tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30436702
Tiểu thuyết
30.07.2019
Hạ Bá Đoàn
Đi tìm hiện thực của những ước mơ


8. ĐIỆN BIÊN PHỦ -  MỚI ĐI NỬA CHẶNG ĐƯỜNG


   Chỉnh huấn chỉnh quân nâng cao tinh thần giai cấp như một làn gió mạnh lan khắp nơi nơi. Tại đơn vị của Quang Vũ, chính sách cải cách ruộng đất đã trở thành nội dung một cuộc chỉnh huấn lớn. Tuyệt đại đa số cán bộ chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam ngày đó đều xuất thân từ nông dân, vì vậy cuộc chính huấn đấu tranh giai cấp, lấy ruộng của địa chủ trao cho nông dân đã trở thành động lực lớn cho trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ sắp tới. Từ các tiểu đội, chính huấn đi đôi ôn nghèo hỏi khổ. Ai có hé ra ý nào bị địa chủ bóc lột, thì lập tức được báo cáo lên trên để cán bộ trung đội hướng dẫn cách nói sao cho người nghe cảm động. Rồi trung đội báo cáo lên đại đội, Chính trị viên gặp người có khổ, nghe kể khổ rồi góp ý cách báo cáo và đưa họ ra báo cáo điển hình trước đại đội. Hôm ấy Chính trị viên Phạm Bê và Quang Vũ đến dự. Cả hai ngồi nghe chiến sĩ kể khổ. Nhiều người bên dưới rơi nước mắt. Rồi tiếng hô khẩu hiệu vang lên: “Đả đảo địa chủ bóc lột nông dân”, mọi người hô đả đảo. “Hoan nghênh chính sách cải cách ruộng đất”, mọi người hô hoan nghênh. Kết thúc buổi kể khổ, Chính trị viên Phạm Bê lên nói:


-  Địa chủ phong kiến bao giờ cũng câu kết với đế quốc. Do vậy cách mạng phải giương cao ngọn cờ phản đế phản phong.


-  Nông dân muốn có ruộng cày, giải phóng khỏi ách bóc lột của địa chủ thì phải theo cách mạng vùng lên đánh đuổi đế quốc và địa chủ phong kiến.


-  Nông dân, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, là đội quân chủ lực của cách mạng. Không có nông dân thì kháng chiến không thể thành công.


Chính trị viên tiểu đoàn nói đến đây, một chiến sĩ quản ca đứng lên, bắt nhịp bài hát “Nông dân là quân chủ lực” hai ba; mọi người hát vang: Nông dân là quân chủ lực/ Không có nông dân thì kháng chiến ta không thể thành công…


Phạm Bê lại nói tiếp:


-  Xóa bỏ bóc lột, lấy lại ruộng đất cho nông dân không khó. Cái khó là phải gột rửa những tư tưởng bóc lột, ăn trên ngồi trốc của địa chủ tư sản thâm nhập vào chúng ta, mới là khó. Qua học tập các đồng chí đã liên hệ phê phán tư tưởng bàn quang với cải cách ruộng đất, thái độ hoang mang dao động trước hiểm nguy và cả tư tưởng thích lối sống của tầng lớp trên, thậm chí có người còn muốn lấy vợ là con địa chủ tư sản!


Đến đây người quản ca lại đứng lên bắt nhịp bài hát “Đánh tan tư tưởng xấu” hai ba; mọi người cùng hát lớn: Tư tưởng xấu/ Ta thề đánh tan/ Người cách mạng phê bình và đấu tranh…


Quang Vũ ngồi dưới, nghe Phạm Bê nói, anh biết là Bê nói mình, anh lờ đi. Anh đã ở Trung Quốc những ngày nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập. Được quân đội và nhân dân nước bạn giảng dạy về khí tài về lập trường giai cấp chống địa chủ. Học xong ở Trung Quốc, anh đã nhận về cho tiểu đoàn mười khẩu pháo cao xạ và năm khẩu đại liên để bảo vệ cho súng cao xạ khi máy bay địch lao xuống tầm thấp. Mấy tháng nay anh loay hoay dịch và soạn lại giáo án để dạy cho anh em cách sử dụng pháo bắn máy bay.


Các chiến sí cùng tiểu đoàn của Phạm Bê, sau cuộc chỉnh huấn chỉnh quân lần này đã tạo ra khí thế bừng bừng ở các đơn vị, mọi người đều thể hiện quyết tâm ra trận tiêu diệt kẻ thù. Tờ bích báo của các đại đội dán đầy những quyết tâm thư chiến đấu và một số bài ca dao hò vè nói về chủ đề giai cấp nông dân, cải cách ruộng đất và độc lập dân tộc… Có những chiến sĩ nhận được thư nhà kể rằng, sau cải cách ruộng đất, gia đình anh đã được chia ruộng cày. Lá thư này lập tức được đọc trước đơn vị, mọi người cùng nghe, sau đó dán lên tờ bích báo. Ngược lại cũng lác đác có thư gia đình báo cho con biết bố mẹ hoặc chú bác bị liệt vào thành phần địa chủ, phú nông. Người nhận được thư đó thắc mắc không thể hiểu nổi vì sao lại bị quy như vậy, anh ta xé đốt lá thư không báo cho đơn vị biết, chỉ âm thầm suy nghĩ.


                            


 Trận đối đầu làm thay đổi một phần lịch sử nhân loại.


 Sau gần chín năm chiến tranh, trận đối đầu lịch sử đã xuất hiện. Giặc Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, xây dựng ở đây một tập đoàn cứ điểm mạnh, có tới hàng vạn quân, gần ba chục tiểu đoàn thiện chiến, bốt boong ke và hầm ngầm dày đặc tạo thành 49 cứ điểm, pháo tầm xa chiếm lĩnh các đồi cao trên cánh đồng Mường Thanh, sân bay dã chiến cứ năm phút lại có chuyến bay lên xuống đi thả bom cháy và bom nổ các vùng rừng xung quanh. Người Pháp và Mỹ tiên lượng rằng Điện Biên Phủ đứng vững sẽ là tập đoàn chiến lược khống chế cả ba nước Đông Dương. Mỹ giúp Pháp xây dựng một tập đoàn cứ điểm với chằng chịt lô cốt bong ke vững chắc, lần đầu tiên có ở chiến trường Đông Dương. Chúng công khai thách thức quân đội Việt Minh tấn công. Chúng hy vọng và cho đó là cái bẫy thu hút hết những đại đoàn tinh nhuệ của Việt Minh đến để tiêu diệt. Viên tướng Na va chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương huênh hoang tuyên bố trước các nhà báo: Điện Biên Phủ là bất khả xâm phạm. Các chiến lược gia của cả Pháp và Mỹ đều tin rằng Việt Minh sẽ thua trận, vì có hai cái khó nhất không thể giải quyết được: Đánh dài ngày ở vùng rừng núi xa xôi, không có phương tiện vận chuyển đủ lương thực và không có tài gì đưa pháo lên cao bắn vào cứ điểm, khi hệ thống hầm ngầm và bong ke vững chắc làm vậy.


Nhưng họ đã lầm, tư duy theo đường mòn, chỉ dựa vào những kiến thức và kinh nghiệm một cách máy móc có sẵn từ lịch sử chiến tranh trước đấy; họ không hiểu được con người và văn hóa cùng cách đánh của người Việt. Nhà cầm quyền nước Pháp hồi ấy không nhận ra rằng việc tập trung quân tại Điện Biên Phủ là một sai lầm lớn nhất, ngông cuồng nhất trong cuộc chiến ở Đông Dương. Chính cái bẫy khổng lồ mà chúng giương ra lại là cái bẫy sập xuống kẻ đẻ ra nó, hàng vạn quân Pháp kết cục đã bị tiêu diệt và bị bắt sống tại nơi này!


Trước khi giặc Pháp đổ quân xuống Điện Biên Phủ, phía Việt Nam đã nắm được kế hoạch này và bày sẵn thế trận. Cả nước tổng động viên nhân tài vật lực, với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”.


   Trước hết phải kể đến hàng chục vạn dân công phục vụ chiến dịch này. Dân công từ vùng địch hậu gánh gạo ra vùng tự do. Dân công vùng tự do từ các tỉnh Việt Bắc, Tây Bắc, khu Bốn kéo ra mang lương thực đạn dược ra tiền tuyến. Trên nửa ngàn cây số đường rừng, lập nhiều chặng đặt kho tàng, dân công từng địa phương vận chuyển từng chặng. Họ ngày nghỉ đêm đi từ hơn một năm trước; bí mật lặng lẽ và kiên nhẫn đi đi lại lại chuyển lương thực đạn dược như những đàn kiến khổng lồ mang trên mình với trọng lượng hơn cả bản thân . Đặc biệt lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh xuất hiện hàng vạn chiếc xe đạp thồ gạo, mỗi xe chở trọng lượng gấp 6 đến 8 lần con người; điều lý thú là những xe đạp ấy lại sản xuất từ nước Pháp(¡) Người Việt Nam cùng những chiếc xe thồ ấy đã làm nên sự tích kì diệu, biến cái mà người Pháp cho rằng không thể thành cái có thể để bảo đảm cung cấp đủ lương thực đạn dược cho chiến dịch. 


   Từng đoàn xe thồ, từng đoàn dân công gồng gánh trĩu vai đi theo những khoảng cách, nối nhau ra trận. Họ leo đèo vừa đi vừa hò theo nhịp làm giảm mệt nhọc. Dọc đường, gặp con suối trong, họ dừng chân rửa ráy rồi ca hát. Họ ra trận mà như đi trẩy hội!


Song hành với dân công là từng đoàn, từng đoàn quân hướng theo miền Tây. Các chiến sĩ đội mũ sao vàng, lưng đeo ba lô, bên vai vác bao gạo, bên vai đeo súng, ai ai cũng cắm lá ngụy trang, trông xa như những cánh rừng chuyển động lên phía trước. Bộ đội gặp dân công như cá gặp nước, họ đặt ra những câu hò, đối đáp qua lại. Những cô dân công gặp bộ đội, họ chạy xô ra chào đón bộ đội, họ đưa cho các chiến sĩ những ống tre bương đựng nước uống cuối cùng của mình.


