tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28889051
Tiểu thuyết
25.07.2019
Hạ Bá Đoàn
Đi tìm hiện thực của những ước mơ


7. VĂN CẦU


Lâu lắm rồi, mới kể đến Văn Cầu. Sau khi Năm Sành theo lệnh của tổng Cò tra tấn Văn Cầu chết đi sống lại, chúng giao anh cho bọn Pháp tiếp tục tra điện và khai thác. Anh bị giam giữ tại chân núi Ðáp Cầu rồi đưa ra trại giam thành Bắc Ninh. Hỏi cung mãi cũng chẳng thêm được gì, chúng muốn đày anh ra Côn Đảo, nhưng nơi đó không còn chỗ chứa. Thả ra, chúng không muốn, e Văn Cầu lại tiếp tục đi kháng chiến. Chúng giam anh vào buồng tối, quanh năm ngày tháng không có ánh nắng mặt trời lọt được vào. Cuộc sống tù ngục thật là cơ cực. Anh chỉ còn da trắng nhợt bọc xương. Lúc này nếu người thân trông thấy cũng khó nhận ra anh, trừ đôi mắt to đầy những tia máu đỏ, luôn trừng trừng nhìn vào bóng tối, ẩn chứa sự uất hận.


Anh có vợ và ba đứa con, đặt tên chúng là Trung, Thắng và Chiến. Mỗi đứa sinh ra được đặt tên gắn liền với sự kiện đời anh. Trước Cách mạng Tháng Tám, anh tham gia hoạt động cách mạng, biết dấn thân vô là rất dễ phải chịu tù đày, sự trung thành đặt lên hàng đầu -  anh đã đặt tên con trai lớn là Nguyễn Văn Trung. Cách mạng thành công, vợ anh đẻ tiếp con gái, anh đặt tên là Nguyễn Thị Thắng. Kháng chiến bùng nổ, khi ấy anh làm Xã đội trưởng, vợ sinh con trai thứ ba, anh đặt tên là Nguyễn Chiến Đấu.


Ông nội của anh và ông nội của chánh Cò là anh em ruột. Từ nhỏ anh đã mang một nỗi buồn là tại sao bố mẹ anh không được giàu có như bố mẹ thằng Cò?! Anh cố gắng học hành chữ Nho rồi chữ Quốc ngữ, hy vọng có cơ hội đổi đời.


 Văn Cầu lại có tật phát âm ngọng giữa chữ l và chữ n. Anh đến với cách mạng như một lẽ tự nhiên, anh thấy nhiều người nghèo đi làm cách mạng. Từ quan sát như vậy, anh đi đến tự rút ra cho mình một nhận thức: Chỉ có người nghèo khổ mới hăng hái làm cách mạng. Tiến một bước nữa anh đi đến kết luận: Càng nghèo càng cách mạng và có lúc anh đồng nhất giữa nghèo và cách mạng. Vì vậy mà sau này quá trình công tác cũng như đi cải cách ruộng đất anh đã không ưa những người ở tầng lớp trên. Về già anh mới nhận ra đây là lỗ hổng trong kiến thức của anh. Anh chỉ thấy khía cách mạng là đập phá cái cũ. Điều quan trọng hơn là cách mạng phải biết kế thừa truyền thống tốt đẹp của quá khứ và xây dựng tương lai cho được cái mới, thì anh lại ít để tâm.


Những năm nằm trong lao tù, lòng anh nung nấu căm thù giặc Pháp và tất cả kẻ giàu. Anh nghĩ đến vợ con… không biết bao giờ gặp lại! Người lính ngụy mang tên là Tác, hàng ngày mang cơm cho tù nhân, nhìn thấy Văn Cầu gầy yếu như thế cũng mủi lòng. Thỉnh thoảng Tác vẫn lén nhét vào bát cơm anh mấy viên thuốc đau bụng hoặc vài viên thuốc ký ninh vàng. Một hôm Văn Cầu bị kiết lỵ, ra máu, nằm bẹp suốt mấy ngày. Tác nghĩ, nếu người này không được chạy chữa sẽ chết mất! Cũng ngày ấy, sinh nhật tên cai ngục người Pháp, bọn chúng tổ chức rùm beng. Cai ngục uống nhiều rượu, nhảy đầm, rồi hát xì xồ luôn miệng. Nhân khi hắn đang vui, Tác đến bẩm báo với hắn là Văn Cầu sắp chết, bệnh kiết lỵ cần được đưa ra trạm xá chữa. Hắn ngần ngừ một chút rồi gật đầu. Văn Cầu được khênh ra trạm xá nhà tù.


Sau khi khỏi bệnh kiết lỵ, Văn Cầu tiếp tục bị tống vào nhà tối. Tác nói lót với anh thượng sĩ đầu bếp nhà tù… Nhờ vậy Cầu mới được làm phụ bếp. Hàng ngày làm lụng, đi lại dưới ánh sáng mặt trời, lại được ăn no, dần dần sức khỏe của Cầu được hồi phục, da đã bớt xanh. Nhưng anh vẫn lo, còn ngày nào ở trong bốn bức tường trại giam này, có thể bất cứ lúc nào, vin vào chuyện gì đó, anh lo lại bị bọn cai ngục nhốt vào nhà tối! Nếu phải vào đấy một lần nữa, thì anh nghĩ sẽ chết mất, chết mà chẳng có ích gì! Văn Cầu nung nấu ý định tìm cách trốn tù. Anh theo dõi, cứ cuối giờ chiều mỗi ngày có một chiếc xe do một tên lính ngụy lái vào đứng cạnh bếp, anh xúc rác lên xe rồi hắn chở đi. Anh làm quen với người lính này và xúc rác rất chăm chỉ. Anh quan sát và biết rằng, chiếc xe chở rác này trước và sau khi vào ra đều bị kiểm tra gắt gao. Nhưng anh quyết tâm phải vượt ngục.


