tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28918460
Tiểu thuyết
30.07.2019
Đỗ Quang Tiến
Seo Mỉ


15. Ông Mí Cháng vung búa, chém mấy nhát nữa. Chiếc


búa mới chêm, mài vậy mà lưỡi búa chỉ bập nhẹ vào gốc cây.


Cán búa dội lại, muốn bật khỏi tay ông. Thì ra ông đã thấm


mệt. Chân tay mỏi rời. Đầu gối run run. Lưng áo đẫm mồ


hôi. Ông thả người ngồi bệt xuống đám cỏ. Đờ đẫn, ông đưa


mắt nhìn quanh. Quả đồi rộng, thoai thoải. Đất tơi, anh ánh


chất màu mỡ. Nguồn nước lại không xa. Một người Mèo đi


tìm đất phát nương, đến chỗ này có thể cắm nhà tạm được


rồi. Ông đã dừng lại. Sau khi dựng lều, ông hăm hở phát lau,


cây vòi voi. Khi mảnh đất đã quang, ông bắt tay vào chặt


đám cây to. Sức ông chưa đến nỗi đuối. Mà sao mới ngả


được mấy cây, ông đã thấy mệt mỏi. Mệt mỏi và buồn nản.


Có lẽ ông biết các gia đình người Mèo ở rải rác trên các đỉnh


núi giờ đây đã quây quần ở bản làng. Ông thì lại bỏ bản làng


đến sống trơ trọi ở đây. Trong khi họ đi làm với tổ, đội, ông


ở chỗ heo hút này, làm một mình. Dù có chán ghét cái hợp


tác xã Lù Chải đến đâu, ông cũng không khỏi buồn. Tâm


trạng đó đã cướp đi của ông một phần sức lực còn lại.


Bỗng chốc, ông Mí Cháng lại thấy tức giận. Tức giận Seo


Mỉ, A Dếnh, bác Giàng Vần... Tức giận vợ ông và cả bản thân


mình. Phải bỏ dở mảnh nương màu mỡ, trở lại bản Lù Chải


hay sao? Không, người Mèo đã ra đi, không quay về với


mảnh nương đã gầy. Ông loạng choạng đứng lên, nhổ bãi


nước dãi vào bàn tay cho đỡ rét và cầm lấy chiếc búa. Rồi


nghiến răng vung búa chém. Cái cây chưa đổ, ông đã lại


thấy mệt. Lần này mệt bã. Mắt ông hoa lên, mồ hôi vã ra.


Ông lảo đảo quay vào lều. Trong yên lặng của túp lều trồi


lên tiếng ngáy của lão mú cống. Lão ta lại mò ra đây lúc sẩm


chiều hôm qua. Và lúc này lão ta còn đang ngủ. Cái thân


hình gầy còm nằm co quắp bên đống lửa đã lụi, khiến ông


chán ngán đến tột độ. Ông muốn thét lên: Chử lầu à! Ta gặp


phải rừng gai rồi sao? Nhưng ông lại ghìm được.


Một lúc lâu sau, ông Mí Cháng mới lại sức. Qua cơn mệt


đến cơn đói. Ông lấy bột ngô ra để đồ. Túi bột vợ ông vừa


tiếp tế, chỉ còn đủ cho sáng hôm nay. Bữa sáng đã vậy, bữa


chiều thì sao? Lại còn lão mú cống. Lão ta đã mò đến đây,


không lẽ để lão ta đói. Nỗi buồn lại ập đến xâm chiếm lấy


ông. Ông lặng nhìn ngọn lửa ngập ngừng bén vào các thanh


củi ẩm. Bếp lửa khói um.


Chõ mèn mén vừa chín tới thì bà Mí Cháng bước vào.


Trước khi vào lều, bà đã dạo quanh mảnh nương. Mảnh


nương phát nham nhở. Và ở đây, túp lều trống trải. Gió


đang lùa vào, rung các cánh liếp. Bà khẽ thở dài.


- Ông đi về với vợ con, ở đây một mình không nên đâu.


- Phút sau bà Mí Cháng nhẹ nhàng nói - Ông được nhiều


tuổi rồi. Trời có lúc nắng lúc mưa, ông phải có lúc khỏe lúc


ốm. Khi ấy, ai chăm nom ông? Bây giờ người Mèo ta ở chung


trong bản, cùng đi làm cho hợp tác xã, sao ông bỏ đi để lại


đói rét như ngày xưa? Bụng ông nghĩ sai quá.


Những câu nói có lý có tình của người vợ trước kia vẫn


chịu lép một bề, đã làm cho ông Mí Cháng suy nghĩ. Thật ra,


những ý nghĩ đó đã lởn vởn trong đầu ông từ mấy hôm nay.


Nhất là lúc này, - lúc cái cán búa đã bỏng rát trong tay và sự


hăm hở buổi đầu đã nguội lạnh trong lòng. Tuy vậy, ông vẫn


còn tự ái.


- Tôi không quay về bản Lù Chải cũng không phải đói


rét mà. - Ông Mí Cháng nói cứng. Rồi ông nhắc lại cái câu


người Mèo thường nói - Người Mèo chỉ cần có cái búa, túi


bắp giống, chỗ nào cỏ mọc được, người Mèo sống được.


Bà Mí Cháng rắn rỏi ra:


- Chỗ nào cỏ mọc được, người Mèo sống được. Nhưng


sống như con dế dưới khóm ngải, ông còn chưa biết hay sao?


