tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30145561
Những bài báo
23.08.2019
Mai Thanh Hải
Giảng đường trên mây


Từ nhà trường ra chiến trường


Theo đại tá Phạm Văn Đông, phải gọi Trường Sĩ quan không quân bằng cái tên Giảng đường trên mây, như bộ phim của đạo diễn Đào Thanh Hưng và Giám đốc sản xuất Từ Phương Thảo vừa công chiếu...


 Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trường Huấn luyện hàng không (nay là Trường Sĩ quan không quân) tại sân bay Cát Bi (TP.Hải Phòng) ngày 10.3.1961. Ảnh: Tư liệu


Đại tá Phạm Văn Đông, nguyên Phó chính ủy Trường Sĩ quan không quân, một trong số ít những người dành trọn cuộc đời quân ngũ với nhà trường, trong vai trò giảng viên bay bảo: “Phải gọi trường bằng cái tên Giảng đường trên mây, như bộ phim của đạo diễn Đào Thanh Hưng và Giám đốc sản xuất Từ Phương Thảo vừa công chiếu, mới rõ về ngôi trường đặc biệt này”.


Huấn luyện trên... bể nước


Theo tài liệu của Quân chủng Phòng không - Không quân (QCPK-KQ), ngày 20.8.1959, trung tướng Nguyễn Văn Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng ký Nghị định số 427/NĐ thành lập Trường Huấn luyện hàng không (nay là Trường Sĩ quan không quân) với phiên hiệu Trung đoàn 910. Nhiệm vụ của nhà trường là huấn luyện phi công sơ cấp trong nước để rút ngắn thời gian đào tạo ở nước ngoài, tạo cơ sở để huấn luyện người lái trong nước.


“Những ngày đầu, trường đóng quân ở sân bay Cát Bi (TP.Hải Phòng) và huấn luyện bay trên máy bay vận tải Li-2, huấn luyện sơ cấp Trener, Aero 45, Yak-18 và IL-14, An-2 do Trung Quốc, Tiệp Khắc viện trợ và đưa chuyên gia sang giúp đỡ kèm cặp”, ông Mai Xuân Thái, nguyên giáo viên nhà trường những ngày đầu thành lập, kể lại và hồi tưởng: “Đầu năm 1960, chúng ta đã cơ bản làm chủ máy bay huấn luyện. Ngày 19.5.1960, Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc được tổ chức tại tỉnh Nghệ An. Yêu cầu của trên là phi công ta phải điều khiển máy bay thể thao Trener biểu diễn trên bầu trời TP.Vinh. Tuy nhiên, loại máy bay này không có thiết bị liên lạc - dẫn đường nên rất khó khăn cho việc chỉ huy bay. Thực hiện yêu cầu này, tổ đặc chủng của nhà trường do xưởng trưởng Huỳnh Ngọc Ẩn chỉ huy đã nghiên cứu, tháo thiết bị dẫn đường dự trữ của máy bay Yak-18 lắp cho 6 máy bay Trener làm nhiệm vụ biểu diễn. Đề phòng máy bay tắt máy trên không, anh Ẩn vận dụng nguyên tắc hoạt động của Yak-18, đặt một bình... khí nén lên vị trí thích hợp của Trener, có van để phi công điều khiển”.


“Các đại biểu dự đại hội và người dân mấy tỉnh miền Trung hò reo rầm trời khi lần đầu tiên thấy máy bay biểu diễn theo đội hình 6 chiếc. Chúng tôi thì lo thắt ruột, cứ sợ bị làm sao. Khi biết máy bay do phi công ta lái, ai cũng tấm tắc thán phục”, ông Thái kể.


Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm và nói chuyện với cán bộ giáo viên học viên Trường Sĩ quan không quân ngày 20.4.1976


“Những ngày đầu gian khó, ít ai biết xưởng trưởng Huỳnh Ngọc Ẩn đã cải tiến lắp thêm thùng nhiên liệu lên khoang lái sau cho 3 máy bay Yak-18 số hiệu 058, 060, 062 thực hiện nhiệm vụ huấn luyện đường dài. Ngoài ra, cũng xuất hiện các sáng kiến “chỉ có ở VN” được áp dụng cho huấn luyện bay như: xây bệ cao 1 m giúp học viên tập quan sát khi kéo bằng hạ cánh; đưa học viên lên chỗ cao như bể nước, đài chỉ huy để làm quen với việc xác định độ cao 6 m; hạ cánh với ga, thay đổi quỹ đạo xuống cho phù hợp với học viên khi chuyển sang lái máy bay vận tải; cải tiến van 2 chiều của cánh tà để thu thả dễ dàng và phù hợp với thời tiết VN”, đại tá Phạm Văn Đông cho biết.


Vừa dạy học vừa chiến đấu


Đại tá Phạm Dưng, nguyên Phó hiệu trưởng Trường Sĩ quan không quân, kể cuối năm 1960, tình hình cách mạng Lào có nhiều diễn biến phức tạp. Theo yêu cầu của Mặt trận Lào yêu nước, một bộ phận quân tình nguyện được cử sang phối hợp chiến đấu với quân đội Pa Thét Lào. Thời điểm này, Liên Xô cử đoàn không quân vận tải gồm 44 máy bay và tổ bay có kinh nghiệm sang VN, lập cầu hàng không nhận hàng viện trợ ở sân bay Gia Lâm, Cát Bi và chuyển tiếp sang Lào. Theo yêu cầu của trên, Trường Huấn luyện hàng không tổ chức 2 tiểu đoàn bay, cùng chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc thực hiện nhiệm vụ. Sau một thời gian phối hợp, ta đảm nhiệm toàn bộ việc vận chuyển. Trong 2 năm (1961 -1962) vừa huấn luyện vừa tham gia chiến đấu ở chiến trường Lào, trường đã tổ chức 1.276 chuyến bay với 600 giờ bay chuyên chở và thả 179 tấn hàng, 1.594 lượt người.


Trong bay chiến đấu ở chiến trường miền Tây, có 4/6 giáo viên An-2 đã nâng cao trình độ kỹ thuật, có khả năng bay cả ngày lẫn đêm trên địa hình rừng núi hiểm trở, có thể hạ cánh ở sân bay nhỏ hẹp (500 x 20 m), thực hiện bay biên đội 3 chiếc thả dù ở độ cao 400 m, điều kiện sân bãi 300 x 300 m... Tiêu biểu trong các tấm gương giáo viên thời kỳ này là Đại đội trưởng An-2, Anh hùng lực lượng vũ trang Phan Như Cẩn. Là giáo viên của Trường Huấn luyện hàng không, ông đã trực tiếp đào tạo 7 tổ bay, 3 chỉ huy bay An-2 và các khoa mục: thả bom ở độ cao thấp, bay đèn gầm vừa đánh rốc két vừa thả bom... Do có nhiều kinh nghiệm bay An-2, đêm 8.3 và đêm 14.6.1966, phi công Phan Như Cẩn đã chỉ huy biên đội An-2 đánh chìm 2 tàu và bắn chìm một tàu biệt kích địch trên vùng biển Thanh Hóa. Ngày 12.11.1968, phi công Phan Như Cẩn chỉ huy biên đội 4 chiếc An-2 bay vào hậu cứ của địch, bí mật đột kích vào trạm radar dẫn đường của Mỹ đặt tại Pa Thí (Lào). Đây là trạm radar lớn, nằm trên núi cao, chuyên dẫn đường cho máy bay Mỹ từ Thái Lan vào đánh phá VN nên được bảo vệ rất nghiêm ngặt. Lợi dụng buổi trưa sương mù vừa tan, biên đội lao xuống oanh tạc, phá hủy hoàn toàn hệ thống vũ khí khí tài. Trên đường về căn cứ, do bay quá thấp giữa các khe núi, 2 máy bay An-2 va vào nhau khiến 2 tổ bay hy sinh, trong đó có phi công Phan Như Cẩn.


