tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30137703
Những bài báo
26.08.2019
Vũ Ngọc Tiến
Đôi lời về tiểu thuyết đổi mới ở Trung Quốc


Mùa thu năm Kỷ Hợi 2019 có nhiều điều khắc vào tâm khảm của tôi và bao người khác. Đầu tháng 7 ông bạn 4 tốt 16 chữ vàng lộ nguyên hình là lũ lưu manh ăn cướp đã cho tàu Hải dương 8 xâm phạm bãi Tư Chính. Chúng ta kiên quyết đả đảo tập đoàn bành trướng xâm lược Bắc Kinh nhưng cũng đồng thời trên mạng có nhiều bài viết ca ngợi 2 cuốn sách của nhà văn TQ Diêm Liên Khoa vừa dịch và ra mắt bạn đọc VN. Điều này càng khẳng định lời nhà thơ Trần Đăng Khoa trên fb đầu tháng 8, khi anh lên tiếng vạch mặt bọn bồi bút vô liêm sỉ đã bôi nhọ lập trường đúng đắn của anh kịch liệt lên án TQ xâm lấn biển Đông, nhưng vẫn yêu văn minh Trung hoa, văn học TQ. Quan điểm lập trường của Khoa đã được đông đảo bạn bè trên fb ủng hộ, bảo vệ anh đến cùng. Nhân sự kiện trên, tôi post lên bài viết về văn học đổi mới Trung Quốc vốn ấp ủ từ lâu giờ mới có dịp viết ra để bạn bè cùng đọc...


 


ĐÔI LỜI VỀ TIỂU THUYẾT ĐỔI MỚI TRUNG QUỐC


Chúng ta căm ghét tập đoàn bá quyền bành trướng Bắc Kinh xâm lược Việt Nam, nhưng không bài Hoa cực đoan, vẫn yêu văn học Trung Quốc và chúc mừng những thành công trong đổi mới nền văn học nghệ thuật của họ. Công cuộc đổi mới về các mặt ở Trung Quốc thành công hơn ta bởi người cầm chịch đổi mới của họ có tư tưởng: Đặng có thuyết “mèo trắng – mèo đen”, Giang có thuyết “ba đại diện”, Hồ có thuyết “xã hội hài hòa”, Tập có thuyết “giấc mộng Trung Hoa”. Xin không bàn đến sự hay dở, ý đồ bên trong của những học thuyết ấy. Tôi chỉ nghĩ khi ngay từ đầu đổi mới Đặng tuyên bố “Mèo trắng hay mèo đen không quan trọng miễn bắt được chuột” thì thực chất ông ta đã cự tuyệt, bác bỏ không thương tiếc hệ tư tưởng chính thống Maoism, xem nó hổ lốn như cỗ xe tam mã với ba mã phu “Khổng Tử- Mác- Mao” ghìm cương lẫn nhau kìm hãm đất nước trong vòng tăm tối. Bởi thế, trong lĩnh vực văn học họ mở toang cánh cửa sắt cho các nhà văn tự do sáng tác, không sợ hay cấm cản những điều “nhạy cảm”. Ở VN ta thì khác, những người cầm chịch công cuộc đổi mới tầm quốc gia qua các thời kỳ đều không có tư tưởng, chỉ vay mượn chắp vá cách làm từ bên ngoài, đưa ra những giải pháp tình thế vừa làm vừa run nên trong lĩnh vực văn học chúng ta ngay từ đầu đổi mới không có thủ lĩnh thật sự. Một bản đề dẫn của Nguyên Ngọc vừa hé lộ đã bị vùi dập dọn đường cho lũ cơ hội nhảy ra gây mất đoàn kết, cản trở văn học đổi mới. Quản lý nhà nước chỉ nghe lũ cơ hội sàm tấu mà cấm đoán, trù dập chứ đâu có hiểu, thậm chí còn chưa đọc. Vậy ở TQ thì sao? Khi bước vào đổi mới, giới văn chương TQ là một tập thể thống nhất xung quanh thủ lĩnh bên ngoài là nhà văn lão thành Ba Kim làm ngọn cờ đoàn kết, còn thực chất bên trong là nhà phê bình mỹ học Chu Dương. Ông kết án gay gắt cách mạng văn hóa vô sản Trung Quốc và gọi nó là "nền chuyên chính phát xít theo kiểu phong kiến man rợ". Chu Dương lên tiếng đòi xét lại hàng loạt vấn đề. Ông nói: "Vấn đề viết sự thực, vấn đề con đường của chủ nghĩa hiện thực, viết về nhân vật anh hùng và con người trung gian... vốn đều là những vấn đề học thuật hoàn toàn có thể tự do thảo luận. Nếu coi nó là tư tưởng văn nghệ tư sản xét lại rồi hàm hồ phản đối nó là không đúng. Việc phê phán hội nghị Đại Liên năm 1962 và thuyết "con người trung gian" của Triệu Thụ Lý là không phù hợp thực tế, là thoá mạ những nguyên lý mỹ học. Sự thực là sinh mệnh của nghệ thuật, xa rời sự thực thì xin đừng nói đến tính tư tưởng, tính nghệ thuật của tác phẩm". Chu Dương kêu gọi giải phóng tư tưởng cho văn nghệ sĩ và bản thân các văn nghệ sĩ phải tự giải phóng mình. Ông còn nói: "Có mặt sáng sủa thì có mặt đen tối, có ca tụng thì cũng có phê phán vạch trần. Chúng ta chủ trương khuyến khích mọi hình thức cổ - kim, Trung - ngoại, trên trời dưới đất, trước sau hàng nghìn năm, dọc ngang hàng vạn dặm đều cần thu vào tầm mắt và sự chú ý của nhà nghệ thuật, đều có thể thành đối tượng của nghệ thuật". Tôi có thời gian là du học sinh ở Vũ Hán nên thuận lợi hơn người khác trong việc tiếp cận tác phẩm văn học, đón nhận dư luận về nó thông qua bạn đồng môn bên đó.