Bà Mí Cháng nói đúng quá. Người Mèo trước kia, trừ


một số ít có quyền thế, có nhiều trâu, ngựa, bạc trắng là


sướng còn thì đều như con dế núp dưới khóm ngải. Con dế


gặm cỏ, uống sương mà sống. Đêm khuya thanh vắng, nó


mới dám kêu rích rích nói đến nỗi khổ của nó. Già nửa đời


người sống lang thang, ông Mí Cháng chẳng lạ gì cái kiếp


con dế. Khổ thật khổ... song ông chưa chịu thua người vợ từ


trước tới nay vẫn phục tùng mình.


- Người Mèo không ai muốn thế đâu. Nhưng không có


đất, phải đi tìm đất mà sống... - Ông Mí Cháng gượng nói.


- Sao lại không có đất? Có hợp tác xã, ruộng nương


không gầy nữa. Bao quả đồi bỏ không cũng có cây mọc lên


rồi. Chị kỹ sư người Mèo ta bảo cây thông, câu trẩu sẽ cho ta


lúa, bắp, xèo. Đất tốt lại rồi, sao còn phải đi tìm đất?


Ông Mí Cháng nhìn trộm vợ. Dà! Sao hôm nay bụng bà


ấy sáng thế? Ông không khỏi ngạc nhiên. Sau đấy, ông nghĩ


ra. Chắc Seo Mỉ hay ai đấy đã nói với bà ấy những điều kia.


Bối rối, ông khum mấy ngón tay cầy ngược lên mái tóc,


miệng lẩm bẩm:


- Đất tốt mà người không tốt cũng không ở được...


- Từ hôm ông đi phát nương xa, chị Seo Mỉ, chị Seo


Chấn, anh Sùng Chí, ông Giàng Vần đều đến nhà bảo tôi đi


tìm ông về làm ăn với dân bản. Tối hôm qua, chị chủ nhiệm


lại đến nói chuyện với tôi lâu lắm. Như thế, cán bộ xấu hay


tốt? Bụng phải tối quá mới cho người ta xấu được.


Ông Mí Cháng lặng thinh. Té ra hợp tác xã Lù Chải đã


không chán ghét mà còn có lòng thương mến ông. Ông cảm


thấy thỏa mãn. Mặc dù vậy, ông chưa hết sượng sùng. Bởi


thế, khi vợ ông giục về, ông còn nấn ná ngồi lại. Bà Mí


Cháng dỡ mèn mén ở trong chõ ra, gói vào tàu lá soi, đặt bên


cạnh lão mú cống. Dọn dẹp xong, bà ái ngại nhìn lão thầy


cúng nằm co quắp bên bếp, đoạn bước ra khỏi túp lều.


Chồng bà lẳng lặng bước theo sau.


Vợ chồng ông Mí Cháng đã đi được một quãng bỗng có


một bóng người lách qua khe liếp, luồn vào trong lều. Ai


như A Lử? Đúng hắn. Hắn đến đây làm gì?


A Lử vừa ở bên kia về. Cũng đã lâu rồi, hắn không đem


hàng sang bán chỗ này, việc chạy hàng chuyến không ngon


ăn như mấy tháng trước nữa. Lẽ nữa, hắn còn đang buồn


bực vì không hái nổi bông hoa dồng dín tơ. Việc đi lao động


cho hợp tác xã cũng chẳng làm cho hắn vừa lòng. Hắn muốn


bỏ bản Lù Chải ra đi. Nhưng A Cấu đã vạch cho hắn thấy


con đường hắn định đi không có lối thoát. Hắn đành nán lại


chờ thời cơ. Trong những ngày giáp Tết, hắn lại nghĩ đến


việc chạy một chuyến hàng, chảo chớp lấy một món. Hắn


liền chạy đi mua bóng đèn, quần áo trẻ con... Hôm qua hắn


đeo một túi dết hàng, tất tả đi. Hôm nay hắn kéo lê bước


chân quay về. Chiếc túi hàng còn nguyên vẹn, trễ xuống một


bên vai. Chiều chợ đã thay đổi mà hắn không hay.


Biết ông Mí Cháng đang phát nương ở đây, trên đường


về, A Lử tạt vào. Hắn muốn nghe ngóng tình hình. Đêm hôm


trước, chú cháu hắn đã bàn bạc với nhau mãi đến khuya.


Nếu ông Mí Cháng đậu được ở đất này, chú cháu hắn sẽ dựa


vào ông ta, chuyển nhà ra đây. Họ cũng sẽ vỡ ruộng, phát


nương. Ngoài ra, chú sẽ trồng cây thuốc phiện; cháu thì


thỉnh thoảng lại chạy hàng chuyến. "Giang sơn một khoảnh",


họ sẽ thoải mái hơn là ở bản Lù Chải. Thêm vào đấy, một


mức sống đầy đủ hơn lúc làm xã viên hợp tác xã... Chú cháu


hắn tính toán như vậy... Lúc này đây, hắn ở trong túp lều


xiêu vẹo bên mảnh nương phát dở.


Mệt mỏi, A Lử ngồi xuống đống cỏ khô. Rồi đảo mắt


ngó quanh lều. Không thấy chăn chiếu, rìu búa, con dao phát


đâu nữa. Bát, thìa, cái chõ đồ mèn mén cũng không thấy nốt.


Chỉ có lão mú cống nằm bên đống lửa đã rạc. Và đang thở


khò khè. Ông Mí Cháng đâu? Nhìn quang cảnh, thấy rõ ông


ta đã đi chỗ khác, phát nương hoặc đã bỏ về nhà. Có điều


chắc chắn là ông ta không ở đây nữa. Đi buôn thì gặp chầu ế


ẩm. Định chuyển nhà lại không có chỗ dựa. Đi đâu, làm gì


bây giờ? Một nỗi buồn gần như hoang mang choán lấy tâm


trí A Lử.


