tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30436144
Tiểu thuyết
30.07.2019
Hạ Bá Đoàn
Đi tìm hiện thực của những ước mơ


Quay lại kể về Trần Văn Tùng (cu Tý). Sau cơn bão, trời yên biển lặng. Mọi người di cư cố lết lên trên boong ngắm nhìn và thở hít không khí trong lành. Máy tàu khởi động, cả khối sắt khổng lồ hướng ra biển đông, chạy về phương Nam. An- Be giao cho Tùng danh sách những gia đình và người thuộc diện cần lưu tâm chăm sóc. Qua đọc kỹ danh sách, Tùng thấy có tên gia đình cụ Nguyễn Thị Mận ở Tổng Giang Cầu, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, trong đó có Cò Đỏ, Cò Xanh. Anh biết ngay đây là gia đình chánh Cò. Từ lâu anh cũng được tin cô anh là bà Hai đã tự tử chết và chánh Cò cũng đã bị giết. Anh đến gần nhìn Cò Đỏ: Sao nó giống anh nó là Cò Vàng đến thế, chỉ khác là đôi mắt nó to nhìn ra xa xăm, như có điều u uất, lông mày nó quá rậm, trông có vẻ dữ dằn. Ngược lại Cò Vàng có đôi mắt đen lay láy, toát lên sự dịu dàng, hồn hậu giống cô Hai. Tùng sai người mang đến thêm cho gia đình cụ Mận một thùng giấy to đựng đầy bánh bích quy, thịt cá hộp và nước ngọt để uống.


Tàu chạy được ba ngày, lênh đênh trên biển, thì gặp chiếc tàu của hãng tàu thủy Ba Lan, chở cán bộ chiến sĩ từ miền Nam tập kết ra Bắc. Văn Tùng đứng trên sàn tàu, tay dựa vào lan can, hai mắt đăm chiêu nhìn con tàu Ba Lan đang đi ngược lại. Anh nhớ đến cha mình, ông Cả Nhẫn. Anh hy vọng trên chuyến tàu kia có mặt cha anh và anh tưởng tượng biết đâu đấy cha anh cũng đang đứng trên sàn tàu vô tình nhìn về phía anh! Anh nghĩ đến mẹ đang thui thủi một mình chờ chồng chờ con trở về. Anh thì không biết bao giờ mới có thể về thăm mẹ, cuộc chiến này còn dài. Anh chỉ biết hy vọng trên con tầu kia có mặt cha anh. Biết đâu đấy cha anh cũng đang đứng trên sàn tầu nhìn về phía anh Anh nghĩ đến mẹ đang thui thủi một mình chờ chồng chờ con trở về. Anh thì không biết bao giờ mới có thể về thăm mẹ, cuộc chiến này sẽ còn dài lắm. Anh chỉ còn biết hi vọng gửi gắm vào cha anh, Ông ra Bắc có điều kiện gần mẹ, chăm sóc mẹ thay anh. Nhưng anh có biết đâu rằng, cũng như anh, cha của anh vẫn phải tiếp tục sống và chiến đấu trên mảnh đất Nam Bộ, dù rất nhớ quê hương và vợ con mình! Chiến tranh thật là khốc liệt!


                         


Một hôm, ông Bảy Phong Chủ tịch Ủy ban xã dẫn một anh bộ đội, đã đứng tuổi, nói tiếng miền Nam đến thăm nhà bà Cả Nhẫn. Bà giật mình sửng sốt. Ông Chủ tịch giới thiệu:


-  Đây là đồng chí Long Vân, bạn chiến đấu với ông nhà.


Bà Cả lòng bồn chồn, vội hỏi:


-  Thế ông nhà tôi bây giờ ở đâu? Và bao giờ mới về?


Ông Bảy Phong liếc nhìn sang Long Vân. Còn bà Nhẫn ngước đôi mắt như cầu khẩn như đợi chờ câu trả lời mà bà cho là quan trọng nhất đối với bà. Long Vân vẫn trầm ngâm. Khoảnh khắc bà Nhẫn chờ đợi sao mà lâu đến thế, bà linh tính như có chuyện chẳng lành, tưởng ông Nhẫn bị làm sao, bà òa lên khóc. Long Vân vỗ vỗ nhẹ lên vai bà và nói:


-  Ông Hai Nhẫn vẫn khỏe và bình an. Nhưng… ổng phải ở lại tiếp tục cùng đồng bào miền Nam đấu tranh cho đất nước thống nhất!


-  Ông nhà tôi bị Pháp bắt đày ra đảo Côn Lôn, rồi ở lại miền Nam chiến đấu suốt cả thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nay hòa bình rồi, sao không về với vợ với con chứ! -  Nói đến đây bà lại khóc tức tưởi. Bà lấy vạt áo lau lau nước mắt, nhìn Long Vân như chờ đợi, mong mỏi anh kể tiếp về ông -  Long Vân nói:


-  Ông Hai Nhẫn như người anh của cả tiểu đoàn ba trăm lẻ bảy chúng tôi. Anh em rất quý mến ổng. Nhiều người muốn ổng được về Bắc với vợ con, nhưng không ai thay được ổng.


-  Ông nhà tôi có khỏe không ạ? -  Vừa hỏi, bà vừa rót hai bát nước vối đặc mời hai ông.


-  Ông Hai Nhẫn tuy gầy, mà rất khỏe, chẳng thấy ổng ốm đau nặng bao giờ, chỉ có mái đầu thì bạc trắng như bà vậy.


-  Hai ông bà nhớ nhau nên cùng bạc trắng cả mái đầu! -  Ông Bảy Phong nói vui. Cả ba người cùng cười.


Câu chuyện đến đây, Long Vân mở xắc cốt lấy ra một phong thư đã ngả màu vàng, trao cho bà Nhẫn, rồi nói:


-  Khi hai chúng tôi gặp nhau, gấp gáp quá, ổng không kịp chuẩn bị gửi gì thêm về cho vợ con, chỉ kịp đưa lá thư cho tôi, rồi dặn với:


-  Nói với vợ con mình là mình vẫn khỏe, hẹn ngày thống nhất đất nước sẽ về!


-  Thế bao giờ thì thống nhất đất nước hở anh? -  Bà Cả hỏi.


-  Theo Hiệp định Giơnevơ quy định thì hai năm nữa sẽ hiệp thương tổ chức tổng tuyển cử, thống nhất đất nước -  Ngần ngừ một lát, Long Vân nói tiếp:


-  Đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngoan cố lắm, chúng không muốn thực hiện hiệp định đã ký kết. Nên ta phải đấu tranh. Ông Hai ở lại miền Nam là vậy!


Bà Cả Nhẫn lại lấy vạt áo chùi chùi nước mắt. Trước khi ra về, Long Vân đưa ra một chiếc khăn rằn và một chút tiền biếu bà Cả, nói rằng đây là quà của anh em đơn vị tặng. Bà Cả đón nhận và cảm ơn.


Khách vừa ra khỏi nhà, bà Cả quàng chiếc khăn rằn lên cổ, tất tưởi chạy sang hàng xóm gọi to:


-  Cu Ân có nhà không đấy?


-  Dạ, cháu có nhà đây bà ạ.


-  May quá, cháu đọc giùm bà xem cái giấy này, ông ấy gửi từ miền Nam ra nói gì nào?


Ân mở phong bì thư đã vàng úa, đọc:


“ Miền Nam, ngày… tháng… năm 1955


Gửi bà Cả Nhẫn, Làng Bình, xã Nội Duệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.


… Mình và cu Tý lâu nay vẫn khỏe đấy chứ? Ở xa nhà, tôi vẫn luôn nhớ đến mình và con. Khi kháng chiến, chỉ mong chóng đến ngày hòa bình, để về Bắc với vợ với con.


 Nay hòa bình, cuộc đấu tranh thống nhất đất nước lại cần tôi tiếp tục ở lại miền Nam làm nhiệm vụ. Tôi đành phải tiếp tục xa mình và con. Hẹn ngày thống nhất, cha con vợ chồng ta được sum họp. Cu Tý thay cha chăm sóc mẹ, giúp cha con nhé!...


Chào mình và con -  Cả Nhẫn”


Nghe cu Ân đọc đến đây, bà giật mình hỏi:


-  Hết thư rồi à, sao ngắn thế?


Cu Ân đọc lại một lần nữa cho bà nghe. Nghe xong, bà cầm lấy thư cố đọc, mà chỉ thấy dòng chữ nhòe đi. Thời trẻ bà cũng học và đọc được dăm ba chữ, nay già, mắt mờ, chẳng còn nhìn ra chữ nào. Bà chép miệng, cho thư vào phong bì, rồi cất cẩn thận cho vào chiếc hầu bao đeo ở thắt lưng. Bà về nhà, vừa đi vừa nghĩ:


Ông ấy bảo cu Tý hãy thay cha chăm sóc mẹ giúp cha. Nhưng nào có thấy nó về đâu. Bao nhiêu năm, vừa rồi có thư về hỏi thăm mẹ, chẳng nói chẳng rằng bây giờ ở đâu và bao giờ về!?


Lúc này, sao bà thấy nhớ ông ấy đến thế. Bà nghĩ: Ngày mới lấy ông, các bạn gái đều bảo ông ấy có học và giỏi giang nhất trong số trai làng. Khi hai vợ chồng ra Phủ Từ Sơn mở cửa hàng, ông ấy cho chữ, cho thơ và câu đối, ai cũng khen đẹp khen hay. Khi chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Lôn, bà cứ lo tưởng ông chết ở đấy, mà rồi ông ấy lại về! Mà về lại thành cán bộ Cộng sản được ông Trung ương cho xe về tận nhà cơ đấy. Nay ông ấy lại phải ở lại làm nhiệm vụ vì đồng bào miền Nam. Chứng tỏ ông ấy phải giỏi giang mới thế. Nhưng mà mình nhớ ông ấy quá! Già rồi mà ông ấy vẫn xưng mình với vợ như hồi còn trẻ -  Nghĩ đến đây bà tủm tỉm cười!


Về đến nhà, bà Nhẫn nghĩ thế nào, lại sờ hầu bao, biết chắc lá thư của chồng còn đó, bà cầm nón te tái đi ra ngõ. Thế là suốt buổi chiều hôm ấy và cả tối hôm ấy bà cầm lá thư của chồng đi khoe với bà con họ hàng khắp làng. Đến đâu bà cũng bắt các em các cháu đọc thư của ông Nhẫn cho mọi người cùng nghe, đọc cho bà nghe. Đến mức bà thuộc lòng cả lá thư, có đứa trẻ nào đọc bỏ sót hoặc đọc nhầm là bà nhắc nhở. Mọi người mừng cho bà, động viên: bà hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe để chờ đón ngày thống nhất, ông Cả Nhẫn được về, rồi con bà cũng về cùng bà, bà nhợ -  Bà gật đầu.


