tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29369871
Lý luận phê bình văn học
17.08.2019
Trương Đăng Dung
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka

“Nghệ thuật hiện đại: Cuộc nổi dậy chống lại sự bắt chước hiện thực nhân danh những quy luật tự trị của nghệ thuật”.- M.Kundera


“... Thế kỷ XIX: Thế giới là Tôi. Thế kỷ XX: Tôi không phải là Thế giới” - V. Bela


Tiêu chí giống như thật có từ quan niệm nghệ thuật là sự bắt chước hiện thực của Arixtốt, đã trở thành yêu cầu cơ bản của đời sống nghệ thuật ở châu Âu nửa sau thế kỷ XIX. Những nhà tiểu thuyết hiện thực lớn như Balzac, Stendhal, Flauber, L. Tolstoi đã thực hiện bổn phận đó của nghệ thuật theo đúng hệ thống thẩm mỹ quy ước của chủ nghĩa hiện thực. Nhưng tiêu chí phản ánh hiện thực giống như thật, “với toàn bộ các hình thức của đối tượng” (G.Lucács) đã phải tự điều chỉnh trước sự bừng tỉnh của tinh thần nghệ thuật hiện đại: Khám phá cuộc sống, chống lại sự “lãng quên con người” trong một thế giới đã trở nên bí ẩn và phức tạp! Cùng với M. Proust, Ady Endre, Franz Kafka là nhà văn lớn đầu thế kỷ đã cảm nhận sâu sắc về trạng thái tồn tại của con người hiện đại, và đã thể hiện bản chất của thời đại mình một cách độc đáo, mở ra những khả năng mới cho tiểu thuyết hiện đại. Các tác phẩm của Franz Kafka là sự lý giải những ấn tượng nghiệt ngã về thế giới phi lý, về sự tha hóa của con người trong vòng vây của những thiết chế quyền lực vô hình.


Năm 1844, lần đầu tiên K. Marx nghiên cứ về sự tha hóa, nhưng khái niệm triết học về sự tha hóa đã có ở Hegel. Marx đã chỉ ra rằng con người sẽ xa lạ trong cái thế giới mà chính nó tạo nên; con người xa lạ với con người, nội dung của các mối quan hệ giữa người với người sẽ trở nên mờ nhạt. Trong văn học, Dickens, Đôstôievski là những nhà văn đã cảm nhận được điều mà sau này trở thành ấn tượng thường trực của Franz Kafka: đó là việc thế giới đã trở nên bí ẩn và phức tạp, không thể thấy được. Rồi Swifr và Gogol; nhất là Gogol, người cũng đã cảm nhận thế giới từ phía  trong, đối với ông thế giới không chỉ là cái mắt ông nhìn thấy. Đến Franz Kafka, ông cảm thấy mình đồng thời tồn tại trong hai môi trường. Một môi trường là nơi mà cuộc đời ông trải qua trong những giới hạn của nó, đó là nơi ông làm việc, uống bia, trò chuyện với bạn bè và vui vẻ với phụ nữ... Và một môi trường khác mắt thường không nhìn thấy, nó là ảo ảnh với những bóng người bị tách khỏi thế giới, vật vờ, vô nghĩa. Nhà văn không nghi ngờ sự tồn tại của cái hiện thực độc lập với ý thức, nhưng ông không cho đó là hiện thực thuần nhất. Những gì mà ông quan hệ trong cái thế giới hiện diện đều có hình thù hai mặt. Chúng vừa là chúng lại vừa là cái gì khác đầy bí ẩn và không thể nắm bắt. Mọi đồ vật như cái cặp, chiếc áo vắt trên ghế, hay cái răng duy nhất còn lại trong miệng gã xà ích, trong sự bất biến, chúng độc lập với chính mình, mang thêm ý nghĩa biểu tượng và nói lên một chân lý nào đó trong hình thức huyền thoại. Như là nghệ sĩ, ông thấy mình có nhiệm vụ thể hiện cho được trạng thái cùng tồn tại của cái hiện thực hai bình diện. Trong con mắt của nhà văn, mọi hiện tượng đơn lẻ đều nói về cái chung, phổ quát nào đó. Ông mang lại sự tồn tại có cảm xúc cho cái mà bản chất nó là trừu tượng.