Tia mắt A Lử dừng lại trên thân hình lão thầy cúng. Lão


ta vẫn nằm trong tư thế đó. Hai bàn tay gầy guộc đan vào


nhau, kẹp lấy đầu. Đôi đầu gối xương xẩu gập lại, co lên


ngực. Lão ta nằm yên, người dán xuống đống cỏ. Và hơi thở


nghèn nghẹn trong cuống họng. "Có lẽ mú cống ốm nặng.


Nằm một mình ở đây, vừa đói vừa rét, mú cống đến chết


mất...”. Thình lình ý nghĩ đấy đến với A Lử. Hắn liên tưởng


đến số phận A Cấu, đến bản thân mình nếu sống trơ trọi


trong túp lều hoang như lão thầy cúng. Bất giác hắn rùng


mình. Nỗi buồn bỗng tấy lên, nhức nhối trong lòng hắn.


A Lử châm đầu củi, gầy lửa. Mấy phút sau, hơi ấm lan


ra khắp nơi. Hắn lấy nắm cơm xôi đem theo, đặt cạnh gói


mèn mén dành cho lão thầy cúng. Rồi bước ra khỏi túp lều đã


để lại trong lòng hắn một cảm giác lạnh lẽo. Đi đâu đây?


Thất thểu, hắn đi về phía bản Mèo.


*


Trở lại hợp tác xã Lù Chải.


Có người ngày đi làm với tổ, đội, tối đến bên bếp lửa, lại


vẩn vơ nghĩ tới mảnh nương riêng. Có người vẫn muốn lần


theo dấu chân lang thang mà thời gian sắp xóa nhòa. Thậm


chí có người còn thù ghét, không muốn nó tồn tại trên đất


này. Vẫn còn những người như thế. Dẫu vậy, hợp tác xã bản


Mèo vẫn như ánh nắng lúc mặt trời từ khe núi nhô lên, nắng


ấm rồi, sương đang tan.


Những ngày này, ban quản trị hợp tác xã bận rộn. Vừa


đôn đốc việc làm vụ đậu tương hè vừa giúp các gia đình xã


viên tổ chức lại chăn nuôi. Seo Mỉ như con thoi. Hết lặn lội


dưới nương lại về trụ sở họp. Vừa đảo về nhà đã lại lật đật đi


ngoài ruộng. Có tối, mãi đến lúc gà rạo rực gáy lần thứ nhất,


chị mới về đến nhà. Mèn mén, canh đậu bà Thào Xóa phần


chị, lúc đó đã nguội tanh.


Bấy giờ trời đã nhá nhem tối. Seo Mỉ chạy đi cắt nắm cỏ


ngựa, vừa về đến cổng, đã thấy bà Mí Cháng đứng đợi ở


đấy. Nhác thấy chị, bà ta nói ngay:


- Sáng hôm nay tôi đến chỗ ông ấy phát nương. Tôi đem


lời chị nói với tôi, nói lại thì bụng ông ấy sáng ra, theo tôi


đi về...


- Cháu mừng cho bà! - Seo Mỉ ngắt lời bà Mí Cháng -


Thế là ông bà lại được ở một nhà, cùng làm cùng ăn...


- Chưa được như thế đâu, chị Seo Mỉ à! - Bà Mí Cháng


vội thốt lên - Lúc chiều, ông A Cấu đến chơi. Sau khi ông A


Cấu về, ông ấy bảo tôi, sáng mai ông ấy lại đi phát nương


không ở nhà nữa. Bụng tôi buồn quá.


Seo Mỉ nhíu mày. Giữ chân một con người đã cùng trời


cuối đất khó thật! Phút sau, chị đành động viên bà Mí


Cháng:


- Bây giờ bà về nhà, tìm lời tốt nói thêm với ông.


Tối hôm nay cháu phải đi họp. Họp xong, cháu sẽ đến nhà


bà. Bà cứ tin là hợp tác xã mà làm ăn tốt, ông phải nghĩ khác.


Lúc ấy, dù có đi xa, ông cũng sẽ quay về với gia đình, với


hợp tác xã.


Bà Mí Cháng thẫn thờ quay ra. Seo Mỉ địu lù cở cỏ ra tàu


cho ngựa ăn. Trong nhà có tiếng lách cách quen thuộc. Chắc


bà ngoại đang lụi cụi bày bát đĩa ra ăn, sửa soạn bữa ăn tối.


Chị toan quay vào chợt một người ăn vận theo lối cán bộ


thoăn thoắt đi vào trong sân. Anh kỹ sư chăn nuôi người


Tày. Chị đã hẹn với anh, tối hôm nay, cùng đến nhà ông


Chín Sàng. Biết tính anh tích cực, sốt sắng trong mọi việc, chị


vội nói:


- Ta đi chứ, anh Pảo!


- Ta đi thôi. - Sực nhớ ra, Pảo liền hỏi - Chị ăn bữa


tối chưa?


Seo Mỉ ngập ngừng:


- Tôi chưa ăn... nhưng tôi chưa đói đâu. Ta đi thôi, anh


Pảo à!


Hai người đi ra con đường mòn men theo khe đồi. Bóng


một con trâu, bụng no kềnh, đang đi lại, in một mảng tối


thẫm trên cái nền nhờ nhờ. Nó bước chậm chạp, cái mõ gỗ


đeo ở cổ, lắc lư. Lóc cóc, lóc cóc! Pảo ngắm nhìn con trâu.