 


    Cũng trong thời gian này, ở một ngõ nhỏ đằng sau ga Sài Gòn có cặp vợ chồng ông lão tóc bạc trắng, nhìn kỹ ông ta chỉ đến tuổi năm mươi, bà vợ thì trạc trên ba mươi tuổi, đến thuê một căn nhà núp dưới hàng cây. Tên ông là Năm Cột, làm nghề dạy học cho trẻ vỡ lòng, xung quanh gọi ông là thày Năm. Vợ ông là Sáu Bi buôn bán hoa quả ngoài chợ. Hai vợ chồng không có con. Người ta kể, họ đều quê miền Tây, lên Sài Gòn từ hồi chiến tranh, thuê nhà ở, nay đây mai đó.


Một hôm, Sáu Bi đi chợ về đưa cho Năm Cột trái na bự đã nứt, bảo ông ăn đi. Năm Cột cầm trái na quay vào buồng, lấy dao nhọn bửa, một cuộn giấy ni lông nhỉnh hơn đầu tăm hiện ra, ông bóc ni lông, bên trong có tờ giấy mỏng ghi mấy chữ nhỏ li ti “Cơ sở bị lộ, số Chín đã bị bắt". Năm Cột đọc xong, châm lửa đốt. Ông viết mấy chữ cuộn vào giấy ni lông như sâu kèn khéo léo nhét vô cuống quả sầu riêng, gắn chặt lại đưa cho Sáu Bi, ông ghé tai nói nhỏ… Sáu Bi đi tong tả.


Năm Cột chính là Hai Nhẫn, là người phụ trách an ninh của phía Giải phóng ở thành phố Sài Gòn. Sáu Bi làm giao liên. Cả hai sống giả làm vợ chồng. Ông đội lốt mang tên người đã sống ở Sài Gòn từ hồi chiến tranh, người đó nay không còn ở đây nữa. Từ ngày vô Sài Gòn, Hai Nhẫn phải nói giọng đặc sệt Nam Bộ. Từ cách ăn mặc cho đến ứng xử nhất nhất giống như ông già Nam Bộ. Thi thoảng, khi trời gần sáng không ngủ được, ông ngồi dậy hút thuốc lào, nhớ đến vợ con… Ở buồng bên Sáu Bi vẫn ngủ say, tiếng thở đều đều.


Sáu Bi là cô gái miệt vườn ở tuốt tận kênh Sáng, có cha đi tập kết ra Bắc, mẹ và anh bị chính quyền bắt giam, rồi đưa lên khám Sài Gòn. Sáu Bi lần mò lên Sài Gòn nhưng không có cách nào gặp được mẹ và anh. Cô ra chợ bán hoa quả để sống, rồi gặp dịp tham gia làm giao liên bí mật. Qua nhiều thử thách, có bữa chết hụt, tưởng sống không nổi, Sáu Bi vẫn kiên trì bám trụ. Khi Hai Nhẫn vô Sài Gòn, cấp trên chọn Sáu Bi là người giúp việc cho ông và cho phép hai người đóng giả như vợ chồng. Hai Nhẫn biết hoàn cảnh gia đình của Sáu Bi và coi cô như người con của mình.


 


 Lại kể về cô May và bé Cò Trắng bị tai nạn. May đang bế Trắng ngồi ở mũi thuyền, thì bất ngờ hai chị em bị cành cây gạt ngã . Một tay May ôm chặt lấy em, tay phải bíu vào cành cây. Cô May đúng là gặp may, cành cây đó có nhiều nhánh nhỏ nổi lên mặt nước, cô đặt bé Trắng ngồi lên những nhánh cây ấy, còn mình thì cố nhún người cưỡi hẳn lên cành cây và ôm chặt lấy em. Cô giật thót thấy máu đỏ quanh mình, còn Trắng thì khóc ngằn ngặt, trong lúc nước lũ cứ cuốn trôi cây gỗ đi vèo vèo. May định thần sờ khắp mình Cò Trắng, khi sờ đến đùi em, thì nó khóc thét lên, cô thấy thịt đùi của bé bầy nhầy, cô giơ tay lên xem thì tay đầy máu! Cô May vội xé vạt áo mình băng vội cái đùi bị thương của Cò Trắng.


Cây gỗ trôi theo dòng nước khoảng một canh giờ, đến khúc eo, nó dạt vào gần bờ, trôi chậm lại. Một lần nữa hai chị em lại gặp may mắn. Nhìn thấy chiếc thuyền to neo đậu ven bờ. Cô gào to: Cứu tôi với! Cứu tôi với! Trên thuyền, một người đàn ông đã nhìn thấy cây gỗ trôi, lại nghe tiếng kêu cứu, ông ta vội quăng dây có móc sắt quấn vào các cành cây, cây gỗ trôi đi một đoạn ngắn, thì bị cái dây thừng lớn một đầu buộc chặt vào thuyền, dây căng lên, giữ cái cây dừng lại. Mọi người trên thuyền hùn sức kéo đầu dây và cho chiếc xuồng con bơi ra đưa hai chị em cô May lên xuồng, rồi đưa vào thuyền.


Họ thấy hai chị em da tím ngắt. Đứa bé đã ngất lịm không còn khóc được, đùi bên phải của nó bị cành cây đâm một vết khá sâu, nhưng may chỉ ở phần mềm, máu vẫn tiếp tục rỉ ra. Họ vội đốt lửa cho cả hai sưởi đỡ lạnh, băng bó kỹ lại vết thương cho đứa bé. Một bà dáng chủ thuyền đứng tuổi, đưa cho May một bộ quần áo khô để thay, bà lấy chiếc chăn đơn quấn đứa bé, ôm chặt nó vào lòng. Hồi lâu đứa bé cất tiếng khóc yếu ớt.


Ông chủ thuyền người cao lớn, tuổi trạc ngũ tuần, mặc bộ quần áo chàm dân tộc Tày. Ông bảo bà vợ nấu cháo cho hai chị em cô này ăn cho lại sức. Lúc ấy trời chưa sáng, sau khi được ăn no đủ, May bế em nằm trong chăn ấm, hai chị em ngủ thiếp mãi đến lúc mặt trời lên bằng con sào, Cò Trắng ọ ọe thức giấc và May cũng thức giấc theo. Cô vỗ vỗ em cho nó ngủ tiếp, còn mình thì suy nghĩ: đêm qua hai chị em ngã xuống sông, lúc ấy cô tưởng là sẽ chết thôi, may sao trời run rủi, cả hai chị em đều sống sót! Bây giờ bà Mận chắc cùng hai em Cò Đỏ, Cò Xanh đã đi xa rồi, bà không thể ở lại vì sợ bị bắt và bà có thể nghĩ hai chị em chết rồi cũng nên. Nay biết tính sao đây? Nếu bế Cò Trắng về lại làng Dưới thì dân quân sẽ nghi và tra hỏi lôi thôi, đi Hải Phòng thì trong túi không có đồng nào. Cò Trắng lại khóc gọi chị. Bà chủ thuyền bế đứa bé, vỗ về nó, rồi bà lấy bát cháo đường cho nó ăn, nó cầm lấy bát, nhìn bà như biết ơn. May cũng ngồi dậy, bà chủ thuyền cùng May nói chuyện:


-  Hai chị em vì sao lại ngã xuống sông?


May kể lại đang ngồi thuyền bị cây trôi gạt ngã, may bấu víu được cành cây, lại được các ông bà ở đây cứu giúp. Cô rất biết ơn ông bà chủ, nhưng chẳng có gì để trả ơn. Giữa lúc ấy ông chủ có mặt. May nhìn ông reo lên:


-  Ông Hoàng Quyền phải không ạ?


-  Sao cô biết tên ta?


-  Dạ, cháu là cháu bà Mận, mẹ tổng Cò. Mấy năm trước năm nào cháu cũng thấy ông mang thuốc quý đến bán cho bà cháu.


-  Thế à, từ ngày chánh Cò theo Pháp, ta không đến đó. Bà cụ Mận sao rồi?


Cô May nhìn ông chủ thuyền, nhận ra người quen, thấy ông cũng là người tử tế, thì nghĩ cứ nói thật, may ra ông ấy sẽ giúp đỡ được. Cô May kể tỉ mỉ câu chuyện xảy ra cho ông nghe. Nghe xong ông nói:


-  Ta bán hàng và quen biết bà cụ Mận từ ngày ta còn trẻ. Cụ Mận là người tốt đấy. Bây giờ cụ Mận chắc đi đến Hải Phòng rồi, mày có bế em đi tìm cũng chẳng dễ gì thấy đâu.


Bà chủ từ lúc thấy mặt bé Trắng, nó đáng yêu quá: Da nó trắng, mắt nó to và đen, cái trán và cái mũi nó cao cao. Bà không may mắc bệnh vô sinh, từ lâu vẫn có ý muốn tìm một đứa con nuôi, chưa tìm được. Nay bà bế trong tay đứa bé, mắt nó hau háu nhìn bà. Bà nghĩ là trời đã đưa đến cho bà đứa bé này. Bà rỉ tai với ông chồng… ông gật gật và nói:


-  Ta nghĩ mày bây giờ bế đứa bé này về làng, không khéo lôi thôi to. Chi bằng hai chị em mày cứ ở đây làm ăn với chúng ta có được không?


-  Cháu không ở lại với ông bà được đâu, vì cháu hẹn với mẹ cháu đến Hải Phòng thì về. Nếu không về mẹ cháu sẽ lo lắm và dân quân họ nghĩ là cháu đi Nam với bà Mận, thì tai họa cho mẹ cháu.


Bà chủ nói:


-  Hay là cô cứ về, để lại thằng bé này vợ chồng ta nuôi cho. Chúng ta chưa có con, sẽ coi nó như con đẻ của mình.


May ngần ngừ chưa biết nói sao. Ông Quyền nói:


-  Ta cũng nghĩ như bà ấy, mày cứ gửi em ở đây, khi nào muốn đón nó hoặc đến chơi thì cứ lại vào ba ngày cuối tháng sẽ gặp ta tại đây.