Tượng đài anh Giáp


Trung tướng Anh hùng lực lượng vũ trang Phạm Phú Thái (nguyên Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng QCPK-KQ, Chánh thanh tra Bộ Quốc phòng) trong hồi ký của mình, viết rất nhiều đến “số 2” Võ Sĩ Giáp. Anh Giáp sinh năm 1945 ở xã Xuân Viên, H.Nghi Xuân, Hà Tĩnh, là học viên khóa 2 đào tạo Mig-17 của Trường Sĩ quan không quân. Ngày 8.5.1972, biên đội Mig-21 của Phạm Phú Thái - Võ Sĩ Giáp (Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn 371) làm nhiệm vụ yểm trợ và thu hút máy bay F-4 của Mỹ lên hướng Tuyên Quang. Lực lượng chênh lệch, biên đội vừa cơ động vòng tránh tên lửa vừa kiên quyết phản kích, kìm giữ đối phương, tạo điều kiện cho biên đội 4 chiếc Mig-19 của Trung đoàn 925 chiến đấu trên vùng trời Yên Bái.


Máy bay của Võ Sĩ Giáp bị trúng tên lửa Mỹ; sở chỉ huy cho phép nhảy dù. Nhìn xuống dưới có nhiều làng mạc, sợ máy bay sẽ làm thiệt hại cho dân, anh Giáp xin hạ cánh bắt buộc và chọn cánh đồng để lướt xuống. Bất ngờ, phía trước thẳng hướng máy bay lao xuống là một trường học. Học sinh nghe tiếng máy bay chạy ùa ra xem. Phi công Võ Sĩ Giáp cố gắng hết sức điều khiển máy bay tránh trường học. Do động tác mạnh và gấp, máy bay bị vỡ và phi công Võ Sĩ Giáp hy sinh. Năm 2006, đúng 34 năm sau ngày Võ Sĩ Giáp hy sinh, QCPK-KQ và nhân dân xã Thượng Trưng (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) đã xây dựng công trình bia tưởng niệm liệt sĩ, phi công Võ Sĩ Giáp. “Hành động của Võ Sĩ Giáp là quả cảm. Ngày ấy chúng tôi xác định mỗi lần xuất kích như một lần cảm tử nhưng không ai thoái thác, trốn tránh nhiệm vụ”, trung tướng Phạm Phú Thái nói. (còn tiếp)


Từ năm 1965-1975, Trường Huấn luyện hàng không chuyển đến căn cứ huấn luyện mới ở sân bay Tường Vân và sau đó thêm ở sân bay Liễu Châu (Trung Quốc). Trong 10 năm ở nước ngoài, nhà trường đã hoàn thành 4 khóa đào tạo bay sơ cấp với 135 học viên tốt nghiệp; tổ chức 4 khóa đào tạo cơ bản, 5 khóa bổ túc Mig-17 với 132 phi công về nước chiến đấu.


 Người trước dạy người sau


 “Tôi bảo giờ đất nước đã thống nhất, anh phải cùng chúng tôi giữ gìn sự thống nhất đó, không để bọn Polpot giết dân ta. Khi ấy anh ta mới đồng ý về trường giúp… giáo viên làm chủ máy bay chiến lợi phẩm”.


 


 


Tháng 5.1988, đại tướng Lê Đức Anh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thăm và kiểm tra máy bay của Trường SQKQ làm nhiệm vụ trực chiến bảo vệ Trường Sa, tại sân bay Phan Rang. Ảnh:Tư liệu


Ông Lê Công Uẩn, nguyên Trung đoàn trưởng 920 của Trường Sĩ quan không quân, nhớ lại cuộc nói chuyện với người phi công chế độ cũ cuối tháng 5.1975: “Tôi bảo giờ đất nước đã thống nhất, anh phải cùng chúng tôi giữ gìn sự thống nhất đó, không để bọn Polpot giết dân ta. Khi ấy anh ta mới đồng ý về trường giúp… giáo viên làm chủ máy bay chiến lợi phẩm”.