Franz Kafka không phải triết gia, ông là nhà văn, và đó là một điều may mắn cho lịch sử văn học thế giới. Ông không tư duy và viết bằng khái niệm mà thể hiện các trạng thái, các tình huống bằng hình ảnh. Thế giới nghệ thuật của ông là một trong những hiện tượng độc đáo của văn học thế giới thế kỷ XX không phải do những điều nó thể hiện vẻ mặt khái niệm mà do cái nhìn hình ảnh được thực hiện đầy sáng tạo về thế giới. Kafka không có ý định mô tả các mối liên hệ thuộc về tư tưởng. Ông viết trong nhật ký: “Không cần tìm trong tác phẩm của tôi các ý tưởng, tư tưởng và sự tranh luận nào cả, bởi vì những thứ ấy không có trong đó. Nếu có cái gì thì đó là những hình ảnh, luôn luôn chỉ là hình ảnh”. Tuy nhiên, nhà văn nào chẳng tư duy và mô tả bằng hình ảnh, và hình ảnh nào mà chẳng là hình ảnh của một cái gì đó. Những hình ảnh Kafka là hình ảnh của cõi mộng, của những cơn ác mộng có nguồn gốc từ nỗi hoang mang, lo sợ trước thế giới. Điều đó làm nên đặc trưng của thế giới Kafka. Đọc bất kỳ cái gì ông viết, thư từ, nhật ký, hoặc các tác phẩm văn xuôi khác, ta đều cảm thấy không khí căng thẳng đặc trưng mà ta thường gặp trong cơn ác mộng: Con người chạy trốn khỏi nỗi kinh hoàng mà chân thì cứ bám vào đất, càng cựa quậy càng lún sâu xuống hơn. Sự độc đáo của nhà văn nhạy cảm đến mức bệnh hoạn này là ông đã không đưa giấc mơ vào phục vụ nghệ thuật mà ngược lại, theo cách riêng. Kafka đã đưa nghệ thuật của mình “phục vụ” những giấc mơ! Đây là yếu tố đã gây nên những cuộc tranh luận về Kafka và chủ nghĩa hiện thực, nó làm cho giới triết học và mỹ học phải quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề về mối quan hệ giữa giấc mơ và hiện thực, tồn tại và ý thức, cái tôi và không phải cái tôi, chủ thể và khách thể, thời gian và cái chết...


Thực ra, nỗi lo âu và sự tha hóa là những hiện tượng đi cùng với nhau, cùng tăng lên hoặc giảm đi trong quá trình lịch sử nhân loại. Về phương diện này có thể nói lịch sử nỗi lo âu của con người là đặc trưng của lịch sử nhân loại. Xã hội phát triển đồng thời với việc phát sinh những nỗi lo âu mới, và bên cạnh nỗi lo sợ có nguồn gốc tự nhiên đã xuất hiện nỗi lo sợ có nguồn gốc xã hội mà nên tảng của nó là sự tha hóa giữa người với người. Như vậy, bên cạnh nỗi lo sợ Thượng đế đã xuất hiện nỗi lo sợ con người! Vấn đề này gắn liền với sự phát triển của con người như thế nào thì chính khoa triết học lịch sử và khoa chính trị kinh tế mácxít đã hơn một lần chỉ rõ.


Đối tượng trung tâm của thế giới nghệ thuật của Kafka là sự tha hóa, nỗi lo âu, sự lưu đầy và cái chết. Trong thế giới của Kafka, đối với cái Tôi Thế giới trở nên xa lạ: đối với Thế giới cái Tôi trở nên xa lạ: số phận con người bị kết án là phải chết một cách cô đơn, thê thảm “như con chó”! Nhân vật của Nước Mỹ chỉ mới bị lạc trong sự hỗn mang của số phận, còn nhân vật của Vụ án thì đã bị dồn cho đến chết. Cái cô đơn chết người ngày càng được thể hiện với những hình thức khác nhau trong ba cuốn tiểu thuyết nối tiếp nhau của Kafka là Nước Mỹ (1929), Vụ án (1914), và Lâu đài (1920). Có thể nói Franz Kafka là nhà văn đã cảm nhận một cách sâu sắc nhất nỗi cô đơn trong thời gian của người hiện đại. Đó là nỗi cô đơn khi con người (buộc phải) từ giã quá khứ, đứng giữa hiện tại, đối diện với tương lai bấp bênh đầy bí ẩn. Ấy là khi con người cảm thấy bất an, hoang mang và lo sợ. Con người nỗ lực tìm kiếm và tạo lập các mối quan hệ mà quên mất rằng các mối quan hệ đó không giúp được nó thoát khỏi nỗi cô đơn thời gian. Nhưng chí ít thì đó cũng là một niềm an ủi, và là lối thoát cuối cùng trong sự bất lực của con người trước số phận. Trong thế giới của Kafka, các nhân vật càng cô đơn thì lại càng khao khát đến được nơi nào đó, và rút cuộc họ đều bị chặn lại trước cửa pháp luật hay trước cổng tòa lâu đài... bởi những lý do không thể hiểu nổi. Nếu sự cô đơn của Karl Rossmann (nhân vật của tiểu thuyết Nước Mỹ) còn mang tính xã hội, cụ thể, thì nỗi cô đơn của Jozsef K. (nhân vật của tiểu thuyết Vụ án) gần như siêu hình, trừu tượng, một nỗi cô đơn tượng trưng. Nỗi cô đơn của K. (nhân vật của tiểu thuyết Lâu đài) vừa mang tính biểu tượng, siêu hình mạnh mẽ lại vừa có những mối liên hệ xã hội, cụ thể. Trong tiểu thuyết Nước Mỹ, nhất là ở phần đầu, dường như nhà văn không quyết định được cho nhân vật lựa chọn gì; trong Vụ án thì sự lựa chọn đã quá rõ. Trong tác phẩm này cái phi lý và chủ nghĩa bi quan đã được đẩy tới mức cực đoan.