Sau một hồi suy nghĩ, May nói:


-  Thôi, cháu cũng phải nghe lời ông bà, đành vậy.


Ông bà Hoàng Quyền mừng rỡ, sai gia nhân thịt gà, bày rượu lên cúng làm lễ cho đứa bé “vào nhà” để con ma nhận mặt cậu bé là con trai ông chủ. Ông đặt tên cho nó là Hoàng Bình, ý là mong nó được bình an. Sau khi cúng xong, ông gọi mọi ngừời quây quần ăn uống no say. Ăn xong, May xin phép ông bà ra về. Trước khi về cô ôm em rất lâu, rồi nói với nó hàng tháng chị sẽ đến thăm em, rồi hôn lên má nó chùn chụt, mắt rớm lệ. Cô cảm ơn ông bà chủ và không quên dặn: Cò Trắng nó được chăm sóc và yêu quý từ bé, mong ông bà đừng để nó khổ. Nói xong cô trao tay em cho bà chủ, rồi quay bước lên bờ về nhà làng Dưới. Cò Trắng lúc này mới khóc thét lên, giơ hai tay về phía chị May gào to gọi tên chị!


May quay đi, gạt nước mắt, lủi thủi bước về hướng làng, trong lòng âu lo nếu đội cải cách biết chuyện thì rắc rối to (!)


 


   Tàu thủy lớn thả dân Bắc di cư vào Nam đậu ở bến cảng Sài Gòn. Những chiếc xe ô tô nhà binh, mỗi xe dồn hai chục người, chở đến một trại tập trung căng lều bạt trên một quả đồi lớn tại miền Đông, xung quanh chằng dây thép gai, lính gác cách biệt với bên ngoài. Trời phương Nam nóng như rang, mấy bà cháu cụ Mận lấy những chiếc áo dấp nước trùm lên đầu cho đỡ nóng. Hàng ngày mọi người ở đây được cấp phát hai lần vẫn là bánh mì và đồ hộp. Thiếu chất rau, ai ai cũng nóng từ trong nóng ra, lại còn cái nóng từ ngoài nóng vào; trẻ con, người già bị bệnh táo bón, bệnh loét lợi hàng loạt. Cứ chiều chiều, gió từ biển thổi vào, mấy bà cháu cụ Mận lại kéo nhau đi ra bãi trống lúi húi hái lượm những cuống lá rau má, rau rệu, rửa sạch rồi nhai sống.


Thời gian còn lại chờ đợi và nghe thuyết giảng, một ông nói:


-  Các vị từ Bắc vô đây là nước Việt Nam cộng hòa. Người Pháp rồi sẽ về nước. Hoa Kỳ là nước giàu nhất thế giới tư bổn. Nay Hoa Kỳ là bạn lớn của nước ta, sẽ giúp đỡ dân ta xây dựng lại sau chiến tranh, trở thành một quốc gia hùng mạnh, không để cho Cộng sản tồn tại, phải tận diệt . Chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ cho quân Bắc tiến, đưa các vị trở lại quê hương…


Mấy ông trong ban quản lý trại một lần nữa đưa cho mỗi người mấy tờ giấy in sẵn, chi chít những câu hỏi cần phải khai báo, để họ điều tra và bố trí nơi cư trú. Gia đình Phán Lâm xin được cư trú ở trong thành phố Sài Gòn. Cụ Mận và các cháu muốn sống ở vùng ven Sài Gòn để tiếp tục canh tác trồng lúa.


Sau hơn một tháng ở đây, mọi người lần lượt được phân bổ đi các nơi. Riêng với số đông là bà con Thiên Chúa giáo nghe theo lời vị linh mục, mọi người kéo đến dựng nhà ở xung quanh sân bay Tân Sơn Nhất, nơi đó đang xây dựng những nhà thờ Thiên Chúa cao rộng.


Một hôm, người ta đọc danh sách cụ Mận và hai cậu Cò Đỏ, Cò Xanh gọi lên xe. Chiếc xe đưa ba người đến một khu đất ven sông Sài Gòn, trên mô đất cao có cái nhà mái lá dừa, trước mặt căn nhà này phía xa xa là cánh rừng đầm lầy, thỉnh thoảng có những đám “lúa ma” trổ hạt, những con còng, cá nhỏ… bơi trong vũng nước. Cụ Mận bốc nắm đất xem, lội xuống thử, bùn ngập đến gần đầu gối. Cụ bảo:


-  Đất này trồng cây tốt lúa lắm đây.


Ông ấp trưởng đến kiểm tra giấy tờ, nghe vậy gật gật đầu nói:


-  Chỉ ngại cụ không có sức thôi, ở đây đất rộng người thưa, muốn khoanh vùng canh tác đến đâu là tùy. Mần ruộng dễ ợt.


Cụ Mận cùng hai cháu bê các thứ vào nhà xếp lại ngăn nắp, rồi nổi lửa nấu cơm. Cụ sai hai cháu ra ruộng xem có kiếm được thứ gì ăn không. Lát sau hai đứa vác về cái nơm, ai đó đặt ở bờ nước, đón lõng, nhấc lên thấy chật cứng nào lươn, ếch, cua và cá nhỏ chui vào đó. Cụ ra vườn hái mấy ngọn rau tạp nham và hái ba trái giác, đưa về nấu một nồi canh chua. Cả ba bà cháu, lâu lắm rồi mới được ăn bữa cơm ngon như thế.


 Trời về đêm gió biển thổi vào mát rượi. Hai cháu cụ đã ngủ say. Cụ nhìn ra trời đêm, ếch nhái kêu ran, những con chim ăn đêm đập cánh rào rào, cất tiếng kêu keng kéc, xa xa có tiếng gà rừng gáy. Từ trẻ, cụ đã quen với cảnh sống hoang dã này, cụ và chồng đã cùng gia nhân khai hoang lập ấp. Có điều, lúc này chỉ có mình cụ và hai cháu nhỏ phải tự lo đủ thứ để sống. Khó khăn sẽ nhiều lắm, nhưng cụ không sợ, cụ nghĩ mình còn sống được để bảo ban hai cháu làm ăn là được rồi. Mọi việc sẽ tính dần, ngủ đã, mai hãy hay. Cụ cùng hai cháu đặt lưng trên cái chiếu trải giường ken nan tre, kêu kẽo kẹt. Bên ngoài màn, đàn muỗi vo ve đông như bầy ong. Cụ thiếp đi, một đêm yên giấc sau bao ngày lênh đênh trên biển và chờ đợi ở trại.


9.«AI ƠI ĐỪNG ĐỂ LÁ TRẦU VÀNG»


Ngày đầu tiên của hòa bình lập lại trên đất nước Việt Nam tràn ngập không khí tự hào, cảnh tượng tưng bừng! Đâu đâu, người người cùng đổ ra đường, ra ngõ, tay cầm cờ hoa hoặc bất cứ thứ gì có trong tay đều giơ cao vẫy vẫy! Nét mặt ai ai cũng rạng ngời. Họ gặp nhau, dù mới quen, cũng ôm chầm lấy nhau, cười cười nói nói!


Tại Đáp Cầu, tuy vẫn còn quân Pháp đóng đó, tin hiệp định Giơ ne vơ ký kết đưa lại hòa bình cho Việt Nam đã lan khắp phố khắp nhà. Chỉ một lát sau, cờ đỏ sao vàng đã lần lượt cắm đỏ rực trước mỗi căn nhà, trên mỗi thân cây và cột đèn! Người ta công khai nói chuyện thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ, về kết thúc chiến tranh và những ước mơ trong tương lai! Đám lính ngụy đóng ở bốt gác hai đầu cầu bên bờ dòng sông, chúng vứt súng, cởi bỏ bộ quần áo rằn ri, mặc bộ quần áo thường dân trốn về nhà. Mấy tên binh lính người Pháp, trầm ngâm chống súng đứng nhìn đám người qua lại đang cười nói vui vẻ. Dưới sông, mấy chiếc thuyền con cắm cờ đỏ sao vàng bay phần phật, cờ đỏ in bóng xuống dòng nước xanh, tiếng trống cổ động trên thuyền gõ thùng thình thùng thình…


Ngôi trường Ngô Gia Tự ở vùng tự do, nơi Xuân Mai dạy học, hôm ấy có chuyện khác thường. Sắp cuối giờ học, đích thân bà Hiệu trưởng cầm dùi trống nện thình thình. Hàng chục lớp học, trẻ em chạy ùa ra khỏi lớp như những đàn ong khổng lồ. Các cô giáo thì nhìn nhau hỏi xem có chuyện gì mà đánh trống trước giờ tan học? Sau khi các lớp đứng theo hàng lối ở giữa sân bà Hiệu trưởng trịnh trọng và hân hoan tuyên bố:


-  Hòa bình đã lập lại!


Các em học sinh, phần lớn là người tản cư, nhảy lên reo hò, chúng tung mũ, túi đựng sách lên cao, nhảy vào nhau, ôm chầm lấy nhau, vật nhau, vui sướng!


Xuân Mai và các cô giáo ngẩn ra, tưởng như đây là giấc mơ! Ba ngàn ngày, ba ngàn đêm kháng chiến! Các cô đều là người có chồng hoặc có người yêu đi chiến đấu, họ đã từng ngày, từng đêm ngóng trông hòa bình lập lại!


Xuân Mai, ngỡ ngàng không nói lên lời. Ý nghĩ đầu tiên khi nghe tin hòa bình là cô nhớ đến Quang Vũ… Cũng như các lớp khác, Xuân Mai cùng các em học sinh dọn vệ sinh, trang trí cờ hoa, Mai hướng dẫn cho các em tập các tiết mục văn nghệ chào đón hòa bình. Gần cuối ngày, mọi việc đã tươm tất, Mai nghĩ: Nhà mình cũng phải làm cái gì chứ?


