tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29370388
Lý luận phê bình văn học
18.08.2019
Phương Lựu
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến

 


R.Garaudy sinh năm 1913 trong một gia đình công nhân ở Marseille, là tín đồ đạo Cơ Đốc từ bé, nhưng đến năm 20 tuổi đã ra nhập Đảng cộng sản. Từ năm 1953 đến năm 1954 đi nghiên cứu ở Viện Triết, thuộc Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô và ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ khoa học, tiếp theo được phong giáo sư ở Đại học Poitiers. Đặc biệt, R.Garaudy lần lượt được bầu vào Trung ương và Bộ Chính trị từ năm 1956 và đến năm 1959 chủ trì Trung tâm nghiên cứu và học tập chủ nghĩa Marx của Đảng cộng sản Pháp, nhưng đến đầu những năm 70 bị khai trừ với lý do trực tiếp vì đã lên tiếng phản đối Hồng quân Liên Xô can thiệp vào Tiệp Khắc.


 


R.Garaudy đã từng là người mácxít và cộng sản chân thành. Sau này trong lời tựa cuốn Ngày nay có thể trở thành người cộng sản được không (1968), mặc dù còn ở trong Đảng, nhưng đã trải qua bao sóng gió ông vẫn khẳng định: “Niềm sung sướng nhất của đời tôi là đến lúc 55 tuổi vẫn trung thành với sự chọn lựa lúc 20 tuổi”. Tuy nhiên vốn là tín đồ cơ đốc, khi chủ trì Trung tâm nghiên cứu học tập chủ nghĩa Marx, ông đã tổ chức nhiều cuộc đối thoại giữa chủ nghĩa Marx với giáo lý Thiên chúa và cả với chủ nghĩa hiện sinh, mặc dù không phải hoàn toàn không cần thiết và bổ ích, nhưng cũng ít nhiều có phản tác động trở lại đối với bản thân ông. Chính trong lời tựa cuốn sách nói trên, R.Garaudy đã viết: “Nếu trong khi biện luận với chủ nghĩa hiện sinh đã thúc đẩy chúng ta phát triển chủ nghĩa Marx một cách dồi dào không những về mặt lịch sử và xã hội mà cả về nội dung phong phú được bao hàm trên phương diện tính chủ quan của con người, thì trong việc đối thoại với các tín đồ Cơ đốc đã thúc đẩy chúng ta tiến lên một bước dò tìm một phương diện khác: tức là cái mà các tín đồ Cơ đốc gọi là tính siêu nghiệm, còn chúng ta có thể gọi là sự siêu thăng của phép biện chứng. Chủ nghĩa Marx cho rằng con người không giống mà cao hơn kết quả hoặc sự tổng hợp của quá khứ, thể trạng, giai cấp và dân tộc của nó”. Chỉ qua đây cũng không khó thấy yếu tố Cơ đốc giáo và chủ nghĩa hiện sinh ít nhiều vẫn lẩn quất trong hành trình tư tưởng mácxít của R.Garaudy.


 


R.Garaudy có viết tiểu thuyết, nhưng chủ yếu là một nhà lý luận với khối lượng trước tác đồ sộ. Về mặt triết học, chính trị, xã hội có thể kể Khởi nguyên của chủ nghĩa xã hội ở Pháp (1949), Nhận thức luận của chủ nghĩa duy vật (1953), Bàn về tự do (1955), Chủ nghĩa nhân đạo mácxít (1957), Viễn cảnh của con người (1959), Thế nào là đạo đức mácxít (1963), Karl Marx (1964), Chủ nghĩa Marx thế kỷ XX (1966), V.I.Lénine (1968), Ngày nay có thể trở thành người cộng sản được không? (1968), Sự chuyển biến lớn lao của chủ nghĩa xã hội (1968), Kêu gọi đến những người sống (1979), Lời nói của con người (1980), Di chúc triết học của R.Garaudy - Tự truyện thế kỷ XX (1985), Hành trình cô độc trong thế kỷ này của tôi (1989) v.v… Riêng về lý luận phê bình văn nghệ chiếm một tỉ lệ nhỏ hơn nhiều, ngoài một số bài bình luận và tuỳ bút chỉ có thể kể Hành trình của L.Aragon từ chủ nghĩa siêu thực đến thế giới hiện thực (1961), Về một chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến (1963), Chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XX (1968).