 


Mở đầu cuộc đổi mới là sự đấu tranh đòi trả lại nhân phẩm và tác phẩm cho những nhà văn, nhà thơ ưu tú của dân tộc. Trên các diễn đàn văn học nghệ thuật, người ta thấy lại những gương mặt nhân dân một thời yêu quý: Tiểu Quân, Hồ Phong, Du Đình Bá, Đinh Linh, Ngãi Thanh, Lưu Thiệu Đường, Chu Dương, Hạ Diễn... Họ tổ chức truy điệu các nhà văn bị bức hại như Triệu Thụ Lý, Lão Xá, Ngô Hàm. Họ in lại "Hải Thụy bãi quan", "Yên Sơn dạ thoại", "Tạ Giao Hoàn", “Lý Tuệ Nương"... Họ còn trịnh trọng tổ chức Quốc tang cho Quách Mạt Nhược (1979) và Mao Thuẫn (1981). Họ tái bản với số lượng lớn kiệt tác "Gia đình" của Ba Kim. Họ đi đón Đinh Linh bị bắt đi lao động suốt 20 năm trở về Bắc Kinh. Rồi lần lượt các tuyển tập thơ của các thi sĩ Điền Gian, Lý Quý, Hạ Kính Chi, Hà Kỳ Phương... được tái bản.


Khoảng 10 năm đầu đổi mới, ở Trung Quốc xuất hiện đồng thời 3 dòng văn học:


 


Thứ nhất là dòng văn học bộc lộ, văn học vết thương với chủ đề là cuộc sống đầy máu và nước mắt trong cách mạng văn hóa và với phong cách biểu hiện mới mẻ đã làm chấn động dư luận một thời. Truyện ngắn “Vết thương” của Lư Tân Hoa và Kịch bản "Trong chốn im lặng" của Tống Phúc Hiền dường như là phát súng mở đầu cho dòng văn học này. Vở kịch ấy vốn lấy từ câu văn của Lỗ Tấn trong lễ truy điệu cô sinh viên biểu tình Lưu Hòa Trân (1934): "Trong chốn im lặng nghe sấm dậy". Vở kịch tập trung nhiều mâu thuẫn giữa hai gia đình có nhiều quan hệ ràng rịt vào một thời điểm gay cấn từ chiều tối đến nửa đêm, kết thúc bằng sự chiến thắng của cái thiện với cái ác, cái giả trá, qua đó lên án gay gắt nhà cầm quyền đã làm ngơ, dung túng cho những hành vi phi nhân tính của lũ nhóc Hồng vệ binh. Có thể nói dòng văn học này phong phú về thể loại, đa dạng về phong cách biểu hiện và rất lớn về số lượng tác phẩm. Đặc biệt thể loại truyện vừa và ngắn của các tác giả trẻ vốn là nạn nhân bị đọa đầy trong cách mạng văn hóa, được xuất hiện nhiều trên báo và tạp chí: "Chủ nhiệm lớp", "Sứ mệnh thiêng liêng", "Cửa sổ", "Quận trưởng của chúng tôi", "Vết thương", "Kiều xưởng trưởng nhậm chức", "Hoa ngọc lao đỏ dưới tường", "Con đường nhỏ trên thảo nguyên", "Giữa người và yêu quái"...