“Cùng giữ gìn thống nhất”


Ngay sau khi chuyển từ Trung Quốc về lại Việt Nam, cuối tháng 10.1975, Bộ Quốc phòng ra quyết định chấn chỉnh Trường Sĩ quan không quân (SQKQ) với 2 trung đoàn 910, 920 tiếp quản sân bay Nha Trang, Cam Ranh và Phan Rang. Ngoài “tài sản” mang vào từ các sân bay phía bắc (42 chiếc Mig-17, L-29; 50 xe đặc chủng, trên 100 tấn khí tài khác), nhà trường còn được giao 117 máy bay chiến lợi phẩm (gọi tắt là “hệ 2”) T-41, U-17, UH-1, A-37, C-37 và yêu cầu “đưa vào làm nhiệm vụ chiến đấu”.


Đại tá Lữ Thông, nguyên Trưởng phòng Quân huấn, Quân chủng Phòng không - Không quân (QCPKKQ), nhớ lại những ngày đầu là giáo viên Trường SQKQ tiếp quản miền Nam: Được giao nhiệm vụ đào tạo, bổ túc phi công sơ cấp, chuyển lên bay UH-1, C-47, Mig-17, đào tạo nhân viên dẫn đường, cơ giới trên không… nhưng việc đầu tiên trường phải làm là thu hồi, bảo vệ vật tư tài sản ở khu vực tiếp quản. Do yêu cầu phát triển nhanh nên đội ngũ thợ kỹ thuật thiếu nghiêm trọng, trường phải sử dụng trên 100 nhân viên chế độ cũ (gọi là tạm tuyển) để đảm bảo máy bay “hệ 2” và dần đưa cán bộ chiến sĩ ta thay thế.


117 máy bay “hệ 2” thu hồi, chỉ khôi phục sửa chữa được 58 chiếc và đưa vào huấn luyện 27 chiếc (3 chiếc A-37, 10 chiếc UH-1, 6 chiếc T-41 và 4 chiếc U-17).


Để lái được máy bay “hệ 2” thì phải có giáo viên dạy bay. Hồi ấy, Trung đoàn trưởng 920 Lê Công Uẩn được nhà trường giao “nhiệm vụ đặc biệt”: Đi tìm phi công của chế độ cũ bay thành thạo, thuyết phục họ về dạy mình. Lọ mọ cả tháng, tình cờ trong chuyến công tác khảo sát các loại máy bay “hệ 2” ở sân bay Cần Thơ, ông Uẩn gặp phi công Nguyễn Văn Nghiêm quê ở ngay TP.Nha Trang, rất thành thạo máy bay T-41 và U-17.


Ban đầu, ông Nghiêm nằng nặc từ chối, nhưng khi nghe kể chuyện quê hương và nhất là lời khẩn khoản: “Giờ đất nước đã thống nhất, anh phải cùng chúng tôi giữ gìn sự thống nhất đó, không để bọn Polpot giết dân ta ngoài biên giới Tây Nam như mấy tháng qua”, ông Nghiêm mới gật đầu. Được cấp trên đồng ý, ông Uẩn lập tức đưa ông Nghiêm về làm giáo viên hướng dẫn bay cho tất cả cán bộ phi công của trường trên máy bay “hệ 2”.


 


Từ tài liệu thu được, giáo viên Lữ Thông soạn các bài lý thuyết bay T-41 và U-17. Phi công Nguyễn Văn Nghiêm, ngay tuần đầu tiên làm việc đã hướng dẫn việc sử dụng thiết bị trên buồng lái và bảo hiểm cho các cán bộ phi công nhà trường bay cất hạ cánh 3 lần và bay 30 phút không vực. Từ ông Nghiêm và các cán bộ ban đầu, trường đã nhân thêm cho các giáo viên khác trên cả 2 loại T-41, U-17.