Với tiểu thuyết Lâu đài, Franz Kafka muốn nói nhiều hơn.


Trong Lâu đài nỗi cô đơn vẫn chưa là số phận tiền định của con người, nó là hệ quả  của các mối quan hệ với người khác, có thể tranh đấu và điểu chỉnh. Người đọc cảm thấy dường như qua tiểu thuyết Lâu đài, Franz Kafka tiếp tục nói điều mà trong Vụ án ông đã nêu lên; dường như cái  trạng thái tồn tại của Jozsef K. (vừa bị cái chết cắt ngang) là vô cùng, và cuốn tiểu thuyết mới này làm sống lại con người đó, trạng thái tồn tại đó với những sự kiện và không gian đã thay đổi. K. đến làng, nơi có tòa lâu đài ẩn hiện và nói mình là người đạc điền, được người ta mời đến làm việc trong lâu đài. Đọc hết cuốn tiểu thuyết ta vẫn không rõ lời K. nói có đúng không, vì cả hai khả năng đều có thể xảy ra. Ngay từ đầu, K. đã muốn vào lâu đài, nhưng con đường chàng xuất phát rất dài và nó không dẫn chàng đến ngọn đồi có lâu đài, cứ đến gần đó là như cố ý, nó lại vòng sang lối khác. Lâu đài trong cuốn tiểu thuyết này, thực ra, cũng là luật pháp trong Vụ án:  không thể tìm gặp, nó tồn tại không cụ thể; khắp mọi nơi đều như có nó mà vẫn không có nó. Tòa lâu đài là hình ảnh huyền thoại về một tổ chức quyền lực quan liêu với những sợi dây vô hình đã trói buộc cuộc đời của từng con người. (Cũng có thể xem tòa lâu đài đó là Chân lý, Đức tin, là Thượng đế mà con người muốn vươn tới trong cô đơn và bất lực). Lâu đài thông qua những mắt xích vô tận là các viên chức, thư ký, liên lạc viên để thực thi ý nguyện của nó, trong khi đó những người này không biết gì về nhau mà vẫn coi thường nhau, nghi ngờ, xa lánh nhau. Họ đều giống nhau ở trạng thái sống: ai cũng sợ lâu đài và những gì liên quan tới nó, sợ ngài Klamm mà chưa một ai thật sự biết mặt, sợ tất cả và sợ lẫn nhau! Nếu trong Vụ án, tòa án được bố trí ở trên tầng thượng tồi tàn, thì trong Lâu đài, những lúc trời quang đãng, tòa lâu đài cũng lộ rõ vẻ tàn tạ trước mắt K.. Cái thiết chế quyền lực bí ẩn, với những hình ảnh quái dị, tầm thường đó đã chết ngự đời sống của từng con người, quy định trạng thái sống, hành vi ứng xử và cách nghĩ của họ, biến họ thành những kẻ làm theo, nói theo, vừa hài hước vừa tội nghiệp!