Các đơn vị pháo binh lần đầu tiên hành quân bằng xe kéo pháo. Trong đó có tiểu đoàn pháo của Quang Vũ. Khi tới gần mặt trận, Vũ lệnh cho anh em dừng lại, kéo pháo vào rừng. Họ vừa phạt cây, cưa những cây gỗ lớn, phá đá mở đường bằng đôi tay người kéo pháo qua đèo qua núi. Hàng tháng trời hết mở đường lại kéo pháo, lại mở đường, bàn tay chiến sĩ đã tím máu rộp lên mấy lần thay da.


Rồi bỗng có lệnh lại kéo pháo ra. Các chiến sĩ đang bừng bừng khí thế đánh giặc lập công thì như bị hẫng hụt. Lệnh từ trên ban xuống: Ngừng lại, rút ra thay đổi cách đánh: từ “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “ Đánh chắc, tiến chắc “ . Quyết định thay đổi phương châm tác chiến lúc này làm đảo lộn mọi thứ, khó nhất là công tác tư tưởng. Trong khi bộ đội đang tràn đâỳ dũng khí quyết chiến thì đột nhiên có lệnh rút. Đâu đâu cũng băn khoăn thắc mắc. Các pháo thủ cao xạ của đơn vị Quang Vũ từ khi nhận súng từ Liên Xô và Trung Quốc giao, mới bắn mục tiêu gỉa, ngứa tay ngứa chân lắm rồi, họ bảo: Chưa đánh đã rút thì đánh đấm cái gì? Chính trị viên Phạm Bê trước mặt các chiến sĩ thì nói phải tin tưởng và tuân lệnh, nhưng lại nói riêng với Quang Vũ: Chẳng rõ lệnh rút từ đâu, không khéo mắc mưu địch hoang baó thì lôi thôi lắm . Băn khoăn lo lắng nhất của Quang Vũ lúc này là kéo pháo ra còn khó hơn kéo vào. Vũ bàn với Bí thư đảng ủy làm công tác tư tưởng thật kĩ cho đảng viên, từ đó làm công tác tư tưởng ra mỗi quần chúng chiến sĩ.


  Quân lệnh như sơn: Kéo pháo ra! Chấp hành ngay lập tức. Thế rồi các chiến sĩ pháo binh bằng đôi tay trần kéo ngược pháo lên đèo, dòng những chiếc dây rừng cực lớn giữ cho pháo trôi dần xuống dốc, lại kéo ngược lên... để đưa pháo ra ngoài.  Ngay sau đó, các pháo thủ cùng các chiến sĩ công binh lên phía trước đào hầm cho pháo, đào hào cho quân di chuyển quanh trận địa của mình. Xong viêc đào hào đào hầm, quân ta lại kéo pháo vào... Tất cả đều giấu kín dưới tán lá rừng. Cái quan trọng là toàn bộ công việc ấy phải được tuyệt đối giữ bí mật.


    Giữa lúc Việt Minh lẳng lặng thay đổi phương châm tác chiến, đồng thời nghi binh đưa đại đoàn 308 mở mặt trận Lào, thì người Pháp lại cho rằng Việt Minh sợ không dám tấn công. Người Pháp khi đó biết đâu rằng để có một quyết định mới mẻ có một không hai cực kì sáng suốt và thật sự khó khăn này, phía bên kia Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã nhiều đêm thức trắng cân nhắc bối cảnh chiến trường, lực lượng và cách đánh của hai phía, thuyết phục Cố vấn trưởng của Trung Quốc và các tướng lĩnh thân cận để rồi thay đổi cách đánh chắc thắng và bộ đội ít phải đổ xương máu nhất!


Cùng với pháo binh, hàng vạn chiến sĩ bộ binh trong khi ấy cũng lặng lẽ đào hầm moi đất và ngụy trang không để lại dấu vết tránh kẻ địch phát hiện. Họ như những ngàn vạn sinh vật khổng lồ, chỉ bằng đôi tay và chiếc xẻng mòn vẹt liên tục cặm cụi ngày đêm, hàng tháng trời đào hào, tạo ra hàng trăm cây số những đường giao thông hào trục bao quanh từng trận địa giặc và đào những đường hào nhánh tiếp cận đánh địch. Đứng trên trận địa bí mật của mình, từ rừng núi cao, bằng mắt thường, Quang Vũ nhìn rõ sân bay Mường Thanh, đồi A1…Tất cả đã sẵn sàng chỉ chờ ngày giờ phát hỏa.


    Cùng đi chiến dịch lần này còn có các đoàn Văn công phục vụ văn hóa văn nghệ. Thu Ba cũng đi theo đoàn Văn công của mình. Dọc đường đi đến đâu, gặp đơn vị bộ đội hay đoàn dân công nào là họ dừng lại, đặt ba lô xuống, cầm đàn lên gảy và hát cho mọi người nghe. Các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ và nhạc sĩ cũng đi chiến dịch. Họ nhanh chóng sáng tác những bài thơ bài hát, được hát và phổ biến ngay tại chỗ, những bức vẽ kí họa và những bài văn ngắn thôi thúc tinh thần các chiến sĩ. Những bài Hò kéo pháo, Giải phóng Điện Biên và Qua miền Tây Bắc đã đi vào lịch sử mà suốt những ngày chiến dịch cũng như đến khi hòa bình, đâu đâu cũng nghe hát những bài đó: Suối sâu đèo cao / Bộ đội ta vâng lệnh cha già / Về đây giải phóng quê nhà . Đúng là “ tiếng hát lời thơ/ là bom là cờ” động viên phát động các chiến sĩ xông lên giết giặc lập công!


  


 Giữa khi ấy, dưới lòng chảo kia, sau những ngày chờ đợi Việt Minh tấn công, rồi im ắng, Đờ Cát uống sâm banh cùng các sĩ quan đã từng nổi danh từ thế chiến thứ hai, ông ta hể hả nói:


    - Các bạn Mỹ của chúng ta đã ủng hộ và tin rằng Điện Biên Phủ sẽ là mồ chôn toàn bộ lực lượng tinh nhuệ của các đại đoàn Việt Minh. Các ngài có nghĩ như vậy không?


    - Ồ...ồ...ồ... Mọi người có mặt cùng cười -  Bỗng có tiếng nói:


    - Tôi là phái viên của Thượng viện đến đây thị sát, nghe các ngài nói hay lắm,nhưng nhìn thực địa, tôi chỉ ngại một điều là các trận địa của Pháp phơi lộ trên mặt đất rõ quá! -  Tư lệnh pháo binh Pỉroth nhìn séo vào ngài phái viên vừa nói, phẩy tay, tỏ vẻ coi thường, hỏi lại:


    - Ngài có đánh giá quá cao pháo binh của Việt Minh không đấy? Những ngày vừa rồi như ngài đã chứng kiến họ nã pháo 75 ly gãi ngứa cho ta đấy. Bầy voi trọng pháo 105 ly và 155 ly của Pháp mà đồng loạt gầm lên, bọn nhãi 75 ly chỉ còn biết câm họng -  Mọi người lại cười hứng khởi. Ông Phái viên hơi sượng, nhưng vẫn hỏi lại:


    - Nếu Việt Minh cũng có pháo lớn thì sao?


    - Ồ...ồ... ồ...Lại nhiều tiếng ồ.


    Đờ Cát nói:


    - Theo tin tình báo của Pháp quốc và Hoa Kỳ, đến giờ này thì Việt Minh chỉ có vài khẩu pháo 105 ly cướp được của người Pháp, nhưng đang ở các chiến trường xa, làm sao vận chuyển lên đây được? -  Pỉroth nói xen vào:


    -  Các ngài có mặt ở đây, có ai tin chắc rằng trên những mỏm núi kia có pháo 105 ly của Việt Minh đang ngó cổ xuống đây thì giơ tay cho biết?-  Mọi người nhìn nhau không ai nói gì. Pỉroth nhếch mép nói tiếp:     


     - Đúng rồi, Nếu không có phép của Thần Dớt thì không ai có thể nhấc bổng được những khẩu pháo 105 ly nặng thế qua đèo qua suối đưa đến đỉnh núi kia. Giả dụ có phép lạ ấy thì pháo binh của Pháp quốc sẽ nhanh chóng buộc chúng câm họng -  Nghe vậy, mọi người có mặt đều cười vui rất to. Họ nâng cốc sâm banh cụng ly, chúc mừng sẽ đại thắng, chúc pháo binh Pháp quốc bịt mồm pháo của Việt Minh.


    Trận chiến im lặng suốt những ngày dài. Địch tưởng Việt Minh không đủ lực đánh nên dừng lại. Nhưng đến giờ G, tức là sau khi các đường hào đã đào xong gần như đã tiếp cận địch, thì cuộc tổng công kích của pháo binh Việt Minh trên toàn tuyến Điện Biên Phủ diễn ra liên tiếp suốt nhiều ngày: Hàng vạn tên lính địch, cùng các phương tiện chiến tranh hiện đại nhất lúc bấy giờ, trong đó có hầm của tướng Đờ Cát và trung tâm pháo binh của Tư lệnh Pỉorth nằm nửa nổi nửa chìm phơi mình trên cánh đồng Mường Thanh, đã trở thành mục tiêu cho bộ đội pháo binh 105 ly của ta chúc đầu pháo bắn thẳng và bắn cầu vòng từ trên cao xuống. Sau này có nhà báo nước ngoài ví Điện Biên Phủ lúc ấy như chảo lửa khổng lồ đang sôi lên ùng ục như động đất phun thành cái biển nham thạch! Pháo binh địch nhiều khẩu đội bị vô hiệu hóa, còn lại thì bị động bắn trả, không ít những viên đạn rơi vào các trận địa giả đã bố trí sẵn, pháo rơi trên ngọn cây cành lá bị phăng đứt bay rào rào; bộ đội vẫn tiến công theo đường giao thông hào trục và đường hào nhánh để tiếp cận địch.


