tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30247816
Thơ
19.08.2019
Joseph Rudyard Kipling
Thơ mộ chí của chiến tranh (Epitaphs of the War)

 


Bình đẳng


(Equality of sacrifice)


 


A- Xưa tôi giàu. B- Còn tôi xưa nghèo lắm


(Cùng nhau)- “Sao anh được trao tôi không được nhận?”


 


Người đầy tớ


(A Servant)


 


Chúng tôi đã cùng nhau từ đầu cuộc chiến tranh


Ông đã phục vụ tôi – không có người tốt hơn.


 


Con trai


(A Son)


 


Con trai tôi bị giết vì một câu đùa nào đó


Giá mà tôi biết được câu đùa đó là gì


Thì dù chỉ phút giây cũng làm tôi khuây khỏa


Giữa thời buổi này đùa cợt thật hiếm khi.


 


Đứa con trai duy nhất


(An Only Son)


 


Tôi không hề chém giết một ai. Chỉ mẹ tôi


Chết vì đau khổ cho tôi vẫn cầu phước cho kẻ giết người.


 


Ngôi mộ gần Cairo


(A Grave Near Cairo)


 


Hỡi thần sông Nin, một người lính cứng đầu đang nghỉ ở đây


Hãy để cho hắn đi! Hắn không biết gì xấu hổ hay sợ hãi.


 


Tân binh


(The beginner)


 


Trong giờ đầu tiên của ngày đầu tiên


Vừa nhô lên thì tôi liền bị giết.


(Giống như trẻ con ở trong nhà hát


Thích nhô cao để nhìn được tốt hơn).


 


Người lính gác ngủ gục


(The Sleepy Sentinel)


 


Tôi là người lính gác. Giờ tôi không còn đứng gác.


Tôi bị giết vì ngủ gục. Giờ như người chết ngủ yên.


Xin đừng trách cứ rằng giờ bục gác chẳng ai trông


Tôi ngủ vì tôi bị giết. Tôi bị giết vì tôi ngủ gục.


 


Số phận chung


(Common Form)


 


Nếu ai hỏi vì sao ta bị chết


Trả lời họ rằng cha ta nói phét.


 


Nhà chính trị đã chết


(A Dead Statesman)


 


Tôi không biết đào đất, tôi không dám cướp


Nên cả đời nói dối để thu phục đám đông


Giờ người ta hiểu là không có gì đúng hết


Và tôi gặp những kẻ mà tôi đã lừa, đã giết


Tôi hỏi những người trẻ giận dữ câu hỏi rằng


Liệu rồi người ta có đấm tôi vào giữa mặt?


 


Chỉ huy tàu hộ vệ


(Convoy Escort)


 


Tôi từng là người chăn những kẻ ngu đần


Can đảm hay hèn nhát thì cũng là vô nghĩa.


Nhưng họ đã không nghe lời tôi sau đó


Tuy nhiên, họ thoát được. Còn tôi thì không.


 


VỀ JOSHEP RUDYARD KIPLING


Lá cờ hiệu mà Nelson giương lên trước trận Trafalgar không viết: “England expects


that every man will be a hero” (Nước Anh kỳ vọng mỗi người lính sẽ là một anh hùng).


Mà viết: “England expects that every man will do his duty”


(Nước Anh hy vọng mỗi người lính sẽ làm tròn nghĩa vụ của mình).


<….> và nó là như thế.


Johan Huizinga. Trong bóng của ngày mai (In de schaduwen van morgen – In the Shadow of Tomorrow, 1935).