Bóng dáng nặng nề với những bước chậm in trong bóng tối


im lìm khiến anh nghĩ đến một cái gì đã xưa cũ mà vẫn còn


tồn tại đến bây giờ. Anh nói nhỏ:


- Việc tổ chức lại chăn nuôi trong gia đình nhằm lợi ích


thiết thân của xã viên thế mà không dễ đâu. Vẫn còn có


những khó khăn đấy, chị Seo Mỉ à.


Con trâu đi ngang qua Seo Mỉ. Túm lông đuôi trâu quật


vào người chị, ran rát. Chị sực nhớ đến con trâu của ông


Sùng Tủa. Tối nào cũng vậy, ông buộc nó trong nhà. Tối hôm


vừa rồi, chị cùng với anh kỹ sư chăn nuôi đến vận động ông


đưa trâu ra ngoài chuồng. Cho tới lúc hai người ra về, con


trâu vẫn đứng nguyên chỗ cũ, trên vũng nước đái võng một


góc nhà.


- Anh muốn nhắc đến việc ông Sùng Tủa phải phông? -


Seo Mỉ khẽ hỏi.


- Đấy chỉ là một việc. Nếu đi sâu tìm hiểu, ta sẽ thấy còn


nhiều việc khác.


- Tất cả là do tập quán, nếp sống cũ.


- Ngoài trình độ, nếp suy nghĩ bị hạn chế, lại còn thực tế


đời sống trên miền núi chúng ta nữa. Nhân đây, tôi lại nhớ


đến câu chuyện Ké(1)Àng, người bản tôi, đã kể cho tôi nghe.


Đã từ bao đời nay, đồng bào Tày ở nhà sàn. Trước kia


trên sàn, người ở; dưới gầm sàn, lúc nhúc trâu, lợn, gà vịt. Ở


đấy, ngày này qua ngày khác ngập ngụa nước đái và phân.


Mùi hôi hám bốc lên suốt ngày đêm. Biết là khổ mà mọi


người vẫn phải sống quanh quẩn trên cái sàn lát bằng những


tấm giát vầu đã nhẵn bóng. Vì lúc nào con hổ đói, thằng kẻ


trộm cũng nhòm ngó đám gia súc kia. Đêm đến, thấy động,


chủ nhà phải giật khẩu súng kíp treo trên vách, bắn đuổi


ngay. Không mấy đêm không vang lên đây đó những phát


súng cắt ngang giấc ngủ đang ngon lành.


Hồi kháng chiến chống Pháp, một cơ quan nọ sơ tán đến


bản của Ké Àng. Thấy dân bản sống gian khổ, cán bộ cơ quan


phối hợp với cán bộ địa phương đến từng nhà vận động làm


chuồng trâu, chuồng lợn xa nhà. Ai nấy đều hưởng ứng.


Duy chỉ có Ké Àng là còn do dự. Bởi lẽ Ké có mấy bung


ruộng mà chỉ có mỗi một con nghé mới vực cầy. Nếu chẳng


may con hổ đói đến cõng nó hay thằng kẻ trộm dắt mất thì


tai họa cho Ké. Nhưng rồi Ké làm theo mọi người. Một đêm


kia, tiếng súng bắn đuổi bỗng nổ ran. Thì ra con nghé của Ké


vừa bị hổ bắt. Sáng sớm hôm sau, dân bản đổ đi các ngả, tìm.


___


(1) Tiếng Tày, nghĩa là ông già.


Tìm mãi mới thấy bộ lòng, cái đầu, bốn cái chân con nghé


cùng với lốt chân con thú dữ trong rừng sâu.


Lấy cái gì mà cầy mấy bung ruộng kia bây giờ? Ké Àng


mắt tối sập lại, lòng như xát muối. Giữa lúc Ké lo lắng, thì cơ


quan và dân bản gom góp mỗi người một ít, mua một con


nghé dắt đến cho Ké. Họ còn làm cho Ké cái chuồng chắc


chắn hơn cái trước. Ké xúc động rơi nước mắt. Từ đấy,


chuồng trại ở xa mà con trâu, con lợn vẫn béo khỏe...


Kể xong, Pảo trầm giọng:


- Chẳng phải người miền núi không hiểu ở lại như thế là


mất vệ sinh, dễ ốm đau mà chính là thực tế của đời sống bắt


buộc ta phải sống như vậy. Ngày trước, con hổ, con báo bắt


lợn thật ; kẻ trộm dắt trâu thật; thằng phỉ cướp ngựa thật.


Bây giờ cái đó không đáng lo nữa. Tuy vậy, cán bộ chúng ta


phải làm cho đồng bào tin tưởng bằng những sự việc cụ thể.


Khi đã tin tưởng rồi, đồng bào sẽ tự động làm.


Seo Mỉ im lặng. Ý kiến của anh kỹ sư vừa gợi cho chị


nhiều việc phải làm. Có những việc có thể làm ngay. Có


những việc phải đợi tuần trăng sau, mùa lúa sau mới làm


được. Song, sớm hay muộn, đều phải làm cả. Bản Mèo tăm


tối bao nhiêu đời nay rồi. Bây giờ ông trăng đã thắp sáng,


ông mặt trời đã thức dậy. Bản Lù Chải cũng như các bản


làng khác, phải sáng ánh trăng, ánh mặt trời... Còn đang suy


nghĩ miên man, Seo Mỉ đã đi đến nhà ông Chín Sàng.


Bác trưởng trại Giàng Vần đến đây đã được một lúc.


Ông Chín Sàng với bác đang uống nước, hút thuốc. Seo Mỉ


nhìn quanh. Quang cảnh trong nhà, lúc bóng tối đã đỏ lửa


bếp, vẫn như những lần chị đã đến đây. Con ngựa màu nâu


buộc ở gian bên này; gian bên kia đặt chiếc chuồng gà. Đàn


gà con đang kêu chiêm chiếp. Con ngựa vừa cất tiếng hí khe


khẽ. Tiếng động mơ hồ tựa như từ một đỉnh núi cao, một


dòng suối sâu vọng về. Nghe xa lắc và buồn tẻ.