Một ý tưởng thật đẹp và lãng mạn bắt đầu hiện ra trong đầu, Mai gọi vài em học sinh nam về nhà giúp cô. Mai chỉ cho các em thấy dọc lối đi từ chiếc cổng tre lớn dẫn vào nhà cô có một giàn mướp hoa vàng rực leo trên hàng rào. Cô bảo các em lấy mấy cây tre làm cho cô một cái khung to bằng hai chiếc bảng đen, có ba chân chôn đứng cái khung đó ở bên phải lối đi vào nhà. Mặt sau của chiếc khung tre, buộc những thanh tre hình quả trám. Làm xong, cô hướng dẫn cho các em gỡ ra một dây mướp to khỏe nhất và dài nhất, đầy hoa vàng rực rất đẹp, vắt lên chiếc khung tre. Cô tự tay uốn dây mướp như hình con rồng lượn từ góc khung sát đất hướng lên góc chéo đối diện phía trên cao của chiếc khung. Rồi cô bảo hai em vào trước cửa nhà khênh ra một chậu hoa hướng dương cành vươn cao, có những cánh hoa to như cái đĩa lung linh dưới ánh nắng mặt trời. Cô lại bảo chúng khênh tiếp một cái chum to đặt ở trước góc khung tre, rồi nhấc chậu hoa hướng dương để lên trên chiếc chum ấy. Những bông hoa hướng dương như hiên ngang vươn tít lên góc phía trên của chiếc khung tre, cạnh đó là ngọn mướp giống đầu con rồng vươn tới như muốn hôn lên cánh hoa “mặt trời”. Mọi người đứng đó ồ lên khen và coi đây là một “bức tranh” đẹp quá! Mai cười sung sướng nghĩ đến Vũ, “bức tranh” này là đôi ta mừng ngày hòa bình đấy anh ạ! Mai tưởng tượng dây lá mướp xanh xanh và hoa màu vàng kia là chính em đấy, còn hoa hướng dương tượng trưng cho anh Quang Vũ. Mai đang muốn vươn tới “ mặt trời” của cô! Cô ước ao vài ngày nữa, Quang Vũ sẽ về nhà ngắm “bức tranh” này và khen ý tưởng của cô.


Từ hôm ấy, sáng nào thức dậy, Mai cũng xách bình nước phun lên “ bức tranh”, và tỉa tót nó ngày càng vừa ý. Vợ chồng ông Đức nhìn Mai tưới cây, tủm tỉm cười. Ông bảo:


-  Cơ quan tôi đang thu dọn tài liệu, chờ được lệnh thì về tiếp quản thủ đô


-  Thế ông về Hà Nội, còn mẹ con tôi sao đây?


-  Bà và con Mai cứ tạm ở đây, chờ tôi về trước thu xếp đã, vả lại con Mai còn chờ Vũ về xem hai đứa bàn tính sao, có thể chúng sẽ cưới vào dịp hòa bình này, cũng hay đấy!


Mai nghe bố mẹ nói chuyện, lòng lâng lâng vui sướng, tưởng tượng đến “ngày mai anh về”!


 


Giữa khi ấy, đơn vị của Quang Vũ, sau khi tham gia đánh thắng trận Điện Biên Phủ, kéo quân về đóng tại một làng ven sông Thao. Cả tiểu đoàn báo công, khen thưởng và tiếp tục chỉnh huấn, chỉnh quân.


Những ngày này có nhiều thời gian rảnh rỗi, Vũ hay nghĩ đến Mai. Anh mở một chiếc hộp giấy, trong đó xếp ngay ngắn hàng chục bức thư và những bài thơ tình mà anh đã viết gửi cho Mai, rồi không gửi, xếp cẩn thận vào đây. Sở dĩ thư không gửi đi, vì anh tự thấy trong tâm tư của mình không thanh thoát: chẳng lẽ lá thư nào cũng chỉ là hỏi thăm, rồi hứa hẹn ngày về, mà rồi không về được? Anh biết tính Mai, ngô là ngô mà khoai là khoai, phải rõ ràng. Cô ghét bỏ mọi sự mập mờ giả dối. Vũ không muốn tình yêu của hai người bế tắc mãi. Nhưng anh không thể vượt qua nổi nguyên tắc của tổ chức là cấp dưới phải phục tùng cấp trên. Lúc này Phạm Bê là người đại diện cấp trên của tổ chức đoàn thể. Nếu Vũ nói cho Mai biết rõ sự cản trở này, thì điều đó sẽ là nguy hiểm. Anh biết rằng khi nói ra điều này có nghĩa là tự anh đã tuyên án “ tử hình” cho mối tình tốt đẹp mà hai người đã nuôi dưỡng gần mười năm qua! -  Điều đó, anh nghĩ: Có chết anh cũng không bao giờ làm cái việc ấy! Đoàn thể là nơi tượng trưng cho lý tưởng cao đẹp của đời anh. Nỗi khổ tâm của Vũ lúc này là Phạm Bê nhân danh đại diện của đoàn thể tại đơn vị anh không đồng ý cho phép anh cưới Mai, mà từ lâu Mai đối với anh đã là một phần gắn bó của cả đời anh, anh không thể quên được Mai! Anh chỉ còn biết chờ đợi tình thế thay đổi, mặc cho thời gian trôi đi.


Ngày lễ mừng công của tiểu đoàn, đại diện cấp trên về dự, không khí thật náo nhiệt, mọi người hồ hởi. Ai ai cũng được biểu dương công trạng, người được cấp trên tuyên dương đầu tiên là tiểu đoàn trưởng Quang Vũ. Một số người được tặng huân chương trong đó có Quang Vũ và Phạm Bê. Ai ai cũng được gắn trên ngực kỉ niệm chương Điện Biên Phủ. Sau buổi lễ, là một bữa liên hoan, các chiến sĩ mổ những chú lợn nặng hàng tạ, ăn ngập răng. Buổi tối, họp Đảng ủy tiểu đoàn, cấp trên thông báo: Quyết định đề bạt đồng chí Phạm Bê lên làm phó chính ủy Trung đoàn, đồng chí Trần Huy chính trị viên phó tiểu đoàn lên thay chức đồng chí Phạm Bê, làm Bí thư Đảng ủy tiểu đoàn.


Tan cuộc họp, Phạm Bê khoác vai Vũ đi lững thững ven bờ sông tâm tình, anh nói:


-  Cấp trên và mình đánh giá cao công lao và năng lực của đồng chí Vũ, chỉ tiếc là đồng chí còn đang lấn cấn về chuyện riêng tư, nên…


Vũ nhấc tay Bê ra khỏi vai mình, nhìn anh và nói:


-  Không sao đâu đồng chí Bê ạ! Tôi bằng lòng với mình về chức vụ hiện nay. Nói thật lòng là tôi không thể nào quên Xuân Mai được!


-  Đồng chí hãy bình tĩnh đi. Tình hình cải cách ruộng đất xóa bỏ địa chủ hiện nay đang triển khai rầm rộ. Chỉnh huấn trong đơn vị, mọi người đã xác định rồi, lập trường phải dứt khoát rõ ràng, không thể mập mờ được. Hôm nay lần cuối cùng tôi nói với đồng chí là phải đặt sự nghiệp chung lên trên tình yêu cá nhân, nên dứt khoát với Mai, không thể khác được .


 Trong khi ấy thì Xuân Mai ngày đêm trông ngóng người yêu trở về với mình . Thời gian qua đi, cây mướp lụi tàn, bức tranh Xuân Mai kết bằng hoa để đón chờ người yêu về thì hoa lá cũng lần lượt rơi rụng. Đêm nào chiếc gối của Mai cũng đẫm nước mắt . Có lúc nhớ đến Vũ cô khe khẽ ngâm nga bằng giọng buồn buồn: «Ai ơi đừng để lá trầu vàng!» Bà Ngô Đức thấy con gái mắt thâm quầng thì thương lắm, mà ông thì đã về Hà Nội, chẳng biết làm thế nào. Bà muốn an ủi con, gợi chuyện về Vũ, lúc đầu thì Mai còn nói đôi câu; nhưng về sau bà hỏi cô chỉ vâng dạ cho qua. Mai buồn chán, bế tắc vì cô không thể tự giải thích nổi vì sao không có tin tức gì của anh; nếu anh có làm sao thì bạn bè đơn vị của anh cũng liên lạc với mình chứ?


Phạm Bê và Quang Vũ là bạn chiến đấu đã cùng lãnh đạo và chỉ huy đơn vị nhiều năm, cùng vào sinh ra tử với nhau, cùng đánh hàng trăm trận, hôm nay chia tay thật nặng nề. Không nói ra, Vũ nghĩ: Phạm Bê đã nhân danh đoàn thể và lý tưởng cao đẹp để làm một việc can thiệp vào hạnh phúc riêng tư của cá nhân anh! Còn Phạm Bê cũng không nói ra, chỉ nghĩ: Nếu Quang Vũ cưới Mai, điều đó với anh có nghĩa là Vũ đã xa rời lý tưởng của mình và chạy sang hàng ngũ của giai cấp bóc lột, không khéo cứ đà đó sẽ tiếp tay cho thế lực thù địch. Nhiệm vụ của anh là phải ngăn chặn, không được để việc ấy xảy ra -  Thời ấy, quan niệm phân biệt giai cấp kiểu này còn phổ biến và nặng nề lắm(!)


                             *


 Từ hôm ông Ngô Đức theo cơ quan về tiếp quản Hà Nội, căn nhà rộng nằm trên quả đồi vắng vẻ hẳn. Ông nhớ bà và con gái Xuân Mai ngày đêm đang mong Quang Vũ trở về. Ông nhận thư của bà, kể rằng: Vẫn chưa thấy Vũ về mà cũng chẳng có thư từ gì, trước đấy thì sáng sáng Mai vẫn chăm tưới tắm cho cây mướp và chậu hoa hướng dương để giữ vẻ đẹp của “bức tranh tình yêu” -  như Mai gọi vậy. Nhưng cây mướp đã cuối mùa.


    “Bức tranh tình yêu” bằng hoa mướp của Mai bây giờ chỉ còn lại cái khung tre, mà người thương của cô vẫn mãi không về! Lúc đầu cô còn tự giải thích rằng anh ấy bận việc nọ việc kia. Nhưng rồi các cô giáo bạn của Mai đều nhận được thư chồng hoặc người yêu, có anh đóng quân xa đến ba ngày đường, được phép về thăm nhà bảy ngày cả đi lẫn về, thì đã đi và về mất sáu ngày, chỉ ở nhà được một ngày, vậy mà anh ấy vẫn về cùng người yêu. Thấy như vậy, cô bắt đầu lo lắng, sợ rằng Vũ làm sao, anh ấy có bị thương không? Anh ấy chẳng may… cô nghĩ dại. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại cô không tin là vậy, nếu có sao thì đơn vị anh sẽ cho người về báo cho cô chứ, hòa bình đã gần một năm rồi, chẳng thấy tin tức của anh!


