tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30145761
05.08.2019
Vũ Bằng
Đông Tây cổ học tinh hoa (1)


* Science sans conscience n’est que ruine de l’âme.


(Có học vấn mà không có lương tâm, chỉ làm cho tinh thần bại hoại)


Rabelais (livre II Ch, VIII)


* Học vu cổ huấn nãi hữu hoạch. (Học những lời dạy dỗ cũ có lợi)


Khổng Tử (Kinh Thư)


* Le plus grand bienfait que l’homme puisse retirer du commerce agréable des Muses, C’est de dompter ses instincts par l’instruction et par l’étude des letters, d’adouclr son naturel et de le rendre docile à la Raison, qui condamne tout excès et prescrit de garder on toutes choses la modération.


(Cái lợi của sự trau dồi, Văn học là để tôi luyện bản tính, hòa dịu thiên bẩm, khiến cho thiên bẩm ấy đồng điệu với Lý trí: Lý trí lúc nào cũng buộc ta phải chống mọi quá độ và biết tiết dục về mọi phương diện).


Plutarque (Vie de Coriolan, Ch I).


Mấy lời nói đầu


Văn hóa là thượng tầng xây dựng của một nước.


Mỗi thời đại, mỗi chế độ xã hội đều có một nội dung văn hóa riêng. Vì thế, có thể nói văn hóa là sản phẩm của chính thể.


Song le, bảo “Văn hóa là sản phẩm của chính thể” không có nghĩa là văn hóa không thoát ra được ngoài phạm vi kiềm tỏa của chính thể. Trái lại, trên cơ sở sẵn có của xã hội, văn hóa được cô, đúc, tôi, luyện tới trình độ siêu đẳng, lại có khả năng dẫn dắt chính thể ấy trên lịch sử tiến hóa của loài người.


Lý luận đạo đức của con người đã được chính bản thân của loài người thể nghiệm, lại trở lại trình diện và giáo dục loài người; do đó, vị trí và sứ mạng của văn hóa vô cùng quan trọng.


Lịch sử qua đi, các chế độ xã hội thay đổi đi, duy chỉ có văn hóa là tồn tại mãi với thời gian. Văn hóa chính là những nhân tố cơ bản để cho đời sau tìm hiểu quá khứ, học tập ở quá khứ, để tiến bộ mãi về tương lai.


Một trong những vấn đề văn hóa phổ cập nhất, đồng thời cũng có tác dụng thấm nhập, tiêm nhuệ nhất, là văn học.


Cũng như lịch sử, văn học có mới và có cũ. Cũ và mới theo nhau như thể bóng với hình. Một nước có một nền cổ học kém sút không thể có một nền tân học cao siêu được. Cái mới mà không có cái cũ bổ túc thì nghèo nàn, kém sút; cái cũ mà không có cái mới bồi bổ thì dừng lại rồi tiêu ma. Ở đâu cũng vậy, sự thịnh vượng của tân học chỉ có thể xây dựng trên nền móng của cựu học vững chắc.


Vì vậy, “ôn cố tri tân” - ôn lại việc cũ để tìm biết cái mới - bao giờ cũng là quan điểm chính yếu của những nhà văn học trí thức.


Tư tưởng, danh ngôn của các nhà văn hào bác học cổ kim, vì vậy, là những bó đuốc sáng soi đường cho lý luận, tư tưởng, văn chương hiện đại. Nói một cách khác, văn học hiện đại bao giờ cũng thoát thai từ nền tảng văn học tổng hợp cổ xưa.


Có người cho rằng càng ở dưới những chế độ đương xuống, bộ phận văn hóa phụ thuộc vào những chế độ đó lại càng được đậy điệm kín đáo bằng những lớp vàng son rực rỡ. Sự nhận xét đó xác thực một phần nào. Song le, ta cần phải nhận chân rằng: sự kiện đó chỉ có tính chất giai đoạn, không thể gọi là tinh hoa văn học được, không thể có khả năng bao trùm toàn diện lịch sử văn học của một nước được. Văn học ấy sẽ bị đào thải, cũng như thời gian đã từng đào thải mọi phạm trù tư tưởng lạc hậu khác. Chỉ có nền văn hóa của đáy từng dân tộc trỗi lên, cơ sở văn hóa đó mới chính thống là văn hóa dân tộc và mới thật có tính chất đại diện.


Duyệt qua lịch sử văn học Đông, Tây, ta khó mà tìm thấy được một lời văn giá trị, một tư tưởng uyên thâm, một căn bản đạo đức vững chắc, khả dĩ lưu truyền được lại cho hậu thế mà lại phát xuất từ một cá nhân đồi bại hay bội phản. Âu đó cũng là một chứng minh cụ thể và đơn giản vậy.