Nhân một hôm trời mưa to, người lái xe rác ngồi lì trong ca bin, mặc cho Cầu xúc rác. Theo thông lệ, mỗi khi xúc rác xong, nghe tiếng xẻng của Cầu gõ vào thành xe, thì chiếc xe chạy đi. Lần này xúc rác xong, Văn Cầu lén nhảy lên xe, rồi mới gõ xẻng và chui tọt vào lỗ rác hổng để sẵn trên xe, phủ rác kín chỉ hở lỗ mũi để thở và đôi mắt để nhìn. Chiếc xe rác ra đến cổng trại giam, trời vẫn mua to. Mấy tên lính Âu Phi gác cổng ngại mưa không ra kiểm tra xe, mà bấm nút cho barie lên cao, chiếc xe rác đi qua. Cũng như mọi ngày xe rác này chạy ra ngoại ô đổ rác xong thì quay về. Văn Cầu chờ cho xe rác đổ xong, moi rác trốn vào bụi rậm. Trời về chiều dần tối, anh bò vào cánh đồng lúa, tìm đường ra vùng tự do.


Khi trốn thoát, Văn Cầu tìm đến cơ quan huyện đội Việt Yên. Anh được đơn vị giới thiệu đi bệnh viện khám chữa bệnh rồi cho đi an dưỡng một thời gian. Sức khỏe hồi phục, anh được giao phụ trách trông coi một kho thóc của huyện.


Từ ngày thoát tù, Văn Cầu rất muốn về thăm vợ, thăm con. Nhưng anh biết lúc này không thể về được. Tổng Cò đã theo Pháp lập bốt tề phản động. Ngày ngày, đêm đêm chúng cho lính đi tuần, truy lùng bắt người kháng chiến. Một hôm, anh đang theo dõi việc nhập kho thóc, một anh giao liên của huyện đến: Mời anh lên gặp ông Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến huyện.


Trụ sở Ủy ban huyện nằm ở một căn nhà mái rạ giữa đồng, xung quanh là lũy tre, có những đường hào bí mật ra bốn phía, đề phòng khi địch tập kích. Văn Cầu được dẫn đến cổng, người liên lạc quay ra. Anh đi vào cửa, ông Chủ tịch đứng dậy đón, bắt tay và nói:


-  Trước tiên tôi chúc mừng đồng chí, bên Bảo vệ Nội bộ, sau khi kiểm tra kỹ đã thừa nhận trong mấy năm bị địch bắt, tra tấn và giam giữ, đồng chí không cung khai đồng đội, đã trốn trại giam trở về với cách mạng.


Nói đến đây, ông Chủ tịch mở hộp thuốc lá sợi, lấy ra tờ giấy mỏng quấn quấn thành điếu thuốc sâu kèn, đưa cho Cầu kèm theo chiếc bật lửa. Ông quấn tiếp điếu thuốc thứ hai. Cả hai người ngồi bên nhau cùng hút thuốc, nhả khói, tỏa hơi ấm. Lát sau ông Chủ tịch nói tiếp:


-  Tôi báo cho đồng chí một tin vui nữa là: Ngày hôm kia, tổng Cò bị lính ghen tuông bắn chết. Ngay đêm hôm ấy, chớp cơ hội lúc địch hoang mang, quân ta đã tập kích xóa sổ xong bốt tề phản động. Bây giờ cách mạng đang hoàn toàn làm chủ xã này. Cần một người am hiểu dân tình ở đây để lãnh đạo. Chúng tôi đã bàn, xin ý kiến nhất trí của đoàn thể, quyết định cử đồng chí đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến xã Giang Cầu. Đồng chí thấy thế nào?


Văn Cầu vui mừng nói:


-  Nhiệm vụ đó nà phù hợp với tôi. Tôi xin cám ơn cấp trên và đoàn thể đã tin cậy, giao cho tôi nhiệm vụ lày!


Trước khi Văn Cầu về xã, anh dự cuộc họp với Huyện đội và người chỉ huy du kích xã Văn Cầu là anh Đồ Ba. Ba báo cáo cho anh biết bây giờ nhân dân trong xã phần đông rất phấn khởi, bọn dân vệ đã ra nộp súng, những người có dính dáng đến chánh Cò đều hoang mang lo sợ. Các gia nhân nhà chánh Cò đều đã bỏ việc về nhà. Bà cụ Mận cùng các cháu sau khi chôn chánh Cò, suốt ngày đóng cửa không dám ho he gì. Bọn Pháp thỉnh thoảng vẫn bắn đại bác cầm canh, có quả rơi vào làng, nhưng không gây chết người. Lực lượng dân quân du kích cùng nhân dân, đang tiếp tục rào làng, đào hào, đặt hố chông, chuẩn bị khi địch đến là đánh. Huyện đội tuyên bố giao cho du kích xã Giang Cầu ba mươi khẩu súng trường tịch thu của dân vệ và một khẩu trung liên cướp được của địch trong trận thắng vừa qua.


Sau cuộc họp, Văn Cầu hỏi thăm đến vợ con ở nhà. Đồ Ba nói:


-  Từ ngày ông bị địch bắt đi, bà nhà ông ốm yếu luôn, thằng Trung tuy còn bé đã biết giúp mẹ làm ruộng; con Thắng bắt cua, hái rau, nấu cơm; còn thằng Chiến thì chăn trâu. Tôi đã báo tin cho bà nhà biết là ông trốn thoát trại giặc và đang làm công tác ở trên huyện. Vợ và các con ông mừng lắm, đang chờ ông về!


Văn Cầu về đến làng. Một cuộc mít tinh nhanh chóng được triệu tập. Dân làng kéo đến đứng chật sân nhà tổng Cò. Trên chiếc bậc thềm cao lá cờ đỏ sao vàng tung bay. Một người giới thiệu chính quyền mới của xã Giang Cầu ra mắt. Đầu tiên giới thiệu ông Chủ tịch xã, Văn Cầu bước ra, mọi người vỗ tay hoan hô. Tiếp đến giới thiệu ông phó Chủ tịch kiêm xã đội trưởng, Đồ Ba bước ra, mọi người lại vỗ tay.