 


Dòng văn học thứ hai là sự phục hoạt chủ nghĩa hiện thực phê phán trước năm 1949 vốn là dòng chủ lưu của văn học Trung Quốc suốt nửa đầu thế kỷ 20 với giọng văn điềm tĩnh, nhiều ẩn dụ sâu cay nay tái hiện với sự cách tân nhẹ nhàng, phảng phất bóng dáng tư tưởng hiện sinh, dưới sự chủ soái của nhà văn lão thành Ba Kim dẫn dắt các nhà văn trung tuổi đã sớm thành danh ngay sau cách mạng văn hóa như Nguyệt Lương Loan với "Hãy trông gia đình ấy", "Hai nàng và hai chàng", Đích Tiểu Thanh với "Sự nghiệp ngọt ngào", "Tiếng còi trên vịnh sáng trăng"... Những mặt trái của kinh tế thị trường, sự kém cỏi trong quản lý kinh tế từ cấp vi mô đến vĩ mô, sự băng hoại đạo đức trong lớp trẻ, đánh mất bản ngã trong lớp trung niên và lớp già... được phơi bày lên án ngày càng nhiều trong truyện ngắn và kịch, điện ảnh. Đôi khi sự giả trá, lừa đảo lại rơi vào những con người vốn dễ dãi hiền lành, trung thực bởi chính cái môi trường xã hội đã xô đẩy anh ta. Điều này thể hiện rất rõ trong vở kịch "Giả sử tôi là thực" của Sa Nguyệt Tân.


 


Dòng văn học thứ ba là tiểu thuyết diễm tình nở rộ tới mức ông Lục Tôn Vỹ, một nhà nghiên cứu người Mỹ gốc Trung đã phải thốt lên: “Vầng sáng tình yêu đang lấp lánh trên văn đàn đại lục" (tạp chí Studies on Chinese Communism - October 1982). Nếu nghiêm cẩn soi xét, tôi nghĩ nó có nhiều nét giống với tiểu thuyết bình dán, tiểu thuyết đen ở Âu – Mỹ xen lẫn cả hoa thơm với cỏ dại, nhưng vẫn được tự do in ấn, bày bán la liệt trong các tiệm sách. Trong những tác phẩm loại này tôi chỉ thích thú vài cuốn như "Bắt tay lần thứ hai", "Bức thư tình công khai", nhưng đọc để giải trí rồi mau quên cả nội dung lẫn tên tác giả. Vở kịch "Khi lá phong rụng" lại là trường hợp đặc biệt, được dựng thành phim, kể chuyện mối tình của một chàng thanh niên và một cô gái thuộc hai nhóm hồng vệ binh đối lập. Họ yêu say đắm và chết bi thảm bên nhau như Romeo và Juliet vậy. Sự trùng hợp ấy không làm tầm thường vở kịch mà ngược lại, nó được các nghệ sĩ nâng lên tầm hiện đại và bất tử, tạo nên những rung động thẩm mỹ sâu sắc. Những cuốn sách nhạt nhẽo, lố bịch như "Tình Lô Sơn", "Tình Thanh Sơn", "Tình Hải Chi", "Tình Ngân Hà", "Tình yêu ơi! Mi tên gì?", "Cánh nhạn và bông hồng trong đêm"... tất nhiên bị công chúng phê phán và lãng quên. Nhà nước để mặc cho công chúng thẩm định, kiểm duyệt cũng tốt.