 


Năm 1936, Rudyard Kipling được ban cho vinh dự cao nhất sau khi chết của người Anh: ông được chôn cất tại Tu viện Westminster. Nhưng không một nhà văn nổi tiếng nào của nước Anh đi đưa đám ông. Theo cách nói của nhà sử học vĩ đại người Hà Lan về một chuyện khác thì “nó là như thế”: trong đám tang Gulliver, người Lilliput đi đưa cảm thấy bất tiện. Điều này không có nghĩa là những người “không có mặt” – như Herbert George Wells hay Henry Graham Greene chẳng hạn – một trăm lần nhỏ bé hơn Kipling về tài năng. Nhưng nếu nói về thơ – thì có lẽ như vậy. Tu viện Westminster tiếp nhận nhà thơ vĩ đại của nước Anh – có thể là nhà thơ lớn nhất, kể từ năm 1674, khi đôi mắt mù của John Milton khép lại vĩnh viễn.


Không ít người đương thời gắn cho Kipling cái mác thực dân. Nhà thơ Osip Mandenstam năm 1927 viết rằng: “trong tác phẩm của Kipling – nhà văn thực dân Anh – hầu như chỗ nào cũng có thể nhận ra âm hưởng động vật của tầng lớp thống trị”. Nhưng trong nghệ thuật có luật lệ cổ xưa của nó: một phần luôn lớn hơn toàn bộ, bởi vậy Đế chế Anh – mà Kipling và sáng tạo của ông là một phần – chỉ là một đất nước thời Kipling. Vì rằng Joseph Rudyard Kipling tự thân đã là một Đế chế.


 


Khi những Đế chế sụp đổ đã để lại sau mình một nền văn học lớn, mà nếu chúng sụp đổ một cách quá nhanh chóng như Đế chế của Alexander Đại đế hay của Napoleon thì vẫn còn lại những truyền thuyết – ở chỗ khác và ở thời đại khác – lại sinh ra nền văn học lớn. Mà Kipling, người sinh ra trong Đế chế “bên bờ biển, nơi tỉnh lẻ xa xôi” (ở Bombay), không phải là một người theo trường phái hiện thực như Galsworthy, hay hiện đại như T. S. Eliot, – Kipling là nhà thơ Anh cuối cùng của trường phái lãng mạn. Chủ nghĩa lãng mạn là một đặc trưng của Đế chế, đặc biệt là một Đế chế đang tan rã. Không phải ngẫu nhiên mà người đầu tiên trong thế giới Anglo–Saxon bắt tay phục dựng tiếng thơm cho nhà thơ Kipling không phải là một người Anh mà là một “người nhập cư”, nhà thơ Mỹ T. S. Eliot – người đoạt giải Nobel Văn học năm 1948. Khi Kipling còn sống, Eliot thường gọi ông là nhà thơ trẻ nhất của giải Nobel Văn học. Sáu năm sau ngày Kipling mất, T. S. Eliot đã chọn một “Tuyển tập thơ” của Kipling theo cách của mình, ông viết về Kipling: “Một bậc thầy ngôn ngữ, một sự quan tâm lạ thường đối với tất cả, một khả năng quan sát mạnh mẽ bằng trí tuệ và tất cả tình cảm, một trí tưởng tượng rực rỡ <…> tài năng đến mức lo ngại rằng, một khi đã thừa nhận sự hiện diện của nó, chúng ta đã không còn đủ sức để mà nhận biết khi nó không còn – tất cả biến Kipling thành một nhà văn mà không thể nào nhận thức được đến cùng và một tầm cỡ không thể nào hạ thấp được <…>. Tôi xin quả quyết rằng khi nói về thơ của Kipling, chúng ta có quyền gọi chúng là những bài thơ vĩ đại <…>. Tôi có thể nhớ một loạt các nhà thơ đã tạo nên những tác phẩm thi ca vĩ đại, và rất ít người đã viết được những bài thơ vĩ đại. Nếu tôi không nhầm thì vị trí của Kipling ở mục sau này không chỉ đơn giản là xuất chúng mà còn là độc nhất vô nhị”…


 