- Ông vẫn buộc ngựa, nhốt gà trong nhà à? Cháu nói với


ông rồi mà. Ông cứ để ngựa ngoài tàu, gà ngoài chuồng,


không sao đâu. - Seo Mỉ nói, giọng không được vui như


mọi lần.


Ông Chín Sàng ra vẻ lúng túng. Ông thoáng nhìn con


ngựa, đoạn quay mặt đi:


- Tôi chỉ có một con ngựa... Không có ngựa, không đi lấy


củi, đi chợ được. Khó thế, chị chủ nhiệm à.


Ông Chín Sàng tỏ ý vẫn sợ phỉ. Seo Mỉ nghiêm trang nói:


- Dân quân canh phòng suốt đêm. Công an võ trang


thỉnh thoảng lại tuần tra quanh đây. Thằng phỉ không dám


mò vào bản, dắt trộm ngựa đâu.


- Ờ, thằng phỉ biết sợ công an, dân quân rồi, nhưng mà


còn con hổ. Nó mà đói, người nó còn dám bắt đấy.


- Ban đêm mà có người qua lại, hổ cũng không dám về.


Ông biết đấy, đã lâu lắm, ở xã ta có con ngựa, con lợn nào bị


hổ bắt đâu.


Ông Chín Sàng lặng im. Đúng như chị chủ nhiệm nói,


con hổ cũng biết sợ người rồi. Vậy mà ông vẫn phấp phỏng.


Cái bóng ma quái của thằng phỉ, con hổ ngự trị từ thuở nào,


đến giờ vẫn lởn vởn trong đầu óc ông.


- Tôi phải đi lấy gỗ làm lại cái tàu, cho thật khỏe, ban


đêm mới để con ngựa ngoài ấy được. - Ông Chín Sàng ậm ừ.


Seo Mỉ nhắc lại:


- Còn cái chuồng gà kia nữa, ông đừng để nó trong nhà.


- Phải làm lại cái chuồng đã. Con cáo còn nhiều đấy.


Chuồng không tốt, nó chui vào cắn cổ con gà lôi đi ngay. -


Chừng như để Seo Mỉ yên tâm, ông Chín Sàng ngay thật nói


- Ban đêm, để con ngựa, con gà trong nhà quen rồi, không


sao đâu chị chủ nhiệm à?


Seo Mỉ nén tiếng thở dài, lặng thinh. Biết ý, anh kỹ sư


chăn nuôi liền xen vào:


- Chị chủ nhiệm nói thế là đúng, ta nên làm theo, ông


Chín Sàng à! Để con trâu, con ngựa trong nhà không những


mất vệ sinh mà còn nguy hiểm nữa. Trong phân trâu, phân


ngựa có vi trùng uốn ván. Nếu chân ai có mụn hay bị xước


mà giẫm phải chỗ ấy, người đó có thể mắc bệnh uốn ván


rồi chết.


Ông Chín Sàng ngơ ngác:


- Tôi có thấy ai chết như thế đâu.


- Có đấy. Có nhiều người chết vì bệnh ấy rồi mà ta


không biết đấy thôi.


- Thật à? - Ông Chín Sàng trầm ngâm giây lát, đoạn nói -


Tôi phải làm lại chuồng ngay thôi.


- Ông nghĩ thế là đúng rồi. Bây giờ trật tự an ninh trong


bản làng đã được bảo vệ, đêm đến, ta không cần phải để gia


súc ở trong nhà nữa.


Bây giờ bác Giàng Vần mới lên tiếng:


- Con lợn của ông đâu rồi?


- Dà! Mua phải giống xấu, nuôi mãi nó vẫn không to


được, tôi bán cho người ta giết thịt rồi. Hôm nào phiên chợ


Pha Long, tôi phải mua con giống khác về nuôi.


- Ông đừng mua lợn ở chợ nữa, để trại mua trên huyện


giúp cho. Bây giờ ta nên nuôi lợn giống Mường Khương


thuần chủng. Ăn khỏe, chóng lớn, tốt lắm. Trại cũng có nuôi


một đàn lợn nái giống ấy. Bao giờ nó đẻ nhiều, xã viên cứ ra


trại của hợp tác xã mua con giống về nuôi.


Ông Chín Sàng nhìn bác Giàng Vần, vẻ phân vân:


- Tôi không quen nuôi lợn lạ. Nuôi con lợn ông nói có


khó không?


- Dễ thôi. Tôi sẽ bảo cách cho ông nuôi theo khoa học kỹ


thuật, - bác Giàng Vần nói vui, - nhưng bao giờ giết lợn, ông


phải mời tôi đến uống nước trắng, ăn lòng sấy đấy.


- Được... thôi. - Ông Chín Sàng kéo dài giọng, nụ cười


hiếm hoi nở trên môi. Nuôi được con lợn ăn khỏe, chóng lớn


thì vui trong bụng rồi.


Pảo ngắm con ngựa đang ngủ đứng, cái đuôi khẽ động


đậy. Rồi hỏi ông chủ nhà:


- Con ngựa này tốt không, ông à?


- Tốt đấy. Thồ khỏe, chạy dai sức... Nhiều người muốn


đem bạc trắng đổi lấy nó mà tôi không nhận. Có được con


ngựa hay không dễ đâu, anh kỹ sư à.