Lâu đài là tác phẩm duy nhất của Franz Kafka mà trong đó thế giới của nó được chia làm ba tầng tách bạch: trên là lâu đài, dưới là làng, ở giữa lâu đài và làng là K. đơn độc. Các công chức của lâu đài đại diện cho thứ pháp lý “Không thể thấy được”, còn làng và dân làng là biểu tượng của hiện thực “trần thế” định mệnh. Trong sự phân tầng không gian này, K. không thuộc về đâu cả, chàng ở ngoài rìa của hai thế giới đó. Không vào được lâu đài, cũng không được làng chấp nhận, nên chàng buộc phải tự tạo ra một thế giới thứ ba từ chính bản thân mình, thế giới  đó lang thang một cách xa lạ giữa thế giới bên trên và thế giới bên dưới. K. tìm kiếm sự thật và ý nghĩa của cuộc đời. Không cam chịu số phận như người “anh em” trong Vụ án, không một phút chùn bước trước cái không thể, cái phi lý, chàng tìm kiếm khả năng thay đổi hình thức sống, trạng thái sống của mình.


Các nhân vật của Franz Kafka thường xuất hiện giữa một thế giới kỳ lạ, hoặc trong một hoàn cảnh trớ trêu, hài hước. Cái thế giới đang mở ra trước mắt các nhân vật là thế giới quái dị và xa lạ, xa lạ với họ cho đến chết. Karl Rossmann đến nước Mỹ xa xôi (Nước Mỹ), Gregor Samsa khi tỉnh giấc thấy mình đã biến thành con bọ ghê tởm (Hóa thân) K. bị bắt mà không biết vì sao (Vụ án), và chàng đạc điền K. được mời đến lâu đài làm việc, vậy mà không làm sao vào được nơi đó (Lâu đài). Nhưng các nhân vật của Kafka không phải là “những điển hình xã hội”, họ “được” Kafka giao cho vai trò khám phá cái thế giới bi - hài mà họ xâm phạm. Jozsef K. thay vì quan tâm tới thực chất vụ án của mình thì anh ta lại cố gắng biết thật nhiều về thế giới tòa án. Nhưng càng tiếp xúc, anh ta càng nhận ra là chưa biết gì về nó. Người đạc điền K. trong Lâu đài cũng vậy, chàng muốn biết sự thật về lâu đài, nhưng càng theo đuổi mục đích này chàng lại càng xa nó hơn. Franz Kafka đã thấy rõ nguyên nhân bị “lưu đày” của con người trong thế giới hiện đại: trong mê cung của những thế chế mờ ám và phi lý được bày đặt ra như những cái bẫy, con người bị tước mất khả năng tìm hiểu và thiết lập quan hệ với thế giới một cách bình thường, vì con người không phải là chủ mà là nạn nhân của thế giới! Một thế giới bi - hài đúng như S. Kierkegaard nói về thời đại ông: bi vì nó đang đi tới chỗ bị hủy diệt, hài vì nó vẫn luôn luôn còn đó!


Lý luận văn học hiện đại thường nói nhiều đến tính chất mở của tác phẩm văn học, xem tác phẩm không phải là sản phẩm cố định mà là quá trình, một quá trình tạo nghĩa không ngừng. Các tác phẩm của Franz Kafka luôn luôn mở. Người đọc khó có thể “giải mã” một cách nhất quán nội dung của một tác phẩm nào đó của Kafka. Nội dung ý nghĩa hay trạng thái cảm xúc của nhà văn không bao giờ được thể hiện rõ ràng bằng khái niệm. Các tác phẩm của Franz Kafka luôn tạo khả năng cho người đọc đồng sáng tạo với tác giả. Và người đọc thường cảm nhận từ các văn bản của Kafka những điều gần gũi nhất đối với mình. Chẳng hạn A. Camus tìm thấy huyền thoại của sự phi lý trong các tiểu thuyết của Kafka, còn một số nhà nghiên cứu văn học mácxít thì đã xếp ông vào hàng ngũ những người theo chủ nghĩa duy vật vô thần, thậm chí có người đội cho ông cái mũ “thế giới quan xã hội chủ nghĩa”(!).