Xuân Mai bắt đầu hoang mang. Cô lần giở tất cả sự việc, đọc lại các các bài thơ tình, những lá thư và ghi chép của cô từ sổ nhật ký của anh. Hai người đã yêu nhau mười năm nay, chưa bao giờ cô nghi ngờ về tình yêu của Vũ đối với mình. Cô thường nói với các bạn là cô rất tin tưởng và tự hào về người yêu của mình, vì anh yêu mình không kém gì mình yêu anh. Nhưng đến nay cô lại không đủ tự tin về điều đã nói cùng bạn gái. Cô có thể hy sinh tất cả vì anh, thậm chí có thể chết vì tình yêu. Còn anh có thể như thế được không? Tại sao cứ mỗi lần anh hẹn với mình rồi sau đó lại bẵng đi không thực hiện? Mai nhớ sau lần anh điều trị tại bệnh viện, anh được nghỉ an dưỡng và hai đứa đã quyết định sẽ tổ chức cưới vào dịp nghỉ này. Nhưng chỉ cần vài dòng thư của ông Phạm Bê chính trị viên tiểu đoàn nào đó nói: “Nếu anh thấy sức khỏe đã hồi phục thì mời về đơn vị gấp”, thế là anh sẵn sàng không cần đến việc an dưỡng phục hồi sức khỏe và hình như quên ngay kế hoạch hai đứa cưới nhau mà “Năm tao bảy tiết anh hò hẹn”? Rồi sau đó anh chỉ nói một câu “xin lỗi” là xong ư?


Lần thứ hai, trước khi đi chiến dịch anh lại hứa khi kết thúc chiến dịch về, hai đứa sẽ cưới nhau. Nhưng rồi hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, chẳng thấy anh về! Cách đây năm năm anh gửi cho Mai một lá thư, hôm nay Mai lấy ra đọc: “ Một lần nữa anh lại lỡ hẹn với em! Anh rất nhớ em, mong được gặp em để tổ chức ngày cưới hạnh phúc của đôi ta”. Đọc đến đây Mai nghĩ: Anh ấy lại chỉ dừng ở chữ “mong ngày cưới! Chán quá, mình sắp thành gái già mất rồi, cùng tuổi như mình nhiều đứa bạn đã có con chín, mười tuổi, còn mình thì… Mai lại đọc tiếp thư của Vũ: “Nhưng lúc này, quyền lợi riêng phải nhường cho lợi ích của đất nước…”. Đọc đến đây Mai quăng toẹt lá thư xuống bàn và nói một mình: Anh ấy cứ làm như đất nước không cho anh ấy cưới vợ ấy? Chẳng lẽ chiến tranh kết thúc gần một năm rồi, mà anh vẫn vì “ lợi ích của đất nước” mà không về gặp người yêu, không cưới vợ sao?! Mấy năm trước thì « Năm tao bẩy tiết anh hò hẹn » rồi bỏ bẵng. Hòa bình gần cả năm chẳng lẽ anh không có thì giờ để viết cho người yêu một lá thư? Nghĩ đến đây cô cất vội lá thư vào chiếc hộp giấy, cho vào tủ khóa lại, rồi ngồi thừ suy nghĩ. Chợt cô bật dậy, đứng cạnh cửa sổ nhìn ra bầu trời, lẩm bẩm một mình: Không lẽ lại vì lý do ấy?! Cô nhớ có lần mấy chị em ngồi “buôn chuyện”, các chị nói với nhau:


-  Bà thư ký công đoàn trường ta đẹp thế mà không lấy chồng nhỉ? Chẳng lẽ lại không thích lấy chồng!


-  Là phụ nữ đến tuổi, ai chẳng muốn có chồng có con. Sở dĩ bà ấy quá lứa là vì yêu một người là con địa chủ, trong khi ấy bà lại là đảng viên. Nghe nói trong đoàn thể, người ta không cho đảng viên lấy con cái địa chủ đâu.


Khi nghe chị em nói thế, lúc ấy Mai nghĩ đó chỉ là câu chuyện mua vui, làm sao lại có thể thế được. Cô nghĩ lại rằng, dù có như thế thì trường hợp bố Đức là đại biểu Quốc hội phải khác chứ. Bao nhiêu tài sản ông hiến cả cho kháng chiến và hiến điền để ủng hộ nông dân có ruộng cày, làm sao một người như bố Đức mà người ta có thể không cho Vũ cưới mình? Phải hỏi bố Đức xem sao.


     Sáng hôm sau, cô xin phép mẹ và nhà trường về Hà Nội thăm bố Đức. Đã nhiều năm rồi cô mới được ngồi ô tô và tàu hỏa đi Hà Nội. Dọc đường đi đến đâu cũng háo hức trong không khí hòa bình… nhưng Mai dường như chẳng nhìn thấy và không nghĩ về điều đó, cô chỉ nghĩ đến Vũ và thắc mắc chưa được giải đáp, cô cần gặp bố để hiểu cho rõ chuyện này. Đến Hà Nội, Mai hỏi thăm đường đến thẳng cơ quan của ông Đức. Cô đến nơi thì ông đang bận họp, phải ngồi chờ ở phòng thường trực hơn một giờ đồng hồ, mà cô tưởng dài như cả tháng.


Hết giờ làm việc cơ quan, ông Đức cũng tan họp. Được báo có con gái đến thăm, ông vội cất tài liệu vào tủ, rồi bước nhanh ra cổng. Nhìn thấy Mai, ông giật mình. Cách đây hai tháng khi ông còn ở nhà, Mai vui tươi hồn nhiên là thế, lúc nào cũng chăm sóc “ bức tranh tình yêu”của cô, sao hôm nay trông phờ phạc, gầy hẳn đi? Ông nắm tay con gái, dẫn vào hội trường cơ quan, lúc này mọi người đã về hết, hai bố con ngồi chuyện trò. Ông hỏi:


-  Mẹ con thế nào, ở nhà có chuyện gì sao?


-  Mẹ vẫn khỏe, con muốn hỏi bố…


-  Điều gì con cứ hỏi, con định hỏi gì mà trông con nghiêm trang thế?


-  Con không biết Vũ có còn yêu con nữa không?! Lâu lắm rồi không liên lạc gì với con, hẹn nhiều lần mà không thực hiện lời hứa, hết chiến tranh lâu rồi mà không về với con! -  Nói đến đây Mai khóc nức nở.


Ông Đức vuốt vuốt mái tóc của Mai, vỗ nhẹ lên vai Mai rồi nói:


   -  Vũ là một thanh niên ưu tú, nó yêu thương con thật lòng, sao con lại nghi ngờ nó!


   -  Từ lâu con vẫn nghĩ như bố, nhưng có lẽ gặp trở ngại gì đấy bố ạ. Con hỏi bố, bố hãy nói thật cho con biết: Có phải đảng viên Cộng sản không được phép lấy vợ là con địa chủ, chắc không phải thế bố nhỉ?


Ông Đức nghe con nói vậy, mặt ngẩn ra không biết trả lời thế nào. Lát sau ông nói:


-  Bố không phải là người Cộng sản. Bố chưa được đọc văn bản nào đoàn thể quy định như vậy, nhưng thực tế thì có chuyện đó, nhất là trong lực lượng vũ trang. Nhưng bố nghĩ là bố bây giờ có còn tài sản gì đâu, bố lại đang là…


-  Con hiểu ý bố, nhưng những người có quyền có chức trong đoàn thể ở đơn vị Vũ có nghĩ như bố không?


Ông Đức im lặng, không trả lời. Lát sau ông khuyên Mai cứ bình tâm, chờ Vũ về hỏi xem thế nào. Rồi ông rủ Mai cùng ông xuống nhà ăn của cơ quan ăn cơm. Tuy suốt từ sáng không ăn gì, Mai vẫn không muốn ăn, chỉ thấy mệt. Cô xin phép bố trở về nhà.


                            *


     Mai bước ra đường mà tâm trạng nặng nề. Cô thất vọng, như lời bố thì trong lực lượng vũ trang không được phép lấy con địa chủ. Cô không đến bến xe vội, mà lững thững đi ra Hồ Gươm, tìm một chiếc ghế đá ngồi nhìn ra hồ. Cô ngồi lặng yên như một bức tượng suốt mấy tiếng đồng hồ. Cô nhìn mà không để ý đến ai và mọi thứ xung quanh. Chợt có anh bộ đội trẻ đi qua nhìn cô, anh ta đã đi được mấy bước, quay lại đến gần nơi cô ngồi, lễ phép hỏi:


-  Thưa chị, chị có phải là cô giáo Xuân Mai không ạ?


Không thấy cô gái phản ứng gì. Anh bộ đội nhắc lại một lần nữa. Lúc này Mai mới từ từ nhìn anh ta và hỏi lại:


-  Ðồng chí bộ đội cần gì?


-  Thưa chị, chị có phải là cô giáo Xuân Mai không ạ?


-  Vâng, đúng tôi là Xuân Mai.


-  Trông chị khác trước nhiều quá! Em là Nguyễn Văn Minh, chiến sĩ liên lạc của Tiểu đoàn trưởng Quang Vũ đây mà.


-  Thế à, anh Vũ bây giờ có bị thương hay làm sao không, Minh nói thật cho chị nghe đi?


Minh cười vui vẻ nói:


-          Tiểu đoàn trưởng của em vẫn rất khỏe. Hiện nay anh ấy về Hà Nội và đang họp.


-          Thế à? -  Mai nói câu thế à, giọng nói chẳng ra vui mà chẳng ra buồn. Mai nhìn ra hồ nước, đôi mắt ngơ ngác.


Cô nghĩ: Mình ngày đêm lo lắng đến sức khỏe của anh ấy, thì anh ấy vẫn “ rất khỏe”. Mình tưởng anh ở xa lắm không về được với mình, thì anh đã về Hà Nội mà chẳng thèm ngó ngàng gì đến mình?! Hai giọt nước mắt lăn dài trên gò má, cô chua xót nghĩ thầm: Đúng là anh ấy không còn yêu mình nữa rồi!


Văn Minh thấy Xuân Mai như vậy thì đâm hoảng. Cậu ta nghĩ mình phải đi tìm thủ trưởng Vũ báo cho anh biết chuyện này mới được. Nghĩ vậy Minh cúi chào Xuân Mai rồi vội vã bước đi. Hồi lâu sau, Mai mới nhớ và quay lại, định hỏi Minh gì đó, không thấy Minh.


Trời về chiều, cô tìm đường ra ga Hàng Cỏ để đi chuyến tàu tám giờ về thăm lại quê Đáp Cầu.