 


Theo thời gian, với độ lùi đủ để các cây bút xuất hiện và trưởng thành sau cách mạng văn hóa, vươn lên làm chủ cuộc chơi chính là lúc văn học đổi mới ở Trung Quốc đạt tới thời hoàng kim của tiểu thuyết vào nửa thập niên cuối thế 20 vắt sang hai thập niên đầu thế kỷ 21. Giai đoạn này có hai dòng chủ lưu cuốn hút mạnh mẽ công chúng không thua kém nhau, làm nên tầm vóc của sự phục hưng:


 


Dòng chủ lưu văn học hiện sinh là sự tiếp nối của dòng văn học hiện thực phê phán, thấm đẫm tư tưởng hiện sinh trong nội dung, đa dạng về phong cách thể hiện theo văn phong, bút pháp của mỗi nhà văn tiêu biểu. Có thể kể ra: Thiết Ngưng, Dư Hoa, Quỷ Cổ Nữ, Lư Tân Hoa, Giả Bình Ao, Sơn Táp, Khâu Hoa Đông… Tôi đặc biệt thích thú, đánh giá cao cuốn “Tử cấm nữ” của Lư Tân Hoa. Cuốn “Tử cấm nữ” dày 559 trang (bản dịch tiếng Việt, NXB Hội Nhà văn, 2005 và Nxb CAND in lại năm 2009) chỉ xoay quanh những suy tư dằn vặt, bức bí thể xác, khao khát tình dục của một cô gái xinh đẹp, thông minh nhưng mắc phải dị tật ở bộ phận sinh dục không thể làm chuyện đực- cái. Sự phong kín của bộ phận nhạy cảm ấy ngăn cản cô làm một người đàn bà đích thực, chỉ còn cách thủ dâm tự lừa dối mình bằng khoái cảm tình dục không có thật. Càng nhiều đàn ông mê đắm, bám theo mình tán tỉnh, gạ gẫm, cô càng đau khổ, khát khao một lần được làm đàn bà và cô đã thử nhiều lần đều bất thành. Cô cũng đã đi nhiều nơi, ra cả nước ngoài làm đủ mọi loại công việc sang- hèn lấy tiền chữa trị nhưng đều thất bại. Những trang độc thoại nội tâm của nhân vật, dưới bút pháp kỳ tài của Lư Tân Hoa trong tác phẩm khiến người đọc chua xót đến rùng mình ớn lạnh. Lạ thay, khi đọc nó người đọc cứ bị ám ảnh, liên tưởng đến hiện tình đất nước Trung Quốc bao la tươi đẹp giống như cô gái ấy bị kìm hãm mọi ham muốn phát triển. Cả tỷ người của dân tộc Trung Hoa, cũng giống cô gái ấy, bị phong kín bởi hệ tư tưởng thống soái Maoism, không có tự do, không được làm người đúng nghĩa một con người… Tác phẩm quả là một kỳ thư hiếm có. Lý thú còn ở chỗ tác giả chính là chàng trai nhỏ thó, bẽn lẽn năm đầu đổi mới nhận giải thưởng văn học ở Giang Tô với truyện ngắn “Vết thương”, được giới phê bình đặt tên cho dòng văn học vết thương của cả nước, nay đã thành tiểu thuyết gia hiện sinh nổi tiếng. Ở lĩnh vực kịch bản sân khấu xuất hiện khá nhiều vở kịch đậm chất hiện sinh, trong đó không thể bỏ qua vở kịch "Mối tình cay đắng" của Bạch Hoa và Bành Ninh là tác phẩm được đông đảo công chúng hâm mộ. Khi dựng thành phim, nó được công chúng các châu lục đón nhận với niềm xúc động thiêng liêng và sự khâm phục như một "hiện tượng của văn nghệ thế kỷ". Nhân vật chính là Lăng Thẩm Quang, một họa sĩ có tài, vì yêu nước mà bị Quốc dân đảng truy bắt, phải xa lìa Tổ quốc. Ông sang Mỹ và trở thành họa sĩ nổi tiếng, có phòng tranh riêng và rất giàu có. Sau năm 1949, ông đem cả gia quyến về nước để tìm lại bản sắc hội họa cho riêng mình, được sống giữa nhân dân mình với bao khát khao, mơ ước cháy bỏng. Nhưng rồi hết "Tam phản", lại "Ngũ phản", rồi "Trăm hoa" làm ông ngơ ngác hoài nghi. Đến cách mạng văn hóa thì ông bị chụp cái mũ giấy "Hắc bang". Khi được ra tù, ngỡ đất nước đã đổi mới, nhưng ông càng hoài nghi bởi xung quanh mình là những bầy đàn người ngợm đánh mất bản ngã trong môi trường tư bản hoang dã. Dù bị nếm trải trăm cay ngàn đắng nhưng ông vẫn nuôi một hy vọng mong manh, dứt khoát cự tuyệt với con gái và nhà thơ nữ Tạ Thu Sơn, người ông yêu say đắm, khi họ rủ ông trốn ra nước ngoài. Kết thúc vở kịch là cái chết bi thảm của ông trong đêm bão tuyết. Ông vạch một dấu hỏi lớn trên tuyết trắng và cái chấm đen dưới dấu hỏi chính là thi hài co quắp của ông.