Trên định luật đào thải tự nhiên đó, những văn chương, văn học lưu truyền được đến ngày nay nhất định phải là những tinh hoa của các thế hệ cũ phát xuất ra, tìm kiếm ra, gạn đi, lọc lại. Chính vì thế cho nên, về phương diện nghiên cứu văn học để bồi dưỡng cho đạo đức con người, không có gì thích nghi hơn là nghiên cứu văn chương, và nhất là tinh hoa đạo đức trong văn chương cổ điển.


Đứng trên quan điểm ấy, nước ta cũng đã có nhiều nhà văn học biên soạn ra những cuốn sách để thu thập tinh hoa cổ học. Trong số, ta nhận thấy các ông Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc và Tử An Trần Lê Nhân với Cổ học tinh hoa, Nguyễn Văn Vĩnh với Sử ký Thanh Hoa, Nguyễn Quang Oánh với Án Tử Xuân Thu… nhưng, ta không khỏi nhận rằng những công cuộc sưu tầm tham bác đó vẫn bị phiến diện và hạn chế.


Đọc những sách Âu Tây tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh, ta liên tưởng ngay đến các pho sách khác của Đông phương; đọc những sách của hai ông Nguyễn Văn Ngọc và Nguyễn Quang Oánh, ta lại liên tưởng ngay tới các pho sách tương tự của Tây phương. Vì thế, người ta ước mong được thấy những công cuộc sưu tầm văn học cổ điển được toàn diện hơn. Hơn thế, sách quý hiện nay mỗi ngày mỗi hiếm, hoặc là vì mất mát, hoặc là vì tam sao thất bản, nên sự trở ngại cho nền văn học rất lớn, do đó, ta phải cần bổ khuyết.


Một vấn đề nữa được nêu ra: khoa học hiện nay phát triển, vì phương tiện giao thông thuận lợi, bốn bể năm châu không còn là vấn đề nghìn trùng cách trở như xưa nữa. Muốn qua Âu, qua Mỹ, hay qua Phi, qua Úc, chúng ta được hưởng mọi sự dễ dàng như đi chợ. Sự tìm hiểu các dân tộc anh em không phải chỉ căn cứ vào hiện tại, mà còn phải tinh thông về quá khứ, có thế mới gọi là có một khả năng bao quát, một khả năng tương đối “thông đạt cổ kim”, để ta rút thêm kinh nghiệm, để ta thâu lượm nhiều tài liệu học tập hơn, đãn hậu ta áp dụng linh động tinh túy cổ học vào thực tiễn xã hội ngày nay mà không máy móc và trục trặc.


Hoàn cảnh mới đòi hỏi những nhu cầu mới. Với mục đích xây dựng, bồi dưỡng thêm vào kho tàng văn học nước ta, chúng tôi không ngại khen chê, mạo muội sưu tầm, tổng hợp ra cuốn sách Đông Tây cổ học tinh hoa này, mục đích để bổ khuyết một phần nào cho những sự thiếu sót nói trên, tìm kiếm tinh túy của cả văn học Đông, Tây để cống hiến bạn đọc những tư tưởng xuất sắc, những áng văn phong phú, những lời hay ý đẹp có khả năng giáo dục và cải biến con người.


Chúng tôi không có cao vọng cứu xét tinh túy của các hệ thống tư tưởng Đông, Tây; chúng tôi chỉ sưu tầm và lạm bình những tư tưởng xuất sắc, những áng văn phong phú khả dĩ biểu dương được phần nào tính chất đại diện cho mỗi thế hệ tư tưởng; chúng tôi không căn cứ vào người, nhưng chỉ gạn lọc, tìm tòi những tinh túy của nền văn học Đông, Tây, hầu đem lại cho bạn đọc những lý lẽ tin tưởng mới, những căn bản đạo lý để trau dồi cá tính và kiện toàn cách xử thế ở ngoài xã hội.


Tinh hoa cổ học Đông, Tây rất nhiều. Vì thế, ta không tập hợp vào trong một cuốn sách này mà thôi. Đây chỉ là cuốn đầu, những cuốn sau sẽ tiếp tục xuất bản lần lần.


Chúng tôi mong rằng, với tấm lòng sốt sắng của chúng tôi, với sự thiết tha của các bạn đọc đối với tương lai văn hóa, với sự giúp đỡ quý báu của các đồng bào gần xa, chúng tôi sẽ hoàn thành được một pho sách đầy đủ những tư tưởng xuất sắc, có khả năng giáo dục con người của xã hội Việt Nam.


V.B.


PHÀM LỆ


- Sách này gồm cả tinh hoa cổ học của Đông và Tây, thâu lượm trong các sách Pháp, Anh, Trung Hoa và Việt.


Nếu ghi hết cả những nơi xuất xứ thì rất nhiều; mà có lẽ không cần thiết. Vì thế chúng tôi không ghi nơi xuất xứ, cũng không ghi tên các tác giả đã soạn thảo, vì chúng tôi nghĩ rằng những tác phẩm đó là tinh hoa của thế giới, không còn phải là của riêng ai nữa.


- Công việc ghi chép dài, ngắn, tùy theo tính chất của từng truyện một. Vì muốn cho độc giả không chán nản với những truyện dài liên tiếp, chúng tôi đặt truyện ngắn và truyện dài xen lẫn nhau. Như vậy, không những đọc vui hơn, mà giữa Đông và Tây không có sự phân biệt. Đó là vì chúng tôi thiết nghĩ trên địa hạt tinh hoa tư tưởng và đạo đức, Tây và Đông chỉ là một mà thôi.


- Những truyện ghi trong sách này, tạm thời, không phân loại. Là vì công việc sưu tầm của chúng tôi làm lần lần, tìm được bài gì hay thì ghi chép lại liền, nếu đợi cho đủ số truyện trong một loại, sẽ không bao giờ làm được.


Vả lại, như đã nói ở trong MẤY LỜI NÓI ĐẦU, pho sách này chia ra nhiều tập, chúng tôi không muốn cuốn I có loại thuộc về “Chữ Hiếu” chẳng hạn, mà cuốn II hay cuốn III lại còn có truyện thuộc về “Chữ Hiếu” tiếp theo.


Chúng tôi mong rằng, sau khi đã in xong toàn pho rồi, đến lúc tái bản, sẽ làm được việc phân loại.


- Những truyện cổ kim ghi trong pho ĐÔNG TÂY CỔ HỌC TINH HOA này, có nhiều danh từ riêng về người, về đất, về lịch sử. Muốn cho bạn đọc hiểu được một phần nào những danh từ đó, chúng tôi có giải thích để cho các bạn đọc truyện sẽ hiểu kỹ và thấy lý thú hơn.


- Như đã viết ở trong MẤY LỜI NÓI ĐẦU, trong pho sách này, chúng tôi hết sức làm cho dễ hiểu, có tránh những danh từ chữ Hán cầu kỳ, để cho hết thảy mọi người cùng đọc được.


Song le, tại đôi chỗ cũng có những danh từ tương đối gọi là khó hiểu; để giúp đỡ bạn đọc - nhất là giới học sinh - chúng tôi có để riêng một phần giải thích.


- Ngoài phần giải thích, các truyện lại kèm mấy lời bình phẩm. Lời bình phẩm được đặt sau mỗi truyện, tách riêng ra, gọi là lạm diễn một vài ý kiến riêng.


Những lời bình luận này không phải của riêng thuật giả.


Trước khi cho xuất bản sách này, thuật giả đã đưa bản thảo cho nhiều ký giả, văn nhân, học giả xem đọc. Các bạn có lòng yêu, đã ghi những lời bàn ở dưới mỗi truyện. Tất cả có hơn hai chục vị bình luận, xin đăng tải hết lên đây để cho rộng đường suy tưởng.


Cuối mỗi lời bàn đều có ghi tên tắt.


Nhân đây, chúng tôi xin có lời cảm tạ các bạn đã nhuận sắc cho sách này và giãi bày ý kiến về mỗi truyện để cho sách này được đầy đủ và ý vị hơn.


V.B.


PHILÍP, XIN NHÀ VUA NHỚ RẰNG NHÀ VUA CHỈ LÀ NGƯỜI


Vua Philíp xứ Maxêđoan(1) tức là thân sinh ra A Lịch Sơn Đại đế, thường bắt một tên hầu, sáng sáng, đến đầu giường đánh thức mình dậy mà kêu lên rằng:


- Philíp, xin nhà vua nhớ rằng Ngài chỉ là người.


Nhà vua cho câu đó có ý nghĩa như sau: “Anh phải nhớ rằng anh chỉ là một người mà thôi”. Đó là nhà vua muốn đề phòng thói kiêu ngạo, một thói xấu nhất của các vì vua chúa.


Trong Thánh Kinh của người Hêbờ(2) ta cũng thấy một câu tương tự. Thượng Đế bảo người thứ nhất ở trên đời này rằng: “Hỡi người, mi nên nhớ mi chỉ là cát bụi và sẽ lại quay về cát bụi”.


Chúng ta không thể bắt chước vua Philíp xứ Maxêđoan, mỗi sáng, lại sai tên hầu vào đánh thức ta dậy và nhắc cho ta sự thực bổ ích vô cùng đó. Song le, chúng ta có thể tự nhắc cho ta luôn luôn câu đó, hoặc viết lên trên vách để trông thấy luôn. Duy có một điều là ta nên hiểu nghĩa câu nói của vua Philíp khác đi một chút. Ta nên hiểu như thế này:


“Mi phải nhớ rằng mi là một người và bất cứ lúc nào cũng phải ăn ở xứng đáng với bổn phận của một người”.


 


LỜI BÀN: Nhiều người lúc chưa hiển đạt thì giản đơn và khiêm nhượng, lúc đã đạt rồi, thường coi mình là cao hơn thiên hạ và do đó, tự cao tự đại mà làm điều lầm lẫn, đớn hèn, suy bại.


Vua Philíp cho người hầu nói vào tai mình hàng ngày như thế, chính là để cho mình nhớ luôn luôn rằng mình chỉ là người, bằng người mà thôi, chớ không phải là vua hay quan thì là hơn mọi người. Ông vua cũng như người dân đều bằng đẳng trước xã hội, ai không làm tròn nhiệm vụ thì đều có lỗi - mà nhiệm vụ càng trọng thì lỗi lại càng to.


Truyện này nhắc ta nhớ đến một truyện của Đông phương, mà vị chủ động là vua Thang. Vua Thang hàng ngày xét việc của mình thấy phải thì làm, thấy xấu thì bỏ, không chịu mang tiếng bất minh, bất chánh. Ngài sắm một cái chậu lớn chạm chữ nổi như sau: “Cẩn nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân”. Mỗi ngày ngài tắm, trông thấy mấy chữ ấy, ngài nhớ lại mà sửa mình, không để cho mình lầm lẫn.


B.KH.


XỬ TỘI CÁC VỊ VUA AI CẬP SAU KHI CHẾT


Người Ai Cập(1) cổ thời có một tục rất hay, khả dĩ nhắc cho các vị vua chúa biết rằng họ có nhiệm vụ, có bổn phận; họ không thể hành động theo sở thích hay lòng ham muốn riêng của mình; nhưng phải tự coi mình như là người bảo vệ công lý và mưu toan hạnh phúc cho thần dân.


Mỗi khi có một vị vua băng hà(2) người ta đem bày xác vị vua đó trên bờ một cái hồ ở nơi ranh giới của cõi sống và cõi chết. Tại dó, một tòa án được thiết lập và gồm có bốn mươi ba viên thẩm phán.


Một phát ngôn viên tiến ra và kêu lên trước xác chết:


- Xin ông cho chúng tôi biết lúc sống ông đã làm những việc gì?


Một ông bộ trưởng của vị vua quá cố, đứng lên thân oan cho nhà vua và kể lại những công trạng của nhà vua lúc sinh thời, những lệ luật đã ban hành, những ích lợi đã đem lại cho dân.


Đoạn, một người dân có thể đứng ra kết tội nhà vua và tự do kể lể ở trước mặt bốn mươi ba viên thẩm phán những điều mình oan ức muốn phàn nàn.


Tòa cân nhắc công và tội của nhà vua. Nếu xét ra tội nhiều hơn công, tòa kết án nhà vua. Người ta đem bôi lọ tên tuổi của vị vua đó đi, ghi vào trong sử sách, còn xác nhà vua thì trước kia được kính trọng như một vị thần minh, bây giờ không được chôn cất, sẽ đem vứt ra bờ bãi để cho diều tha, quạ mổ.


 


LỜI BÀN: Người ta thường cho “chết là hết” và viện cớ đó ra để làm điều bậy bạ lúc sinh thời, lấy cớ là chết rồi, không còn biết gì hết.


Sự thực, ta chết rồi, vẫn có một ông tòa xử tội ta, mà ông tòa này lại còn nghiêm khắc hơn hết thảy các ông tòa khác: đó là ông tòa dư luận. Khi mà ông tòa dư luận buộc tội, không những một thân mình nhơ nhuốc mà con cháu về sau này cũng vẫn còn mang tiếng đời đời. Lịch sử còn đầy rẫy những thí dụ những quân phản bội không đời nào gột rửa được tiếng nhơ. Cũng trong tinh thần đó, ta có câu ca dao:


Trăm năm bia đá thì mòn


Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.


Tr.V.


KHÔNG GẢ CON GÁI CHO BẠO CHÚA


Vua Cựu Đờni(1) đến chơi ông Aríttít ở thành Lốt. Aríttít là bạn của nhà hiền triết Pờlatông(2). Vua Cựu Đờni muốn xin con gái ông Aríttít về làm vợ.


Ông Aríttít nói:


- Thà tôi trông thấy con gái tôi chết còn hơn là thấy nó lấy một tên bạo chúa(3).


Ít lâu sau, Đờni trả thù, giết hết cả con gái Aríttít. Giết xong, Đờni hỏi một cách chế nhạo Aríttít có còn nghĩ như trước nữa không.


Aríttít trả lời:


- Ta rất lấy làm buồn về hành động của ông, nhưng ta không hối hận lời ta đã nói.


 


LỜI BÀN: Cho nên mới biết ở đời không có gì mạnh hơn là tinh thần của người ta. Những kẻ bạo chúa, những quân độc tài có thể dùng bạo lực mà uy hiếp người ta được, nhưng không thể nào diệt được tinh thần.


Vua Tần Thủy Hoàng đốt sách, giết học trò mà văn hóa đáy tầng của Trung Hoa cổ vẫn lưu truyền được đến nay. Cũng vậy, gần đây, thực dân khủng bố và cố tâm tiêu diệt tinh thần ái quốc của các nước bị trị, mà đến lúc vươn dậy được, tinh thần ái quốc ấy vẫn mạnh mẽ hơn cả bao giờ hết.


Truyện này cho ta thấy vua Cựu Đờni cũng phải chịu, không làm thế nào để khuất phục tinh thần của Aríttít.


X.Kh.


TRUYỆN ÔNG GIÀ HỌ TÁI MẤT NGỰA


Có một ông già họ Tái ở gần cửa ải, một hôm để ngựa sổng(1) chạy sang nước Hồ. Thế là mất ngựa. Thấy vậy, nhiều người tới hỏi thăm. Ông lão nói:


- Mất ngựa thế mà biết đâu lại là cái phúc cho tôi.


Mấy tháng sau, con ngựa cũ lại trở về, dắt theo một con ngựa mới. Người quen tới hỏi thăm, mừng cho ông lão. Ông lão nói:


- Được ngựa thế mà biết đâu lại là cái họa cho tôi(2).


Từ khi có con ngựa mới, con ông lão cưỡi ngựa và phi ngựa(3) suốt ngày; không may, ngã gẫy chân. Người quen lại tới thăm và chia buồn. Ông lão nói:


- Con gẫy mất chân, biết đâu lại không là cái phúc cho tôi(4).


Cách đó chừng một năm, giặc Hồ sang xâm lăng bờ cõi. Nhà vua bắt lính đi chống giặc, mười người thì chín người chết. Riêng có con ông già họ Tái vì gẫy chân, không bị bắt lính(5), được ở nhà; vì thế, cha con lúc nào cũng được ở cạnh nhau.


 


LỜI BÀN: Truyện này chứng tỏ cho ta thấy rằng ở đời ta không nên nản chí, lúc nào cũng vẫn có những lý lẽ để cho ta tin tưởng, những hy vọng để cho ta hoài bão.


Thấy khổ, đừng nản chí; thấy thắng, đừng kiêu hãnh; thấy thất bại, đừng chán nản. Cái họa, cái phúc xoay vần không thể nào lường được. Có khi cái phúc thoát thai từ cái họa ra, cũng như sự thất bại là mẹ thành công vậy. Một người giàu có đầy đủ mà kiêu sa phóng túng, thế tất cái họa sẽ không xa, mà một nước nghèo khó khổ sở, cứ chịu khó cần cù làm việc, tất phải có ngày vinh quang rạng rỡ.


Điều cần là ta phải giữ cho tinh thần lúc nào cũng mạnh mẽ và cao thượng, dù là ở trong phúc hay trong họa.


Truyện này nhắc ta nhớ tới một chuyện khác, tương tự:


Một người nhà quê giãi cỏ phơi ở ngoài đồng. Hôm sau ra vơ cỏ, anh thấy có tiếng kêu “tích tích”; lại xem, bắt được một con trĩ.


Quen mui, hôm sau nữa anh ta lại phơi cỏ ở chỗ đó, lại nghe thấy tiếng “tích tích”. Anh ta vồ bắt, nhưng lần này không có chim trĩ: có một con rắn cắn anh ta vào tay, tay anh sưng vù rồi anh ta chết.


Cho nên mới biết họa phúc khó phân, không biết đâu mà đợi. Phúc, họa chỉ là việc của một giai đoạn, không nên ngồi mà chờ nó đến, mà về họa phúc ta cũng không nên cho là vấn đề trường cửu, có phúc thì may mắn mãi mà có họa thì dở mãi mãi. Tây có câu “Lắm khi sự không may mà lại là một sự may”; ý nghĩa này không ngoài hai câu chuyện kể trên.


H.V.


ANH HÀNG GIẦY, XIN CHỚ LÊN CAO QUÁ CHIẾC GIẦY!


Apen là một họa sĩ trứ danh(1) nước cổ Hy Lạp. Ông rất nghiêm khắc với mình. Không những thấy người khác công kích mình, ông không giận, ông lại còn tìm người ta để người ta công kích cho tài nghệ của mình mỗi ngày mỗi tiến hơn.


Tương truyền(2) ông có một phương pháp rất thực tế để nghe những lời phẩm bình chân xác. Thường, ông bày tranh vẽ của ông ở những nơi đông đúc rồi trốn ở một nơi kín để nghe người ta bình luận.


Một hôm, ông trưng một bức tranh vẽ một người kỵ mã(3). Bỗng, có một người thợ giầy tiến đến và phê bình đôi dép ở trong tranh rất đúng. Buổi tối hôm đó, Apen về sửa ngay lỗi của mình.


Cũng người thợ giầy đó, hôm sau lại trở lại.


Thấy họa sĩ đã sửa lại bức vẽ rồi, y đắc chí lắm cho là họa sĩ kém mình, nói ba hoa hết cái này sang cái khác, không chừa bộ phận nào của người kỵ sĩ và con ngựa không chỉ trích.


Apen chán ngấy, ở trong chỗ ẩn chạy ra và bảo:


- Ơ này anh thợ giầy, xin anh chớ lên cao quá chiếc giầy!(4).


 


LỜI BÀN: Nhiều người không biết tự tri, thường đi xa quá khả năng của mình và gây sự chê cười trong xã hội. Một người không tự tri, dám đảm nhận những trách vụ nặng nề, lại có thể gây ra sự thiệt hại cho người khác nữa.


Vì vậy, tìm hiểu mình, tìm biết mình, là một vấn đề quan thiết trong giáo dục của người dân. Ai có chỗ của người ấy, ta chớ nên vượt phạm vi ra nhận lãnh những trách nhiệm không xứng đáng với khả năng của ta, không những thiệt mình mà lại thiệt cả cho những người chung quanh. Một ông tướng không biết mình, không thể chiến thắng quân địch được.


Trong một phạm vi nhỏ hẹp hơn, ta không biết mình, không biết người thì không thể hoàn thành được một công cuộc gì tốt đẹp.


H.


NGƯỜI TA KHÔNG ĂN ĐƯỢC TIỀN


A Lịch Sơn Đại đế(1) đi kinh lý tất cả các tỉnh ở nước Ba Tư để trị tội những vị quan tham lại nhũng.


Có một viên quan, tên là Abulý, quên không mua lương thực cho quân đội, mà chính A Lịch Sơn Đại đế đã dặn rồi. Abulý bèn đem mấy triệu bạc(2) đến dâng A Lịch Sơn Đại đế.


Thấy vậy, A Lịch Sơn Đại đế tức giận ầm ầm, truyền đem tiền đó đặt ở trước mặt những con ngựa. Rồi phán:


- Đó, nhà ngươi coi, ngựa có thèm chạm đến tiền đâu. Thế thì tiền của nhà ngươi, ta dùng được việc gì?


Lập tức, ngài bèn truyền bắt thủ phạm xích tay và hạ lệnh tống giam ngục tối.


 


LỜI BÀN: Truyện này chứng minh rằng đồng tiền là quý, nhưng không phải là cứ có tiền nhiều thì mua được thiên hạ, như người ta vẫn tưởng. Có những thứ không thể nào mua được bằng tiền, ví dụ lòng trung thành, sự cần cù chịu khó, sự thanh cao của linh hồn…


Vẫn biết rằng cũng có khi đồng tiền làm tối mắt được một số người, nhưng đó chỉ là bề ngoài thôi, chớ không mua được cái tâm của người ta. Chứng cứ là một quân đội mua bằng tiền không thể trung kiên và chiến đấu gan dạ được. Quân đội đó chỉ trung kiên và gan dạ khi có một chính nghĩa bổ dưỡng tâm hồn - mà chính nghĩa đó nhất định không thể mua bằng tiền được.


H.T.T.


CÁCH THU THUẾ CỦA ÔNG PHÔXIÔN


Có một khi, Phôxiôn(1) được lệnh đến những đảo Hy Lạp để thâu thuế. Ông ta được nhà chức trách cho hai mươi cái tàu để làm sứ mạng này.


Phôxiôn nói:


- Nếu ta đi đánh giặc thì số tàu này ít quá, nếu ta đi tìm bạn đồng minh thì ta cần gì đến tàu?


Phôxiôn chỉ xin một cái tàu để đi. Đến Hy Lạp, ông thăm các đô thị không có vẻ gì là đe dọa mà cũng chẳng phô trương thanh thế. Ông bày tỏ cho dân ở đó biết sứ mệnh của mình. Ông trò chuyện với các quan một cách thành thật và nhũn nhặn. Kết cục, ông đã thành công hoàn toàn và lại đem thêm được nhiều tàu về nước. Đó là những tàu của các nước đồng minh(2) dâng ông để chở tiền thuế vậy.


 


LỜI BÀN: Truyện này nhắc ta nhớ tới chuyện Phùng Hoan đi mua nhân nghĩa cho Mạnh Thường Quân: tiền có thể hết nhưng nhân nghĩa thì còn mãi mãi.


Cũng như tiền, bạo lực không đưa tới kết quả quyết định. Đã đành, sống ở thời đại này, một nước không thể yếu hèn, nhưng ta chớ nên vì thế mà tưởng rằng cường quyền sẽ thắng hết mọi sự ở đời.


Có một lúc nào đó, cường quyền chế ngự được người nhưng chỉ là tạm thời mà thôi. Rồi có một lúc, sự thù oán ngấm ngầm sẽ thành ra hành động để chống đối lại bạo lực, cường quyền. Duy chỉ có lòng nhân ái là khả dĩ duy trì được tình thân hữu hòa bình, trường cửu và thành thực.


T.L.


(còn tiếp)


Nguồn: Đông Tây cổ học tinh hoa (Túi khôn muôn đời). In trong Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







(1) Maxêđoan (Macédoine) là một miền Âu châu ở phía Bắc nước Hy Lạp. Dưới thời vua Philippe (382-336 trước Thiên Chúa Giáng sinh) xứ Macédoine đã cai trị toàn thể nước Hy Lạp. Về sau này, xứ Macédoine thành một tỉnh La Mã (vào năm 146 trước Thiên Chúa Giáng sinh).




(2) Hêbờ (Hébreux), về sau được kêu là Israélites (Do Thái) nguyên trước kia ở Palestine hay Judée, ở phía Nam xứ Syrie Phénécie, khoảng giữa Địa Trung Hải và sa mạc Syrie. Kinh đô PalestineJérusalem, hiện nay vẫn còn tồn tại, sau khi bị phá hủy và kiến thiết nhiều lần.


Hồi đó, số người Do Thái không được đông đảo bằng người Hy Lạp. Họ bị các dân tộc khác áp chế; cuối cùng, người La Mã đô hộ họ. Sau người Hy Lạp và người La Mã, người Do Thái dự một phần rất quan trọng vào lịch sử văn minh nhân loại. Người Do Thái không chinh phục thế giới bằng vũ khí, nhưng đã đem lại cho thế giới một đạo giáo lớn lao. Thực ra Gia Tô giáo bắt nguồn từ đạo giáo của Do Thái, mà Gia Tô giáo, hiện nay, là đạo giáo của Âu, Mỹ và tràn lan ra khắp các nước trên thế giới.


Từ khi vua Titus, con vua Vespasien xứ La Mã chiếm được thành Jérusalem (năm 70 sau Thiên Chúa Giáng sinh), người Do Thái không còn là một dân tộc nữa. Họ sống rải rác trên khắp thế giới, thành từng đoàn, từng nhóm và phần nhiều chọn lấy quốc tịch của những nước mà họ sinh sống. Hầu hết tại các nước trên thế giới, họ đều giữ một địa vị rất cao trong thương giới, tài chính giới và cả ở trong lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật.


Trong khắp các dân tộc trên thế giới, duy có Do Thái có một tình trạng bất thường và đặc biệt như vậy.




(1) Ai Cập (Egypte) là một vùng ở Đông Bắc Phi châu, chung quanh có Địa Trung Hải bao bọc và nổi tiếng vì thung lũng sông Nil ở trong nước.


Ai Cập, hàng ngàn năm trước đây, đã là một nước có một nền văn minh cổ kính nhất mà lịch sử còn ghi chép. Nước Hy Lạp, có tiếng là kết tinh của nền văn minh Âu Tây, cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều của Ai Cập, Phénicie và vùng Chaldée.


Xứ Ai Cập mất độc lập quá sớm. Ai Cập ở trong phạm vi các cường quốc Đông phương, nhất là trong phạm vi giang sơn của A Lịch Sơn Đại đế (Alexandre le Grand). Sau này, Ai Cập thành ra một tỉnh La Mã và chuyển sang tay người Byzantins. Sau, Ai Cập lại bị người Ả Rập đô hộ, rồi sau hết, bị người Thổ, rồi đến người Anh cai trị.




(2) Băng hà: chết.




(1) Phải gọi là Cựu Đờni vì có hai vua Đờni (Denys): một ở Syracuse (Sicile) là Cựu Đờni, còn con vua Cựu Đờni là Tân Đờni (Denys le jeune).




(2) Pờlatông (Platon) sinh năm 429-347 trước Thiên Chúa Giáng sinh là môn đệ của Socrate và thầy học của triết gia Aristote.


Nước Hy Lạp ngày xưa sản xuất ra rất nhiều nhà hiền triết. Socrate, Platon, Aristote là ba nhà hiền triết nổi danh nhất. Platon, ngoài ra, lại còn là một thi gia đại tài. Ông để lại nhiều tác phẩm, bây giờ được coi là văn cổ điển, và được liệt vào hàng tác phẩm kỳ diệu trong nền văn học thế giới. Ông sáng lập ra một trường, lấy tên là “Hàn lâm” (Académie), vì học trò của ông hội họp trong một khu vườn tên là Académos, gần thành Athènes.


Aristote, môn sinh của Platon, được suy tôn là một bậc hiền giả thông minh, trí tuệ vào bực nhất trong thế giới. Ông lưu lại hậu thế một tác phẩm còn danh tiếng hơn cả thầy. Tác phẩm của Aristote được dịch ra tiếng Ả Rập và La tinh, đã chi phối nền tư tưởng thời Trung cổ. Ông sáng lập ra trường péripatéticienne. Sở dĩ gọi thế là vì chữ péripatéticienne ở một động từ có nghĩa là đi chơi: ông Aristote vừa dạy học trò vừa đi chơi thân mật với học trò, trong một miền gọi là Lycée. Aristote được suy tôn là “Vua hiền triết”.




(3) Bạo chúa, dịch ở chữ tyran ra, dùng để chỉ một người tiếm ngôi. Bởi vì bạo chúa hay cướp chánh quyền, chữ bạo chúa ngụ ý xấu. Nhưng trong lịch sử có những bạo chúa tốt cũng được thần dân yêu mến. Vì vậy, các bạn nên phân biệt chữ “bạo chúa” dùng ở trong sách này.




(1) Ngựa sổng: ngựa chạy mất.




(2) Họa: sự không may, tai nạn.




(3) Phi ngựa: phóng ngựa chạy nhanh.




(4) Phúc: điều may mắn, điều tốt.




(5) Bắt lính: gọi lính để đi đánh giặc. Ngày xưa, người dân đánh giặc cho một dòng vua, có khi không vì chính nghĩa gì hết, nên sợ lắm, thường trốn tránh để khỏi phải ra trận. Vì thế mới có những viên quân phụ trách đi bắt người đánh giặc, và do đó, sinh ra nhiều sự hà lạm, tàn khốc.




(1) Trứ danh: nổi tiếng.




(2) Tương truyền: cũng như tục truyền rằng…




(3) Kỵ mã: lính cưỡi ngựa.




(4) Sau này, văn chương Pháp, và cả văn chương Việt, thường dùng câu này để ngụ ý: ta không nên xen vào xét xử những việc mà ta không thấu triệt (không biết rõ).




(1) A Lịch Sơn Đại đế (Alexandre le Grand) con trai vua Philippe, vua xứ Maxêđoan, là một nhà chinh phục lẫm liệt nhất của phương Tây thời cổ xưa. Ông đã chinh phục được toàn thể Tiểu Á Tế Á (Asie Mineure), Ba Tư (Perse) và một phần Ấn Độ (Indes).


Kẻ địch chính của ông là Đariuýt (Darius Codoman), vua xứ Ba Tư.


Vua A Lịch Sơn đã thành lập một dải giang sơn vĩ đại nhưng sau giang sơn đó cũng tan rã. Song, sự nghiệp của ông cũng không đến nỗi vô ích. Đi đâu, ông cũng truyền bá văn minh Hy Lạp. Sau ông, ông đã để lại những lãnh thổ Hy Lạp ở Ai Cập, Syrie, Tiểu Á Tế Á, cho tới Bactriane, ở Sogdiane và ở Ấn Độ.


Vì có những lãnh thổ này, nghệ thuật Hy Lạp đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nghệ thuật Ấn Độ và nghệ thuật Trung Hoa.




(2) Hồi đó, tiền Hy Lạp gọi là talents. Theo sách thì Abulý dâng lên A Lịch Sơn 3.000 talents, tính ra bạc Đông Dương chừng một triệu sáu, một triệu bảy đồng bạc.




(1) Phôxiôn (Phocion), sinh năm 400-317 trước Thiên Chúa Giáng sinh, là một vị tướng nổi tiếng của thành Athènes và là một nhân vật quan trọng trong lịch sử Athènes. Suốt một đời ông là một tấm gương sáng về đạo lý. Lòng tốt của ông, tính tình giản dị và tinh thần cao cả của ông làm cho ông nổi tiếng. Về sau, dân chúng Athènes hành quyết ông một cách oan uổng. Trong sách này, có nhiều bài nói về các tình tiết đời ông.




(2) Đồng minh: các nước bạn liên kết.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đi chợ côn trùng Tây Bắc - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 08.11.2019
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
xem thêm »