- Ở miền núi ta, con ngựa cần thiết cho việc giao thông,


vận chuyển. Nay mai, khắp các nơi trên miền núi đều có


đường rộng cho ô tô, xe máy hoạt động nhưng con ngựa vẫn


có tác dụng vì vẫn còn những nơi hẻo lánh, ô tô, xe máy


không thể đến được. Cho nên trong việc chăn nuôi ở gia


đình, ngoài con trâu, con lợn, con gà, ta phải chú trọng đến


con ngựa. Cũng như giống lợn bác Giàng Vần vừa nói, ta cần


có giống ngựa tốt. Đất miền núi là đất nuôi ngựa. Biết cách


nuôi, nó đem lại cho ta nhiều... bạc trắng như ông vừa


nói đấy.


- Giống ngựa ở miền núi ta tốt đấy chứ?


Pảo lại liếc nhìn con ngựa:


- Chưa được tốt đâu. Giống ngựa của ta nhỏ, yếu, sức


chuyên chở không được bao nhiêu. Ta cần tuyển chọn những


giống ngựa to, khỏe, dai sức, sinh sản tốt mà nuôi mới có


nhiều lợi.


Từ nãy tới giờ Seo Mỉ vẫn ngồi im. Chị đang nghĩ về


hợp tác xã của bản Mèo. Phong tục và tập quán, lối sống và


suy nghĩ già nua như những đỉnh núi phủ mây mù. Có


những người đang đứng trên các tảng đá rêu mốc, chưa biết


đi ngả nào. Ông Chín Sàng và một số người nữa. Họ ngơ


ngác trước nẻo đường xuyên qua vách núi vừa được mở ra


cho họ.


- Khó đấy. Cái chăn nuôi... khoa học kỹ thuật khó đấy. -


Ông Chín Sàng lẩm bẩm một mình.


- Ông Chín Sàng à! - Seo Mỉ chậm rãi nói - Việc chăn


nuôi trong gia đình là một phần thu hoạch quan trọng của xã


viên. Nhưng phải thay đổi con giống, áp dụng khoa học kỹ


thuật mới có kết quả tốt. Việc này cũng như mọi việc của


hợp tác xã, đã có cán bộ hướng dẫn, ông không lo.


Bác Giàng Vần hút vội điếu thuốc. Rồi vừa nhả khói vừa


hào hứng nói:


- Trại chăn nuôi của hợp tác xã ta sắp nuôi cá nữa đấy,


ông Chín Sàng à.


- Trên núi cao mà cũng nuôi cá được à? Thế thì ông


trưởng trại giỏi tay đấy...


- Có thể nuôi được. - Bác Giàng Vần dè dặt đáp. - Một


mình tôi có giỏi cũng không làm nổi. Phải có tập thể mới làm


được, ông Chín Sàng à. Ây dà! Ở trên núi mà có cá tươi ăn,


tốt đấy.


Anh kỹ sư tiếp lời ông trưởng trại:


- Khắc đi khắc đến. Ta quyết tâm làm, nhất định có cá


ăn. Bữa ăn của ta thỉnh thoảng phải có tôm cá tươi mới đầy


đủ chất bổ. Mà đợi nhà máy có đủ tôm cá đóng hộp,


phân phối cho khắp miền núi thì còn lâu. Ta phải tự lực cánh


sinh thôi.


Seo Mỉ trở lại câu chuyện vừa bị cắt ngang:


- Ông Chín Sàng à! Gần đây ông có đến chơi nhà anh


Sùng Chí không?


- Cũng đã lâu rồi, tôi chưa đến nhà anh ấy.


- Anh Sùng Chí tổ chức lại chăn nuôi trong gia đình rồi.


Anh ấy mới thật giỏi tay. Lúc nào rỗi, ông nên đến


tham quan.


Ông Chín Sàng gật gù:


- Thật à! Thế thì tôi phải đến... tham quan. Đầu người


già như cái thớt cối, xay mãi mòn rồi, không còn được tốt


như đầu người trẻ.


Việc tổ chức lại chăn nuôi ở gia đình ông Chín Sàng mới


làm được ở mức ấy. Nhưng ông đã thổ lộ điều mà có những


người không nghĩ tới hoặc không muốn nói ra. Thớt cối đã


mòn. Có thấy như thế mới nghĩ đến việc đục lại rãnh cối.


Yên tâm, Seo Mỉ rủ mọi người cùng về. Ra đến đường, mỗi


người đi một nơi. Nhớ lời hẹn, Seo Mỉ đến nhà bà Mí Cháng.


Mới đặt chân lên thềm hè, Seo Mỉ đã nghe thấy tiếng nói


trong nhà, giọng nhẹ nhàng:


- Ông được ăn mèn mén nhiều rồi, sao ông còn chưa biết


ai tốt, ai xấu? Người nào muốn ông bỏ bản, bỏ hợp tác xã đi


ở một chỗ, làm nương riêng như trước, bụng nó không


tốt đâu...


Tiếng bà Mí Cháng. Seo Mỉ đẩy cửa bước vào. Hai ông


bà ngồi bên bếp. Ông ngồi im, một bên mặt chập chờn ánh


lửa, bên kia chìm vào bóng tối. Ánh sáng và bóng tối đang


giành giật khuôn mặt ông. Tâm trí ông lúc này cũng vậy, cái


tốt, cái xấu chen nhau, len vào. Gương mặt bà cũng khác mọi


lúc. Cái vẻ nín nhịn, sợ sệt thường ngày đã thay thế bằng vẻ


bình tĩnh và tự tin. Hai ông bà đang nói chuyện. Qua câu nói


bất chợt nghe lúc đi vào, Seo Mỉ biết họ bàn chuyện ấy.


Chuyện về hạnh phúc hay bất hạnh trong gia đình.