Quang Vũ đang ngồi họp tại hàng ghế gần cuối của hội trường, bỗng thấy Văn Minh hớt hải chạy vào xin phép được báo tin. Vũ theo Minh ra ngoài. Minh vừa thở vừa kể lại cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa cậu và Xuân Mai. Cậu mô tả chị Mai gầy yếu và ngơ ngác như người mắc bệnh gì đó. Vũ hốt hoảng hỏi Minh gặp Mai ở đâu và bây giờ Mai còn ở đấy không? Rồi không nghe trả lời, anh vội vàng quay lại hội trường nhờ người cùng họp báo cáo giùm anh có việc gấp xin phép vắng mặt. Vũ đi ra bảo Minh dắt chiếc xe đạp, đưa anh đến ngay nơi gặp Mai.


Trời bắt đầu tối, Bờ Hồ đã lên đèn, hai người đến đúng chỗ Mai ngồi ban chiều, thì không thấy Mai đâu nữa. Vũ nghe tin cơ quan của ông Ngô Đức đã chuyển về Hà Nội làm việc, đoán rằng Mai có thể sẽ ở chỗ ông. Hai người lại vội vàng hỏi thăm đường đến cơ quan ông Đức. Đến nơi, người thường trực cho biết ông Đức hết giờ làm việc đã về nhà. Hỏi nhà ông Đức ở đâu, anh ta nói: Ông Đức hình như vẫn ở tập thể cơ quan ngoài bờ sông. Người thường trực chỉ biết đến đó và anh ta cũng chưa có lần nào đến khu tập thể của cơ quan. Vũ và Minh lại tất tả đèo nhau đi tìm. Sau hồi lâu hỏi thăm, vào cả đồn Công an để hỏi, mãi lâu lâu hai người mới đến được nơi cần tìm.


Ông Ngô Đức đang thiu thiu ngủ, nghe có tiếng người gọi, bật dậy, nhận ra Quang Vũ. Phòng ngủ của ông có tới bốn người, không tiện nói chuyện ở đó. Ông Ðức dẫn Vũ ra bờ đê sông Hồng nói chuyện, còn Minh thì đợi ở hàng nước gần đó. Vũ hỏi:


-  Thưa chú, cậu Minh ban chiều gặp Mai đang ngồi ở ghế đá bờ hồ Hoàn Kiếm, trông em gầy và ngơ ngác! Hai đứa cháu đã ra Bờ hồ tìm Mai, không thấy Mai còn ở đó nữa. Cháu mong chú cho cháu biết bây giờ Mai ở đâu?


Ông Đức kể lại cho Vũ nội dung câu chuyện khi chiều giữa hai bố con với nhau. Ông tỏ ra rất không yên tâm, vì thấy Mai thay đổi nhiều quá, như người mất hồn. Ông nói với Vũ:


-  Mai nó nghĩ anh không còn yêu nó nữa! Tôi biết rõ tính nó, đã yêu ai thì dành tất cả tình cảm yêu thương cho người ấy. Trước đây nó tuyệt đối tin tưởng và yêu quý anh. Từ khi nó thấy anh bẵng đi không thư từ gì, rồi chiến tranh kết thúc đã lâu, chẳng thấy anh về và cũng không có thư từ gì, nó đâm hoang mang. Hôm nay nó ra gặp tôi hỏi là đoàn thể có cấm đảng viên lấy con địa chủ không? Tôi cũng chưa biết trả lời ra sao, bảo nó cứ bình tâm khi nào Vũ về thì hỏi ý kiến Vũ xem sao.


Nghe ông Đức nói vậy, Vũ cảm nhận như mình có tội với Mai và không tưởng được rằng tình yêu của Mai với anh sâu sắc là vậy. Anh nói:


-  Thưa chú, cháu rất yêu thương Mai. Cháu muốn cưới Mai làm vợ, nhưng đề đạt với đoàn thể nhiều lần, vẫn chưa được chấp nhận. Cháu rất xấu hổ là hứa hẹn với Mai nhiều lần để về cưới, nhưng rồi không thực hiện được. Hầu như tháng nào cháu cũng viết thư cho Mai, nhưng không dám gửi, vì có gửi chỉ làm cho Mai khổ thêm khi đọc chỉ là sự hứa hẹn suông.


-  Thế cậu bây giờ định thế nào?


-  Cháu vẫn yêu Mai và không thể quên được Mai, chú ạ!


-  Tôi hỏi cậu là có cưới nó không, chứ tôi không hỏi cậu yêu đến mức không quên được nó.


-  Vâng, thưa chú, chú và Mai cho cháu thời gian để thuyết phục người đại diện đoàn thể.


-  Cậu bảo con gái tôi chờ cậu, nhưng chờ đến bao giờ, một năm hay năm năm nữa? Nếu chờ rồi, mà lúc đó cậu chưa thuyết phục được người đại diện của đoàn thể thì con gái tôi sẽ ra sao đây? Năm nay nó đã gần tuổi ba mươi rồi, con gái có thì, cậu biết đấy -  Ngồi nghĩ một lát, ông Đức nói tiếp:


-  Tôi đẻ ra nó, biết tính nó, yêu quyết liệt và hết mình, bị thất vọng thì nó có thể… chết!


Đau đớn hiện trên nét mặt Vũ, cuối cùng anh nói:


        -  Thưa chú, theo chú thì Mai bây giờ ở đâu?


        -  Tôi đoán chiều tối nó còn ở Hà Nội, thì chắc là chưa thể về Lạng Giang, mà có thể nó đi tàu hỏa về Đáp Cầu cũng nên.


Vũ cúi chào ông Đức, ra gặp Minh, cả hai cùng về. Minh dắt xe lên đê, Vũ lặng lẽ theo sau. Vừa đi qua con đê, gần bệnh viện Đồn Thủy, bỗng có tiếng người hỏi:


-  Quang Vũ đấy phải không?


-  Ai đấy, mình đây -  Vũ nhìn ra thấy Nam Sơn, người bạn cũ, mặc bộ quần áo bệnh nhân màu trắng đang ngồi hóng mát trên mặt đê.


Hai người bắt tay nhau, hỏi han vài lời. Nam Sơn nói:


-  Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, tớ được biệt phái sang Công an vũ trang về tiếp quản Hà Nội. Công tác nói chung là phù hợp. Nhưng đột nhiên bị đau dạ dày nặng, phải vào nằm viện.


-  Tình hình bệnh tật của Sơn thế nào?


-  Giáo sư Tôn đã hội chẩn, bảo tớ phải mổ ngay. Tớ nói để tôi còn báo cáo xin ý kiến Đảng đoàn đã.


-  Sao mổ dạ dày mà phải xin ý kiến Đảng đoàn à? -  Vũ hỏi.


-  Ở chỗ tớ, những việc như vậy, anh em đều có thói quen phải báo cáo xin ý kiến của Đảng đoàn.


-  Thế à?


-  Đúng đấy. Vậy mà giáo sư Tôn khi nghe mình nói, ông ta lại cười và hỏi lại:


-  Dạ dày của mày, chứ dạ dày của Đảng đoàn đ… đâu mà mày phải báo cáo với báo cầy?


Vũ cũng cười. Anh bắt tay tạm biệt Nam Sơn. Anh nghĩ: Mình cũng giống như ông bạn này, đang có việc phải báo cáo xin ý kiến đây!? Anh quay ra vẫy vẫy Minh và nói:


-  Thôi bây giờ em đưa anh về trạm 66 nghỉ, rồi em đi ăn gì đó. Còn anh phải chuẩn bị sáng sớm mai đi tàu về Đáp Cầu tìm Xuân Mai


 


    Suốt đêm Vũ không sao chợp mắt được. Anh luôn nghĩ về Mai: Mai là một cô gái anh yêu và là mối tình đầu. Anh tự hào và thấy mình may mắn có cô gái tuyệt vời đến thế, đã yêu mình. Nàng có đôi mắt đen hồn hậu, vầng trán đẹp toát lên sự thông minh, cái mũi dọc dừa và cái miệng cười tươi, ai nhìn cũng thấy dễ mến. Cao hơn hết anh thấy ở nàng đã có nét kết tụ những tinh hoa văn hóa truyền thống của người phụ nữ và người vợ người mẹ tương lai.


Ấy vậy, mà anh đang để tuột khỏi tay mình một người con gái như thế! Lâu nay anh cứ tưởng là anh yêu Mai hết lòng, nhưng đến hôm nay anh mới thấy mình vẫn là kẻ yêu có điều kiện. Anh tự trách mình đã trực tiếp gây ra những trở ngại và đau khổ cho Mai. Có lúc anh là người được Mai coi như thần tượng. Nhưng bây giờ “thần tượng” ấy còn đâu nữa? Linh tính báo cho anh biết sẽ có chuyện chẳng lành. Trước ba giờ sáng, anh đã dậy, chuẩn bị và ra ga Hàng Cỏ về Đáp Cầu.


Đến sân ga, anh xem lịch tàu chạy, phải đợi hai tiếng đồng hồ nữa tàu mới khởi hành. Mua vé xong, anh tháo chiếc ba lô ra khỏi vai, đặt xuống đất, ngồi vào chiếc ghế của người bán hàng nước. Anh mua điếu thuốc lá, châm lửa hút. Rất lâu rồi, Vũ đã cai thuốc lá, hôm nay lại nhớ đến nó. Anh hít một hơi dài, nhả khói rồi nhìn ngắm làn khói bay bay hình xoáy ốc, tan biến đi. Một đoàn tàu vào ga, mọi người lần lượt ra sân ga, một số người thân ra đón. Anh thấy trong số đó, có những chàng trai và cô gái gặp nhau, họ chạy lại nhau, ôm nhau cười cười nói nói… Anh thầm mong sao, anh và Mai cũng được những phút giây như họ.


Chuyến tàu đã đưa Vũ về đến ga. Thế là sau mười năm anh mới trở lại quê hương Đáp Cầu. Nhà anh kia, anh đã tự tay phá sập, trước mắt anh chỉ còn lại đống gạch vụn. Cha mẹ và em anh đi kháng chiến, đến nay hòa bình, tất cả đều theo cơ quan về Hà Nội. Vũ đi dọc phố, ngày xưa nhà cao tấp nập đông vui là thế, mà nay chỉ có dãy dài những căn nhà tạm xen lẫn những bức tường đổ nát.