 


Dòng chủ lưu thứ hai mới thật thú vị với những tác phẩm bề thế được giới nghiên cứu gọi tên là tiểu thuyết hiện đại mang màu sắc văn hóa Trung Hoa. Theo đó, tác giả vẫn giữ lại cách tự sự cổ điển truyền thống Trung Hoa nhưng chối bỏ vị thế đứng trên bục giảng nói chuyện đạo đức của nhà văn. Người kể chuyện cùng nhân vật của mình chạy ra đường, xông thẳng vào đám đông dị mọ, đói khát tận đáy xã hội để đào bới quá khứ xa xưa hay phơi bày hiện thực đời sống hôm nay, đôi khi chẳng cần một cấu trúc nào hết mà cứ để cho tình tiết, sự kiện du đẩy nhân vật đi vào những các ngõ ngách rối như trận đồ bát quái. Tính phản tư của tiểu thuyết cũng mở rộng chiều kích không gian, thời gian lẫn lộn. Họ phán xét hai lần nội chiến Quốc- Cộng trước và sau năm 1945 chỉ là sự tranh bá đồ vương của thủ lĩnh, còn thân phận dân chúng mù quáng đi theo những tín điều lừa mị, bánh vẽ hay tập quán bầy đàn thời nguyên thủy. Họ diễu nhại mô hình thiết chế xã hội từ cấp vĩ mô xuống đến cấp vi mô làng xã hay diễu nhại tập tính vụ lợi của con người vô tình chỉ vì miếng ăn sinh tồn mà làm ra những sự việc hãi hùng. Có thể nêu ra các tên tuổi lớn có sức hút dẫn dụ người khác đi theo dòng chủ lưu này như Mạc Ngôn với “Báu vật của đời”, “Đàn hương hình”, Lưu Chấn Vân với “Hoa vàng cố hương” “Đời là như thế”, Diêm Liên Khoa với “Đinh Trang mộng”, “Tứ thư”… Nhìn chung các tác giả, tác phẩm trong giai đoạn hai của cuộc đổi mới văn học ở Trung Quốc đa phần đều đã được giới thiệu và chuyển ngữ phổ biến rộng rãi tại Việt Nam nên tôi chỉ lướt qua, nhường bạn đọc tìm kiếm tham khảo thêm tại các tiệm sách hay thư viện, chắc chắn sẽ còn nhiều điều hay và mới lạ mà tôi chưa biết, chưa nhìn thấy hết.


 


Phương ngôn có câu “Trông người lại ngẫm đến ta”. Nhìn lại thành tựu đáng nể của tiểu thuyết Trung Quốc những năm đổi mới, tôi cứ phân vân tự hỏi vì sao họ thành công hơn Việt Nam? Tiểu thuyết đổi mới ở VN là chủ đề được nhiều người bàn xét, tổng kết nên tôi chỉ dám nói qua vài ý cô đọng như một điều tự vấn. Thật ra, đổi mới trong văn xuôi với nghĩa là xuất hiện dòng văn học viết về thân phận con người đã có từ rất sớm. Đó là truyện ngắn “Chiếc guốc xinh xinh” của Thủy Thủ (1968 in trên Văn nghệ giải phóng), “Câu chuyện theo vòng xoáy trôn ốc” của Phan Lạc Tuyên (1970, bản thảo không được in của một sĩ quan VNCH phản chiến, được điều ra HN làm tùy viên ĐSQ của Chính phủ trung lập lâm thời miền Nam VN. Đám học sinh, sinh viên chúng tôi ở HN chép tay rồi truyền cho nhau đọc, tấm tắc khen còn hay hơn cả “Số phận một con người” của Solokhov bên Nga). Hồi đó các truyện ngắn ấy bị phê phán, coi là có tư tưởng xét lại. Sự thực hai truyện hiện sinh rất cuốn hút này đều viết theo phong cách độc thoại nội tâm vô cùng hấp dẫn, ám ảnh người đọc, chẳng có gì nhạy cảm sao lại bị kiểm duyệt (?!)