Ông Chủ tịch nói đôi lời: Xã ta đã được giải phóng, bọn tề ngụy đã bị đập tan. Chính quyền nhân dân đã được thành nập. Ông kêu gọi bà con chăm no sản xuất và cùng dân quân du kích rào làng chiến đấu; địch đến nà đánh, đánh nà thắng. Ông tuyên bố từ hôm lay, chính quyền cách mạng quyết định tịch thu cái bốt tổng Cò đã xây cạnh chỗ bà con đang đứng, và quyết định trưng thu toàn bộ ngôi nhà cao chín bậc lày, để làm trụ sở Ủy ban hành chính kháng chiến xã Giang Cầu.


Cuộc mít tinh kết thúc. Từ dưới đám đông, bà vợ ông Cầu cùng ba đứa con vừa khóc vừa cười chạy lên ôm lấy ông, kể về những ngày cơ cực… Văn Cầu vỗ về an ủi vợ con, rồi quay vào cuộc họp cán bộ xã. Họp xong, trước khi về nhà, ông xuống cái hầm nhà, nơi mà trước kia ông bị Năm Sành tay sai của chánh Cò tra tấn. Ông đứng lặng nhìn xuống nền nhà và chiếc chõng tre, chỗ ông bị trói chặt chân tay, chúng bơm nước vào đầy bụng ông, rồi Năm Sành đứng lên dận mạnh cho nước trào ra, rồi lại cứ thế tra tấn đi tra tấn lại nhiều lần, đến khi ông chết ngất! Nghĩ đến đó, ông sôi lên lòng căm thù giặc và thù giai cấp sôi sục trong ông. Đã từ lâu nỗi uất hận âm ỉ, nay bùng lên. Ông tự nhủ phải trả thù, tiêu diệt giặc Pháp và bọn địa chủ tay sai. Ông về đến nhà thì trời tối khuya, các con ông đã ngủ, vợ ông chong đèn đang ngồi chờ chồng.


Từ sau ngày trưng thu ngôi nhà cao chín bậc của tổng Cò làm trụ sở Ủy ban xã, thì người ra người vào ngôi nhà này nườm nượp suốt ngày. Họ xúm vào ngắm nhìn ngôi nhà to, sờ mó chiếc điếu thuốc lào khảm trai. Họ liên tục thay nhau nhồi thuốc vào nõ điếu rít rít kêu sòng sọc; khoái chí họ ngửa cổ nhả khói mù mịt cả nhà. Họ đua nhau ngồi lên chiếc sập, ngồi vào bộ xa lông, hai chân thõng xuống vung vẩy. Họ nói với nhau: Mả cha nó, địa chủ bóc lột của nông dân, sướng thật.


Ở một góc sân phía cổng, lũ trẻ con thi nhau cầm mấy cành tre dài thò vào chọc chọc hai con chim công. Hai con công chạy sang góc này, thấy chọc gậy lại chạy sang góc khác. Cô May thấy thế ngăn bọn trẻ lại. Một anh dân quân đứng gác cạnh đấy, trừng mắt nói: Mặc lũ trẻ, bây giờ nông dân làm chủ rồi, chúng muốn làm gì thì làm.


Một hôm, sau mùa gặt, chủ tịch xã lệnh cho các làng thu thóc thuế đóng góp cho kháng chiến. Đồ Ba nói:


-  Thóc thuế thu về, không có nơi phơi phóng và cất giữ, giải quyết sao thưa anh?


Văn Cầu nhìn Ba nói:


-  Anh không thấy sân phơi và nhà kho đang nù nù trước mắt sao? -  Nói rồi, Văn Cầu hất hàm chỉ ra phía sau nhà kính của tổng Cò.


Đồ Ba nói: Đề nghị chủ tịch cho lệnh để…


-  Không phải nệnh gì cả, anh cứ đến bảo con mẹ Mận cho Ủy ban xã mượn cái sân và nhà kho để phơi thóc và cất giữ thóc cho kháng chiến. Đố bà ấy dám phản kháng.


Rồi một hôm, bà Hội trưởng Phụ nữ xã đến gặp chủ tịch báo cáo:


-  Thưa anh, ta đang vận động bà con vào Tổ hợp tác, vận động thanh niên tòng quân, chị em phụ nữ phải ra đồng làm thay chồng suốt ngày, không ai trông con. Phải có nhà gửi trẻ, trông trẻ anh ạ.


-  Vậy thì Hội tính sao?


-  Chúng em đề nghị Chủ tịch cho phép mượn cái nhà ngang của nhà tổng Cò để làm nhà trông trẻ, được không nha?


-  Được thôi, tôi đồng ý. Bây giờ cái gì nàm nợi cho kháng chiến và nợi cho lông dân thì ta cứ nàm. Một vài lơi thí điểm cải cách ruộng đất còn tịch thu toàn bộ tài sản của địa chủ, chứ nà...


Nói đến đây, Văn Cầu bảo bà Hội trưởng Phụ nữ sang phòng bên gặp phó Chủ tịch Ba, lói nà Chủ tịch đã đồng ý đề nghị của Hội phụ nữ, yêu cầu phó Chủ tịch gặp bà cụ Mận lói bà cho mượn ngay căn nhà nàm nơi giữ trẻ. Rồi ông dặn:


-  Khi mượn thì phải bảo bà ấy ký giấy tự nguyện cho mượn, rồi nưu vào hồ sơ.


Cứ thế nửa năm sau, từ ngày Văn Cầu về, trang trại rộng mênh mông của nhà tổng Cò lần lượt bị thu hẹp. Bà cháu cụ Mận chuyển xuống ở căn nhà mái rạ gần ao để sống. Còn mẹ con cô Na vẫn được ở gian nhà gạch nơi tổng Cò trước kia cho họ ở. Đôi chim công hay bị trêu chọc, lại ăn uống thiếu, quay ra chết!