Vũ đi thẳng đến ngôi nhà cũ của ông Ngô Đức. Một bà già từ mái nhà tạm tập tễnh bước ra, bà là người trước kia đã giúp việc cho gia đình ông Đức. Anh hỏi thăm về Mai, bà già bảo: Tối qua Mai có ghé qua đây. Không kịp hỏi thêm, anh lo lắng, chào bà, rồi vội vã quay đi. Bà ới ới vẫy tay, định nói thêm gì đó, nhưng Vũ đang vội, cắm cổ đi. Anh nghĩ có thể Mai đang đợi anh ở bờ sông, nơi có ba mươi hai bậc đá, mà hai đứa đã từng ngồi chuyện trò với nhau mỗi khi gặp.


Vũ sốt ruột, đi nhanh như chạy. Gần đến bờ sông Cầu, anh nhìn thấy một đám đông đang đứng trên bậc đá chỉ trỏ xuống dòng sông. Anh lo lắng, chạy như bay đến tìm Mai. Không thấy Mai đâu. Anh đi đến gần một cụ già đứng đó, hỏi thăm cụ có chuyện gì mà mọi người tụ tập đông thế? Cụ già nhìn anh bộ đội, nói:


-  Người ta bảo có cô gái nhảy xuống sông tự tử!


Vũ tái mặt, mồm lắp bắp hỏi cô gái ấy trông người thế nào và tự tử ra sao? Cụ già kể rằng:


-  Dân quanh đây, họ nói gần nửa đêm qua có một cô gái da trắng, tóc dài. Nhìn cách ăn mặc và dáng điệu thì giống như một cô giáo, nhưng trông thiểu não, đôi mắt đờ dại. Cô ấy ngồi ở bậc đá này này -  Nói đến đây cụ già chỉ bậc đá, Vũ nhận ra chính nơi đó anh và Mai vẫn ngồi. Cụ già kể tiếp:


-  Cô ấy ngồi yên không nhúc nhích, hai cùi tay chống lên hai đầu gối, hai bàn tay đỡ cằm, đôi mắt nhìn đăm đắm xuống dòng sông. Cứ thế cô ấy ngồi đến gần sáng vẫn không thay đổi tư thế ngồi. Trời tang tảng sáng, một bà dưới thuyền, đậu ở chỗ kia, thức dậy nhìn thấy cô gái lững thững đi xuống bè nứa, tưởng cô ta xuống rửa chân tay. Nhưng chỉ một loáng, bà nhìn lại, không thấy cô ấy đâu nữa, trên bè chỉ còn lại chiếc túi xách tay!


Vũ nhìn xuống dòng sông, một chiếc thuyền nhỏ chở mấy thanh niên, mình trần, đang kéo lưới rà đi rà lại tìm xác cô gái. Vũ vội chạy xuống chiếc bè nứa, nơi ông già chỉ trỏ lần cuối cô gái ở đó. Anh vội cởi phăng quần áo ngoài, nhảy ùm xuống dòng sông lặn mò. Hơn một phút sau anh nhô lên rồi lại lặn mò… lần thứ năm anh nhô lên, hai tay bế một cái xác cô gái! Anh vừa khóc vừa nói với mọi người đứng đó:


-  Đây là cô giáo Xuân Mai, vợ chưa cưới của tôi!


Bàn tay phải của Mai vẫn nắm chặt. Vũ cố gỡ ra, thấy cuộn giấy nhỏ vo tròn, mở ra xem, đó là lá thư Vũ đã gửi cho Mai lần cuối trước khi đi Trung Quốc. Cô đã giữ chặt trong tay lá thư tình yêu ấy, chết cũng không buông ra!


Nghe tin Quang Vũ đã về và cô giáo Xuân Mai con ông Ngô Đức tự tử chết, người dân làng Đáp Cầu ai ai cũng tiếc thương; họ bảo rằng người như thế chết thật uổng, hồng nhan bạc phận!


  Ủy ban hành chính Đáp Cầu được tin, đã cử ngay người đến hiện trường và cho người sang Hà Nội báo cho ông Ngô Đức biết. Chiều hôm ấy, đám tang Xuân Mai được tổ chức lặng lẽ. Sau khi mọi người đi viếng tiễn đưa ra về, Vũ đắp thêm lên mộ Mai những hòn đất lớn cuối cùng. Còn ông Ngô Đức ngồi thụp trước mộ con gái mình, lấy chiếc khăn tay lau đi lau lại dòng chữ: Ngô Xuân Mai, sinh năm 1927, tạ thế ngày…


 Khi hai người rời khỏi nghĩa trang Đồng Bối, lúc mặt trời lặn và se se lạnh. Nét mặt Vũ thiểu não, chân lê đi chậm từng bước trên bờ ruộng mấp mô. Ông Đức thì đăm chiêu, đầu cúi, dáng đi gù gù, nhấp nhô mái đầu điểm bạc. Lúc này cả hai người không ai nói với ai lời nào. Cả hai đều đau khổ, lầm lũi bước đi! Bi kịch dẫn đến nỗi khổ của hai người đàn ông ngồi bên nấm mộ ng cô gái nằm dưới mồ này là con người ngày ấy đã bị hạn chế quyền tự do hôn nhân và làm đau cái đẹp. Bầu trời tối, tít tắp trên cao xa lắm vẫn có những ngôi sao.


  Sau khi chôn cất mồ yên mả đẹp cho Xuân Mai, Quang Vũ cùng ông Ngô Đức ra ga, người xuôi Hà Nội, kẻ lên miền ngược về đơn vị. Hai người chia tay không nói nổi một lời, Vũ cúi đầu chào ông Ngô Đức, cha của Xuân Mai. ông Đức nét mặt buồn rầu, nắm tay Vũ như động viên.


Ông Hoàng Trà là thiếu tướng tư lệnh sư đoàn của Vũ. Ông vốn xuất thân từ gia đình của tầng lớp trên ở phủ Từ Sơn, tham gia cách mạng và làm báo từ cuối thời kỳ Mặt trận Bình dân. Trong cải cách ruộng đất ông suýt nữa cũng bị lôi về địa phương để đấu tố, thì may gặp dịp sửa sai. Khi biết chuyện xảy ra giữa Mai và Vũ, ông rất buồn. Ông bảo Vũ nên nghỉ phép và ông cho anh nghỉ hẳn một tháng để về gia đình tĩnh dưỡng.


Đeo ba lô, rời đơn vị, anh ra tàu về thăm gia đình ở Hà Nội. Khi tàu về đến ga Yên Viên, nghĩ thế nào, Vũ lại xuống ga và chuyển tàu về Đáp Cầu. Trời về chiều, anh đi thẳng ra Đồng Bối, đến bên mộ Mai, anh quỳ gối, thắp hương khấn vái và sụt sùi khóc. Trải qua hàng trăm trận đánh, vào sinh ra tử, bị thương rồi mổ tới ba lần, anh không bao giờ rơi nước mắt, mà lần này anh đã khóc. Dường như nước mắt của anh từ lâu đã chảy ngược vào trong, nay có dịp tuôn ra không gì cản được. Mặt trời lặn sau rặng cây, tiếng dế kêu râm ran, tiếng ếch ộp gọi nhau khắp cánh đồng, những con đom đóm lập lòe hiện lên trên từng ngôi mộ; anh vẫn quỳ bên mộ Mai, sương xuống ướt đẫm vai áo, anh vẫn lặng im như bức tượng. Khoảng canh hai, anh quay vào ngồi tựa bức tường trong miếu thổ thần, đây là nơi canh giữ các linh hồn trên bãi tha ma này. Mệt quá, anh chợp mắt ngủ thiếp đi. Lát sau anh thấy Mai mặc áo dài nữ sinh màu trắng đi tới, như gần như xa. Anh vui sướng ôm chầm lấy Mai, khi mở mắt chẳng thấy gì; Anh không rõ đây là giấc mơ hay hồn Mai hiện về gặp anh!?


Mặt trời lên, anh thắp hương từ giã Mai, rồi tìm về nhà bà lão ngày xưa bế ẵm Mai. Hôm đưa tang Mai, bà đã dặn Vũ đến gặp bà. Lúc này bà đang nằm trong chiếc lều tạm, nghe bước chân người đi vào, bà nhìn ra trông thấy Quang Vũ dáng tiều tụy, bước thấp bước cao. Qua câu chuyện, bà biết Vũ đi suốt ngày hôm qua, rồi thức gần cả đêm chưa có hạt cơm nào vào bụng. Bà múc chậu nước và đưa chiếc khăn bông cho Vũ để cậu rửa mặt mũi chân tay, rồi bà nhóm lửa nấu cháo. Vũ nằm ngả lưng lên chiếc phản, lát sau đã ngủ thiếp đi. Mãi gần trưa anh mới tỉnh dậy. Bà lão múc một bát cháo với hành và tía tô đưa cho anh. Bà bảo cháo hành tía tô ăn vào không bị cảm lạnh. Vũ ăn xong, bà nói chuyện cùng anh.


Bà kể rằng: Quê bà ở Nam Định, hồi trẻ bà đã có chồng, nhưng mãi không sinh được con, mẹ chồng cưới cho con trai người vợ khác. Bà buồn khổ và xấu hổ không dám về lại nhà bố mẹ đẻ. Bà đã theo người lên đất Kinh Bắc tìm việc làm. May sao bà gặp được gia đình ông Ngô Đức là người tử tế; bà đã ở giúp việc cho gia đình này nếu tính đến ngày kháng chiến bùng nổ đã là mười tám năm, bà đã bế ẵm cô Mai từ khi mới lọt lòng. Khi chiến tranh, tiêu thổ kháng chiến, gia đình ông Đức đi tản cư. Bà bị đau khớp chân, ở lại cái lều này, bà kê cái chõng bán nước chè xanh trước cửa để kiếm sống. Từ ngày hòa bình, ông Đức thỉnh thoảng về qua vẫn cho bà ít tiền. Suốt chín năm kháng chiến, mãi đến đêm hôm kìa mới thấy cô Mai về vào lúc trời đã khuya. Hai bà cháu ôm nhau khóc, lát sau cô mở túi dốc hết tiền cho bà và đưa cho bà chiếc nhẫn nói là nếu gặp anh Vũ thì đưa giùm cho anh. Nói xong cô từ biệt bà, nói là đến thăm nhà một cô bạn cùng phố. Bà thấy trời khuya, giữ lại, không được, cô vẫn ra đi. Sáng hôm sau đã có tin cô chết dưới sông Cầu, thê thảm quá! Kể đến đây bà lão mở chiếc hòm gỗ, lấy ra cái túi vải đựng chiếc nhẫn vàng, bà trao lại cho Vũ. Anh cảm động, cảm ơn bà và lồng chiếc nhẫn vào ngón áp út, bàn tay phải.