Đọc các tác phẩm  của Franz Kafka người đọc đều có cái cảm giác bấp bênh giữa hư và thực. Cái thế giới có trong tác phẩm vừa giống lại vừa không giống hiện thực bên ngoài, nó vừa có thể xảy ra lại vừa không thể hình dung được. Vụ án trong thành phố. Lâu đài ở làng, nhưng người đọc không biết ngay được hiện trường thuộc về thời nào, chỉ biết gián tiếp qua quần áo, đồ dùng của nhân vật. Trong các thành phố và làng mạc của Kafka, trời tối và sáng một cách tuần tự, nhưng thời gian dường như dừng lại, không thể nhận thấy. Không có sự khác biệt nổi bật nào giữa thời gian một năm của Vụ án và sáu ngày của Lâu đài. Nghĩa là trong thế giới của Franz Kafka, không gian và thời gian không mang tính cụ thể; không có không gian của đời sống ở thành phố hiện đại, và thời gian đầu thế kỷ XX. Tất cả đều diễn ra với những hình ảnh nhuốm màu sắc huyền thoại. Các nhân vật đi lại, nói cười, ăn uống, làm tình rất đời thường, thậm chí cũng sợ trễ giờ làm (mặc dù đã biến thành bọ), nhưng bỗng nhiên, do một sự kiện nào đó, họ vượt khỏi những giới hạn của cái hiện thực - đời thường, trở thành huyền thoại. Người đọc không biết được tại sao sự việc lại xảy ra như đã xảy ra; hiện thực được huyền thoại hóa ở nơi “phù hợp” nhất, vào thời điểm “hợp lý” nhất mà chỉ có Franz Kafka biết được. Cách làm đó có ở M. Chagall và Picasso trong hội họa. Chúng ta đã quen với những cách phản ánh hiện thực của “những nhà hiện thực lớn” (chữ dùng của G. Lucács) thế kỷ XIX. Ở Balzac và L. Tôlstôi cái hiện thực có thể nhìn thấy luôn xuất hiện trong những hình thức trực tiếp của chính nó; ở Stendhal và Flaubert thì sự trọn vẹn của hiện thực được phản ánh qua ý thức chủ quan của một nhân vật, nhà văn đứng ngoài thế giới tiểu thuyết để tổ chức và điều khiển số phận của nhân vật theo ý đồ của mình. Còn đối với Franz Kafka, hiện thực, về mặt tổ chức của nó, là hình ảnh, là hiện thực - hình ảnh. Đặc biệt Franz Kafka luôn bị cuốn hút bởi các chi tiết, ông ý thức rất rõ ràng chi tiết là hình thức xuất hiện của những quy luật không thể thấy, là khả năng để diễn đạt cái không thể diễn đạt được. Trong thế giới nghệ thuật của Kafka luôn có một hình ảnh bao trùm lên tất cả như là ấn tượng duy nhất; một tòa án quyết án tử hình người ta vô cớ, một lâu đài không thể tiếp cận, một con chó, con khỉ, con bọ mang ý thức con người... Nhưng đó là hình ảnh của một hiện thực hai mặt. Nhà văn không mang đến cho người đọc những gì có thể tin ngay, phù hợp với yêu cầu thẩm mỹ của sự bắt chước hiện thực, mà đưa ra một hiện thực tưởng như không thể có mà vẫn có thật. Ông viết trong nhật ký: “Có ai đó ca ngợi trí tưởng tượng của tôi và cho là không có thật, vậy mà tôi thấy nó xảy ra ở khắp mọi nơi”.


Cuối thế kỷ này, sau những gì đã xảy ra trong thế giới của chúng ta, sau hai cuộc Đại chiến thế giới, sau Auschwitz, Hirosihma, chiến tranh lạnh và những cuộc thanh trừng sắc tộc đẫm máu mới đây, chúng ta càng hiểu hơn Franz Kafka và thế giới nghệ thuật của ông, mới nhận ra dự cảm thiên tài của nhà văn về sự tha hóa và những nỗi kinh hoàng của con người trước khi chúng trở thành trạng thái phố biến của thế giới sau những năm ba mươi của thế kỷ. Lẽ dĩ nhiên, Franz Kafka chưa bao giờ nhận thức được tội lỗi của chủ nghĩa tư bản và Đế chế Áo - Hung như Jaroslav Hasek, Julius fucik hoặc Ady Endre. Nhưng sẽ không nói hết được những giá trị đích thực của thế giới nghệ thuật Franz Kafka, nếu ai đó chỉ cố công phát hiện những yếu tố tích cực trong các tác phẩm của Franz Kafka qua việc ông đã phơi bày sự tha hóa của chủ nghĩa tư bản. Thực ra, Kafka không chỉ xem xã hội tư bản là phi lý mà mọi loại xã hội với những thiết chế quyền lực không thật sự vì lợi ích của con người đều phi lý, xấu xa, không đáng sống và không thể nào sống được!