Quân Pháp huy động tối đa lực lượng không quân, mỗi ngày hàng chục đợt, mỗi đợt hàng đàn máy bay chiến đấu giội bom và bắn phá vào các trận địa Việt Minh. Nhưng pháo binh của ta từ trên cao vẫn áp đảo và đánh Sập trận địa pháo binh địch ở bên dưới . Khi ấy từ tướng Đờ Cát cho đến ngài Phái viên và một số sĩ quan gọi điện hỏi Pỉroth: Pháo lớn của Viêt Minh bắn từ đâu tới đấy? Ngài Tư lệnh pháo binh Pháp quốc không biết trả lời sao,vừa xấu hổ vừa bất lực, đã tuyệt vọng mở kíp lựu đạn tự tử chết ngay hôm ấy!


Tiểu đoàn pháo cao xạ của Quang Vũ cùng các đơn vị phòng không của đơn vị bạn, chưa có dịp nào lại có nhiều những mục tiêu để ngắm bắn như lúc này. Các khẩu cao xạ khạc lửa lên trời vây quanh và thiêu cháy hết máy bay này đến máy bay khác. Các chiến sĩ bộ binh dùng súng đại liên, trung liên, kể cả súng trường chĩa lên trời, một vài chiếc máy bay lao xuống thấp bị đạn, cháy, đâm sầm xuống đất. Tiếng reo hò vang lên khắp trận địa. Những toán dân công từ vòng ngoài nhìn thấy máy bay rơi, họ đập thúng, giơ cao đòn gánh, nhảy tưng tưng. Nhưng đâu đó ở các trận địa pháo cũng bị tổn thất. Đơn vị của Vũ ngày đầu tiên bốn chiến sĩ hy sinh và một khẩu cao xạ bị đổ.


Chưa bao giờ từ trên trời nhiều máy bay Pháp lại bị bắn rơi, rụng như ở chiến dịch này. Dưới đất lính Pháp thiếu đạn dược và lương thực. Những chiếc phi cơ vận tải lớn không dám xuống thấp. Chúng từ rất cao thả xuống hàng ngàn chiếc dù trắng, dù xanh đem theo những hòm đạn lớn, những thùng bánh ngọt và sữa tiếp tế cho bên dưới. Do bay quá cao đã thả dù, trời cao nguyên lộng gió, hơn nửa số dù ném xuống đã rơi sang trận địa ta. Vô hình trung địch đã tiếp tế đạn dược và lương thực cho đối phương. Điều thú vị là chiếc dù màu đỏ mang theo quân hàm cấp tướng phong tặng cho Đờ Cát cùng nhiều rượu Tây, lại rơi sang phía quân ta (sau này ra hàng, tướng Đờ Cát mới có dịp được nhận lại hàm cấp). Khi còn đánh nhau, các đơn vị chọn ra những chiến sĩ thiện xạ nhất, đào lỗ, nằm sát hàng rào địch, mỗi khi có tên địch nào thò đầu hoặc chạy ra lấy dù tiếp tế ở cạnh hàng rào bên bờ sông Nậm Rốm, thì bòm một phát, lại một tên nằm quay lơ, hàng trăm tên địch khi chết bụng còn rỗng đã thành ma đói. Liên tiếp những ngày sau nhiều đồn trại lính Pháp không dám ra ngoài nhận dù tiếp tế. Chúng phải chia nhau những khẩu phần lương thực ít ỏi, rồi ăn, đái, ỉa ngay tại hầm, bên cạnh những người chết và bị thương hôi hám.


Trên các chiến trường toàn quốc, quân ta được lệnh căng địch ra mà đánh, không để cho chúng có điều kiện đưa quân chi viện cho Điện Biên Phủ. Đường số năm, liên tiếp hàng chục đoàn tàu từ Hải Phòng lên Hà Nội chở quân, vũ khí, đạn dược và lương thực, bị lật nhào. Tại Khu 5, đèo Hải Vân địch bị phục kích, nhiều đoàn tàu và đoàn xe lăn xuống biển; chiến dịch Át Lăng của địch phá sản. Hàng loạt đồn bốt của địch ở Nam Bộ nằm rải rác trên khắp đồng bằng sông Cửu Long bị quét sạch. Những cuộc hành binh hàng trăm xe lính địch, bị tiêu diệt ngay tại nơi chúng tưởng là hậu phương của mình. Quân đội và dân quân du kích khắp cả nước đã biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta. Quân Pháp muốn đưa thêm quân lên Điện Biên Phủ, mà đành chịu bó tay.


Tại mặt trận Điên Biên Phủ, vẫn tiếp diễn. Giữa lúc pháo binh và cao xạ uy hiếp địch từ trên cao, thì dưới đất lớp lớp những chiến sĩ khoác lá ngụy trang tiến theo những đường hào như những cây rừng chuyển động khép chặt đồn địch. Cuộc chiến đấu mở đầu tại đồi Him Lam diễn ra quyết liệt, bộc phá đưa vào tận nơi diệt từng lỗ châu mai. Chính nơi đây đã xuất hiện tấm gương anh hùng, người chiến sĩ nông dân Phan Đình Giot, sau nhiều lần ôm bộc phá diệt hết lô cốt này đến lô cốt khác, anh đã bị thương, vẫn tiếp tục xông lên bịt chặt lỗ châu mai địch, cho nổ bộc phá. Đây là trận mở màn, bên ta quyết đánh và địch thì quyết giữ, không quân pháo binh bộ binh và xe tăng địch ào ào bắn phá để giành lại trận địa. Về phía quân ta lúc đầu bị thiệt hại nặng, nhưng rồi bằng sáng kiến của những chiến sĩ xuất thân từ nông dân đào ‘’hang chuột’’ trong lòng đất, người người lớp lớp tử lòng đất chui lên diệt hết tốp địch này đến tốp khác. Địch không thể vãi đạn mãi khi không nhìn rõ mục tiêu, tiếp viện quân đợt nào bị diệt đợt ấy. Cuối cùng ta đã làm chủ Hin Lam, có nghĩa là đã phá tung cánh cổng sắt của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đồi Hin Lam được người Pháp ví như cánh cổng lớn che chắn vòng ngoài, thì đồi A1 được coi như vị trí quyết định cho việc trấn giữ khu trung tâm Điện Biên Phủ.


Tại đồi A1, cứ điểm mạnh nhất của địch án ngữ đường vaò khu trung tâm chỉ huy của tướng Đờ Cát. Quân ta đã bao vây nhiều ngày, nhưng các hầm ngầm và lô cốt bong ke bao quanh dày đặc, đường hào của quân ta khó tiếp cận. Trận chiến giằng co ngày đêm, trong suốt một tháng trời, hàng chục lần địch đưa quân và xe tăng ra lấp đường hào của ta, rồi bị đánh lui. Địch biết rằng thất thủ A1 là mất Điện Biên Phủ, nên cố giữ. Các chiến sĩ đưa ra sáng kiến: Đào đường ngầm bí mật chuyển hàng tấn bộc phá vào trong lòng núi phía dưới của hầm chỉ huy sâu khoảng 10 mét. Sau 58 ngày đêm thay nhau khoét dần khoét sâu vào giữa quả núi, càng vào sâu không khí như đông đặc khó thở. Đêm ngày 6 tháng 5, việc đào khoét núi hoàn tất, một tiếng nổ cực lớn âm vang trong lòng đất đã làm thụt ngọn đồi A1 xuống sâu như một cái ao rộng, các lô cốt chính nằm lăn lóc dưới “cái ao” ấy; Hầm chỉ huy của tướng Đờ Cát và các sĩ quan Pháp cách đấy không xa, họ tưởng một trận động đất đã xảy ra! Hỏa lực địch hầu như tắt ngấm.


Thấy đồi A1 bị đánh sập, các cứ điểm còn lại của quân Pháp hoang mang lo sợ. Hàng trăm mũi tiến công của bốn Đại đoàn từ lòng đất vọt lên ào ào như bão tố, các chiến sĩ lưỡi lê tuốt trần lao vào các cứ điểm rồi nhằm hướng trung tâm của tướng Đờ Cát mà tràn vào, tiếng thét hô xung phong vang động núi rừng! Dọc đường tiến của quân ta, lính Pháp trong những lô cốt còn lại, ngồi yên bên lỗ châu mai không dám chống cự.


Thế là ngày 7 tháng 5 năm 1954, sau khi đánh thụt đồi A1, và qua “ Năm mươi sáu ngày đêm/ Khoét núi ngủ hầm / Mưa dầm, cơm vắt”, tiêu diệt 49 cứ điểm của địch, quân ta đã toàn thắng!     


                           


   Lũ lượt từng đoàn dài lính Pháp cầm cờ trắng ra hàng! Khắp cánh đồng Mường Thanh, hàng vạn bộ đội và hàng vạn dân công từ rừng tràn ra ôm nhau nhảy múa. Những bài hát Hò kéo pháo, Giải phóng Điện Biên phát ra từ những bộ ngực căng phồng của mọi người. Đâu đâu cũng nghe những câu “Giải phóng Điện Biên, bộ đội ta tiến quân trở về, giữa mùa hoa nở… miền Tây Bắc tưng bừng vui”. Chiến thắng Điện Biên Phủ, tin lan đi nhanh chóng trên toàn thế giới; đất nước ngập tràn niềm vui sau ba ngàn ngày chiến đấu. Kể từ khi đánh giặc giữa thủ đô, nhân dân cả nước “không ngày nào vui bằng hôm nay”. Chính phủ các nước XHCN và các lực lượng dân chủ cùng nhân dân yêu chuộng hòa bình toàn thế giới reo vui!