 


Riêng công trình Về một chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến (D’un réalisme sans rivages, Plon, Paris 1963. Những chỗ trích dẫn hữu quan ở sau đều dựa vào văn bản này) thì cũng chính trong lời tựa cuốn Ngày nay có thể trở thành người cộng sản được không, R.Garaudy có cho biết là đã “được dịch thành 14 thứ tiếng, và gây ra 14 cuộc tranh luận”. Trong lời tựa cuốn sách, L.Aragon đã nói: “Tôi xem cuốn sách này là một sự kiện lớn”. Tiếp theo trong Diễn từ Mạc Tư Khoa, ông cũng lặp lại như vậy và còn tán dương R.Garaudy là “một trong những nhà mácxít kiệt xuất nhất nước chúng tôi… danh vọng của nhân vật này đã vượt xa hàng ngũ chúng ta… ý nghĩa của nó không chỉ vượt ra ngoài phạm vi nước Pháp, mà cũng vượt ra ngoài phạm vi chủ nghĩa Marx (nhấn mạnh - P.L)”. Nhưng lại nói chỉ có cuốn sách này của R.Garaudy mới “khôi phục lại quan điểm mácxít về nghệ thuật và sáng tạo nghệ thuật”, cho nên “thế tất nó sẽ lay động những hiện tượng đã thành khuôn sáo và đang thoả mãn với hiện trạng”, xứng đáng là “tuyên ngôn về chủ nghĩa hiện thực trong thời đại chúng ta” (Một loại mỹ học bứt khỏi những giáo điều). Trái lại ở Đông Đức, Hung và nhất là Liên Xô thì đã lên tiếng phê phán gay gắt. Tiêu biểu là Viện sĩ B.Xuscốp cho rằng chủ trương kết hợp chủ nghĩa hiện thực với phái suy đồi là một “tư tưởng kỳ quái và vô bổ. Loại tư tưởng này là sản phẩm của một khái niệm xã hội học dung tục (nhấn mạnh - P.L) về tính chất trong mối tương quan giữa nghệ thuật với hiện thực… Nếu chúng ta vận dụng triệt để lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến vào nghệ thuật thì không thể không xem bất cứ tác phẩm nghệ thuật nào cũng đều là hiện thực chủ nghĩa cả…, từ đó sẽ phải thủ tiêu luôn tính tất yếu trong việc nhận thức và khái quát hiện thực của nghệ thuật, cũng là tính tất yếu của nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa chân chính”. (Văn học nước ngoài số 1-1965). ở nước ta ngay giữa năm 1964, nhà thơ Tố Hữu cũng nói: “… Dưới nhãn hiệu chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến…, họ cho rằng không nên cắt xén một chiều nào của hiện thực: một phong cảnh, một khoả thân, một tĩnh vật là hiện thực; nỗi buồn hay sự vui thú, tình yêu hay sự phản kháng cũng đều là hiện thực… Từ lập luận ấy, họ đã bênh vực cho những văn nghệ sĩ suy đồi, vì tác phẩm của những người này là sự có mặt của họ trên đời, ở trong những tác phẩm đó có những tâm trạng, những hiện tượng có thực trong cuộc đời” (Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta với thời đại ta, Văn học, H.1973, tr.367). Ngoài ra còn có ý kiến phê phán của Phạm Như Cương, Hồng Chương, Hoàng Trinh, Hoàng Xuân Nhị v.v…


 


Trở lên, mặc dù có đầy đủ ý kiến của cả hai bên ca ngợi và phê phán, nhưng là điểm lướt qua, chỉ cốt xác nhận rằng Về một chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến quả đúng là một hiện tượng gây tiếng vang không nhỏ thời ấy. Còn bây giờ muốn tự chứng tỏ rất đổi mới trên vấn đề này thì không đơn giản chỉ là khẳng định những gì mà bên này đã từng phủ định, còn “giữ vững định hướng” lại càng không phải đơn giản chỉ là tiếp tục phủ định những gì mà bên kia đã từng khẳng định. Tai mắt là cần, nhưng quan trọng nhất vẫn là cái đầu của chúng ta hôm nay.