Không phải ngẫu nhiên mà hơn nửa thế kỷ nay, Franz Kafka đã ảnh hưởng đến hầu hết các nhà văn nổi tiếng của phương Tây, từ Thomas Mann đến A. Camus, Faulkner. Sống và sáng tác trong một thời kỳ sôi động của đời sống văn học nghệ thuật, giữa bao nhiêu tuyên ngôn, trường phái cách tân, đổi mới ầm ĩ, nhưng Franz Kafka đã lặng lẽ lao động nghệ thuật một các có hiệu quả nhất bằng chính những sáng tạo độc đáo của mình. Ông lao động nghệ thuật nghiêm túc đến mức không mấy khi tự bằng lòng với những gì mình đã viết ra. Chính vì vậy mà số lượng các tác phẩm của ông được in rất ít khi ông còn sống. Thậm chí ông còn nhờ bạn đốt hết các bản thảo sau khi ông chết. Cả ba cuốn tiểu thuyết của ông đều chưa hoàn thành. Nước Mỹ và Lâu đài chưa có chương kết. Vụ án có vẻ như đã trọn vẹn, nhưng ở từng chương vẫn chưa hoàn thành, văn bản có thể đọc hiện nay là nhờ Max Brod, bạn ông sắp xếp. Đã và sẽ có nhiều nhà văn tài năng xuất hiện, nhưng sống và ứng xử với những gì mình viết ra như Franz Kafka thì không phải ai cũng làm được. Nếu có nhà văn nào thật sự sống hết mình cho văn chương thì đó chính là Franz Kafka. Ông viết văn như là nhu cầu nội tại không thể thiếu. Dường như mọi hoạt động sinh tồn của nhà văn đều chỉ là thứ yếu trước việc khám phá và giải mã những bí ẩn của thế giới bằng sáng tác văn học. “Tôi chỉ là nhà văn, tôi không thể và cũng không muốn trở thành người khác, tất cả đều làm tôi chán, tôi chán tất cả những gì không phải văn học” (Nhật ký, ngày 21 - 8 - 1931). Ông nói với bạn: “Đối với tôi, viết như là hình thức cầu nguyện”. Và chúng ta có thể nói thêm, đối với Franz Kafka, viết là cuộc chiến chống lại sự tha hóa và phi lý “trong giới hạn của sự tha hóa” (R. Garaudy). Nhà văn khao khát tìm kiếm sự thật về kiếp người và mong ước Con Người được sống với Con Người, được hòa hợp với gia đình, xã hội và tìm được chính mình trong một thế giới có ý nghĩa. Mục đích của ông là làm thế nào để nói được bằng nghệ thuật những điều quan trọng đó về Con Người một cách hiệu quả nhất.


Và Franz Kafka đã thành công!


*


*           *


Các tác phẩm của Franz Kafka đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Nhân dịp bộ sách các tác phẩm chọn lọc của Franz Kafka, trong đó có tiểu thuyết “Lâu đài” ra mắt bạn đọc Việt Nam, chúng tôi xin chân thành cảm ơn nhà xuất bản Văn học và dịch giả Đoàn Tử Huyến với ý thức trách nhiệm, tinh thần làm việc nghiêm túc nhất đã cho chúng tôi nhiều ý kiến quý báu để hoàn thành bản dịch. Chúng tôi xem công việc này là cố gắng bước đầu, với những hạn chế không tránh khỏi mong góp phần nhỏ bé của mình vào việc giới thiệu các tác phẩm của Franz Kafka ra tiếng Việt.


Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và rất mong nhận được sự góp ý, cố vũ của các bạn.


Hà Nội, đầu xuân 1998


TĐD.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sóng lừng – Một tác phẩm tốt (Lật lại Hồ sơ vụ tiểu thuyết Sóng lừng - VN. Mafia bị thu hồi năm 1991) - Xuân Thiều 13.09.2019
“Sóng lừng” – Cuốn tiểu thuyết về Mafia ở Việt Nam - Bùi Quang Huy 13.09.2019
Ở Việt Nam có Mafia không? - Đỗ Ngọc Thạch 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Giấy trắng” của Triệu Xuân - Lê Phú Khải 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Đâu là Lời phán xét cuối cùng” - Trần Bảo Hưng 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết "Cõi mê" của Triệu Xuân - Nguyễn Sĩ Đại 12.09.2019
Cõi mê - Hiện thực sâu sắc, tận cùng nỗi đau, đầy lòng nhân ái - Hoài Anh 12.09.2019
Cuộc sống kinh tế năng động trong “Giấy trắng” - Ngọc Trai 12.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Giấy trắng” của nhà văn Triệu Xuân - Nguyễn Sĩ Đại 12.09.2019
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
xem thêm »