Tác phẩm của Kipling được dịch ra tiếng Việt chưa nhiều, đặc biệt là thơ thì còn quá ít ỏi. Điều này là vì nhiều lý do. Trong khi chưa có điều kiện dịch và giới thiệu đầy đủ hơn về Kipling, chúng tôi trích dịch bài viết của nhà tư tưởng, nhà văn nổi tiếng, Gilbert Keith Chesterton (1874—1936): Về Rudyard Kipling và chuyện làm cho thế giới nhỏ (On Mr. Rudyard Kipling and Making the World Small). Bài viết này nằm trong tác phẩm Heretics (1905), tuy nhiên trong nhiều trường hợp được in ở những hợp tuyển cũng như đăng tải ở nhiều trang web khác nhau.


 


Về Rudyard Kipling và chuyện làm cho thế giới nhỏ


 


<…> Đây là điều đầu tiên và chính xác nhất có thể nói về Kipling. Ông đã trả về cho chúng ta những vương quốc đã mất của thi ca. Ông không sợ lớp vỏ từ ngữ bên ngoài, biết cách thâm nhập vào bên trong, hướng tới sự lãng mạn của bản chất sự vật. Ông cảm nhận cái ý nghĩa cao xa và triết lý tiếng lóng của cư dân thành phố. Nếu bạn muốn, tiếng lóng là cặn bã của ngôn ngữ. Thế nhưng ông – người như thế không có nhiều – đã nhìn thấy chúng thân thuộc với điều gì, ông hiểu rằng không có lửa làm sao có khói, nói một cách khác – thì những gì bẩn thỉu nhất ở nơi có những gì sạch sẽ nhất. Và nói chung là ông có cái để mà nói, có cái để mà thể hiện, mà điều này luôn có nghĩa là con người này không sợ hãi và sẵn sàng đối mặt với nhiều thứ. Khi chúng ta có được một thế giới quan thì chúng ta sẽ làm chủ được thế giới.


 


Thông điệp của Kipling là ý tưởng yêu thích của ông – điều quan trọng nhất ở trong con người ông, như trong bất kỳ thứ gì khác. Ông thường xuyên viết những câu thơ dở, như Wordsworth. Ông thường nói những điều ngớ ngẩn, như Platon. Ông thường sa vào cuồng loạn chính trị, như Gladstone. Nhưng không thể nghi ngờ một điều rằng ông đã làm việc chăm chỉ và thành thật muốn nói điều gì đó, chỉ một câu hỏi – chính xác đó là điều gì? Có lẽ một cách tốt hơn và trung thực hơn là đi bắt đầu từ cái mà bản thân ông và đối thủ của ông nhấn mạnh – chủ nghĩa quân phiệt. Nhưng nếu bạn muốn hiểu ưu điểm của một con người thì không phải là khôn ngoan khi liên hệ với kẻ thù của anh ta, và hoàn toàn ngớ ngẩn – với anh ta.


 


Tất nhiên, Kipling không đúng khi tôn thờ chủ nghĩa quân phiệt nhưng đối thủ của ông cũng không đúng như vậy. Quân đội không phải là xấu khi biến một số người thành dữ tợn, kiêu căng, hoặc quá hiếu chiến. Mà là xấu khi vì lỗi của nó mà nhiều người trở thành nhút nhát, vâng lời và không nguy hiểm. Người lính chuyên nghiệp càng có nhiều quyền lực thì người dân càng có ít can đảm. Đội Cận vệ Praetorian Guard càng trở nên quan trọng vì Rome đã trở nên suy đồi và yếu hơn. Người lính có được quyền dân sự với mức độ mà người dân thường bị mất tinh thần dũng cảm của lính. La Mã cổ đại xưa đã vậy và chúng ta cũng như thế bây giờ. Chưa bao giờ các dân tộc có tính hiếu chiến như vậy. Chưa bao giờ những người lính tỏ ra hèn nhát như vậy. Mọi thời đại, mọi bài thơ đề cao tinh thần “arma varimque”*, chúng ta biết cách ngay lập tức hạ thấp giá trị đàn ông và hoàn thiện vũ khí một cách không thể tưởng tượng. Chủ nghĩa quân phiệt đã cho thấy sự suy tàn của La Mã và nước Phổ.


 


Kipling chứng minh điều này một cách vô thức và rực rỡ. Nếu bạn đọc ông một cách nghiêm túc và sáng suốt, bạn sẽ thấy rằng việc nhà binh không trở thành quan trọng nhất hay tuyệt vời nhất đối với ông. Ông viết về những người lính không hay bằng viết về những công nhân đường sắt, những thợ xây cầu hay ngay cả về các nhà báo. Vấn đề ở chỗ là quân đội cuốn hút ông không phải bằng lòng can đảm mà là kỷ luật. Thời Trung cổ lòng can đảm có nhiều hơn, khi vua không giữ quân đội nhưng mỗi người làm chủ cung hoặc kiếm. Quân đội bỏ bùa Kipling không phải bằng lòng dũng cảm (hầu như ông không nghĩ về điều này) mà là kỷ luật, là thứ mà ông thường xuyên viết đến. Quân đội hiện tại không có sự can đảm, không có khả năng để có được điều này – vì tất cả hầu như đều rất nhát gan. Thế nhưng quân đội tỏa sáng bằng trật tự, mà điều này là lý tưởng của Kipling. Chủ đề của những cuốn sách của ông không phải là lòng dũng cảm, rất quan trọng trong chiến đấu, mà là sự tuân lệnh và hữu dụng, những đức tính mà cũng đặc biệt quan trọng đối với các kỹ sư, thủy thủ, la và đầu máy hơi nước, bởi vì ông vẫn viết hay nhất về các kỹ sư, thủy thủ, la và đầu máy hơi nước. Thứ thơ ca đích thực, lãng mạn đích thực mà ông mở ra cho chúng ta là lãng mạn của kỷ luật và sự phân công lao động. Ông ca ngợi nghệ thuật đời thường hay hơn nghệ thuật quân sự, và ý tưởng chủ yếu của ông rất quan trọng và đúng: tất cả giống như quân đội, vì tất cả phụ thuộc vào sự tuân lệnh. Hiện không có chỗ cho những kẻ hưởng lạc, không có chỗ cho những kẻ vô trách nhiệm. Mọi con đường đã được mở ra bằng sự tuân lệnh và sau đó. Ta có thể nằm trên võng một cách cẩu thả, nhưng ta nói lời cám ơn rằng người bện võng đã không cẩu thả. Có thể nhảy lên chơi đùa trên con ngựa bập bênh của trẻ em, nhưng ta nói lời cám ơn rằng người thợ mộc đã không đùa mà đã làm rất cẩn thận. Trong những giây phút thăng hoa nhất Kipling kêu gọi chúng ta cúi chào không chỉ người lính đang lau thanh kiếm của mình, mà cả người thợ làm bánh đang nướng bánh mì, hoặc người thợ may đang may quần áo, bởi vì họ cũng như những người lính.


 


Tận tụy với cái nhìn của nghĩa vụ, Kipling, dĩ nhiên là công dân của thế giới. Ông vô tình lấy những ví dụ ở Đế chế Anh nhưng giống ở mọi Đế chế khác, nói chung ở những nước phát triển. Những gì mà ông khâm phục ở quân đội Anh thì còn dễ nhìn thấy hơn ở quân đội Đức, những gì ông muốn ở cảnh sát Anh thì cũng có ở cảnh sát Pháp. Kỷ luật – còn lâu mới là tất cả cuộc sống nhưng nó có mặt ở khắp nơi. Sự ngưỡng mộ nó mang đến cho Kipling trí tuệ dân gian, kinh nghiệm của kẻ lữ hành – là những vẻ đẹp đích thực trong những tác phẩm hay nhất của ông.


 


Ông chỉ còn thiếu, nói một cách dung tục, là lòng yêu nước – ông hoàn toàn không có khả năng dốc toàn bộ cho công việc hay cho xã hội, cho đến ngày cuối cùng, bởi tất cả những gì triệt để – là bi kịch. Ông khâm phục nước Anh nhưng không yêu nó, chúng ta khâm phục là vì cái gì đó thì mới khâm phục, còn yêu thì chỉ đơn giản là yêu thế thôi. Ông khâm phục nước Anh vì nước Anh hùng mạnh, chứ không phải nước Anh – là nước Anh. Tôi không hề có ý xúc phạm ông, mà ông đã từng thừa nhận điều này với vẻ hồn nhiên. Trong một bài thơ, ông viết:


 


Giá như nước Anh yếu đuối


– (mà không phải mạnh mẽ và thực dụng như ông ngỡ) –


Thì tôi đã bỏ nước Anh.


 


Nói cách khác, ông thừa nhận rằng ông ngưỡng mộ tất cả những gì đã cân nhắc – và điều này là đủ để phân biệt ông với người Phi gốc Hà Lan, những người mà ông đả phá. Nói về những người yêu nước thật sự, thí dụ về người Ailen, ông đã khó khăn để giữ được sự tức giận. Người cao thượng và đẹp ông chỉ có thể mô tả những suy nghĩ của một người đã đi khắp nơi, đến nhiều thành phố và đất nước:


 


Để chiêm ngưỡng và để nhìn


Để thấy thế giới này rộng mênh mông.


 


Ông thể hiện một cách tuyệt vời nỗi buồn trong cái ngoái nhìn của một người là công dân của nhiều cộng đồng, nỗi buồn trong cái ngoái nhìn của một người được nhiều phụ nữ yêu mến. Ông là người đào hoa của các dân tộc. Có thể biết rất nhiều phụ nữ, dan díu với họ mà không biết đến tình yêu, có thể biết nhiều xứ sở như Ulysses từng biết mà không biết đến lòng yêu nước.


 


Kipling trong những dòng thơ nổi tiếng đã hỏi rằng những người chỉ biết mỗi nước Anh thì biết gì về nước Anh. Chính xác hơn và khôn ngoan hơn sẽ hỏi: “Những người chỉ biết cả thế giới thì biết gì về nước Anh?”, vì rằng thế giới không bao gồm nước Anh, cũng như thế giới không bao gồm Nhà thờ. Khi ta yêu một cái gì đó chân thành và thực sự thì cả thế giới – nghĩa là tất cả những gì còn lại – sẽ trở thành kẻ thù của ta. Bởi thế mà Kitô hữu thường nói rằng họ ở bên ngoài thế giới, nhưng những kẻ đang yêu thì nói: “Cả thế giới là gì nếu chẳng có em (anh)?”. Theo quan điểm khoa học, tôi hiểu rằng nước Anh ở trong thế giới, trên trần gian, trên trái đất này, ngay cả Kitô hữu, ngay cả những người đang yêu – họ cũng sống trên trái đất này. Nhưng mà họ cảm nhận một chân lý đặc biệt – hễ bạn yêu vào thì thế giới sẽ trở thành kẻ thù của bạn. Kipling, tất nhiên, biết thế giới, ông là một kẻ lữ hành, và ông vốn có sự hẹp hòi cố hữu của tất cả những người tù ở thế gian này. Ông biết nước Anh và như một người Anh có học, ông biết Venice. Ông thường xuyên về thăm Anh, và ông đã ở đó một thời gian dài. Tuy nhiên, ông không thuộc về nước Anh hoặc một nơi chốn nào khác, và bằng chứng – ở chỗ rằng nước Anh là một “nơi chốn” đối với ông. Khi chúng ta đặt nguồn cội ở một nơi nào đó thì “nơi chốn” sẽ biến mất, chúng ta không nhìn thấy nó. Giống như một thân cây, chúng ta thu nhận cuộc sống từ cả Hoàn vũ.