Cũng giống như ở TQ, văn học đổi mới chỉ VN thật sự bắt đầu bằng truyện ngắn “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” (1982) của Nguyễn Minh Châu viết về thân phận con người ở khía cạnh không hạnh phúc và hàng loạt các kịch bản nổi tiếng của Lưu Quang Vũ sau đó. Nhìn lại những tác phẩm đình đám một thời trong hơn 30 năm đổi mới, tôi thấy nó chưa có được không khí sôi động, những dòng văn học theo các trường phái cách tân đủ mạnh để mở đường dẫn dụ bạn nghề và các cây bút trẻ đi theo như ở TQ. “Cù lao Tràm” và “Đứng trước biển” của Nguyễn Mạnh Tuấn chỉ là hai tác phẩm có tính cấp tiến mang ý thức chính trị - xã hội hơn là giá trị văn học, thua nhiều mặt so với “Ngoại tình”, “Phần hồn” của chính anh sau này. Về khuynh hướng hiện sinh, tôi cho rằng với hai tiểu thuyết “Thời xa vắng” của Lê Lựu và “Đám cưới không có giấy giá thú” của Ma Văn Kháng, tiểu thuyết ở ta mới thật sự đổi mới về nội dung, gần gũi với văn học hiện sinh. Mặc dù hai tác giả này không nhận mình theo chủ nghĩa hiện sinh, nhưng cái điều hai ông viết về thân phận anh nông dân Sài và anh giáo Tự đã có sự phảng phất bóng dáng Hiện sinh rồi. Tiếp theo là những cuốn “Bên kia bờ ảo vọng” của Dương Thu Hương, “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường, “Người đàn bà buồn” của Nguyễn Phan Hách, “Bến không chồng” của Dương Hướng, “I’am đàn bà” của Y Ban, “Thời của thánh thần” của Hoàng Minh Tường, “Nhân gian” của Thùy Dương… cũng theo hướng này. Một số truyện ngắn đậm chất hiện sinh của Nguyễn Huy Thiệp lúc đầu gây bão trên văn đàn, nhưng rồi chính tác giả sau đó cũng tự rời xa nó và khi thử nghiệm viết tiểu thuyết thì thất bại. Phạn Thị Hoài sau “Thiên sứ” là tác phẩm vừa thoang thoảng chất hiện sinh vừa kết hợp sử dụng yếu tố hiện thực kỳ ảo, hậu hiện đại vào trong tiểu thuyết, nhưng lâu rồi, không hiểu sao tác giả sau khi định cư ở Đức lại không thấy tác phẩm nào như thế nữa? Tôi có ấn tượng mạnh với “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư, hy vọng tác giả trẻ này sẽ khơi lại dòng văn học hiện sinh đậm chất Nam Bộ, nhưng đợi mà chưa thấy. Tóm lại, tiểu thuyết hiện sinh trong văn học đổi mới của VN chưa đủ độ đậm hiện sinh về nội dung, bút pháp cách tân còn rụt rè, lực lượng trồi sụt chưa đủ kết thành một dòng chủ lưu hiện sinh như ở TQ nên cũng chưa có được tiểu thuyết độc sáng như “Tử cấm nữ” của Lư Tân Hoa (TQ) trong giai đoạn hai văn học đổi mới của họ chăng?


 


Một khuynh hướng sáng tác khác cũng xuất hiện ngay từ đầu đổi mới là cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh có nhiều đổi mới cả về văn phong, kết cấu theo trào lưu tiểu thuyết hiện đại phương Tây khiến tôi hy vọng, nhưng chính Bảo Ninh không hiểu vì sao cũng không kiên trì theo đuổi tới cùng! Dẫu sao thì cho đến tận bây giờ tôi chưa thấy ai thành công trong bút pháp hiện đại như Bảo Ninh trong “Nỗi buồn chiến tranh”. Sau Bảo Ninh, Nguyễn Việt Hà cũng khá thành công với “Cơ hội của chúa”, còn Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái dường như lại quá đam mê bứt phá cách tân về cấu trúc truyện hiện đại hoặc hậu hiện đại mà coi nhẹ công năng khó phủ nhận của bút pháp cổ điển nên đọc văn họ tôi chỉ thấy lạ mà chưa thật cuốn hút. Cũng như vậy, 3 cuốn tiểu thuyết gần đây của cây bút hải ngoại Thuận mới chỉ dừng ở cái ngưỡng một giọng văn lạ mà thôi, giá trị văn chương của nó tới mức nào thì có lẽ còn phải bàn thêm. Vậy là khuynh hướng cách tân mạnh mẽ trong tiểu thuyết ngỡ sẽ cho độc giả nhiều hy vọng nhất cũng chưa đủ mạnh và hoàn thiện để hình thành dòng tiểu thuyết hiện đại thứ hai như của TQ, càng không có độc sáng như “Báu vật của đời” của Mạc Ngôn, “Đinh Trang mộng” của Diêm Liên Khoa, vẫn giậm chân quá lâu ở bước thử nghiệm mà thôi.


 


Có lẽ tại thời điểm hiện tại, Nguyễn Xuân Khánh với 3 tác phẩm có tầm vóc “Hồ Quý Ly”, “Mẫu thượng ngàn”, “Ngõ nghèo” (hay “Trư cuồng”) xứng đáng là tiểu thuyết gia hàng đầu của văn học đổi mới ở VN. Ở ông, có sự hòa trộn giữa cổ điển và hiện đại lấy chủ nghĩa nhân văn cổ điển làm nền tảng, trên đó kết hợp với những yếu tố hiện sinh về nội dung và yếu tố hiện đại về bút pháp nên nó gần gũi với cá tính thẩm mỹ của người phương Đông, dễ lôi cuốn bạn đoc. Tư duy nghệ thuật tiểu thuyết của ông rất đáng trân trọng, có thể đại diện cho một văn phái tiểu thuyết. Tôi tạm xếp Tạ Duy Anh với “Thiên thần sám hối” và đặc biệt Nguyễn Nhật Tuấn với “Đi về nơi hoang dã” (xuất hiện cùng thời với “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh) vào trong nhóm này và hy vọng với ba tên tuổi có tầm tiểu thuyết gia khai sáng này có văn phong rất khác nhau, nhưng cùng một lối tư duy cách tân tiểu thuyết, rồi đây sẽ hình thành dòng văn học đổi mới đủ mạnh. Tiếc rằng Nguyễn Nhật Tuấn đã rời cõi tạm, dẫu sao tính phản tư sâu sắc có tầm triết học trong tiểu thuyết của ông sẽ dẫn dụ nhiều cây bút trẻ. Ngoài ra, gần đây khi đọc “Kiến, Chuột và Ruồi” của Nguyễn Quang Lập, “Luận ngữ tân thư” và một số truyện ngắn của Phạm Lưu Vũ, tôi cũng lờ mờ nhận ra tính phản tư triết học sâu sắc và những cách tân khá độc đáo trong bút pháp thể hiện mà vẫn giữ được nét truyền thống phương Đông, hồn cốt của riêng mình, hứa hẹn sự phát triển của nhóm này. Tuy nhiên một dòng tiểu thuyết như vậy vẫn chưa đủ. Bạn đọc cần thêm hai nhóm tiểu thuyết mang tính hiện sinh và nhóm tiểu thuyết cách tân mạnh mẽ theo tiểu thuyết hiện đại phương Tây như đã nói ở trên cũng sẽ lớn mạnh để hình thành 3 dòng chủ lưu tiểu thuyết đổi mới của VN. Mong là như thế…


Hà Nội, mùa thu năm 2019


VNT


Vũ Ngọc Tiến facebook 25-8-2019. Bài chưa biên tập.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiểu thuyết "Cõi mê" của nhà văn Triệu Xuân làm xôn xao dư luận! - Thanh Chung 13.11.2019
Khi người Anh Hùng lên tiếng - Phạm Thành Hưng 12.11.2019
Nhớ thời học Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội - Triệu Xuân 11.11.2019
Chuyện cuối tuần: Chính trị, như gai nhọn dưới chân trần - Tư liệu 08.11.2019
Trung Quốc: Chiến lược trở thành cường quốc biển - Nguyễn Hải Hoành 08.11.2019
Cát: Vũ khí bí mật của Trung Quốc tại Biển Đông - Vince Beiser 08.11.2019
Hành trình xuyên Việt đi tìm báu vật địa phương của Đỗ Quang Tuấn Hoàng - Tư liệu 08.11.2019
Lại “Mời đọc chơi” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Tản mạn về J.J. Rousseau: Cái gì của Trời thì tốt - Phạm Đình Lân 07.11.2019
Nhà văn Triệu Xuân: Ăn mặc, đi đứng, nói năng quyện vào nhau mới thành mốt - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 03.11.2019
xem thêm »