Seo Mỉ ngồi xuống cạnh bà Mí Cháng. Một phút im lặng


trôi qua trong căn nhà. Rồi Seo Mỉ nói, không phải cân


nhắc nữa:


- Ông đã quay về, cháu khuyên ông nên ở nhà với bà, đi


làm với các xã viên. Đất này tốt nhất rồi. Ông có đi chín núi


tám khe cũng không tìm được đất nào tốt hơn đâu. Cháu nói


thật đấy.


Bà Mí Cháng tiếp lời Seo Mỉ:


- Tôi cũng đã nói với ông ấy, con chim phải có bạn, con


bướm phải có đôi, sống lẻ loi như người Mèo ta ngày xưa,


khổ lắm. Tôi nói nhiều lời tốt rồi mà bụng ông ấy vẫn còn


tối quá...


Bỗng nhiên ông Mí Cháng ấp bàn tay vào ngực, giọng


run run:


- Tôi là người Mèo mà. Không có cái ma, người Mèo


không sống được đâu.


Dường như sự nhẫn nhục của bà Mí Cháng đã đến cùng


độ. Trong giây phút đột ngột, nó biến thành cơn nóng giận


không kiềm chế nổi. Bà rít giọng, nói một thôi:


- Ông muốn làm mú cống à? Bây giờ chỉ có bọn mú cống


mới nói thế. Không có mèn mén, không có muối, người Mèo


mới chết. Không có "cái ma", người Mèo vẫn sống. Lão


mú cống ở bản này sống bằng "cái ma" hay bằng mèn mén?


Dạo này dân bản không cho nó uống rượu, ăn thịt gà nữa, nó


sắp chết đói rồi, ông còn chưa biết à? Mấy hôm nay nó đến


chỗ ông phát nương để làm gì? Nó đi tìm "cái ma" hay đi tìm


mèn mén? Chân nó đi đường này, tay nó chỉ lối khác. Dân


bản biết bụng nó lành hay ác rồi, không ai tin nó nữa đâu.


Ông đừng có nghe nó.


Ông Mí Cháng lặng ngắt. Lần đầu tiên, từ khi ăn ở với


nhau, ông nín nhịn người vợ chỉ biết phục tùng. Mỗi câu nói


đó là một ánh chớp trong đêm tối, sáng lóe lên trong đầu óc


ông. Hình ảnh lão thầy cúng thình lình hiện ra trước mặt


ông. Lão ta nẵm chỗ kia, co quắp bên bếp lửa. Hai cánh tay


gầy guộc kẹp lấy cái đầu tóc bù xù. Hai đầu gối xương xẩu


gập lại, co rút lên lồng ngực lép kẹp. Lão ta nằm yên không


động đậy. Y như lúc lão ta nằm trong túp lều chơ vơ. Trông


thảm hại quá... Uy thế lão thầy cúng, "cái ma" khiến ông ghê


sợ bấy lâu nay, đang lung lay. Sợi dây vô hình thít chặt vào


người ông đã nới ra. Vả chăng, những ngày vừa qua, sống


trơ trọi bên mảnh nương chìm trong mây mù, không khỏi


làm cho ông buồn, tủi. Ông lặng thinh, nét mặt đăm chiêu.


Seo Mỉ cũng im lặng. Chị thấy không cần nói gì thêm


với ông Mí Cháng. Ông ta đã quay trở về. Ông ta sẽ ở lại bản


Mèo. Chị tin thế. Chị ra về trong lúc ông ta vẫn ngồi im,


gương mặt nửa sáng nửa tối. Bà Mí Cháng có vẻ hối hận vì


đã nặng lời với chồng. Bà cầm lấy tay guồng toan quay chợt


tần ngần dừng lại.


Seo Mỉ về đến nhà lúc sương đã nặng hạt. Tiếng giọt


sương rơi lộp độp xuống tàu lá, nhắc nhở bóng đêm đã đẫm


sương. Hình như tối đã lâu, lâu lắm rồi. Căn nhà tĩnh lặng


đến lạnh lẽo. Chỉ có tiếng thớt cối xay quay đều đều. Rù rù,


rù rù...


Dưới ánh ngọn đèn tù mù để ở góc nhà, bóng bà


Thào Xóa chuyển động trên bức tường đất. Seo Mỉ đi được


một lúc, bà đi xay ngô. Xay cặm cụi cho đến bây giờ. Cối


nặng. Bà đã già. Hôm nay bà lại không được khỏe. Hai bàn


tay khô gầy bám vào cái tràng cối, nom đã run rẩy. Mỗi lần


đẩy thớt cối, toàn thân bà xô về phía trước. Khi kéo thớt cối,


người bà lại ngả ra phía sau. Cứ như thế, nhịp theo tiếng hai


thớt cối cà vào nhau không ngừng nghỉ. Bà biết mệt rồi. Mồ


hôi trên mặt đã ròng xuống cái cổ ngẳng, nổi gân xanh.


Bà Thào Xóa khom lưng bên cái cối xay ngô, chỗ mù mờ


bóng tối kia từ dạo con gái bà chết. Khi Seo Mỉ đã lớn, chị


được ra tỉnh học, rồi về lao động cho hợp tác xã. Cho nên bà


vẫn phải đứng ở góc tối kia, âm thầm làm việc ấy cho đến


bây giờ. Hầu như ngày nào bà cũng phải xay ngô. Sáng sớm,


xay để có mèn mén ăn bữa tối. Tối một lúc, lại phải xay để


Ti¬u thuy!t Ti¬u thuy!t 981


sáng sớm hôm sau có mèn mén ăn. Xay ngày nào, ăn ngày ấy


để bột ngô khỏi hả, ăn mất ngon. Từ đời ông cha đã làm như


thế, giờ đây con cháu cứ như thế mà làm. Ngày ngày, vào lúc


gà gáy giục sáng và tối đến, khi sương đã thấm ướt mái cỏ,


tiếng cối xay ngô lại vẳng lên ở khắp các nhà người Mèo. Rù


rù, rù rù...