Buổi chiều, Vũ lững thững đi ra bờ sông. Anh lại ngồi trên bậc đá, nơi có ba mươi hai bậc, mà hai người đã từng ngồi tâm sự. Anh nhớ như in cả hai lần gặp gỡ, hai đứa ngồi bên nhau tại đây. Lần nào cũng thấy Mai nhìn đau đáu xuống dòng sông. Lần đầu, khi nghe Vũ nói giặc Pháp sẽ quay lại, chiến tranh xảy ra Vũ sẽ đi đánh giặc thì Mai thảng thốt:


-  Thế em phải xa anh sao? Rồi biết bao giờ mới được gặp lại? Đạn bom nó vô tình lắm… Ôi, anh ơi! Em sợ, em sợ… phải xa anh!


Lần thứ hai gặp nhau trước khi chia tay, để Vũ ra trận, Mai cố không cho nước mắt trào ra, cô kể cho anh một kỷ niệm để tạm gạt nỗi buồn:


-  Nghĩ lại em thấy buồn cười thật. Em nhớ tuy anh có cao hơn em, còn em hồi đó chỉ nhỉnh hơn chiếc ba lô của anh, hai đứa không mặc quần áo, nằm sấp trên hai tay của mỗi bà mẹ, ngâm mình dưới nước sông chỉ để hở từ cằm lên. Sông ôm em và ôm anh vào lòng nước, những con cá mương be bé sao mà nhiều thế, nó cứ lượn đi lượn lại bơi quanh hai đứa, nó còn chui cả qua nách em đấy, nước trong văn vắt nhìn rất rõ. Chúng mình thích quá, đập hai chân hai tay làm nước bắn tung tóe lên nhau!


Bây giờ Vũ nghĩ lại, như một định mệnh, dòng sông Cầu yêu thương và gắn bó ôm ấp Mai từ bé thơ, đến lúc trưởng thành; khi chia tay với cuộc đời này Mai vẫn không rời dòng sông Cầu!


Đang nghĩ lan man, Vũ chợt thấy ai đó từ phía sau chạy tới gần anh. Anh quay lại, nhìn thấy mẹ và Nguyệt Quỳnh đang hớt hải. Bà ôm chầm lấy con khóc nức nở. Bà thương anh và thương Mai. Bà kể cho anh nghe từ hôm Mai chết, được tin cả nhà chia nhau đi tìm anh khắp nơi không thấy. Hai lần ra Đồng Bối chỉ thấy nấm mồ có bia khắc tên Mai nằm đó, có những nén hương đang cháy dở, biết là Vũ đã vừa ở đó ra đi, mà chạy đuổi theo không kịp. Hôm nay gặp anh trông anh gầy và yếu quá, bà quyết đưa anh về nhà để bà chăm sóc anh. Nguyệt Quỳnh bẽn lẽn đứng sau bà mẹ, ngắm nhìn anh, hai giọt nước mắt lăn dài trên má.


Cả ba người về đến nhà ở Hà Nội, bà con họ hàng và xóm giềng nghe tin đã đến thăm hỏi chật cả nhà. Vũ mệt mỏi, cố gượng, giữ nét mặt bình thản để tiếp khách và cảm ơn mọi người. Cha anh mời ông bạn già bác sĩ đến kiểm tra sức khỏe cho Vũ. Khám xong bác sĩ nói:


-  Vũ gần như kiệt sức và cái tâm không yên. Cậu ấy vốn khỏe mạnh, người khác thì quỵ rồi -  Nói xong, ông tiêm thuốc trợ lực và trợ tim cho Vũ, rồi yêu cầu mọi người để anh được nghỉ ngơi.


Bà thở ngắn than dài, kể cho ông nghe nghe tìm thấy Vũ đang ngồi lặng yên trên bậc đá, nhìn xuống giòng sông Cầu... Ông đăm chiêu không nói gì, như nuốt nỗi đau vào trong.


Từ lâu ông giáo Toàn vẫn mong và hi vọng sẽ có ngày Vũ -  Mai cưới nhau và ông được làm thông gia với ông Ngô Đức, một người bạn thân từ nhỏ và bây giờ vẫn là tâm giao. Ông như thấy nhói nơi tim, thương cho Xuân Mai và Quang Vũ. Ông tự hỏi, tại sao đến bây giờ vẫn có chuyện phân biệt giai cấp không chỉ chính trị mà lan sang cả lĩnh vực tình yêu và hôn nhân gia đình như thế này. Dù có hòa bình, nhưng người dân sống trong cảnh quan hệ giữa người và người bị rào cản ‘’giai cấp” thì sao an lòng được. Ông mong cụ Hồ sớm gỡ bỏ rào cản “giai cấp’’ ấy đi.


Mọi người lần lượt ra về, chỉ còn lại bố mẹ Vũ và Nguyệt Quỳnh. Cô là con một họa sĩ nổi tiếng, đã học qua trường Mỹ thuật Đông Dương. Ông chết sớm để lại sự nghiệp dang dở và vợ góa con côi. Mẹ con cô cuộc sống phong trần, làm lụng nuôi nhau. Mẹ cô là em họ xa của mẹ Vũ, hai nhà đi lại thân thiết và đều quý mến nhau.


Nguyệt Quỳnh mang gen di truyền từ người cha nghệ sĩ và mang vẻ đẹp nữ tính của người mẹ. Cô có mái tóc dài đen nhánh, hai bàn tay búp măng, các ngón mềm mại và thon thon, đôi mắt sáng đẹp và trầm tư. Cô vốn thông minh, ham học, thích vẽ từ bé. Cái tên Nguyệt Quỳnh là cha cô đặt, có ý nói cô là hoa Quỳnh nở dưới ánh trăng, thật là đẹp. Nhưng cuộc đời cô mất cha và vất vả từ bé, tính cách cô hướng nội, đôi khi đượm chút buồn. Từ nhỏ cô đã nghe người lớn nhắc đến tên Quang Vũ đầy thán phục. Lâu dần hình thành trong cô một hình mẫu đàn ông phải như Quang Vũ. Cô dõi theo mối tình Mai Vũ mà lòng đầy ngưỡng mộ. Hôm nghe tin chị Xuân Mai tự tử chết, cô khóc thương chị, tiếc cho chị và nghĩ rằng nếu mình ở hoàn cảnh bị ngăn trở tình yêu như chị, thì chẳng dại gì chết uổng, phải đấu tranh mà giành lấy. Cô cũng biết rằng phụ nữ lớp trước như chị Mai nhiều người thất tình thường là tìm đến cái chết, thật đáng tiếc! Cô xót xa khi nghĩ đến Vũ, cô muốn gặp Vũ, săn sóc Vũ. Mấy ngày qua cô đã cùng mẹ Vũ đi tìm anh. Hôm nay đưa được anh về nhà, cô lại tiếp tục xin nghỉ dạy để chăm sóc anh. Cô cùng bà mẹ Vũ đi chợ, vào bếp nấu những món ăn ngon nổi tiếng ở Đáp Cầu để bồi bổ cho Vũ. Năm nay cô sang tuổi hai mươi ba, cái tuổi mà phần lớn bạn cô đều đã đi lấy chồng. Cô xinh đẹp và khéo tay, nhiều chàng trai đã theo đuổi, ngỏ lời. Nhưng cô hay ngầm đem hình mẫu Quang Vũ so sánh với họ, nên thiếu cảm xúc, việc không thành. Mẹ cô cứ than phiền với mẹ Vũ rằng Quỳnh chậm lấy chồng. Có lần mẹ Vũ nói: Giá như Vũ nó chưa yêu Mai, dì cho con Quỳnh nó làm dâu của chị thì vui quá. Bà mẹ cô thở dài chép miệng, âu cũng là số phận. Hai bà có biết đâu rằng từ lâu Nguyệt Quỳnh vẫn âm thầm yêu Vũ. Đây là lý do thầm kín đã khiến cô thường xuyên qua lại thăm nom bố mẹ Quang Vũ. Cô biết rằng mối tình của mình với Vũ chỉ là đơn phương và vô vọng, nhưng cô không làm khác được.


Đến nay, Xuân Mai không còn nữa, Quỳnh muốn biểu hiện tình cảm thật của cô với Vũ, nhưng cô không dám nói ra, cô tự nhủ còn quá sớm, anh Vũ chưa thể quên được chị Mai. Hàng ngày cô mời anh dạo chơi nơi hồ Hoàn Kiếm, cô chọn chiếc ghế đá có góc nhìn ra cảnh hồ thơ mộng nhất, để cùng ngồi chơi với Vũ, gió thổi nhẹ mặt hồ lăn tăn gợn sóng, cảnh vật cổ kính và tươi mới, hàng dương liễu rủ khe khẽ đu đưa. Vũ đang vui nhưng khi ngồi xuống ghế đá, cô thấy anh chợt buồn hiện trên nét mặt. Cô nhạy cảm biết Vũ nhớ đến chị Mai. Cô đoán đúng nhưng cô không hiểu được cụ thể rằng cách đây không lâu Vũ nghe Minh kể đã thấy Mai gầy yếu và ngơ ngác ngồi trên ghế đá Bờ Hồ. Cô biết anh yêu văn học, thích đọc sách, Quỳnh đã chọn những chuyện tình hay nhất đọc cho anh nghe, anh rất thích và chăm chú nghe. Nhưng mỗi khi Quỳnh đọc đến đoạn nào có cuộc tình ngang trái không thành là anh ngơ ngác như để tâm trí ở nơi đâu!


Cô biết Vũ không dễ gì quên được chị Mai, không vì vậy mà buồn. Ngược lại cô nghĩ một người đàn ông như thế mới đáng là đàn ông, để cho cô ngưỡng mộ, yêu thương. Rồi từ đó cô không ngừng chăm sóc anh. Mặc dù, cô biết Vũ đối xử với cô vẫn như là đứa em gái bé nhỏ ngày nào.


(còn tiếp)


Nguồn: Đi tìm hiện thực của những ước mơ. Tiểu thuyết, in trong Hạ Bá Đoàn Tổng tập. NXB Hội Nhà văn, 20919.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 02.12.2019
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 01.12.2019
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 01.12.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 29.11.2019
xem thêm »