     Qua trận chiến đấu ác liệt, vất vả, dài ngày đêm tại Điện Biên Phủ cũng như tại đồi A1, Quang Vũ ghi vào cuốn nhật kí hai điều anh cho là quan trọng: Một là tại Điện Biên Phủ với 49 cứ điểm dày đặc và hỏa lực rất mạnh, ta không thể dùng chiến thuật biển người xông lên đánh nhanh hi vọng thắng nhanh như chủ trương ban đầu đã được Cố vấn nước bạn đưa ra ; Hai là nhờ thay đổi phương châm tác chiến, quyết tâm dùng sức người bí mật kéo pháo lên đỉnh cao bắn xuống trận địa địch, đào đường hầm, từ lòng đất đánh lên và đào hầm đào hào vây lấn, từ đất chui lên đánh bất ngờ, đã khiến kẻ địch thua trận; còn quân ta thì chiến thắng và giảm đi rất nhiều sự hi sinh xương máu!


                             


     Hôm ấy, tại Điện Biên Phủ, giữa biển người hân hoan ấy, cô May và chị Ba đã nhận ra Hà My và Cò Vàng. Cả bốn người thuộc gia đình tầng lớp trên này, đều ra trận! Họ ôm nhau, cười cười nói nói, kể cho nhau những gì đã trải qua. Riêng Hà My và Cò Vàng, sau khi học xong lớp y tá và dược tá, thi đạt điểm cao, cả hai đã được chọn đào tạo tiếp. Nay Hà My làm dược sĩ của sư đoàn 308, còn Cò Vàng làm y sĩ của Sư đoàn 316.


Trong niềm vui bất tận, họ dắt nhau đi xem “cái ao” trên đồi A1, vào xem tận hầm tên tướng Đờ Cát, ngắm những cô gái Thái xinh đẹp mặc áo váy dân tộc và đội chiếc khăn piêu nhảy múa sạp. Mọi người đứng xem cũng nhảy múa theo.


Cả bốn người đang đứng nói chuyện ríu rít bên chiếc hầm Đờ Cát th́ì có chiếc xe Jép xịch đỗ. Một người dáng chỉ huy, ngực đeo chiếc máy ảnh, nhanh nhẹn nhảy xuống đất. Thu Ba reo lên:


   -  Quang Vũ, Quang Vũ! Đúng là quả đất tròn. Tôi đang nhớ đến cậu, chắc rằng ở đây sẽ có mặt cậu, nhưng đông quá tìm đâu có dễ!


Chào chị Thu Ba và Hà My, còn đây là…?


 - Tôi giới thiệu ngay đây -  Thu Ba chỉ Hà My nói:


  -   My thì anh đã biết rồi, còn cậu đẹp trai này là Vàng, y sĩ quân y cháu ruột của tôi đấy; còn đây là cô May dân công hỏa tuyến. Chỉ còn thiếu Xuân Mai của Vũ thôi!


-  Thế thì vui quá rồi. Tôi mới mượn được chiếc máy ảnh chiến lợi phẩm đây. Mời mọi người đứng lên nóc hầm của tướng Đờ Cát, tôi chụp một bức ảnh kỷ niệm.


Chụp xong hai pô, Vũ vẫy tay, anh lái xe tới, nhờ anh chụp giùm hai pô nữa. Nói xong Vũ đứng vào cạnh bốn người và hô hai ba cười nào. Mọi người cười hết cỡ. Máy ảnh bấm tách… tách…Vũ nói:


-  Chị Ba vừa nhắc đến Xuân Mai, em nhớ cô ấy quá, giá như lúc này có Mai ở đây!


Lát sau, Vũ mời cả bốn người lên xe chạy vòng vòng quanh sân bay Mường Thanh. Khắp sân bay, chỗ nào cũng có vết tích của trận đánh. Những chiếc máy bay và những khẩu pháo bị pháo binh ta bắn đổ chổng kềnh vỡ toác, vài chiếc xe quân sự bị lật nhào. Đâu đâu cũng có những chiếc dù màu trắng, màu xanh và những chiếc mũ sắt vứt lăn lóc. Vũ bảo xe dừng lại, nhờ anh lái xe xuống nhặt mấy chiếc dù đưa cho mỗi người khoác một chiếc lên vai làm kỷ niệm.


Hà My nhìn Vũ rụt rè hỏi:


-  Chú Vũ, sao không thấy Văn Minh đi cùng chú ạ?


-  À, Văn Minh nó vẫn nhắc đến cháu luôn đấy. Hôm nay cậu ta còn chuẩn bị đi học lớp vô tuyến điện.


-  Chú cho cháu gửi lời thăm anh ấy-  Vũ gật đầu.


Trời xế chiều, Vũ cho xe dừng lại bên bãi cỏ vệ đường, nhấc từ trên xe xuống một ba lô nặng. Mọi người xúm lại, mở ba lô ra xem, cùng reo lên:


-  Tướng Đờ Cát mang đến chiêu đãi ta nào là thịt hộp, nào là bánh mì và cả rượu Tây đây rồi.


Lại một lần nữa cả tốp người hoan hỉ. Họ liên hoan mừng chiến thắng Điện Biên Phủ. Lát sau, ăn xong, họ chia tay nhau về đơn vị. Chiếc xe của Quang Vũ chạy xa rồi, chỉ còn lại bốn người.


Trước khi chia tay, May kể vắn tắt cho mọi người nghe rằng: Tổng Cò đã bị Cóc tóc đỏ bắn chết, sau đó Cóc cũng bị Pháp bắn chết. Trang trại bây giờ làm trụ sở Ủy ban Hành chính kháng chiến xã, phần lớn diện tích bị trưng thu. Vẫn may là bà Mận, mẹ May và các em đều khỏe. Cò Vàng rơm rớm nước mắt. Thu Ba kéo đầu Vàng vào ngực mình như người mẹ ôm con, chị vuốt vuốt mái tóc Vàng, vỗ về an ủi. Vàng dang hai tay ôm cả ba người. Trong giây lát, bốn người cùng im lặng, rồi họ chia tay mỗi người đi một ngả về đơn vị mình.


*


Chính phủ Pháp sau thất bại trận Điện Biên Phủ, buộc lòng phải cùng chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ngồi đàm phán tại Giơnevơ. Họ phải công nhận Việt Nam độc lập và sau hai năm nước Việt Nam sẽ tổng tuyển cử thống nhất đất nước, quân Pháp sẽ rút khỏi cuộchiến tranh Việt Nam. Nhưng hiện giờ tạm thời từ vĩ tuyến mười bảy trở vào Pháp vẫn chiếm giữ. Sau này có nhà sử học người Pháp đã viết: Nếu cách đó chín năm trước, chính phủ Pháp chấp nhận lời đề nghị hòa bình của chủ tịch Hồ Chí Minh thì nước Pháp không phải chịu sự thất bại ê chề này và tránh cho hàng chục vạn thanh niên Pháp đã không phải bị thương hoặc chết trên đất Việt Nam! Điều đáng nói là sau này bức màn bí mật của lịch sử được vén lên, cho thấy «người anh em hàng xốm» phương Bắc của chúng ta ngay từ hồi đó đã thỏa hiệp với cường quốc lớn ép Việt Nam phải chấp nhận tạm thời chia làm hai miền.


   Có chiến tranh xâm lược, ăt có chiến tranh chống xâm lược. Nhân loại trên trái đất này, suy cho cùng nước nào được sống trong hòa bình và độc lập để phát triển, thì đều phải trải qua cuộc đấu tranh chính trị kinh tế và ngoại giao, không xong thì buộc phải tiến hành chiến tranh chống xâm lược . Vinh quang thay những dân tộc anh hùng bất khuất, dám đánh và biết cách đánh thắng kẻ thù mạnh để giữ hòa bình trong độc lâp tự do! Đương nhiên, may mắn thay, hạnh phúc thay cho con người ở nơi nào trên trái đất này, ít phải trải qua chiến tranh!


    Chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt nam đã làm thay đổi một phần thế giới: Từ đây mở ra sự xụp đổ của cả hệ thống thuộc địa, nhiều nước châu Phi châu Á và Mỹ La tinh đã vùng lên xóa bỏ vĩnh viễn chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới. Không có chiến thắng Ðiện Biên Phủ ngày ấy, thì không thể có thời điểm thống nhất đất nước và đổi mới ở Việt Nam như đã diễn ra.


  


Vào ngày kỉ niệm 35 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết bài đăng trên báo Nhân dân, có đoạn: “ Quyết định khó khăn nhất là thay đổi để chọn cách đánh chắc tiến chắc. Đêm giao thừa năm ấy, tôi vẫn dõi theo những khẩu pháo cuối cùng trên đường trở về vị trí tập kết”. Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến công góp sức của cả dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng mang truyền thống bốn ngàn năm vào trận đánh. Song từ diễn biến của trận đánh ở Điện Biên Phủ phải nói thêm rằng tại thời điểm quyết định phải nhờ vào tài chỉ huy quyết đoán của vị tướng soái thao lược. Vị tướng kiệt xuất ấy là Võ Nguyên Giáp, ông đã được cả thế giới ca ngợi là Tướng của chiến tranh Nhân dân vĩ đại nhất thế kỉ 20! Hàng ngàn năm lịch sử giữ nước của nhân dân Việt Nam đã hun đúc nên vị Tướng tài ấy . Người Trung Quốc khi đó có hai phần ba tỷ người, trong khi miền Bắc Việt Nam lúc ấy mới có hơn hai chục triệu dân. Vào thời điểm trước trận đánh Diện Biên Phủ, phía Trung Quốc bằng kinh nghiệm của mình, dựa theo ưu thế số đông, dùng chiến lược biển người để đè bẹp đối phương, nên họ khuyên ta và đã đưa ra phương án « đánh nhanh thắng nhanh ». Xét tình hình thực tiễn chiến trường và tương quan lực lượng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp không thể đành lòng với cách đánh do phía Trung Quốc đưa ra, máu chiến sĩ sẽ đổ nhiều và chưa chắc đã thắng. Ông đã chọn một quyết định khó khăn: Vào thời khắc trước khi nổ súng, đã ra lệnh « kéo pháo ra » và tạm rút quân, để chuẩn bị theo cách đánh mới, với phương châm từ « đánh nhanh thắng nhanh », thực hiện theo phương châm mới « Đánh chắc tiến chắc» và sẽ chắc thắng . Tướng Vương Thừa Vũ, trong hồi ức của mình sau 10 năm trận đánh Điện Biên Phủ, ông viết: “ Nếu không có lệnh chuyển phương châm đánh địch ngày đó, phần lớn chúng tôi đã không còn đến ngày hôm nay để tham gia kháng chiến chống Mỹ”.


   Hơn nửa thế kỉ kể từ ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, các nhà quân sự và những nhà sử học của thế giới đã tốn bao giấy mực và những bộ phim ghi lại và bàn về nguyên nhân vì sao Việt Nam thắng Pháp ở Điện Biên Phủ? Có nhà sử học Pháp đã viết:


«Nếu rút được bài học từ Điện Biên Phủ, Mỹ ngừng tham chiến vào Việt Nam thì Mỹ không bị thất bại thảm hại năm 1975».


  Tại bảo tàng quân sự ở nhiều nước trên thế giới đã trưng bày mô hình chiếc xe đạp thồ, mô hình đường hào bao vây đánh lấn và hình ảnh Bộ đội Việt Nam kéo pháo ngược lên dốc núi. Qua đó đã nói lên ý chí quyết thắng, trí tuệ và sức mạnh của con người Việt Nam đã chiến thắng trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Trước đó các thế lực đế quốc cho rằng Việt Minh không thể thắng ở Điện Biên Phủ -  Nhưng tại đây, quân dân Việt Nam đã cống hiến và bổ sung cho kho tàng lịch sử quân sự thế giới những bài học kinh nghiệm mới mẻ và vô cùng quý giá về chiến tranh nhân dân, đã biến cái không thể thành cái có thể! Cuộc đối đầu lịch sử đã làm thay đổi một phần lịch sử nhân loại!


 Tương quan lực lượng giữa thực dân Pháp và quân dân Việt Nam ngày đó, với thực lực của ta, nếu vẫn được sự ủng hộ của phe XHCN, ta tiếp tục đánh tới thì Việt Nam có thể dành được độc lập thống nhất cả nước ngay từ thập kỉ 50. Nhưng các nước lớn hồi ấy lại bắt tay nhau chia cắt Việt Nam thành hai miền, Mỹ không kí kết hiệp định này để chuẩn bị xâm lược; Đáng nói là sau này bức màn bí mật của lịch sử được vén lên, cho thấy “Người anh em” hàng xóm phương Bắc của chúng ta đã thỏa hiệp, ép Việt Nam theo hướng tiêu cực ấy. Bọn họ chắc không ngờ rằng 30 năm sau, giống như người Pháp, quân đội Mỹ cũng phải rút khỏi Việt Nam, sau khi hàng vạn thanh niên Mỹ đã phơi thây trên chiến trường (!) Nhưng cũng vì sức ép của những cường quốc khi ấy, mà hơn ba triệu người dân Việt Nam mình buộc phải tiếp tục đổ máu.


*


 Sau chiến thắng trận Điện Biên Phủ phía Pháp không còn đủ tài chính và quân lực để tiếp tục cuộc chiến, nhân dân Pháp phản đối chiến tranh chưa lúc nào mạnh như lúc này. Tình hình đó, buộc Chính phủ Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán với ta tại hội nghị Giơ ne vơ, chấp nhận rút ra, đồng thời chơi trò hai mặt bàn giao cuộc chiến để Mỹ trực tiếp đảm nhiệm. Tại hội nghị này còn có sự tham dự của các nước lớn ở cả hai phe. Mỹ không kí hiệp định và công khai lập chính phủ bù nhìn Ngô Đình Diệm, gấp rút viện trợ kinh tế và quân sư thành lập đội quân đông một triệu lính tiến hành liên tục càn quét bắt bớ giết hại những người kháng chiến cũ ở miền Nam. Còn Trung Quốc thì trớ trêu thay ép ta chấp nhận chia đôi đất nước (!) Không được sự ủng hộ của phe XHCN, ta không thể tiếp tục đánh giành thắng lợi trọn vẹn.


   Thắng giặc rồi, ta lại phải tiếp tục lo toan nhiều vấn đề mới.


Người Pháp trước khi rút vào Nam, tận dụng 300 ngày lấy Hải Phòng là khu đệm để bí mật cài cắm những phần tử phản động nằm vùng, đồng thời ráo riết tuyên truyền lôi kéo đồng bào ta, nhất là những người theo đạo thiên chúa vào Nam.


 


Lại kể về cụ Mận và các cháu. 


    Hôm ấy, May hớt ha hớt hải chạy về ghé tai kể cho mẹ và bà Mận nghe rằng: Cái Tư con ông Chủ tịch xã kể lại ông Văn Cầu bây giờ làm cán bộ to lắm, đi xe về, bảo với bố nó phải sớm cải cách ruộng đất ở xã mình. Cả ba người đều vô cùng lo lắng. Trong những ngày đi dân công, May đã có lần ghé xem một buổi đấu tố địa chủ. Cô thấy một bà gọi là khổ chủ đứng lên giữa đám đông, kéo chiếc váy xốc ngược, xắn tay áo, chỉ vào mặt một cụ già hơn tuổi bố mình, cụ đang quỳ giữa sân đình. Bà ta kể hết việc nọ đến việc kia không rõ đầu đuôi, cô không hiểu bà ta định nói gì. Cụ Mận sợ nhất là bị đưa ra quỳ trước mọi người để người ta chỉ mặt vạch tội mình và sẽ vạch tội tổng Cò, rồi tất cả quy các tội cho cụ là người đẻ ra nó để cho nó làm bậy. Cụ nghĩ dại, không khéo họ bắt mình phải chịu chết thay tội tổng Cò, bắn mình chết, thì ai nuôi các cháu đây? Từ hôm qua lại thấy một anh dân quân đứng quanh quẩn trước cổng nhà. Suốt đêm qua cụ Mận không ngủ được, cụ lo nghĩ lan man… Sáng ra cụ bảo mẹ con cô Na:


-  Ta muốn gặp mẹ Loan, xem có cách gì đi khỏi đây được không, càng sớm càng tốt. Ta đi thì khó, họ vẫn đang theo dõi. Mẹ nó hoặc con May xem có thể sang Hà Nội giúp ta được không?


May vội vàng nói ngay:


-  Bà cứ để con đi tìm bác Loan, bây giờ sang Hà Nội cũng dễ thôi. Con đi thì không ai để ý -  Mẹ Na và bà đồng ý để May đi.


Lại kể về vợ chồng Phán Lâm, từ ngày “ dinh tê” về lại Hà Nội, nhà cửa tanh bành, đồ đạc bị người ta lấy đi hết. Thấy vắng chủ, nhà hàng xóm dọn qua ở. Khi chủ nhà trở về, họ dọn đi, trả lại xác nhà. Sau khi làm thủ tục trình diện, người Pháp cho gọi Phán Lâm lên, tỏ ý muốn ông làm phiên dịch cho họ. Phán Lâm lấy cớ để từ chối là sức khỏe kém và vợ đang ốm yếu, không thể đi làm.


Nhưng rồi, để sống được cần có cái ăn, cái mặc, biết bao khoản chi tiêu khác. Vợ chồng Phán Lâm phải tìm cách kiếm tiền. Hai vợ chồng bàn nhau: Tận dụng phòng khách rộng, có mặt tiền vỉa hè, mở cửa hàng bán cà phê và rượu cùng nước giải khát. Thu nhập cũng tạm đủ tiêu.


Bẵng đi vài năm, vợ chồng Phán Lâm nghe tin ở quê: Chánh Cò lập tề phản động, rồi tin chị Hai tự tử chết, tiếp đến tin chánh Cò bị bắn chết! Bà Loan muốn về thăm chia buồn với mẹ cùng các cháu, nhưng lại sợ đang chiến tranh, khéo “không phải đầu lại phải tai”, nên không dám về.


Sau khi nghe cô May kể … bà Loan bảo May về trước, còn mình thì chuẩn bị vài thứ rồi về sau. Hôm ấy bà Loan về làng Dưới thăm mẹ. Bà xuống tàu hỏa, qua cầu sắt, đi bộ theo con đê về làng. Dọc đường bà gặp những toán nam nữ thanh niên nông dân và trẻ nhỏ, đi thành hàng ngũ, vác cờ, đánh trống ếch, gọi loa hô khẩu hiệu về cải cách ruộng đất. Khi về đến nhà, đứng trước chiếc cổng cũ mà bà không nhận ra: Hai cánh cổng lim to đùng trước đây không còn nữa, một bên trụ cổng treo cái biển gỗ sơn chữ “ Trụ sở Ủy ban hành chính xã Giang Cầu”. Bà đi vào đoạn ngõ, nơi là chuồng chim công trước đây, được sửa lại thành phòng thường trực của Ủy ban xã. Qua phòng thường trực thấy ngôi nhà cao chín bậc, người ra người vào. Khu nhà kính, các cửa đã bị vỡ, thay vào là mấy hàng ghế gỗ mộc kê làm phòng họp. Đi tiếp đến nhà ngang cũ, thì bây giờ là vườn trẻ. Bà Loan đi mãi đi mãi chỉ thấy cảnh hoang tàn. Đến căn nhà lợp rạ bên bờ ao, bà mới trông thấy cụ Mận đang ngồi đeo kính vá áo cho cháu. Bà kêu lên:


-  Ới mẹ ơi! -  Rồi bà ôm lấy cụ Mận khóc nức nở.


Cụ Mận nhìn con bằng cặp mắt ngơ ngác, sờ đầu, sờ mặt, nắn chân tay bà Loan. Rồi hai mẹ con lại khóc. Sau khi hỏi thăm hai cháu con bà Loan, hỏi thăm tình hình vợ chồng Phán Lâm, cụ Mận kể về nỗi sợ hãi của mình… cụ muốn bà Loan đưa cụ và các cháu đi khỏi nơi này. Bà Loan ghé tai cụ nói thầm… chốc chốc cụ lại gật gật. Cuối cùng hai mẹ con chia tay. Cụ Mận bảo bà Loan cứ thế mà làm nha. Bà Loan vâng vâng dạ dạ.


Sau khi bà Loan ra về cụ Mận gặp mẹ con cô May. Ba bà cháu ngồi ở góc nhà thì thầm; cụ Mận nói nhỏ:


-  Mẹ Loan nó bảo hiện nay ở Hải Phòng đang có tàu thủy của người Pháp đón những ai muốn vào Nam thì đi không mất tiền, ở đó Chính phủ ta vẫn không ngăn cản. Cái khó là làm sao đi khỏi làng là được. Sang đến chợ Đáp Cầu thì mẹ Loan đợi ở đó sẽ đưa đi tiếp.


-  Thế mẹ lại bỏ quê hương mà đi ư?


-  Mẹ không muốn xa quê đâu con ạ, bây giờ già rồi, ai còn muốn đi xa quê hương. Chỉ ngại một nỗi thời buổi này Đội cải cách mà về… ta có chết cũng chẳng sao, chỉ lo cho ba thằng Cò con! Thôi cứ để cho mẹ đi cùng với ba đứa cháu. Nếu mẹ con mày thương thì con May đi cùng giúp ta và bế ẵm thằng Cò Trắng đến Hải Phòng, rồi trở về.


May nhìn mẹ. Cô Na gật gật đầu đồng ý cho May đi. Sau đó ba bà cháu thì thầm bàn nhau chuẩn bị đêm mai đi khỏi đây.


Sáng hôm sau, cụ Mận tìm ba chiếc túi tay đẫy, chọn lấy vài bộ quần áo còn tốt của mấy bà cháu, rồi san ra để vào ba chiếc đẫy; cụ cùng Cò Đỏ và Cò Xanh, mỗi người sẽ đeo trên lưng một chiếc. Trời sẩm tối, cụ đào góc bếp lấy lên một lọ sành, dốc ra, được vài chục đồng bạc trắng hoa xòe, chiếc vòng ngọc và vài chiếc nhẫn cùng đôi khuyên tai. Cụ lấy ra hai thứ, còn thì tất cả gói kỹ rồi bỏ vào chiếc hộp nhỏ, nhét vào tay đẫy của cụ. Cụ gọi mẹ con cô Na đến, đưa ra chiếc nhẫn, nói đây là chiếc nhẫn vàng của bà Hai định cho Cò Vàng, chưa kịp cho thì đã chết, nay nhờ mẹ con cô Na cầm hộ đưa cho Cò Vàng khi nào gặp. Cụ lại lấy ra một đôi khuyên tai bằng vàng, cầm bàn tay May ngửa ra, cụ đặt đôi khuyên tai vào lòng bàn tay của May và nói:


-  Bà cho cháu đôi khuyên, sau này lấy chồng thì đeo -  Cả ba người rơm rớm nước mắt.


Cụ Mận cho các cháu ăn cơm chiều lúc mặt trời chưa lặn, bảo chúng đi ngủ sớm, khi nào bà gọi thì dậy.


Nửa đêm hôm ấy, trời không trăng sao. Cụ Mận nhìn lên nhà lớn vẫn thấy ánh đèn, dân quân gác ở đó chẳng rõ họ thức hay ngủ. Theo kế hoạch đã bàn, cô Na sai thằng Bần đưa chiếc thuyền con đợi sẵn ở bến sông nơi có ruộng dâu gần nhà, còn mình thì lẻn ra cuối xóm, nơi ấy có đống rạ cô đã hong khô, châm lửa đốt. Thấy lửa cháy, mấy anh dân quân đang gác tại trụ sở Ủy ban, gọi nhau ý ới chạy đến cuối xóm để chữa cháy. Ngay khi đó May đã ôm Cò Trắng, dắt tay bà Mận chạy vội qua bờ đê, Cò Đỏ, Cò Xanh lẽo đẽo theo sau. Chỉ ít phút cả tốp người đã ngồi gọn trên thuyền, thằng Bần chống sào cho thuyền ra xa rồi cầm chèo đẩy vội. Thuyền ra chừng mươi thước, thì thấy nước lũ từ thượng nguồn chảy về rất mạnh, Bần cố gắng bơi chèo lựa dòng nước sang ngang, mà thuyền vẫn bị đẩy xuôi. Trên bờ, mấy dân quân đã quay lại bờ sông, tuy không nhìn rõ thuyền, chỉ nghe tiếng mái chèo ì oạp, họ vẫn la lên ra lệnh cho thuyền quay lại, nếu không thì bắn. Cụ Mận bảo Bần cố chèo lên, rồi cụ cầm lấy chiếc mái chèo phụ, quơ quơ xuống dưới nước đẩy thuyền đi. Thuyền ra đến giữa sông, thoát khỏi cái nạn bị bắt, thì một tai nạn bất ngờ ập đến. Từ phía thượng nguồn, một cái cây to khoảng một người ôm, cành lá xòe ra, đang bị nước đẩy trôi vun vút xuống hạ lưu. Bần hốt hoảng cố lái để tránh cây gỗ đâm vào thuyền, thì một cành cây quét lên mũi thuyền, hất cả May và Cò Trắng rơi tõm xuống sông! Cả mấy người còn lại trên thuyền kêu lên hốt hoảng. Chỉ trong nháy mắt họ thấy dòng sông tím đen, nước chảy xiết, chẳng còn thấy chị em cô May đâu và cũng không thấy cây gỗ nữa. Cụ Mận ôm chặt hai cháu Đỏ và Xanh vào lòng, nước mắt giàn giụa, ra hiệu cho Bần cứ đưa thuyền sang sông.


Khoảng hai giờ sau, bà Loan thấy mẹ dắt tay Cò Đỏ và Cò Xanh tất tả đi tới. Họ không kịp nói gì cùng nhau. Bà Loan không thấy Cò Trắng. Cả bốn người vừa đi vừa chạy cố gắng ra ga tàu hỏa trước lúc trời sáng, kịp tàu từ phía Bắc Giang vào ga, khởi hành, về đến cầu Long Biên. Đến nơi, cả bốn người xuống ga, gặp ba bố con Phán Lâm đã chờ sẵn ở đó. Lát sau, tất cả lên tàu hỏa đi Hải Phòng, tìm đường vào Nam. Lúc ấy cụ Mận kể lại chuyện hai đứa cháu bị chết trôi, thương quá!


    Đêm ấy, cụ Mận thao thức, cụ nhớ đến Cò Trắng và cháu May. Nước mắt cụ trào ra và nghĩ: Hai đứa rơi xuống sông chết thê thảm quá! Một đêm thật hãi hùng! Cụ đứng dậy, chắp hai tay vái, miệng lẩm nhẩm tên cháu May và Cò Trắng, mong các cháu sống khôn chết thiêng phù hộ cho bà và mọi người đi chuyến này được bình an khỏe mạnh. Rồi cụ lại khấn vái, nói đến tên cụ Cai Phòng, tổng Cò và bà Hai, cụ mong mọi người đón nhận chăm sóc hai đứa mới chết và phù hộ cho bà và hai cháu Đỏ và Xanh của cụ đi được thông đồng bén giọt.


    Tàu hỏa kéo còi vào ga Hải Phòng. Trên chuyến tầu ấy còn có gia đình cụ Mận. Mọi người chuẩn bị hành lý xuống tàu. Phán Lâm cùng vợ và hai con mỗi người xách túi nặng, Cò Đỏ hai tay dắt bà và em, cả toán đi theo những người dân đeo thập ác dẫn đường. Hồi lâu họ đến một cái nhà mái tôn rất to, hình như trước đây là kho hàng của cảng. Mỗi gia đình ngồi một xó. Người già, trẻ nhỏ nằm la liệt trên những chiếc chiếu trải trên sàn nhà lạnh giá. Tiếng khóc như ri. Bên ngoài ngôi nhà tôn này có cả người Pháp và bộ đội Việt Minh đội mũ sao vàng đứng gác.


Trời gần tối, người ta đẩy đến vài ba chiếc xe chở bánh mì và nước uống phát cho mọi người. Đi suốt đêm hôm qua cho đến cả ngày hôm nay mọi người trong gia đình nhà cụ Mận và Phán Lâm đều đã đói mệt. Họ nhai ngấu nghiến một loáng đã hết cái bánh mì được phát. Riêng cụ Mận nhai trệu trạo, miệng đắng, ăn mãi không hết cái bánh. Cò Xanh nhìn bà như còn thèm thuồng. Bà đưa mẩu bánh cho Cò Xanh ăn nốt, rồi cả hai được bà quạt, gối đầu lên đùi bà nằm lăn ra ngủ, trong khi bà thao thức không sao chợp mắt được. Ăn uống xong, nhiều người ở cái nhà tôn này hình như quá mệt nên cũng đều lăn ra ngủ. Riêng những tín đồ Thiên Chúa giáo thì ra một góc nhà cùng nhau cầu kinh trước khi ngủ.


Sáng hôm sau, mọi người thức dậy. Ở đây không có nhà vệ sinh, nhiều người kéo nhau ra sân sau nhà phóng uế, mùi hôi thối nồng nặc. Gần mười giờ, vài chiếc xe đẩy lại đến cấp phát bánh mì và nước uống; họ đưa cho mỗi người một tờ giấy in sẵn để từng người khai, điền vào những chỗ trống họ tên, nơi ở, v.v… Buổi chiều tối, họ đến thu tờ khai và cấp phát tiếp bánh mì và nước uống.


Sang đến ngày thứ ba, một cha cố người Pháp cùng một sĩ quan Tây và viên thông ngôn người Việt bước vào nhà tôn. Họ vẫy mọi người lại gần, đứng xung quanh. Người sĩ quan nói sõi tiếng Việt:


-  Các vị là những người kính Chúa và trung thành với “ nước Mẹ”. Các vị không muốn ở lại với Cộng sản. Nay Chúa vào Nam, các vị đi theo Chúa. Người Pháp chúng tôi sẽ đưa các vị đến một thế giới tự do, không còn chiến tranh, có cuộc sống hòa bình, có cơm ăn, áo mặc…


Tiếp đến, vị linh mục mặc áo choàng đen, đội mũ đỏ kia, đứng ra đọc kinh cầu nguyện, sau mỗi đoạn, mọi người lại đồng thanh A men lạy Chúa tôi. Buổi cầu nguyện kéo dài đến nửa ngày. Sau lễ cầu nguyện, nhiều người tươi tỉnh hẳn lên, họ nghĩ đến tương lai và hy vọng…


Đến ngày thứ tư, mọi người được lệnh đi bộ ra cầu cảng. Họ xếp hàng dài nối tiếp nhau đi xuống bến, chiếc tàu há mồm đậu ở đó như nuốt chửng cả đám vào cái bụng to lớn của nó. Khi người đã vào đầy chật tàu, chiếc tàu há mồm ngậm mồm lại. Con tàu huýt ba hồi còi dài quay ra phía biển. Tàu há mồm chạy đến phao số năm thì gặp một chiếc tàu biển khổng lồ, nó lại mở miệng, để mọi người lần lượt lên tàu to, rồi quay trở lại đưa tiếp đợt khác.


     Cụ Mận cùng đoàn người di cư sống trên chiếc tàu to này đến ngày hôm sau thì trời nổi gió, biển động, sóng nổi ầm ầm -  Trời có bão! Chiếc tàu thủy to lớn là thế, mà nó bị lắc lư như đưa võng. Cụ Mận và lũ trẻ bị xô bên này đẩy bên kia, từng người bắt đầu say sóng, nôn mật xanh mật vàng. Cụ vội vàng cởi khăn bao lưng và lấy những chiếc quần ống dài dùng để cột chặt từng cháu vào thành tàu cho đỡ bị xô.


Sau hai ngày trời bị bão sóng vật vã, mọi người trên tàu kiệt sức, nằm la liệt trên sàn tàu như chết rồi! Cơn bão đi qua, vị linh mục lên loa truyền thanh đọc kinh. Dân Thiên Chúa giáo nghe thấy tiếng cầu kinh, lần lượt gọi nhau ngồi dậy làm dấu thánh, miệng nói A men, lạy Chúa tôi! A men lạy Chúa tôi!


 


Trên chuyến tàu di cư vào Nam, không lúc nào cụ Mận quên nghĩ về quê hương làng Dưới của mình ; Cụ không nguôi nhớ Tổ tiên và nhớ về cái chết thê thảm và nhục nhã của chánh Cò, cái chết bi thương của bà Hai và cái chết oái ăm của Cò Trắng và cô May; cụ nhớ đến Cò Vàng và Hà My. Cả cuộc đời cụ gắn bó với quê hương, dù chỉ trong tưởng tượng, cũng không bao giờ cụ lại nghĩ là mình có thể đi hàng ngàn cây số xa quê hương như lúc này . Cụ  kêu trời “ Rõ khổ phải tha phương cầu thực”. Cụ chẳng biết rồi đây số phận sẽ đưa đẩy bà cháu của cụ ra sao. Cụ nhớ đến câu Kiều: “Cũng liều nhắm mắt đưa chân / Thử xem con tạo xoay vần đến đâu?!” . Có lúc cụ không muốn sống nữa. Cụ nhớ đến bà Hai, con dâu hiền đức của cụ: Cụ nghĩ bình thường thì chẳng ai muốn chết, nhưng khi không còn thiết sống nữa thì chết là thoát, như mẹ Hai nó là vậy! Cụ ước được chết như mẹ Hai. Nhưng lúc này thằng Cò Đỏ, Cò Xanh còn bé bỏng của cụ, chúng đang gối đầu lên đùi cụ, nằm mê mệt, cụ lại thấy mình phải sống để lo cho các cháu. -  Chắc mẹ Hai nó ở âm phủ muốn cụ phải sống. Nghĩ thế, lát sau cụ vịn vào thành tàu cố đứng dạy, ngó nhìn ra bầu trời và mặt biển mênh mông.


    Trên chuyến tầu này hôm ấy có mặt An- Be và Trần Văn Tùng, cả hai ngớt bão mới lên tầu. An -  Be đứng trên boong tầu, nhìn đám người di cư ai ai đôi mắt cũng thẫn thờ, quần áo nhếch nhác bẩn thỉu; dường như họ không biết ngày mai sẽ đến đâu và sống thế nào. Hắn nhớ đến việc làm đầu tiên 100 năm trước của ông cha hắn đến xứ nảy, kể lại rằng: Ban đầu phải dùng biểu tượng Chúa để chuyển tải ý đồ chính trị; Phải nắm ngay những đứa trẻ ngây ngô và những cụ già giầu đức tin. Hắn nhìn những đứa trẻ đang đùa ngịch trên sàn tầu và nghĩ: Phải nắm lấy lũ trẻ này làm công cụ, chỉ vài năm nữa thôi chúng sẽ lớn, là lực lượng xung kích chống Cộng. Hắn nhớ đến Cò Đỏ con của Chánh Cò, có đôi mắt to và hai chân mày rậm. An- Be quay nhìn vào phòng bên, bảo Tùng tìm cách làm quen với Cò Đỏ và rủ cậu ấy lên phòng An- Be chơi.    


Tùng biết Cò Đỏ và mình có chung một phần dòng máu, tìm cách làm thân . Tùng dắt Đỏ đi chơi khắp con tàu, đưa lên sàn tàu ngắm những con chim hải âu bay lượn, những con cá heo bơi lội tung tăng. Hai đứa kể cho nhau cảnh vùng quê, con sông Cầu, bãi dâu, đình làng…


Rồi một hôm, Tùng dẫn Cò Đỏ lên phòng riêng của mình, bên cạnh phòng ấy là phòng lớn của An- Be. Đỏ trông thấy một người Tây béo tốt, đã đứng tuổi, mặc bộ comple màu ghi. Ông ta gật đầu chào lại cậu. Ông ta dắt tay cậu rồi mời cậu uống côca và ăn bánh. Kể cho cậu đôi chuyện vui vui, Tùng dịch lại. Lát sau ông khen cậu có sợi dây đeo bằng bạc đẹp quá. Cò Đỏ cầm sợi dây có cây thánh giá, giơ ra và kể rằng khi còn bé cậu được một ông Tây đến nhà tặng cho cậu. An-  be nhận ra đây là chiếc dây bạc của hắn có hai chữ A B đầu của tên An-  Be khắc đằng sau cây thánh giá. Trước khi đi trốn sang Tàu, hắn đã tự tay tháo từ cổ mình đeo vào cổ Cò Đỏ dây bạc này. An-  be nghĩ, cuộc đời này thật là kỳ lạ: Cách đây đúng mười năm, mình đã gặp cậu bé này giữa lúc chạy trốn quân Nhật, thì nay lại gặp cậu bé ấy trên chuyến tàu này.


    An-  be gặp Cò Đỏ ở trên tầu, không phải là chạy trốn như lần gặp trước, nhưng thực chất là người Pháp đã phải rút khỏi miền Bắc Việt Nam. Gia đình An-  be đã có bốn đời thống trị đất nước này. Bao sự hiển vinh và giàu có đem lại cho gia đình hắn cũng từ nơi đây. Là một người Pháp theo chủ nghĩa thực dân đã ngấm vào máu tên cáo già này, hắn không chịu từ bỏ nơi đây . Hắn tự nhủ phải quyết tâm quay lại miền Bắc Việt Nam lần nữa. Nếu chính phủ Pháp bỏ cuộc, thì hắn sẽ theo người Mỹ để quay lại. An Be nhìn cậu bé đang ngồi trước mặt mình có đôi mắt to với cặp lông mày rậm, giống hệt chánh Cò, cha nó. Hắn nghĩ sẽ tìm những đứa trẻ tương tự như thế này, bằng mọi cách đào tạo cho chúng trở thành những phần tử chống Cộng điên cuồng hơn cả cha ông của chúng. Trước khi Cò Đỏ ra về, An- Be nói: Tôi luôn luôn vui mừng khi được đón cậu bất cứ lúc nào, chỉ lưu ý cậu đừng nói với ai là tôi và cậu đã quen nhau.


                                  


Văn Tùng đã chứng kiến cảnh nhân dân thủ đô nô nức chào đón ngày hòa bình, khi người Pháp vẫn còn ở Hà Nội. Cậu nhớ đến mẹ ở làng Bình, chắc mẹ đang nóng lòng chờ con trai trở về. Cậu muốn về thăm mẹ lắm, nhưng vì nhiệm vụ cậu phải giữ kín “vỏ bọc”. Cậu hy vọng bố Nhẫn sẽ theo đoàn quân tập kết ra Bắc, rồi sớm về với mẹ! Điều duy nhất cậu có thể làm lúc này cho mẹ là nhờ tổ chức cấp trên chăm sóc bà và viết một lá thư bằng tay trái gửi về thăm mẹ.


An- be bây giờ là người được quân đội Pháp ủy quyền đứng ra giải quyết những vấn đề liên quan đến việc người Pháp rút khỏi miền Bắc và quản lý khu “ba trăm ngày” tại Hải Phòng. Trước khi toàn bộ quân Pháp rút về bên kia vĩ tuyến mười bảy, với khối lượng công việc khổng lồ phải giải quyết xong trong thời gian ngắn, An- be cần người tin cậy và giỏi tiếng Pháp giúp đỡ. Hắn đã mời Trần Văn Tùng tham gia. Tùng nhận lời.


Trong số những việc giao cho Tùng, anh đoán biết việc gì An- be quan tâm nhất, anh đã xử lý rất trọn vẹn, khiến hắn hài lòng. Dần dần An - be giao cho anh những công việc tối mật. Tùng đặc biệt chú ý khai thác hồ sơ tìm ra những “con cá chìm” mà người Pháp để lại để chúng hoạt động sau khi quân Pháp rút khỏi miền Bắc. Văn Tùng hoạt động theo nguyên tắc đơn tuyến, tất cả những tài liệu của anh gửi về Trung tâm đều được tiếp nhận và xử lý theo chế độ tuyệt mật.


*


   Vào thời gian này quân dân Nam Bộ có những niềm vui xen lẫn lo toan lớn. Cả tiểu đoàn của Hai Nhẫn và nhân dân nơi đóng quân vui mừng đón ngày hòa bình. Nhưng thời gian hòa bình quá ngắn ngủi, bà con có người thân đi kháng chiến thì buồn sắp phải xa chồng xa con đi tập kết; Người sắp ra đi thì lo cho bố mẹ, lo cho vợ cho con ở lại với chính quyền ngụy rồi sẽ sao đây?! Các chiến sỹ của anh và người thân cũng sớm phải lo lắng bịn rịn khi ngày tập kết ra Bắc đến gần. Riêng Hai Nhẫn lại mong ngày đó đến sớm, để anh mau được về lại quê hương sum họp với vợ con. Anh nhẩm tính nếu kể cả từ ngày bị Tây bắt tù đến nay, anh đã phải sống xa vợ con gần mười bảy năm rồi! Khi anh ra đi, cu Tý mới bé tí xíu, nay đã hai mươi mốt tuổi rồi. Bà ấy phải xa chồng xa con, vất vả, buồn lo, chắc tóc cũng bạc trắng như mình. Sắp được gặp vợ con, anh cố nén niềm vui vào trong lòng, để lắng nghe và hòa đồng cùng tâm trạng chung của các chiến sĩ sắp phải xa quê hương và người thân. Họ hy vọng, sau hai năm, hiệp định Giơnevơ quy định, lại được trở về đây trong cuộc sống hòa bình, cả nước tổng tuyển cử tiến tới thống nhất đất nước! Với hiểu biết của anh, thì ngày đó còn xa xôi lắm, giặc Pháp có rút ra, thì giặc Mỹ cũng sẽ vào Việt Nam. Cuộc chiến đấu sẽ vô cùng gian khổ và ác liệt. Ðêm đêm anh thao thức đếm từng ngày mong sớm đến ngày tập kết, tiểu đoàn ra tàu biển về quê hương miền Bắc!


     Nhưng rồi, ngay sau khi hiệp định Giơ ne vơ được kí kết, Mỹ đã cho hạ bệ chính phủ tay sai của Pháp, thay thế đưa từ Mỹ về thành lập chính phủ “gia đình trị” gồm Tổng thống Ngô Đình Diệm, với cố vấn khét tiếng chống Cộng là hai người em có tên Ngô đình Nhu và Ngô Đình Cẩn. Các đài phát thanh và những tờ báo hàng ngày ở miền Nam liên tục đăng tin và ảnh những máy bay và tầu chiến Mỹ từng ngày từng ngày đưa những đoàn cố vấn và vũ khí cùng trang thiết bị quân sự vào cặp những hải cảng lớn. Bắt lính ồ ạt, chẳng mấy chốc tổng số quân lực Việt Nam Cộng hòa đã tăng lên một triệu. Các quân binh chủng như hải quân, không quân và pháo binh đã lần lượt được thành lập. Cố vấn Mỹ đã trực tiếp xuống hướng dẫn, kiểm tra đến từng trung đoàn và chi khu, có nơi đến tận đại đội. Việc thu gom dân vào trại tập trung đã bắt đầu làm thí điểm…


    Hai Nhẫn, trong anh lúc này như có hai con người: Một người mong chóng ra tầu tập kết về Bắc với vợ con, người khác thì không nỡ đi bỏ mặc đồng bào miền Nam bao nhiêu năm đã ủng hộ kháng chiến, chỉ chừng một tháng nữa bà con phải đối đầu và hấng chịu sự tàn sát dã man của Mỹ ngụy.


 


Rồi một hôm, có lệnh của Trung ương Cục gọi anh lên gặp. Anh hồi hộp chưa biết trên gọi anh làm gì. Người giao liên chèo xuồng đưa Hai Nhẫn đi dọc theo kênh rạch, đến chiều thì tới một cái bến nhỏ, có hai chiến sỹ đội mũ tai bèo ra đón anh, dẫn vào căn nhà, có cửa hầm ăn sâu vào lòng núi. Người dẫn đường chỉ chiếc chõng mời anh ngồi xuống uống nước, đợi một lát. Khoảng mười lăm phút sau, anh thấy một ông già Nam Bộ bước ra từ cửa hầm, anh reo lên:


-  Ủa, chú Sáu Huỳnh?


Cùng một lúc, hai người nhận ra nhau, ông già kêu:


-  Hai Nhẫn hử?


Cả hai ôm nhau, thấm thoát từ ngày họ xa nhau gần trọn chín năm kháng chiến! Ông Sáu hỏi: Mày cũng được gọi lên đấy à? Chắc cũng được giao nhiệm vụ mới giống tao rồi, lát nữa mày gặp đại diện Trung ương Cục sẽ biết. Hai Nhẫn chưa kịp nói gì, thì người giao liên chỉ cho anh cửa hầm và mời anh vào. Hai Nhẫn chào chú Sáu rồi tụt xuống cửa hầm, theo chân người dẫn đường. Càng đi, Nhẫn càng gặp nhiều ngõ ngách và xuống sâu trong lòng đất. Đi khoảng nửa cây số đến một căn phòng dưới lòng đất rộng như một gian nhà lớn, có đèn sáng trưng, trên tường treo ảnh Bác Hồ, ở giữa là một cái bàn dài, xung quanh là những cây tre ghép thành ghế băng để mọi người ngồi hội họp. Đầu bàn phía bên kia một người có cái đầu rất to, mái tóc húi cua đôm đốm bạc. Hai Nhẫn nhận ra ông Hai Thắng, Trung ương Cục, có lần anh đã được gặp nghe ông nói chuyện. Hai Thắng đứng lên giơ tay bắt và nói vui:


-  Chính trị viên tiểu đoàn ba trăm lẻ bảy, khiến giặc Pháp kinh hồn, đã có mặt ở đây à?


Hai Nhẫn đứng nghiêm, cúi đầu chào, rồi ngồi xuống ghế. Ông Hai Thắng nói vắn tắt:


-  Theo hiệp định Giơnevơ, bộ đội ta sẽ tập kết ra Bắc trong những ngày tới. Bộ đội đi rồi, giặc Mỹ sẽ vào, xây dựng lực lượng quân ngụy, đưa Ngô Đình Diệm về nước dựng lên chính phủ tay sai. Chúng sẽ ra sức phá hoại hiệp định Giơnev, chúng muốn chia cắt đất nước ta lâu dài. Trung ương Cục thấy cần thiết phải để lại một số cán bộ nòng cốt ở lại với nhân dân miền Nam, lãnh đạo và cùng nhân dân miền Nam đấu tranh buộc địch phải thực hiện đúng hiệp định. Sau khi cân nhắc kỹ nhiều mặt, Trung ương Cục muốn cử đồng chí ở lại. Nhiệm vụ của đồng chí là vào Sài Gòn hoạt động. Chúng tôi cũng biết đồng chí hy sinh vì đồng bào miền Nam đã nhiều năm nay, vợ con ở Bắc đang trông đợi, nên trước khi có quyết định cuối cùng, muốn hỏi ý kiến đồng chí, nếu đồng chí muốn về Bắc ngay cũng không sao.


Nghe ông Hai Thắng nói, Hai Nhẫn bàng hoàng sửng sốt, anh chưa nghĩ nhiều đến nhiệm vụ này và anh cũng đang chờ ngày về Bắc với vợ với con. Ngập ngừng một lát, anh báo cáo:


-  Xin phép đồng chí Trung ương Cục, cho phép tôi có thời gian suy nghĩ và chuẩn bị tư tưởng, đến sáng mai tôi xin gặp lại đồng chí.


-  Rất tốt, đây là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn và gian khổ, đồng chí lại chưa được chuẩn bị tư tưởng từ trước, sự suy nghĩ và cân nhắc thận trọng là cần thiết -  Nói đến đây, ông lắc chuông, một chiến sĩ cảnh vệ bước vào, dẫn Hai Nhẫn quay ra một lối khác.


Sáng hôm sau, Hai Nhẫn sau khi suy nghĩ kỹ, anh đã nhận lời ở lại miền Nam, tiếp tục chiến đấu cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Anh cho rằng mình không còn cách lựa chọn nào khác, vì cách mạng miền Nam cần đến anh, anh phải tiếp tục hy sinh, vợ con anh cũng phải cùng anh chịu sự hy sinh này. Anh chỉ còn một hy vọng, cu Tý ở ngoài đó sẽ thay anh chãm sóc mẹ nó! Nhưng anh có biết đâu rằng, như số phận đã định, cả hai cha con anh đều phải chiến đấu hi sinh thầm lặng ngay trong hang ổ của kẻ thù, có những chiến dịch hoặc trận đánh lớn sau này, nếu không có được thông tin của cha con anh thì không tránh được cái chết hi sinh của ngàn vạn chiến sĩ (!)


Ở các tỉnh phía Nam bên kia giới tuyến, ngay sau hiệp định Giơ ne kí kết, người Mỹ đã mau chóng dựng lên chính quyền do gia đình Ngô Đình Diệm thao túng. Sau khi những người kháng chiến tập kết ra Bắc, khắp làng xã miền Nam, đâu đâu cũng tổ chức tố Cộng và lê máy chém chặt đầu những ai nghi vấn là người kháng chiến cũ. Đế quốc Mỹ ồ ạt viện trợ tài chính thành lập nhiều sư đoàn và trang bị vũ khí hiện đại, cùng các phương tiện kĩ thuật cho quân của ông Diệm, không ngớt hô hào chuẩn bị Bắc tiến.


(còn tiếp)


Nguồn: Đi tìm hiện thực của những ước mơ. Tiểu thuyết, in trong Hạ Bá Đoàn Tổng tập. NXB Hội Nhà văn, 20919.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 02.12.2019
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 01.12.2019
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 01.12.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 29.11.2019
xem thêm »