“Ếch cõng nhái”


Lứa những phi công được đào tạo ở Trường SQKQ sau ngày giải phóng thường nói vậy, khi hồi tưởng lại quá trình học tập hơn 40 năm về trước. Đại tá Nguyễn Anh Sơn, nguyên Chủ nhiệm bay của Lữ đoàn Không quân 918, QCPKKQ, giải thích: Gọi là “thầy” nhưng có khi chỉ học khóa trước, hơn vài tuổi. Các thầy chủ yếu ngoài Bắc vào hoặc bên nước ngoài về, mới hoàn thành chuyển loại máy bay “hệ 2”, chưa quen với quy luật khí tượng trong miền Nam và nhất là yêu cầu đào tạo gấp, nên mỗi chuyến bay huấn luyện, thực sự là cùng “cầm tay học việc”.


Đại tá Nguyễn Anh Sơn đúng gốc “quân khu Nam Đồng” Hà Nội là khóa học viên bay đầu tiên của Trường SQKQ sau ngày giải phóng (khóa 10, khai giảng ngày 1.10.1975 tại TP.Nha Trang, Khánh Hòa). Do khóa học của đại tá Sơn là chương trình đào tạo phi công trình độ trung cấp chỉ trong thời gian 30 tháng, nên cuối năm 1976, khi mới 18 tuổi, ông đã bước vào bay đơn (bay 1 mình) trên máy bay T-41.


Sau khi đã “thả đơn” được 2 - 3 chuyến, buổi chiều ngày cuối năm 1976, học viên Nguyễn Anh Sơn 18 tuổi bay đơn huấn luyện biên đội cùng máy bay của giáo viên Nguyễn Duy Lê khi đó mới 25 tuổi. Vừa rời đường bay theo thầy thì nhận khẩu lệnh: “Thời tiết xấu đột ngột, đề nghị dừng bay”. Máy bay đã cất cánh, chỉ còn cách bám theo thầy… áng chừng ở khoảng cách gần 2.000 m, mây mù che kín xung quanh. Toát mồ hôi vì không thấy điểm tiêu đường bay, trong khi với khoảng cách - tốc độ hiện tại rất dễ đâm vào Hòn Tre, bất ngờ học viên nhận ra giọng thầy Lê nhẹ nhàng gọi thẳng tên, không theo số hiệu như quy định: “Sơn bình tĩnh, nghe thầy dặn này”…


Khi đã vượt khỏi nguy hiểm trong tích tắc, tìm được điểm chuẩn và hạ cánh xuống sân bay Nha Trang, học viên Nguyễn Anh Sơn ngồi bệt cạnh máy bay nén cảm xúc, đồng thời thầy Nguyễn Duy Lê hạ cánh ngay cạnh, nhảy xuống đến ôm vai: “Em rất dũng cảm xử lý tình huống. Chúc mừng em đã chính thức trở thành phi công”. “Những người thầy như người bạn, người anh, thậm chí là người mẹ. Có vậy chúng tôi mới trưởng thành”, đại tá Nguyễn Anh Sơn khẳng định, khi kể về thầy mình: đại tá Nguyễn Duy Lê, nguyên Trưởng phòng An toàn bay QCPKKQ, năm nay 69 tuổi, đang ở Hội An.


Ở Trường SQKQ, những người thầy truyền thụ bản lĩnh, lòng dũng cảm và sau đó mới là kỹ năng điều khiển cho học viên, đại tá Phạm Văn Đông, nguyên Phó chính ủy Trường SQKQ, khái quát với tôi và bảo: Khẩu hiệu “Từ nhà trường ra chiến trường” đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Đất nước thống nhất từ 1975, nhưng trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia, bảo vệ biên giới phía bắc, bảo vệ Trường Sa… lực lượng giáo viên bay đồng thời là phi công phản lực, vận tải, trực thăng luôn sẵn sàng tham gia chiến đấu và đã tham gia nhiều nhiệm vụ. Đơn cử: Ngay sau ngày 17.2.1979, Trường SQKQ đã tháo gỡ, vận chuyển 8.000 tấn tấm ghi công sự máy bay, hàng nghìn quả bom và hàng trăm tấn đạn phục vụ cho chiến đấu ở biên giới phía bắc…