Hai bàn tay khô gầy của bà Thào Xóa phải bám vào cái


tràng cối kia đến tận bao giờ? Đến khi nào bà già yếu quá


không làm nổi việc này nữa. Hoặc khi nào Seo Mỉ cũng đã có


tuổi, không còn sức làm các việc khác. Thật đáng buồn cho


bà Thào Xóa! Không, bà không thấy buồn. Bà cũng chẳng


oán trách số phận mình. Vì bà thấy từ xưa tới nay, tất cả các


bà già người Mèo đều như thế. Khi sức đã ngã, không vỡ


ruộng phát nương, trồng cây lúa, cây ngô được nữa, các bà


đành phải quanh quẩn trong nhà. Ở nhà, phải xay ngô, đậu


tương đỡ con cháu đang lặn lội ngoài ruộng dưới nương,


trong rừng. Nương gần, sáng đi, sẩm tối họ về. Nương xa,


dăm bảy ngày có khi trọn một tuần trăng họ mới trở lại nhà.


Người già phải chia sẻ nỗi vất vả với người trẻ. Họ đứng


đấy, bên cái cối quay không ngừng nghỉ.


Seo Mỉ lặng nhìn bà ngoại. Bà đang làm một việc quen


thuộc. Quen thuộc đến mức gần như chị không phải quan


tâm. Nhà người Mèo nào, người già không phải xay ngô?


Vào lúc này, nhà người Mèo nào chẳng có tiếng cối xay?


Bình thường quá! Nhưng không hiểu sao chị lại đăm đăm


nhìn bà. Có lẽ nét mặt, dáng điệu bà khiến chị chú ý. Hình


như bà mệt lắm rồi. Cái bóng in trên bức tường đất cứ ngả


nghiêng tựa hồ muốn rụi xuống. Seo Mỉ đứng bật dậy:


- Bà để cháu xay nốt cho!


- Xong rồi đây! Xong rồi đây! - Bà Thào Xóa vội nói, rồi


hạ giọng - Cháu đi làm cả ngày, mệt rồi đấy.


Quả thật, mẻ ngô sắp xay xong. Tiếng cối nghe gừ gừ.


Cái thớt trên như thể kênh lên. Bà Thào Xóa quay vài vòng


nữa rồi dừng lại. Đúng là bà mệt lả. Lẩy bẩy bà ngồi thụp


xuống đất. Seo Mỉ chạy lại, dìu bà đến bên giường. Nước


mặt chị ứa ra.


Seo Mỉ hết nhìn bà lại nhìn cái cối xay. Đã nhiều lần xay


đỡ bà, chị biết xay đậu tương đã nặng, xay ngô còn nặng


hơn. Xay xong, tay mỏi, mắt hoa, máu dồn xuống hai bắp


chân. Vậy mà việc đó lại dành cho người già... Làm cách nào


để giải phóng được người phụ nữa Mèo khỏi cái việc khó


nhọc, buồn tẻ ấy? Đột nhiên câu hỏi đó xoáy vào trí óc Seo


Mỉ. Phải có máy thay cho sức người! Chị sực nhớ ra đến cái


máy xay xát của nhiều hợp tác xã nông nghiệp ở miền xuôi.


Xã viên quảy gánh thóc ra chỗ đặt máy, một lúc sau đã có


thúng gạo đem về. Vừa nhanh chóng vừa nhàn nhã. Nếu


như hợp tác xã Lù Chải có một cái máy nghiền ngô hạt thành


bột? Ý nghĩ đó khiến chị nao nức vui. Nhưng rồi niềm vui


biến đi. Muốn cho máy chạy, phải có điện. Lấy điện ở đâu


ra? Trên miền núi, một số nơi đã dùng máy phát điện nhỏ,


chạy bằng sức nước. Ở bản này, suối xa, sức nước yếu,


không dùng máy đó được. Thế thì người phụ nữ Mèo vẫn


phải đứng chỗ tối mờ mờ kia, làm cái việc âm thầm nọ mãi


hay sao? Nỗi buồn thay thế niềm vui ngắn ngủi, choán lấy


Seo Mỉ.


Seo Mỉ đã bình tĩnh lại. Đưa nước về bản không dễ. Vậy


mà nước đã về bản. Đưa điện về bản cũng khó. Dù thế, điện


vẫn có thể về bản được. Điều quan trọng là ở chỗ dám nghĩ


dám làm. Seo Mỉ đang nghĩ đến việc đó. Việc giải phóng


người phụ nữ ở bản Mèo khỏi cái cối đã xay mòn sức lực và


tâm trí họ từ bao đời nay.


(còn tiếp)


Nguồn: Seo Mỉ, Di cảo của cố nhà văn Đỗ Quang Tiến, cuối tập bản thảo có ghi: “Hoàng Liên Sơn, mùa hè 1978”. Hơn hai chục năm sau khi nhà văn qua đời, các con ông mới tìm thấy bản thảo này. Seo Mỉ - 449 trang in khổ 14.5 x 20.5 cm- lần đầu tiên được in thành sách trong bộ Đỗ Quang Tiến – Tác phẩm chọn lọc, 1250 trang, khổ 14.5 x 20.5 cm. NXB Văn học, 2017.


Nhà báo Đỗ Quang Hạnh, con trai nhà văn, gửi www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »