĩ lại tôi thấy không


có gì lạ vì đây là một việc từ đời tổ tiên ta đến bây giờ mới


có. Nước chảy xuôi, không chảy ngược lên đồi. Mọi việc sẽ


như dòng nước thôi, anh A Sinh à.


A Sinh ngồi ngay ngắn lại:


- Việc kéo đường dây, mắc đèn tôi được làm nhiều rồi. Chị


xem tôi có thể đóng góp được gì vào công việc này không?


- Nếu được anh góp sức thì tốt quá. Tôi chỉ sợ, cả một


năm lao động anh mới được nghỉ mươi hôm, lại để anh lao


động thì… sai chính sách đấy.


Vàng đỡ lời chồng:


- Không sai chính sách đâu, Seo Mỉ à. Anh ấy ở xa không


có dịp cùng mọi người làm tốt cho bản. Bây giờ có dịp, nên


để anh ấy tham gia. Anh ấy lại tự nguyện mà.


A Sinh nghiêm giọng:


- Vợ tôi nói đúng. Trong khi mọi người làm tốt cho bản,


tôi cũng là dân bản lại là một công nhân mà lại ở nhà sưởi


bếp là sai rồi. Sai quá đấy. Chị phân công cho tôi đi.


Seo Mỉ không khỏi xúc động:


- Nếu thế, anh cứ nghỉ ngơi hết ngày mai. Tôi đi xem


tình hình cây cột ra sao, tôi sẽ hội ý với anh. Có anh góp sức,


nhất định điện sẽ về bản. Được thế, bản ta vui hơn được mùa


lúa, bắp đấy.


Câu chuyện của họ giờ đây xoay quanh cái bản nhỏ khi


ánh điện bừng sáng. Mùa xuân gọi chim én về chao liệng


trên trời mây. Dòng điện gọi cái máy xay, cái máy dệt vang


âm núi đồi. Như câu chuyện thần thoại: Ông Chày sinh ra


bầu trời, bà Chày sinh ra mặt đất. Rồi trời đất sinh ra muông


thú, cỏ cây, hoa lá và người Mèo trên vùng cao. Đẹp quá!


Mãi đến khi bà Thào Xóa xay xong mẻ ngô, vợ chồng A


Sinh mới ra về. Seo Mỉ tiễn họ ra tới đầu ngõ. Vừa lúc ấy có


mấy thanh niên đi ngang qua. Họ đang mải chuyện. Một


người nói:


- Dà! Có điện thì tốt quá. Mùa này mình phải đi lấy


nhiều sa nhân, thảo quả bán lấy tiền mua cái đài điện cho cả


nhà nghe.


Người khác phụ họa:


- Cậu nói hợp bụng mình. Mình cũng phải dành tiền


mua một cái. Cái tiết mục “Sân khấu truyền thanh” người


già người trẻ đều thích nghe.


Vẫn chuyện về viễn cảnh của bản Mèo. Ngày ấy sắp tới


hay còn xa? Chị phó bí thư huyện ủy nói rồi. Điện cũng như


nước, tự nó không ròng về bản. Hoặc như cây tống quá xủi,


đừng đợi gió gieo trồng nó hộ. Seo Mỉ quay vào nhà. Căn


nhà đỏ ánh ngọn đèn hoa kỳ. Ánh lửa đỏ quạch từ nhiều


năm tháng qua càng thôi thúc chị. Ánh điện! Ánh điện cho


bản Lù Chải.


*


 


“Đưa điện về bản! Tốt đấy hay không nên đâu?” Việc đó


trở thành một vấn đề thời sự trong bản. Người trẻ đã có ý


kiến, người già tán thành hay phản đối, cũng phải nói “cái


lý” của mình. Tối hôm đó, ông hố pẩu họ Ma, ông Chín Sàng,


ông Mí Cháng, ông Giàng Chớ và một vài người già nữa kéo


Ti¬u thuy!t Ti¬u thuy!t 1053


đến nhà ông Lý A Sáng bàn bạc. Họ tin ông A Sáng có con


trai là A Sinh là công nhân ở nhà máy điện, tất nhiên hiểu


việc này. Bụng ông ấy phải sáng hơn bụng người khác.


Họ ngồi trên những chiếc ghế vây quanh bàn ăn. Mấy


phút im lặng trôi qua. Quả thật, về việc này khó phát biểu ý


kiến hơn việc tập trung nương vào hợp tác xã, bắt con suối


chảy về bản, trồng cây trên đồi hoang… Lát sau, ông già có


khuôn mặt khắc khổ và yên phận, thủng thẳng nói:


- Người Mèo ta từ xưa đến nay chỉ thắp đèn dầu xứ chủ,


dầu tây thôi. Cái đèn điện… - Ông ta ngập ngừng, - không


hợp với ta đâu.


Ý kiến của ông ta không khác ý nghĩ mộc mạc của bà cụ


Ma Cai. Đại thể là không hợp, không quen… Dường như


ông ta lúng túng. Ông ta chớp chớp mắt và im bặt.


- Cái đèn điện là của người Kinh, không phải của người


Mèo ta. - Ông Chín Sàng bổ sung.


Thấy cái lý của người trong họ mình không vững, ông


trưởng họ Ma vội uốn nắn:


- Cái đèn điện không phải của riêng người Kinh. Nhiều


bản trên miền núi, kể cả vùng cao, dùng điện lâu rồi.


Biết mình nói hớ, ông Chín Sàng ngửa mặt nhìn vẩn vơ


lên mái nhà. Ông A Sáng ra vẻ thành thạo:


- Đèn điện với đèn dầu như cơm xôi với mèn mén của ta.


Cơm xôi ăn tốt hơn mèn mén. Đèn điện dùng tốt hơn đèn


dầu. Nhưng phải cẩn thận, nếu không cháy nhà hoặc bị nó


giật chết còn nhanh hơn con rắn xanh cắn. Thằng con tôi nói,


công nhân điện cũng có người điện giật chết đấy. Tôi chỉ


lo thế.


Ông Giàng Chớ vốn điềm tĩnh. Bây giời mới lên tiếng:


- Các ông còn nhớ cái ông Giàng Xỏa cháy nhà không?


Tối hôm ấy gió to, lửa liếm vào nhà lem lém như lưỡi con


rắn. Tôi chạy đến nơi, chỉ kịp giúp ông Giàng Xỏa cứu được


bồ thóc với con ngựa đã cháy sém cái bờm. Sau đấy, tôi được


biết nhà cháy chỉ vì ngọn đèn dầu xứ chủ. Đốt lửa bếp hay


thắp đèn gì cũng thế, không cẩn thận là cháy nhà thôi.


Ông Mí Cháng mấp máy môi định nói rồi lại thôi. Việc


ông định ngăn dòng nước không cho chảy về bản, còn đau


nhói trong đầu. Ông muốn cản trước chân đám người trẻ,


song họ cứ rầm rập bước đi. Và rồi họ đã đến. Ông chưa


quên việc ông đành bỏ mảnh nương phát dở, lủi thủi quay


về nhà. Lúc này, ông biết mình đã thất thế. Nhưng đã đến


đây, không lẽ ngồi im. Ông nói rõ ra vẻ không tự tin.


- Tôi đã được đến một bản có cái đèn điện. Dân bản nói,


cái ma sợ, bỏ đi hết. Từ ngày ấy tôi chưa trở lại nên không


biết dân bản ra sao…


Đang có đà, ông Giàng Chớ ngang lời ông Mí Cháng:


- Tôi chắc dân bản ấy vẫn khỏe mạnh, phấn khởi sản


xuất, không sao cả.


Ông già khắc khổ nhìn ông Giàng Chớ vẻ không


đồng tình:


- Con mắt không nhìn thấy, sao bụng lại dám chắc dân


bản ấy không sao cả?


Ông Chín Sàng lại phụ họa:


- Đúng đấy! Con mắt có nhìn, cái tai có nghe mới nói


đúng được. Cũng như con ngựa, phải cưỡi nó đi đường dài


mới biết nó khôn hay là có tật.


Không khí trong căn nhà bỗng như đống lửa tàn vừa


được nhen lên. Đã có những ý kiến trái ngược nhau. Và cuộc


họp bàn sôi nổi lên một chút. Ông trưởng họ Ma trịnh


trọng nói:


- Có những việc con mắt ta chưa nhìn thấy nhưng ta có


thể biết chắc là đúng hay là sai…


Ông già khắc khổ cau đôi lông mày lốm đốm sợi bạc:


- Ông lại nói như ông Giàng Chớ rồi, không hợp bụng


mọi người đâu.


Ông trưởng tộc họ Ma không vì câu nói gay gắt mà phật


lòng. Ông bình tĩnh nói tiếp:


- Cách đây hơn một năm, chi bộ, Ủy ban xã thông báo


cho mọi người biết là quân và dân ta đã chiến thắng bọn Mỹ,


Ngụy, miền Nam đã được giải phóng. Ta không nên tin vì


con mắt ta chưa nhìn thấy hay là ta phải tin vì việc ấy có


thật? Đấy là việc xa, còn việc gần thì ở ngay trong bản này.


Ban quản trị hợp tác xã bảo các xã viên là đưa được nước về


bản chỉ có lợi chứ không có hại. Ta thử xem nước suối chảy


về bản rồi, việc ấy ra sao. Đàn bà con gái trong bản không


phải dậy từ lúc mặt trời còn tối để ra suối nữa. Bao giờ sáng


rõ mặt đường mới địu đôi thuồng ra giữa bản. Đặt cái chảo


lên bếp, nước chưa nóng đã có hai thuồng nước đem về. Mà


lại không phải khó nhọc. Việc này không phải đến bây giờ


ban quản trị hợp tác xã cũng như các xã viên mới biết mà họ


biết từ trước rồi. Cái điện cũng thế thôi.


Đuối lý, người già khắc khổ và bảo thủ gượng gạo đáp:


- Cái điện… khác đấy.


Khác ở chỗ nào, ông ta không nói rõ được. Ông Chín


Sàng vốn nể phục ông trưởng họ. Ông cũng nín thinh.


Lúc bấy giờ, A Sinh ngồi trong buồng. Anh đang đọc tập


truyện tranh cho con nghe. Tuy vậy, câu chuyện giữa mấy


người già ở nhà ngoài không lọt qua tai anh. Vẫn về dòng


điện. Ánh sáng và bóng tối đang tranh chấp bản Lù Chải


như lúc tinh mơ. Đây là một dịp để mình đóng góp thiết


thực cho bản làng! Anh thầm nhủ. Song anh không khỏi e


ngại, liệu người già có cho mình là cái cây mà lại muốn che


cả rừng không? Anh cân nhắc rồi đi ra. Sau khi chào hỏi, anh


xin đám người già có mặt lúc ấy, cho anh được nói lời của


mình. Thấy có người muốn nói thay mình, ông trưởng họ


Ma tỏ vẻ mừng rỡ:


- Anh A Sinh nói cái lý của Đảng, của Chính phủ cho


chúng tôi nghe. Anh làm công nhân, chắc anh hiểu việc này


hơn dân bản.


Được lời ông hố pẩu, ông A Sáng liền động viên con:


- Phải đấy, con nói cho người già nghe đi. Về việc đưa


điện về bản, nên hay không nên, con nói rõ ra.


A Sinh nói bằng một giọng lễ độ:


- Người già đã cho phép, cháu xin nói ngay là điện sẽ


đem lại nhiều lợi ích cho đời sống bản làng. Muốn thắp ngọn


đèn dầu, ta thường phải rót dầu, lau bóng, sửa bấc, châm


lửa… làm nhiều việc mới có ánh đèn. Còn đèn điện, ta chỉ


cần gạt nhẹ cái nút là sáng. Muốn tắt, ta gạt nhẹ cái nút trở


lại là đèn tắt. Người già, trẻ em đều làm được. Lúc mưa gió,


dông bão, trong khi đèn dầu chập choạng, rình tắt, đèn điện


vẫn sáng như lúc bình thường. Tối đến, có ngọn đèn điện


trong nhà, việc làm bữa, ăn uống tiếp khách, các mẹ, các chị


xe lanh, guồng lanh, dệt vải, thêu váy áo, các cháu học hành


đều thuận lợi hơn ngọn đèn dầu. Ngoài đường có đèn điện,


việc đi lại trong bản xã, hội họp, học bổ túc, liên hoan văn


nghệ… cũng đều được dễ dàng. Có khó là khó cho thằng


phỉ. Thằng nào chưa chịu cải tạo bụng có muốn mò vào bản


cướp, trộm trâu, ngựa cũng không được. Vì thế, trật tự an


ninh được bảo vệ tốt hơn.


Chợt ông già khắc khổ ngắt lời A Sinh:


- Ta nghe nói, thắp đèn điện tốn lắm đấy. Dân bản phải


thắp đèn dầu thôi.


- Không phải thế đâu, người già à! - A Sinh vội đáp -


Thắp đèn điện chỉ tốn bằng đèn dầu. Có những nơi còn rẻ


hơn đèn dầu nữa kia.


- Thật không, anh A Sinh?


- Cháu cũng là dân bản, cháu không dám nói sai.


Gần như mọi người cùng “Dà!" một tiếng, đoạn nói:


- Thế thì tốt đấy.


Phấn khởi, A Sinh nói tiếp:


- Ngoài việc thắp đèn, ta dùng điện để chạy máy. Cháu


được biết, sau khi có điện, hợp tác xã sẽ mua một cái máy


xay xát. Các xã viên chỉ có việc đem lúa, bắp, đậu tương đến


đấy cho máy làm rồi đem gạo, bột bắp, bột đậu về nấu ăn.


Không phải mất công xay bằng cái cối đá hay giã bằng cái


chày gỗ như trước nữa. Tất cả những việc ấy, cái máy sẽ làm


thay dân bản. Cháu nghĩ, nếu bản ta có được một cái máy


như thế, người Mèo ta, nhất là phụ nữ sẽ được giải phóng


khỏi cái công việc nặng nhọc, mất thời giờ từ bao nhiêu đời


nay đến bây giờ.


- Anh A Sinh à! - Một ông già hỏi xen vào - Các xã viên


có phải nuôi cái máy ấy không? Nuôi nó có tốn tiền không?


- Cái máy ấy do hợp tác xã nuôi. Các xã viên điều khiển


máy hưởng công điểm của hợp tác xã như các xã viên khác.


Bởi vậy, mọi người đem lúa, bắp, đậu đến xay xát đều không


phải mất tiền.


Lại có tiếng người già tán thưởng:


- Dà! Được thế, tốt quá!


A Sinh càng sôi nổi:


- Ta phải tin, có Đảng lãnh đạo, bản Lù Chải cũng như


các bản khác trên vùng cao, không lạc hậu, thiếu thốn mãi


như thế này. Đời sống kinh tế, văn hóa trên miền núi dần


dần sẽ như miền xuôi, tiến tới bằng thị xã Lao Cai. Lúc ấy,


các nhà trong bản sẽ có máy thu thanh, máy vô tuyến truyền


hình, quạt máy, tủ ướp lạnh… như nhiều gia đình ở các


thành phố, thị xã bây giờ để con người mỗi ngày một sướng.