Tình nghĩa quân dân


Những ngày đầu ở vùng đất mới giải phóng, người dân Nha Trang dần quen với “các chú bộ đội giải phóng” đeo quân hàm cánh én, cứ cuối tuần là từng tốp đứng im trên hè phố ngắm… nhà cao tầng. Không ít người dân ban đầu cười: “Bộ đội miền Bắc không lái được máy bay Mỹ”, nên vào những ngày huấn luyện, đầu sân bay Nha Trang đông nghẹt người xem. Thấy “bộ đội miền Bắc” bay thành thạo, bà con hết thảy thán phục và còn đề nghị vào tận sân bay để… sờ người lái, máy bay khiến nhà trường sau đó phải tổ chức mấy đợt cho nhân dân vào thăm.


Các thế hệ phi công máy bay “hệ 2” của Trường SQKQ vẫn nhớ sự kiện: ngày 15.5.1978, trong khi bay huấn luyện, chiếc máy bay T-41 do giáo viên Đoàn Văn Kiểu và học viên Trần Hữu Phúc bị rơi xuống biển khu vực Hòn Nội (TP.Nha Trang). Hai phi công thoát ra khỏi máy bay, bơi giữa biển. Cha con ông Văn Ba (P.Vĩnh Trường, TP.Nha Trang) đang đánh bắt cá gần đó, thấy máy bay ta gặp nạn đã nhanh chóng chèo thuyền đến cứu hai phi công và đưa vào đất liền an toàn. Ngồi kể chuyện với tôi, ông Ba móm mém: “Hồi ấy thương giải phóng nắng cũng bay mưa cũng bay. Giờ phố xá đông đúc, xe cộ kẹt cứng khách du lịch đến ăn chơi. Lại càng thương bộ đội vẫn bay trên những máy bay ấy”...(còn tiếp)


Từ tháng 10.1980, Trường SQKQ cử đoàn giáo viên phi công sang Tiệp Khắc học chuyển loại máy bay L-39. Tháng 2.1981, cán bộ kỹ thuật của trường phối hợp với chuyên gia Tiệp Khắc trực tiếp lắp ráp 24 máy bay L-39 tại Đà Nẵng. Tháng 4.1981, trường lắp ráp toàn bộ 24 chiếc L-39 được Tiệp Khắc viện trợ, đưa về sân bay Nha Trang để đảm bảo cho số phi công bay hồi phục sau khi ở Tiệp về.


Ngày 3.6.1981, Trường SQKQ tốt nghiệp khóa 1A đào tạo cơ bản phi công phản lực đầu tiên trong nước. VN là nước đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á tự tổ chức đào tạo được phi công chiến đấu trên loại máy bay siêu âm phản lực.


MTH.


thanhnien.vn 08:13 – 20 & 21/08/2019.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiểu thuyết "Cõi mê" của nhà văn Triệu Xuân làm xôn xao dư luận! - Thanh Chung 13.11.2019
Khi người Anh Hùng lên tiếng - Phạm Thành Hưng 12.11.2019
Nhớ thời học Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội - Triệu Xuân 11.11.2019
Chuyện cuối tuần: Chính trị, như gai nhọn dưới chân trần - Tư liệu 08.11.2019
Trung Quốc: Chiến lược trở thành cường quốc biển - Nguyễn Hải Hoành 08.11.2019
Cát: Vũ khí bí mật của Trung Quốc tại Biển Đông - Vince Beiser 08.11.2019
Hành trình xuyên Việt đi tìm báu vật địa phương của Đỗ Quang Tuấn Hoàng - Tư liệu 08.11.2019
Lại “Mời đọc chơi” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Tản mạn về J.J. Rousseau: Cái gì của Trời thì tốt - Phạm Đình Lân 07.11.2019
Nhà văn Triệu Xuân: Ăn mặc, đi đứng, nói năng quyện vào nhau mới thành mốt - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 03.11.2019
xem thêm »