 


Những ai đi khắp thế giới sống trong một thế giới nhỏ hơn rất nhiều so với người nông dân. Người này luôn luôn thở không khí “nơi chốn”. London là một “nơi chốn” nếu so với Chicago, còn Chicago – so với Timbuctoo (Timbuktu). Nhưng Timbuctoo không phải là một “nơi chốn”, nếu như những người sống ở đó, đối với họ – đấy là cả thế giới. Một người trong khoang tàu thủy nhìn thấy nhiều chủng tộc người và nghĩ về những thứ phân chia con người: về ẩm thực, về trang phục, về nghi lễ, về nhẫn châu Phi đeo ở mũi hay nhẫn châu Âu đeo ở tai, về sơn màu xanh của người cổ xưa hay sơn màu đỏ của người Anh hiện tại. Một người trên cánh trồng cải bắp không nhìn thấy gì nhưng người này nghĩ về những thứ thống nhất con người: về nạn đói, về trẻ em, về vẻ đẹp của phụ nữ, về ơn huệ hay sự giận dữ của ông trời.


 


Với tất cả những ưu điểm lớn nhất của mình, Kipling là một kẻ lữ hành, ông không có đủ sự kiên nhẫn cho một thứ gì khác. Không buộc tội một người trung thực nhường ấy, vĩ đại nhường ấy ở chủ nghĩa quốc tế (cosmopolitanis), nhưng dù sao, chính chủ nghĩa quốc tế là điểm yếu nhất của ông. Điểm yếu này được thể hiện một cách tuyệt vời trong những bài thơ hay nhất của ông, nơi mà nhân vật thừa nhận rằng không sợ gì đói, khát, đường dài, chịu đựng thứ gì cũng được, miễn là cuộc sống không ở yên một chỗ. Cảm giác như thế rất nguy hiểm. Một cái gì đó càng không sinh động, càng thiếu sự sống, càng khô khan thì càng dễ dàng thả ra trong gió – thí dụ như hạt bụi, cây cúc gai, viên tham tán ở Nam Phi. Tất cả những gì trĩu quả thì nặng nề, như cây bị đè nặng bởi trái ở vùng bùn lầy sông Nin. Khi ta còn nhởn nhơ và khi ta còn trẻ trung, ta muốn bác bỏ câu tục ngữ: “Đá lăn nhiều thì rêu chẳng bám”**. Ta sẽ hỏi: “Ai cần đến rêu, trừ những bà già lẩm cẩm?”, nhưng theo thời gian ta hiểu ra rằng câu tục ngữ này là chính xác. Hòn đá lăn thì kêu to nhưng nó chết. Rêu lặng lẽ trong im lặng nhưng nó sống.


 


Quả thực, sự thám hiểm và sự mở rộng làm cho thế giới nhỏ bé hơn. Thế giới trở nên nhỏ bé hơn vì tàu thủy chạy bằng hơi nước và điện tín. Nó nhỏ bé hơn vì kính viễn vọng, chỉ trong kính hiển vi nó lớn hơn. Sắp tới đây con người sẽ phân chia ra thành những môn đồ của kính viễn vọng và môn đồ của kính hiển vi. Nhóm người đầu tiên nghiên cứu những thứ to lớn và sống trong thế giới nhỏ hẹp, nhóm người thứ hai nghiên cứu những thứ nhỏ bé và sống trong thế giới rộng lớn. Biết nói gì đây, quả là dễ chịu khi phóng ô-tô vòng quanh trái đất để bán đảo Ả Rập sẽ thấp thoáng qua cơn gió cát, còn Trung Hoa – qua vệt những cánh đồng. Nhưng Ả Rập không phải là cơn gió cát, và Trung Hoa không phải vệt những cánh đồng mà là những nền văn hóa cổ xưa, nơi có những phẩm chất kỳ lạ ẩn giấu như kho báu. Nếu muốn hiểu họ, bạn không cần đi du lịch, không cần nghiên cứu mà cần sự trung thành của trẻ con và sự kiên nhẫn lớn lao của thi sĩ. Chiến thắng những đất nước này, chúng ta sẽ mất họ. Ai đứng trong vườn của mình, nhìn ra cổng sẽ thấy một thế giới diệu kỳ – đấy là người có tầm nhìn rộng. Trí tuệ của người này tạo ra không gian, còn ô-tô sẽ phá hủy nó. Bây giờ như cô giáo trong trường học, người ta nhìn quả đất như quả cầu, như quả bóng không khó để đi vòng quanh. Bởi thế mà người ta sai lầm khủng khiếp khi xét về Cecil Rhodes***.