Muốn sử dụng các máy ấy, cũng phải có điện. Điện quyết


định nhiều việc trong sản xuất cũng như trong đời sống


của ta.


Chợt có tiếng xì xào. Và những cái nhìn nghi ngờ. Hình


như người già chưa tin hẳn ở viễn cảnh vô cùng xa lạ mà A


Sinh vừa phác ra. A Sinh cảm thấy thế, giọng anh đanh lại:


- Cháu là công nhân, không quen nói chín phương, tám


hướng. Những điều cháu vừa nói chính là con đường Đảng


đang đưa dân tộc Mèo với các dân tộc anh em trong cả nước


cùng đi. Chỉ sợ người Mèo ta không muốn bước hoặc bước


chậm quá, nếu không, nhất định ta sẽ đi tới nơi. - A Sinh lại


dịu giọng - Thật ra, lợi ích của điện còn nhiều lắm, kể không


hết. Còn cái hại của nó như người già vừa nhắc đến, cháu xin


công nhận là điện có thể gây ra cháy nhà, làm chết người.


Song các tai nạn ấy chỉ xảy ra khi nào ta chủ quan, sơ suất.


Nếu cán bộ, công nhân điện có tinh thần trách nhiệm, mắc


đường dây đúng quy cách, người sử dụng làm theo đúng sự


hướng dẫn, không sơ suất, tùy tiện, chắc chắn không bao giờ


xảy ra tai nạn. Về việc “cái ma” có sợ điện hay không, cháu


xin nói, cháu hoàn toàn không tin là có “cái ma”. Nếu như


“cái ma” có thật như bọn phỉ, buôn lậu mà nó sợ điện giật,


bỏ đi hết càng hay. Người Mèo ta càng vui mừng, hăng hái


xây dựng bản để đời sống chóng được ấm no, hạnh phúc.


Một vấn đề nữa được đặt ra là người Mèo ta, từ trước đến


giờ, chỉ dùng đèn dầu xứ chủ, sau này là dầu tây, không


quen dùng đèn điện. Cháu nghĩ thói quen hay tập quán đều


có cái tốt, cái không tốt. Cái tốt ta nên giữ lại, cái không tốt ta


mạnh dạn bỏ đi. Trước kia, trong nhà người Mèo ta có


những thứ gì, sinh hoạt ra sao, người già biết rõ rồi. Bây giờ


nhà ta có giường rộng, chăn bông, phích nước, ấm chén. Con


trai con gái nhiều người gài bút máy, đeo đồng hồ, kính râm.


Có người còn đi xe đạp, khoác đài bán dẫn ở vai. Có ai vì thế


mà khổ không? Cháu còn ít tuổi nhưng cháu biết người Mèo


ta bây giờ sướng hơn ngày còn tây đồn, quan châu, buôn lậu,


phỉ, sướng hơn nhiều lắm.


Ông Chín Sàng hỏi như thể đang mê ngủ:


- Thế là sao, anh A Sinh? Cái điện tốt à?


Ông trưởng họ Ma nhăn trán, tỏ ý khó chịu:


- Anh A Sinh đã đem lời hay lời tốt nói rõ cái lý của


Đảng rồi mà.


Mặc dù ông trưởng họ đã đỡ lời, A Sinh vẫn hoan


hỉ đáp:


- Tốt quá rồi, ông Chín Sàng à. Người Mèo ta sống tối


tăm lâu lắm rồi, bây giờ có ánh điện như ánh mặt trời soi


sáng, ta phải đón về thôi.


Không ai nói “cái lý” của mình nữa. Cái lý của Đảng đã


được A Sinh nói rõ quá rồi. Và, đúng như ông trưởng họ Ma


vừa khen ngợi, lời lẽ của anh quả là hay, là tốt. A Sinh quay


vào buồng với con. Bấy giờ ông Mí Cháng mới lẩm bẩm


một mình:


- Cái ma phải sợ cái điện rồi!


*


Bản Lù Chải nhộn nhịp. Nhộn nhịp và náo nức hơn lúc


chuẩn bị dẫn nước về bản. Bởi nước, ai nấy đều biết rồi.


Nước suối Pha Long, dưới dòng sông La Hờ. Nước đọng


trong hốc đá những ngày mưa. Và những đêm sương dầy,


sương thành giọt trên tàu lá. Còn điện, từ khi gia đình người


Mèo đầu tiên cắm nhà ở mặt đất Lù Chải, bản Mèo chưa bao


giờ có. Người già quẩn quanh trên núi cao, quả thật chưa


biết “cái đèn điện” ra sao. Nghe người trẻ nói, nó sáng như


mặt trời. Có những ngày mặt trời ngủ quên không dậy. "Cái


đèn điện" thì có thể thức suốt ngày đêm, con mắt cũng


không buồn ngủ. Nó giỏi hơn mặt trời. Hơn thế nữa, nó còn


làm được nhiều việc kỳ lạ mà mặt trời không làm nổi, - như


A Sinh nói. Cho nên người già cũng như người trẻ đều mong


đợi điện về.


Mấy hôm nay, đoàn viên, thanh niên trong bản đều tất


bật. Chặt cây đem góp. Đục đẽo theo quy cách. Trồng cột để


kéo dây. Mọi việc đều do A Sinh chỉ huy. Anh chạy đi chạy


lại như con thoi. Chiếc mũ lá rộng vành đội sùm sụp trên


đầu, chốc chốc lại rơi xuống đất, lăn theo chiều gió. Mồ hôi


vã ra trên mặt. Mệt mà vui. Niềm vui đã thắp sáng trong đôi


mắt hiền hòa của anh.


Lúc bấy giờ Seo Mỉ đang ngả cây thông trồng ở góc đồi.


Chị vung búa chém mạnh mấy nhát nữa. Cái cây kêu răng


rắc, dần dần đổ xuống. Không to không nhỏ, thẳng ngọn,


đoạn cúi xuống, xốc cái cây lên vai. Từ sáng đến giờ chị đã


chặt hai cây ở chỗ này vác đến nơi quy định. Cây này là cây


thứ ba. Và chị đã mệt. Đi được mươi bước, chị loạng choạng,


mắt đổ hào quang. Vừa dấn thân được mấy bước nữa, thình


lình chị ngã sấp xuống.


A Sinh đến nhà Seo Mỉ để cùng nhau sắp xếp công việc


chiều hôm nay. Bà Thào Xóa chỉ đường cho anh ra chỗ Seo


Mỉ đang hạ cây. Anh đi thẳng ra chỗ ấy. Gần đến nơi, anh


giật mình đứng lại. Seo Mỉ! Seo Mỉ nằm kia, không động


đậy, cây thông đè xuống ngang lưng. Anh chạy lại, hất cái


cây ra một bên, nâng Seo Mỉ dậy. Chị đứng không vững.


Đầu chị vật ra phía sau, hai mắt nhắm nghiền. Một dòng


máu đỏ lẫn bụi đất, từ khóe miệng rỉ ra, ròng xuống cằm. A


Sinh đảo mắt nhìn xung quanh. Góc đồi im vắng. Không có


một ai để cùng anh dìu Seo Mỉ. Anh liền cúi xuống, đỡ Seo


Mỉ lên lưng, quay về nhà bà Thào Xóa. Trong lúc bà run lên,


mặt tái đi, anh chạy một mạch ra trạm y tế xã.


Tin dữ truyền đi như tiếng con chim giàng tông báo hiệu


ở đầu nhà. Nhiều người đổ đến nhà bà Thào Xóa. Seo Mỉ


nằm yên trên giường, mắt vẫn khép lại. Cô y tá lật đật tiêm


thuốc, băng vết đau cho chị.


- Xin người già người trẻ yên tâm. - Cô y tá trấn tĩnh mọi


người - Chị Seo Mỉ bị choáng và bị đau ở môi, không có gì


đáng lo ngại. Cháu tiêm thuốc trợ lực cho chị ấy rồi. Lúc


nữa, chị ấy tỉnh lại thôi.


Quả nhiên, lát sau Seo Mỉ tỉnh lại. Cối đâu? Vừa nãy anh


mới biết tin và vội vã đến đây. Ngượng nghịu, anh đứng ở


góc nhà, lặng nhìn Seo Mỉ. Trông thấy anh, A Dếnh vẫy anh


đến bên giường. Anh ngập ngừng bước lại.


- Anh A Dếnh à! Còn cái cây... em chưa kịp vác đi đâu. -


Seo Mỉ nói qua hơi thở yếu ớt.


Anh bí thư chi bộ bồi hồi xúc động:


- Cô cứ nghỉ ngơi. Cái cây ấy, có người khác lo.


"Người khác" ấy là Cối. Anh toan quay ra, A Sinh đã cản


lại và nói nhỏ:’


- Anh ở đây với chị Seo Mỉ, để tôi vác cho. Cây thông


còn tươi, nặng đấy. Không vác quen, không vác nổi đâu.


Dứt lời, A Sinh đi ra. Cối tần ngần ngó theo. Hình ảnh


người công nhân chân thật, năng nổ len vào, đọng lại tâm trí


anh. Khi mọi người đi ra về, anh còn nán lại. Bằng một giọng


buồn bã, anh nói với Seo Mỉ:


- Việc của em nặng nhọc mà anh lại chưa đỡ đần


em được...


Một nụ cười gượng nở trên cặp môi còn tím bầm:


- Việc của em không nặng nhọc lắm đâu. Dù có nặng,


vẫn chưa bằng cái cối đá đè lên lưng phụ nữ Mèo từ bao đời


nay. Em chỉ mong họ cất được cái nặng ấy.


Nét mặt, giọng nói tỉnh táo của Seo Mỉ khiên Cối vui


lên. Hai người chuyện trò với nhau một lúc lâu. Rồi Cối


đứng dậy:


- Sắp đến giờ dạy rồi, anh phải về trường.


- Anh về đi! - Seo Mỉ trìu mến nói - Anh yên tâm, em


không sao đâu. Chỉ một vài hôm là em lại khỏe thôi.


Cối đã khuất dạng. Cơn buồn ngủ như cánh bướm, đậu


nhẹ xuống mi mắt Seo Mỉ. Trong lúc mơ mơ màng màng, chị


nghe thấy những tiếng động vừa vọng về. Tiếng búa chặt


cây. Tiếng thuổng đào hố. Tiếng bước chân rầm rập. Hình


như tiếng động rộn ràng hơn hôm qua, hôm kia. Hay là tin


dữ của chị đã đem về một tin vui? Nghĩ đến chị chủ nhiệm,


dân bản đang khẩn trương ngả cây, trồng cây, chuẩn bị đón


điện về. Có lẽ thế. Các tiếng động vẳng lại, chập vào giấc


ngủ chập chờn của chị.


(còn tiếp)


Nguồn: Seo Mỉ, Di cảo của cố nhà văn Đỗ Quang Tiến, cuối tập bản thảo có ghi: “Hoàng Liên Sơn, mùa hè 1978”. Hơn hai chục năm sau khi nhà văn qua đời, các con ông mới tìm thấy bản thảo này. Seo Mỉ - 449 trang in khổ 14.5 x 20.5 cm- lần đầu tiên được in thành sách trong bộ Đỗ Quang Tiến – Tác phẩm chọn lọc, 1250 trang, khổ 14.5 x 20.5 cm. NXB Văn học, 2017.


Nhà báo Đỗ Quang Hạnh, con trai nhà văn, gửi www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 28.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
xem thêm »