 


Riêng tôi, cảm nhận đầu tiên là trái với tham vọng lý thuyết có phần dễ dãi thể hiện ngay trong tiêu đề, nhưng thật ra về nội dung cuốn Về một chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến đuợc viết với cảm hứng chủ đạo là về giá trị trong sáng tác của ba nghệ sĩ lớn phương Tây đầu thế kỷ XX: P.Picasso, F.Kafka, S.J.Perse. Bút lực của R.Garaudy rất dồi dào và nhạy bén, đặc biệt đối với những phẩm chất trong sáng tác của F.Kafka, R.Garaudy đã có một sự nhạy cảm khá sớm. Những điều mà ông nói về F.Kafka trong công trình này chẳng qua là sự mở rộng những ý mà ông đã phát biểu trong Hội thảo về Kafka tổ chức trước đó ở ngoại ô Praha gồm các học giả ở các nước xã hội chủ nghĩa và của các Đảng Cộng sản Pháp và áo tham dự. Dưới đầu đề Kafka với mùa xuân Praha, ông cho rằng: “Toàn bộ tác phẩm của Kafka là một cuộc đấu tranh lâu dài chống đối tha hoá, nhưng cuối cùng vẫn chưa tìm ra lối thoát… Cuộc đấu tranh chống tha hoá không phải kết thúc khi đã nắm chính quyền… Một tác phẩm sinh ra trong lòng một giai cấp suy đồi, trong một thời đại suy đồi, có thể còn mang theo những hạn chế và dấu vết suy đồi, vẫn cứ là một tác phẩm đích thực vĩ đại”. Cách nhìn này vào lúc đó là có tính chất viễn kiến, bởi vì lúc đầu thì chưa, nhưng dần dần đã được chấp nhận. Tất nhiên đánh giá các nghệ sĩ này, R.Garaudy không phải là không có chỗ khiên cưỡng. Thí dụ từ chỗ S.J.Perse vừa là chính khách ngoại giao lâu đời, vừa là nhà thơ nổi tiếng với một thế giới nghệ thuật độc đáo riêng biệt, ông cho rằng đó là điển hình của nhân cách phân đôi. Thật ra hai tư cách trên của S.J.Perse đâu phải “đồng hiện”, mà là xen kẽ nối tiếp nhau theo chiều lịch đại. Trong 5 năm (1916-1921) làm toà đại sứ ở Trung Quốc và 16 năm (1924-1940) làm quan chức cao cấp ở Bộ Ngoại giao ông không hề công bố tác phẩm nào. Và cho dù những tác phẩm viết lúc chưa hoặc đã thôi không làm quan chức ngoại giao mà không có hơi hướng gì về đời sống ngoại giao thì cũng là bình thường, thậm chí là tất yếu. Từ đây mà R.Garaudy rút ra kết luận nhân cách phân đôi của S.R.Perse để minh chứng cho sự tha hoá trong xã hội thì quả là khiên cưỡng. Nhưng điều này không quan trọng lắm, vì ở đây không đặt ra vấn đề thẩm định lại toàn bộ sự đánh giá của R.Garaudy, mà là xem sự đánh giá này toát lên ý nghĩa gì? Như thế trước hết phải xác định lại cho thật sát hợp với đối tượng đánh giá. Bàn về P.Picasso, F.Kafka, S.J.Perse (giải Nobel 1960), không phải R.Garaudy nói đến chủ nghĩa hiện đại với tất cả những hiện tượng phồn tạp nói chung, mà chỉ đề cập đến những tinh hoa của nó mà thôi. Như thế từ đây có thể rút ra 3 kết luận quan trọng về văn học nghệ thuật nửa đầu thế kỷ XX: 1) Bên cạnh chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa thời ấy, chủ nghĩa hiện đại trong thế giới tư bản vẫn có những tinh hoa của nó. 2) Đã là tinh hoa, thì hoàn toàn có thể đặt vấn đề gạn lọc hấp thu. 3) Riêng trường hợp P.Picasso có thể toát lên cái chân lý là một nghệ sĩ lớn khi trở thành một người cộng sản, mácxít vẫn có thể tiếp tục phát huy khuynh hướng nghệ thuật của mình. Đây là những kết luận tối đa có thể được, nhưng không kém phần táo bạo và sẽ rất có ý nghĩa trong bối cảnh đấu tranh phức tạp trên nhiều mặt về tư tưởng văn hoá giữa thế kỷ XX.


 


Có thể là những điều R.Garaudy muốn nói nhất cũng chỉ thế thôi, nhưng rất tiếc ông lại đa mang thêm cái tham vọng lý thuyết mới xem qua thì có vẻ lớn lao mà thật ra là hời hợt dễ dãi. Và đúng như người Pháp thường nói là “Ôm to quá, siết không chặt” đến nỗi ông không trực tiếp chứng minh được quan niệm của mình mà còn đã tự phơi bày ra cái sai lầm và mâu thuẫn ngay trên tiêu đề Về Một chủ nghĩa hiện thực Vô Bờ Bến(!). Diễn đạt như thế có nghĩa là còn nhiều loại chủ nghĩa hiện thực, thậm chí là chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến nữa, ở đây tôi (R.Garaudy) chỉ bàn đến Một Loại mà thôi! Nhưng đã Nhiều Loại, thì ắt rằng phải khác nhau bằng những ranh giới nào đó, nghĩa là có bến bờ cả, làm sao mà vô bờ bến được! Ngay chủ nghĩa hiện đại mà R.Garaudy toan dùng những tinh hoa của nó để mở rộng bến bờ của chủ nghĩa hiện thực, thì chính nó cũng có bến bờ! Vào đầu những năm 60, khi R.Garaudy viết công trình này thì nhiều học giả ở những chân trời khác nhau đều xác nhận là chủ nghĩa hiện đại đã được thay thế dần bằng chủ nghĩa hậu hiện đại rồi.


 


Tiêu đề đã thế, thì chứng minh nội dung lý thuyết bên trong lại càng mâu thuẫn và hời hợt. Mở đầu phần thay lời nói ở sau có tính chất tổng kết về lý thuyết, R.Garaudy viết: “Không có nghệ thuật nào mà không phải là hiện thực chủ nghĩa, tức là không tự quy chiếu đến hiện thực bên ngoài và độc lập đối với nó” (Sđd, tr.243). Câu này mắc một sai lầm cơ bản sẽ nói sau, nhưng cũng thấy được rằng đã là chủ nghĩa hiện thực thì chí ít phải phản ảnh hiện thực. Nhưng đến sau lại nói: “Lấy danh nghĩa chủ nghĩa hiện thực đòi hỏi một tác phẩm phản ảnh toàn bộ hiện thực, miêu tả tiến trình lịch sử một thời đại, một dân tộc, biểu hiện những chuyển biến cơ bản cùng viễn cảnh tương lai của nó, đó là một yêu cầu triết học, chứ không phải về mỹ học” (Sđd, tr.245). ở chỗ này thì nói: “Tự do chân chính của nghệ sĩ là ở chỗ nó không nên phản ánh hoặc đồ giải một cách tiêu cực hiện thực bên ngoài mà nếu không có nó thì vốn cũng đã hoàn toàn xác định rồi… Vấn đề không phải ở thuyết minh thế giới, mà là phải tham gia cải tạo nó” (Sđd, tr.244). Nhưng chỗ khác lại viết: “Một nhà văn có thể cảm nhận, hơn nữa biểu hiện cực kỳ mạnh mẽ phương diện này khác của sự tha hoá, nhưng không thể thấy rõ nguyên nhân và vượt qua được viễn cảnh, vẫn chịu sự ràng buộc của nó, vẫn xứng là nhà văn rất vĩ đại” (Sđd, tr,245) v.v… và v.v…


 


Mâu thuẫn là thế, còn hời hợt là ở chỗ nào? Hóa ra R.Garaudy không hề phân biệt mà lại đồng nhất giữa chủ nghĩa hiện thực với văn học nói chung và với văn học chân chính nói riêng. “Không có nghệ thuật nào mà không phải là hiện thực chủ nghĩa, tức là không tự quy chiếu đến một hiện thực bên ngoài và độc lập đối với nó”. Nhưng đã là một hình thái ý thức, thì bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào cũng được quy chiếu, phản chiếu, phản ảnh như vậy, chứ không cần đến chủ nghĩa hiện thực. Ngay những tác phẩm thoát ly thực tế, vẫn cứ là bóng dáng của một mảnh hiện thực hoặc tâm trạng nào đó trong thế giới bên ngoài. Bởi vì: “Ngay những ảo ảnh trong đầu óc người ta cũng là những việc đã được toàn thiện toàn mỹ hoá, nhất thiết cũng do quá trình sinh hoạt vật chất của những thứ đó mà ra, quá trình này người ta có thể thấy được bằng những kinh nghiệm thuần tuý, quá trình dựa trên những cơ sở vật chất” (Marx Engels về văn học nghệ thuật, Sự thật, H.1958, tr.29). Như thế ở đây cần phân biệt bất kỳ loại văn học nào ít nhiều cũng phản ảnh hiện thực, nhưng phản ảnh có đúng đắn chân thực hay không lại là vấn đề khác. Chỉ có văn học chân chính tiến bộ mới phản ảnh đúng đắn chân thực bản chất hoặc một vài khía cạnh bản chất của hiện thực, đạt đến giá trị nhận thức, mặc dù với những mức độ và hình thức khác nhau.


 


Có lẽ đã nhận thức được cái sai này, cho nên trong bài trả lời cho B.Xuscốp trên Văn học nước ngoài số 5/1965, R.Garaudy đã bổ sung lại là “nghệ thuật chân chính không có loại nào không phải là chủ nghĩa hiện thực” (Bàn về chủ nghĩa hiện thực cùng bến bờ của nó). Nhưng ở đây chỉ bớt cái sai, chứ còn xa với cái đúng. Bởi vì tuy chủ nghĩa hiện thực là văn học chân chính phản ảnh chân thực cuộc sống, nhưng văn học chân chính phản ảnh chân thật cuộc sống, không phải chỉ có chủ nghĩa hiện thực. Tuy ở mức độ và hình thức khác nhau, nhưng chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn đều có tính chân thật của nó. Quy tất cả nghệ thuật chân chính vào chủ nghĩa hiện thực là một thứ xã hội học dung tục, và đã trở thành một kỷ niệm xa xôi ngay thời ấy ở Liên Xô. Nó là kết quả của một lối suy luận giản đơn từ cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm trong triết học vào văn học nghệ thuật. Đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực là tính chân thật trong phản ảnh phải đạt đến mức điển hình về tính cách và hoàn cảnh trong tương quan lẫn nhau. Điều này người ta hay viện dẫn định nghĩa của Engels về chủ nghĩa hiện thực, nhưng thực ra các nhà lý luận và các nhà văn tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực vốn về cơ bản đã phát biểu như vậy: “Nghệ thuật của nhà thơ trong thực tế phải nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ nêu rõ một tính cách với bản chất tự nhiên của nó, đã được hình thành như thế nào trong hoàn cảnh mà nó kinh qua do số phận của chính nó” (Bélinsky). Với đặc trưng như vậy, chủ nghĩa hiện thực quả là có một ưu thế riêng, nhưng nó không thể nào thay thế mọi tinh hoa trong lịch sử văn học. Nhưng đây chỉ là bàn vấn đề trong đối sánh với quan niệm về chủ nghĩa hiện thực của R.Garaudy đã được uốn nắn lại vào năm 1965. Chứ khi ông viết Về một chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến, thì quan niệm của ông mới chỉ dừng lại ở chỗ cho rằng toàn bộ văn học nghệ thuật đều là chủ nghĩa hiện thực như đã tuyên bố rõ ràng trên giấy trắng mực đen. Chỉ có nhận thức dung tục như vậy mới đi đến lập luận khôi hài như sau:


 


“Từ Stendhal và Balzac, Courbet và Répine, Tolstoi và M.Gard, Gorki và Maiakovsky, người ta có thể rút ra những tiêu chuẩn của một chủ nghĩa hiện thực vĩ đại. Và nếu những tác phẩm của F.Kafka, S.J.Perse, P.Picasso không phù hợp với những tiêu chuẩn đó, thì chúng ta phải làm thế nào? Phải loại chúng ra khỏi chủ nghĩa hiện thực cũng là nghệ thuật chăng? Hay là ngược lại phải mở toang và nới rộng định nghĩa về chủ nghĩa hiện thực, phát hiện cho nó những thước đo mới theo ánh sáng của những tác phẩm đặc sắc này của thời đại chúng ta…” (Sđd, tr243, 244).