 


Kẻ thù của ông nói rằng, có thể ông suy nghĩ rộng nhưng ông là người không tốt. Bạn bè thì nói rằng có thể ông là người không tốt, miễn là có suy nghĩ rộng. Chân lý ở chỗ là ông không đặc biệt xấu – ông là một tài năng, đôi khi mong muốn cái tốt – nhưng cái nhìn của ông quả là hẹp hòi. Không có gì là rộng lớn khi đem vẽ bản đồ chỉ với một màu, trẻ em thường làm vậy. Suy nghĩ về những lục địa không khó bằng suy nghĩ về những hòn đá. Sự khó khăn bắt đầu khi chúng ta cố gắng để hiểu những lục địa hoặc đá. Những lời tiên tri của Rhodes về việc liệu người Boer có chống lại, đã chỉ ra cái giá của “những ý tưởng lớn”, khi không phải nói về những lục địa, mà là về một nhóm dân thường. Cái hình ảnh mơ hồ “ánh sáng chung”, hãng thông tấn Reuters cùng với tất cả những Đế chế của nó là tự mình, còn ở phía dưới nó không ảnh hưởng đến. Cuộc sống con người cùng với cây này, cùng với ngôi đền này, mùa thu hoạch này và bài hát này nhìn bằng nụ cười ngạc nhiên làm sao nền văn minh ô-tô thắng lợi lướt qua chốn thâm cốc cùng sơn tuyệt đẹp, vượt qua thời gian, bất chấp không gian, nhìn thấy tất cả và không thấy gì hết trơn, chinh phục tất cả hệ Mặt trời để tìm thấy rằng Mặt trời – thật buồn chán vô cùng, và những hành tinh – là những ngôi sao tỉnh lẻ.


___________


* Arma varimque cano! (ca ngợi vũ khí và người lính!). Virgil. Aeneid, I, 1-7.


** A rolling stone gathers no moss.


*** Cecil John Rhodes (1853-1902) – chính khách người Anh, một trong những người khởi xướng cuộc chiến Boer.


Joseph Rudyard Kipling Nobel Văn học 1907


Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chùm thơ Hồng Nhu - Hồng Nhu 14.11.2019
Chùm thơ Václav Hrabě - Václav Hrabě 07.11.2019
Thu phong từ 秋風詞 - Lý Bạch 01.11.2019
Bạch Đằng Giang Phú - Trương Hán Siêu 28.10.2019
Chùm thơ Trương Hán Siêu - Trương Hán Siêu 28.10.2019
Diễn từ cho cuốn sách dí dỏm/ Đôi giày - Con người - Jan Neruda 25.10.2019
Chùm thơ Jan Skácel - Jan Skácel 25.10.2019
Chùm thơ Fráňa Šrámek - Fráňa Šrámek 25.10.2019
Ngậm ngùi/ Cũng phải nói một lần - Vũ Hữu Định 25.10.2019
Họa/ Gởi chút tình thân/ Thời tiết - Vũ Hữu Định 25.10.2019
xem thêm »