 


Nếu chấp nhận lối luận chứng này, thì chuyện “vô bờ bến” sẽ đâu còn đến lượt dành cho chủ nghĩa hiện thực? Bởi vì khi thấy xưa kia sáng tác của V.Huygo khác với Racinne, Corneille, Molière, thì người ta cứ mở rộng định nghĩa chủ nghĩa cổ điển, rồi khi thấy sáng tác của H.Balzac lại khác với H.Huygo, lại nới rộng thêm một lần nữa, nếu không thế thì sẽ phải loại trừ Huygo đến Banlzac ra khỏi nghệ thuật! Nhưng nếu làm như vậy thì kết quả là các khái niệm chủ nghĩa hiện thực cũng như chủ nghĩa lãng mạn kết tinh của những trào lưu có những đóng góp lớn lao lịch sử văn học sẽ không bao giờ thấy ánh sáng mặt trời, nói gì đến chuyện có bến hay không bờ nữa? Quả thật, chỉ R.Garaudy quên được những diễn biến thực tế đó trong lịch sử văn học cho rằng trong nghệ thuật chỉ có chủ nghĩa hiện thực thì cho nó vô bờ bến là phải quá rồi.


 


Theo dõi con đường trước tác của R.Garaudy thấy có hiện tượng đứt đoạn hơn 10 năm (1968-1979), chắc là vì vấn đề của sinh mệnh chính trị. Đã đành đây là một thử thách quá nghiệt ngã, nhưng rồi dường như ông cũng đã dần dần phai đi niềm tin ở sự chọn đường lúc đôi mươi, vì thấy ông đã nói đến “hành trình cô độc trong thế kỷ” của mình, và nghe đâu ông còn ngã theo đạo Hồi(?). Nhưng hoạt động lý luận sôi nổi của ông trong suốt 2 thập kỷ từ cuối những năm 40 đến cuối những năm 60 với non vài chục công trình mà chắc chắn còn lưu lại một phần giá trị đến ngày nay, đủ thấy ông đã từng là một nhà lý luận tầm cỡ. Nhưng quả là rất khó nói tư cách này trong lĩnh vực lý luận nghệ thuật. Không phải ngẫu nhiên mà một số từ điển lớn sau này nếu có nhắc đến R.Garaudy thì cũng chỉ với tư cách triết gia mà thôi. Tuy vậy nội dung công trình Về một chủ nghĩa hiện thực vô bến vẫn còn một giá trị nhất định, nhưng chủ yếu ở lĩnh vực phê bình một số tài năng tiêu biểu của chủ nghĩa hiện đại. Trái lại, rõ ràng là khái niệm chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến thì hoàn toàn sai lầm về cả hai mặt lý thuyết và lịch sử. Nó đã để lại di hại trong chủ trương hội tụ giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện đại mãi đến nay, mặc dù vốn từ lâu việc chọn lọc hấp thu tinh hoa của chủ nghĩa hiện đại là cần thiết và bổ ích.


Phương Lựu


Báo Văn nghệ số 12


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sóng lừng – Một tác phẩm tốt (Lật lại Hồ sơ vụ tiểu thuyết Sóng lừng - VN. Mafia bị thu hồi năm 1991) - Xuân Thiều 13.09.2019
“Sóng lừng” – Cuốn tiểu thuyết về Mafia ở Việt Nam - Bùi Quang Huy 13.09.2019
Ở Việt Nam có Mafia không? - Đỗ Ngọc Thạch 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Giấy trắng” của Triệu Xuân - Lê Phú Khải 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Đâu là Lời phán xét cuối cùng” - Trần Bảo Hưng 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết "Cõi mê" của Triệu Xuân - Nguyễn Sĩ Đại 12.09.2019
Cõi mê - Hiện thực sâu sắc, tận cùng nỗi đau, đầy lòng nhân ái - Hoài Anh 12.09.2019
Cuộc sống kinh tế năng động trong “Giấy trắng” - Ngọc Trai 12.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Giấy trắng” của nhà văn Triệu Xuân - Nguyễn Sĩ Đại 12.09.2019
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
xem thêm »