Con chim công cái sức chịu đựng kém hơn công đực, nó đã bị chết trước công đực. Hôm ấy, cụ Mận nhìn con công cái nằm chết, thương lắm, tiếc lắm! Cụ bảo thằng Bần vào chuồng bế xác con chim công cái, lấy chiếu bọc kỹ vào rồi đem chôn. Bần vừa bước chân vào nhà lồng, con công đực lập tức xù lông trên đầu, cong ngược cái đuôi, xông ra mổ đuổi thằng Bần ra khỏi chuồng. Bần đành rút ra ngoài. Công đực quay vào xòe hai cánh, cúi xuống che lên xác công cái, mắt nó ướt như muốn khóc. Cô May bê đến cho công đực một bát cháo, nó lấy chân gạt ra không chịu ăn, rồi nằm phủ phục bên con cái; cổ nó đặt song song với cổ con cái và để cái đầu, cái mỏ sát với cái đầu cái mỏ của con cái. Mãi đến chiều tối, thằng Bần vào nhà lồng xem con công đực thế nào? Thì khi ấy nó đã chết theo cùng người “ bạn tình ” của mình!


*


Ủy ban Hành chính kháng chiến huyện, yêu cầu xã Giang Cầu cử hai mươi dân công đi phục vụ chiến dịch. Các làng được phân bổ chỉ tiêu. Riêng làng Dưới cử ra năm cô gái đi dân công, trong đó có cô May.


Cô May bây giờ đã là cô gái lớn. Cô có dáng cao cao, thân mình béo lẳn và bắp chân chắc nịch. Nhờ có sức khỏe mà việc gì dù nặng nhọc cô cũng làm bay bay. Cô giúp bà Mận và mẹ cày ruộng, cấy lúa, làm cỏ, bón phân, và gặt hái… mọi việc đối với cô cứ nhẹ tênh tênh. Cô thấy các bạn cùng lứa được vào Hội Phụ nữ, đi hội họp, hát hò hoặc làm đội viên du kích lăn lê bò toài, vui lắm. Cô muốn tham gia, nhưng cô bị coi là người có dính dáng với địa chủ phản động, nên không được chấp nhận. Lắm lúc cô thấy buồn chán. Nay thấy xã đưa cô vào danh sách đi dân công phục vụ chiến dịch thì cô mừng lắm, được đi đây đi đó thật vui!


 May đi dân công, bỏ lại một số việc nặng nhọc. Nay những việc ấy, mẹ Na và thằng Bần phải đảm đương. Cụ Mận bảo Cò Đỏ đi chăn trâu thay Bần.


 


Từ hôm Cò Đỏ đi chăn trâu, đến đâu nó cũng bị trẻ con trong làng trêu chọc, khi thì chúng hô khẩu hiệu “Đả đảo địa chủ cường hào gian ác”, lúc chúng la to “Hoan nghênh địa chủ phản động bị giết rồi”. Cò Đỏ ức lắm, cắm đầu đi không nói gì. Bỗng một đứa đến gần phía sau Cò Đỏ ném hòn đá đánh bốp vào đầu nó. Cò Đỏ ức quá quay lại đuổi bằng được đứa ném mình, gần túm được nó, thì bị một người quát to:


-  Thằng nhãi con nhà địa chủ kia, đứng lại, không tao bắt mày giải lên xã bây giờ.


Cò Đỏ dừng lại nhìn, thấy một anh du kích cầm ngang súng, dáng oai vệ, mắt trợn ngược. Nó sợ quá quay lại, xua đàn trâu đi tiếp. Chiều hôm ấy nó đi chăn trâu về, mặt lầm lì, ăn chỉ hết một bát cơm rồi đi nằm. Cụ Mận sờ trán cháu không thấy sốt, khi sờ lên đầu, nó kêu ối! Một đám sưng to bằng quả táo. Cụ rơm rớm nước mắt, hỏi:


-  Đứa nào đánh cháu của bà?


Cò Đỏ im lặng, mãi sau bà hỏi tiếp nó mới nói:


-  Có một đứa bé chỉ đến vai cháu, nó ném lén cháu vào đầu, bỏ chạy.


-  Khổ cháu bà quá. Nó có trót ném thì đừng có ném lại nó, nhỡ xảy ra chuyện làm sao thì không ai bênh cháu đâu -  Nói đến đây cụ lấy khăn mặt dấp nước nóng ấp vào vết sưng cho cháu. Cò Đỏ bỗng khóc nấc lên tấm tức kể rằng bọn nó hô “đả đảo…”.


-  Thôi bà biết rồi, chúng nó là trẻ con biết gì đâu, vả lại bố mày cũng có tội, không nghe bà -  Cụ Mận nói đến đây, hai bà cháu cùng ôm nhau khóc.


Ở ngoài đồng, trẻ chăn trâu thường chơi đánh trận giả. Chúng chia nhau một bên gọi là Tây một bên gọi là ta. Chúng giao ước với nhau, bên nào thua trận thì phải cõng bên kia. Có một lần bên Tây lại thắng, bắt bọn kia phải cõng. Phía bên ta, có đứa phải cõng thằng lớn hơn mình, nặng quá nó quăng ngay đứa kia xuống ruộng. Chúng nó cãi nhau ỏm tỏi. Bên Tây thì nói bọn tao thắng, chúng mày phải cõng là đúng. Bên ta thì nói: “Việt Minh” đâu phải đi cõng “bọn Pháp”. Rồi chẳng bên nào chịu bên nào. Lát sau thấy Cò Đỏ đi qua, chúng bàn với nhau:


-  Hay là chúng mình bảo thằng kia nó đóng Tây đi. Nó to béo thế kia, bọn mình ngồi trên lưng nó sướng lắm, “nông dân” cưỡi lại “địa chủ” mà!


Mấy đứa nghe xong reo lên hoan hô! Nhưng có đứa nghĩ ra trước, nói: Thế nhỡ nó thắng, to béo thế mà bọn mình phải cõng nó à?


Mặt mấy đứa trẻ nghệt ra, chưa biết tính sao. Bỗng đứa lớn tên là Cõn đưa ra “sáng kiến”:


-  Bên Tây một mình nó, bên Ta ba đứa, cả ba mũi ập vào, nó đuổi đứa này, hai đứa kia tấn công đằng sau làm sao nó đập vào vai ta để mà thắng được?


Cả bọn nhất trí cho thế là hay, chỉ ngại nó bảo không chơi vì bên Ta đông người. Lát sau, chúng đến rủ Cò Đỏ cùng chơi trận giả. Chúng nói rằng: Hai bên đuổi nhau, nếu bên nào bị đập tay vào vai thì bên ấy bị thua và phải cõng người đập vào vai mình. Bên chúng có ba đứa, bên Cò Đỏ có một mình.


Cò Đỏ thấy chúng đông hơn, có ý ngần ngại. Nhưng nhìn thấy trong ba đứa ấy có một đứa hôm trước đã ném vào đầu mình, thì đồng ý liền.


Hai bên “dàn trận”. Ba đứa bảo bên chúng là “bên ta”, bên Cò là “bên Tây”. Mỗi bên đứng một đầu bờ, hô hai ba, thì hai bên cùng xông vào. Sau tiếng hô hai ba, thì cả ba đứa từ ba phía bao vây Cò Đỏ. Cò Đỏ lia mắt rất nhanh thấy một đứa lớn nhất, nó nghĩ phải “kéo” thằng này ra xa mới được, rồi đối phó với hai thằng bé. Nghĩ vậy nó đột ngột lao vào thằng lớn. Thằng lớn thấy “quân địch” tiến vào nhanh quá thì vội vàng quay đầu chạy. Cò Đỏ không đuổi thằng lớn lập tức xông vào đứa thứ hai, nó thấy Cò to lớn xông đến cũng bỏ chạy. Lúc ấy Cò ta mới “ tăng tốc” chạy lên đập vào vai, nắm tóc giật ngược thằng bé thứ ba là đứa hôm trước ném đá vào đầu mình, rồi nhảy lên lưng nó bắt nó cõng. Khổ thân thằng bé gầy yếu phải cõng thằng lớn cao hơn cả cái đầu, ngã lên ngã xuống, một lúc lâu mới cõng đến đích.


Sau “trận đánh” hôm ấy, ba đứa trẻ về tức lắm, chúng bàn nhau cách “trả thù”. Thằng lớn nhất lại đưa ra “sáng kiến”, hai đứa nghe xong gật gật, bảo nhau cứ thế mà làm nha. Cò Đỏ sau lần “thắng trận” thì hể hả lắm, sẵn sàng “chơi tiếp” nếu bọn kia rủ.


Hôm sau, bọn chúng cùng nhau “dàn trận” chiến đấu tiếp. Ba đứa tiến từ ba mũi giáp công. Cò Đỏ lại giở chiêu hôm trước xông vào đứa to cao nhất. Đứa này giả vờ quay lưng bỏ chạy, rồi lập tức quay ngoắt rút con dao nhọn sáng loáng cầm ra tay dứ dứ đe dọa về phía Cò. Cò Đỏ đang đà đuổi, chỉ nhìn thấy vật sáng loáng của thằng kia giơ ra, nó vội đứng sững lại thì chỉ còn chút nữa là mũi dao đâm vào ngực thằng Đỏ. Cò Đỏ hết hồn đứng như trời trồng. Từ phía sau hai đứa chạy đến vỗ vào hai vai của Cò và hô vang: Thắng rồi! Cả ba đứa bắt Cò Đỏ phải cõng chúng. Cò Đỏ không chịu, nói là: Chúng mày chơi xấu. Bọn kia bảo mày đã bị đập vào vai thì phải cõng, không cõng được ba đứa thì cõng hai đứa đập vai vậy. Cò Đỏ nhất định không chịu cõng. Cả ba đứa xông vào đấm đá Cò Đỏ chảy máu mồm, máu mũi, ngã dúi. Tức quá Cò Đỏ phát khùng, vớ lấy hòn đá cạnh đấy vùng dậy giáng một phát thật mạnh vào đầu đứa lớn nhất. Nó ngã quay ra, máu chảy lênh láng. Hai đứa kia thấy máu sợ quá chạy vội về làng. Lát sau hai dân quân chạy ra băng bó rồi cõng đứa bị đánh về và trói tay Cò Đỏ dẫn lên xã.


Cụ Mận đang xúc cơm cho Cò Trắng ăn, thì một anh dân quân vào nói:


-  Cháu bà đánh bị thương thằng Cõn rồi, nó đã bị dẫn giải lên Ủy ban xã. Ông phó Chủ tịch gọi bà lên để giải quyết.


Cụ Mận đặt cháu lên chiếu, bảo Cò Xanh trông em, rồi cụ tất tưởi theo anh dân quân lên nhà lớn. Cụ uể oải bước lên chín bậc thềm, dáng mệt nhọc, miệng kêu: Rõ khổ, đã bảo cháu rồi, nó có nghe đâu! Lên đến nơi, cụ thấy Cò Đỏ vẫn đang bị trói đứng đó; còn ba đứa kia ngồi lên chiếc sập, một đứa băng đầu, vải băng bị thấm máu. Tại nơi đặt bàn thờ cũ, người ta để một cái bàn gỗ, Đồ Ba ngồi đấy, dáng oai vệ.


Đồ Ba vẫy vẫy tay mời cụ Mận ngồi lên chiếc ghế đẩu trước mặt, nói:


-  Cháu cụ lấy đá đập vào đầu thằng Cõn đang ngồi kia bị thương tích nặng. Cụ phải bồi thường cho nó, nếu không tôi bắt giải lên huyện.


Cụ Mận nhìn cháu chua xót, chưa kịp nói gì thì Đỏ nói:


-  Cả ba đứa chơi xấu, rồi xúm vào đánh cháu trước…


-  Mày im đi, điều đó không xét, chỉ cần biết mày có đập đá vào đầu thằng kia, có hay không? -  Phó Chủ tịch hỏi:


-  Thưa có! -  Cò Đỏ trả lời.


-  Được rồi, cháu bà đã thừa nhận như vậy. Bà có ý gì khác không nha?


-  Thưa ông, tôi xin lỗi “con dại cái mang”, mong ông thương tình “giơ cao đánh khẽ”.


-  Thôi được bà đã nói vậy, thì tôi cũng nể tình cũ, cho cháu bà về, nhưng bà phải bồi thường thằng kia một tạ thóc nha .


-  Thưa ông, đã lâu lắm rồi, nhà tôi có hạt thóc nào đâu, ruộng con Na nó cấy, chưa thu hoạch.


-  Đấy là chuyện của bà. Bà hãy ký vào biên bản này, chậm nhất một tuần phải nộp thóc, nếu kéo dài phải nộp thêm đấy nha .


 Ba đứa trẻ đi ra cửa. Thằng Cõn quay nhìn Cò Đỏ bằng đôi mắt không còn vẻ giận dữ như trước. Cò Đỏ nhìn vết máu đỏ thấm ra ngoài băng trắng trên đầu Cõn, thì nhìn xuống như kẻ biết lỗi -  Trẻ con là vậy, nếu hoàn cảnh thuận hòa, có thể rồi chúng lại là bạn của nhau. Nhưng ai ngờ rằng gần hai chục năm sau, hai đứa này lại cầm súng bắn nhau (!)


   Một anh dân quân cởi trói cho Cò Đỏ. Ba đứa trẻ sau khi đứng lên, để lại rõ hình ba cái mông đít in trên mặt lớp bụi dày của chiếc sập. Cụ Mận ngó nhìn cái sập lấm bụi và liếc mắt không thấy chiếc điếu khảm trai đâu, thay vào đó là chiếc điếu bát bị sứt một miếng. Cụ lẩm nhẩm trong đầu: Thật là “cha chung không ai khóc”. Rồi cụ đi ra, dắt tay cháu xuống chín bậc thềm.


*


   Một hôm có công văn của trên, điều động Văn Cầu đi làm cán bộ cải cách ruộng đất, giao cho Đồ Ba tạm quyền Chủ tịch Ủy ban kháng chiến xã Giang Cầu. Trên miền ngược, báo chí dạo này, ngày nào cũng nói đến thực hiện chính sách giảm tô và cải cách ruộng đất. Trên các tờ báo có những bức ảnh bà nông dân tươi cười cầm biển thẻ nhận ruộng được chia, bức ảnh trai làng đội mũ nan bọc vải có lưới, đeo ba lô, rời ruộng đồng ra trận. Những bài báo dài nói đến cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất; đưa trả lại ruộng đất cho nông dân; nông dân từ địa vị bị bóc lột, trở thành chủ nhân; nông dân là đội quân chủ lực của cách mạng, không có nông dân thì kháng chiến không thể thành công v.v… Đi đến đâu cũng thấy băng cờ khẩu hiệu hoan nghênh công cuộc cải cách ruộng đất. Làng làng, xóm xóm đêm nào cũng họp đến khuya: họp nông hội, họp đấu tố địa chủ, hoặc họp bàn việc phân chia ruộng đất, nhà cửa của địa chủ cho bần cố nông. Nhưng vẫn có tiếng xì xầm chỗ này chỗ kia, vài ba người ngồi nhìn trước nhìn sau nói khẽ với nhau: Ông này làm ruộng cả đời đầu tắt mặt tối sao lại đưa ra đấu, bà kia nhà chỉ có chưa đầy mẫu ruộng, vợ chồng làm lụng vất vả quanh năm, có mùa vụ bị ốm không làm xuể, phải nhờ người khác làm ruộng ăn chia, cũng bị đưa ra đấu… Người ta rỉ tai nhau về vụ Thị Năm ở Thái Nguyên là địa chủ có nhiều tội ác, đưa ra đấu điển hình và Tòa án đã xử tử hình bà ta…


Tất cả tin tức trên lâu dần đã đến tai cụ Mận, cụ lo lắm. Người ta bảo quyền của Đội cải cách to đến mức: “nhất đội nhì mới đến trời”, họ mà kéo về đây, cụ lo chết mất. Cụ nghĩ mình có chết thì cũng được rồi, chết là gánh tội cho Tổng Cò, cũng chẳng có gì mà oan, chỉ lo cho ba đứa cháu còn bé thì ai nuôi?! Ban đêm, cụ Mận giở bọc quần áo ra, những thứ gì còn tốt và sáng màu thì sẽ đem ra nhuộm bùn. Cái áo gấm xanh của cụ đã cắt khâu thành mấy chiếc áo gilê cho trẻ mặc, cũng đã được đem nhuộm bùn. Mấy cái nhẫn, hoa tai bằng vàng và chuỗi ngọc trai, cụ để cẩn thận trong hòm gỗ, cất giữ từ lâu, nay cụ đào đất chôn cất giấu. Cụ chỉ cho Cò Đỏ biết nơi chôn cất tư trang ấy và dặn:


-  Nếu bà chết, thì cháu là anh phải tìm mọi cách mà nuôi lấy các em, những thứ bà chôn là của cháu đấy!


Cụ dặn Cò Đỏ:


- Từ nay ra đường có đứa nào đánh, đứa nào chửi, cháu cũng kệ thây nó. Trời có mắt cháu ạ! Bà nghĩ sẽ có lúc tình thế thay đổi, không lẽ cứ thế này mãi!


 


« Nhất Đội nhì Trời » -  Thời ấy cứ mỗi khi nhắc đến tên Đội cải cách ruộng đất là người dân sợ hãi và kêu lên như vậy!


Văn Cầu đi làm công tác cải cách ruộng đất. Ban đầu Cầu theo một cán bộ xuống một làng để “ ba cùng” với nông dân. Vốn xuất thân là một nông dân lại phải chịu bao vất vả trong cảnh tù đày, nên việc cùng ăn kham khổ, cùng ngủ lều và làm việc cật lực với bần cố nông là một việc quá bình thường, nếu không nói là quá dễ đối với anh. Ông Đội trưởng lúc đó chưa từng phải vất vả như anh, sau một thời gian gầy rộc, cáo ốm. Văn Cầu được chỉ định thay thế, lên làm đội trưởng phụ trách một xã gồm ba bộ đội.


Qua đợt “ ba cùng” với nông dân, tuyên truyền giáo dục chính sách cải cách ruộng đất, bồi dưỡng cốt cán kể khổ, tố cáo tội ác của địa chủ, thu hồi ruộng đất chia cho nông dân… cái xã do Văn Cầu phụ trách đã đạt được thành tích nổi bật. Nhiều xã khác tình hình kinh tế, chính trị tương tự như xã Văn Cầu phụ trách mà không tìm ra được một địa chủ nào hoặc nếu có thì rất hiếm hoi. Riêng xã Văn Cầu phụ trách đã “tìm ra” tới ba địa chủ, trong đó có một địa chủ cường hào gian ác, số ruộng tịch thu được nhiều gấp ba xã kia cộng lại. Trong cuộc họp sơ kết đợt một cải cách ruộng đất, Văn Cầu đã được cấp trên biểu dương công trạng. Khi công cuộc cải cách ruộng đất mở ra đến các thôn xã ở vùng đồng bằng sông Hồng, thì Văn Cầu được đề bạt làm Đội trưởng một đội cải cách ruộng đất ở liên xã, dần dần được trên tín nhiệm đề bạt đến chức vụ lãnh đạo các Đội trong một huyện.


Dưới sự chỉ huy của Văn Cầu, xã nào gặp tình hình gay go nhất, anh đến, thì tình hình ở đó cũng phải thay đổi, anh đề ra “chỉ tiêu” cho mỗi xã phải tìm ra từ một đến hai địa chủ, giống như chỉ tiêu cắt cử đi dân công mà anh từng phân bổ cho các thôn, khi còn làm Chủ tịch xã. Nơi nào phát động mãi, báo cáo không có địa chủ, thì anh đến, nơi ấy lại có “địa chủ”. Phóng viên báo chí về xin được phỏng vấn Văn Cầu. Người ta thấy ảnh của Văn Cầu đăng trên các báo, cùng những bài dài ca ngợi anh, rút ra bài học từ anh, để nơi khác học tập.


Tiếng tăm về thành tích cải cách ruộng đất của Văn Cầu nổi lên như cồn. Sau đó anh được đề bạt vượt cấp lên làm Bí thư đoàn ủy một đoàn cải cách ruộng đất phụ trách ở cả một tỉnh. Mỗi lần anh về Hà Nội họp hoặc báo cáo thỉnh thị cấp trên, là anh không quên đi chiếc ô tô Lada xanh về thăm nhà. Xe ô tô đưa anh về đến cách cổng làng cả cây số, người ta đã trông thấy. Họ đoán ngay đấy là xe ô tô đưa ông Cầu về làng, vì ở cái làng này, lâu nay mấy khi có chiếc xe ô tô nào đâu.


 Đồ Ba cùng một số cán bộ xã Giang Cầu đã đứng sẵn túc trực chào đón cấp trên. Văn Cầu ngày xưa gầy còm, đen đủi, ăn mặc lôi thôi. Văn Cầu ngày nay béo tốt, trắng trẻo, mặc bộ quần áo kiểu Tôn Trung Sơn Trung Quốc có cái cổ lá đề đóng cúc, đội chiếc mũ cát két vải len mà cán bộ Bônsêvích Nga vẫn đội. Mọi người ra đón Văn Cầu, vỗ tay hoan hô. Còn Văn Cầu, miệng anh thường trực nụ cười, một cánh tay giơ cao vẫy chào. Trước khi anh về nhà, Chủ tịch xã mời Văn Cầu vào trụ sở Ủy ban xã xơi nước và xin cấp trên cho anh em nghe đôi lời về tình hình và nhiệm vụ mới. Trẻ con trong làng thấy xe ông Cầu về, thì kéo nhau ra xem, đứng kín cả lối đi. Người cảnh vệ đeo súng ngắn, gạt lũ trẻ để nhường đường cho ông Cầu vào trụ sở Ủy ban. Vừa ngồi vào ghế, Văn Cầu lấy tay tụt chiếc giày bên phải co chân lên ghế ngồi, rồi hỏi Đồ Ba:


-  Xã ta đã tiến hành cải cách ruộng đất chưa?


-  Dạ thưa anh, chắc cấp trên sẽ cho tiến hành vào dịp sau thu hoạch vụ mùa.


-  Cấp trên lào mà nại lói vậy? Cải cách ruộng đất càng sớm, lông dân càng mau chóng có ruộng cày, càng hăng hái cách mạng, sao nại để muộn thế? Kỳ lày về tỉnh ta họp, tôi sẽ nhắc anh em.


Đồ Ba vâng vâng dạ dạ. Văn Cầu chợt hỏi:


-  Con mẹ Mận dạo lày thế lào?


-  Dạ thưa anh, bọn chúng lúc nào cũng nem nép sợ hãi như rắn mồng năm, không dám chống đối gì.


-  Nhưng các anh vẫn phải cảnh giác, theo dõi cẩn thận không nó trốn đi Nam theo giặc đấy. Bây giờ Hải Phòng nà “ vùng ba trăm ngày”, quân Pháp còn ở đó.


-  Vâng, thưa anh, chúng tôi sẽ làm theo chỉ thị của anh.


 


Công cuộc cải cách ruộng đất được chuyển mạnh xuống đồng bằng.


Cán bộ các cơ quan, cán bộ Đoàn thanh niên và Hội phụ nữ… nhiều người dạo này đã được điều đi làm cán bộ cải cách ruộng đất. Những người làm công tác Tư pháp trong đó có Tòa án cũng có chỉ thị đi giúp các Đoàn ủy và đội cải cách ruộng đất đưa ra xét xử những địa chủ lớn có nợ máu. Các văn nghệ sĩ được lần lượt đưa xuống cùng nông dân ba cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) để cải tạo tư tưởng và tìm ý tưởng sáng tác mới.


   Một hôm Văn Cầu chủ trì cuộc họp với các cán bộ Tư pháp và Tòa án do Bộ Tư pháp cử tới để tăng cường cho đoàn cải cách ruộng đất của tỉnh này.


Văn Cầu nói:


-  Hoan nghênh các đồng chí về tham gia cuộc cách mạng điền địa nong trời nở đất tại tỉnh ta. Hôm lọ tôi đã lói với Bộ trưởng của các đồng chí nà: Trí thức cách mạng chỉ có thể trở thành người vững nập trường khi qua tham gia công cuộc cải cách ruộng đất. Các đồng chí về đây phải chịu sự nãnh đạo của Đoàn ủy. Đoàn ủy sẽ tạo điều kiện để các đồng chí tham gia cải cách ruộng đất để tự cải tạo mình và góp phần cho nhiệm vụ chung của chúng ta thành công tốt đẹp.


Sau khi nghe Bí thư đoàn ủy nói, Trần Vân đứng lên:


-  Kính thưa đồng chí Bí thư, chúng tôi được điều về đây tham gia công tác cải cách ruộng đất, đề nghị đồng chí cho biết cụ thể chúng tôi phải làm gì?


-  Nàm gì à? Các đồng chí xuống “ ba cùng” với lông dân, nàm theo sự phân công của các Đội trưởng cải cách ruộng đất ở các xã. Khi lào các địa phương xã huyện phát hiện ra tên địa chủ lào vào diện có nhiều lợ máu với lông dân, Đoàn ủy thấy cần đưa ra xét xử thì các đồng chí tổ chức phiên Tòa xử theo chỉ thị của Đoàn ủy.


 Thời này dựa vào “kinh nghiệm” cải cách ruộng đất của Trung Quốc, Đoàn ủy đến địa phương nào thì có toàn quyền ở đó, chỉ cần một tin tố giác đúng sai chẳng rõ, không cần thẩm tra, dù người bị tố đang là Cấp ủy cũng bị giam lỏng, chở xử lí, chưa nói đến thân phận của nông dân. Vì vậy ai ai cũng sợ, người ta kháo nhau “Nhất Đội nhì Trời” là thế . Trần Vân từng được giáo dục ở trường Luật rằng phải “ Thượng tôn pháp luật”, anh băn khoăn về lời phán bảo của cấp trên xử theo lệnh của Đoàn ủy, không xử theo pháp luật, mà không dám nói ra .


Cuộc họp đến đây, người thư ký riêng của Văn Cầu bước vào đứng nghiêm báo cáo:


-  Thưa anh, theo lịch thì năm phút nữa anh có chương trình làm việc với cố vấn nước bạn về vụ địa chủ phản động ở xã Đông Cốc.


-  Được, tôi biết rồi -  Nói xong, Văn Cầu hất hàm về phía dưới và nói: dẫn anh em sang gặp Ban Tổ chức để phân công, hướng dẫn nhiệm vụ.


 Đội cải cách ruộng đất về làng Đồng. Làng này có một người tên là Văn Tường Y. Xa xưa, ông cha Tường Y giàu có, đến đời ông chỉ còn vài ba mẫu ruộng. Vợ chồng và con cái ông Y làm lụng là chính, khi ốm đau không làm xuể thì cho cấy rẽ. Ông Y được học hành chữ Nho, chữ Quốc ngữ và một chút tiếng Pháp. Từ nhỏ Tương Y đã yêu thích và ham đọc thơ Tú Xương. Ông bắt chước làm thơ châm biến và đặt cho mình cái tên là Tú Ngông. Trước Cách mạng Tháng Tám, ông làm những bài thơ chửi bọn Tây và bọn quan trường. Ông cũng có cảm tình với những người cách mạng, thỉnh thoảng có người về nhà ông, ông cũng nuôi dăm ba bữa, cho con trông chừng bọn hào lý nhòm ngó. Nhưng ông không thích đi làm Cộng sản. Thời kháng chiến chống Pháp. Mỗi khi tàu chở vũ khí hoặc binh lính Pháp bị du kích đường số Năm giật mìn lật nhào, bọn Tây lại bắn pháo vào làng ông. Tường Y làm thơ chửi đổng:


                      Mẹ ông Tây,


                           Bố ông Tây,


                                Đẻ ra ông Tây.   


                      Ông hãi du kích,


                           Bài bây,


                                 Bắn bừa (!)


                       Này này,


                            Cụ bảo,


                                 Chẳng chừa?


                       Dao đây kề cổ,


                            Cụ cưa…


                                 cái bòi!


Từ ngày hòa bình lập lại, lúc đầu người ta vẫn mời ông Y đi họp hành và mời ông phát biểu ý kiến danh dự tại hội nghị thôn, xã. Khi phát biểu, người khác thì mở đầu bằng các câu cảm ơn cấp nọ cấp kia. Còn ông phát biểu khác người, ông góp vui bằng cách kể những câu chuyện buồn cười từ những việc làm mâu thuẫn hoặc sai trái của cán bộ thôn, xã. Sau đấy người ta không mời ông phát biểu tại cuộc họp như trước nữa.


Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp đi nhanh như gió. Mấy hôm trước còn tổ chức đổi công, vần công, chưa xong; ít lâu sau đã hô hào lập tổ hợp tác, rồi hợp tác xã. Người người bị đặt vào thế phải góp ruộng, góp trâu. Một số gia đình nông dân, trong đó có nhà ông Y chưa muốn vào hợp tác xã, để còn “xem sao” đã. Họ lo làm chung, góp của, rồi “cha chung không ai khóc”, năng suất không bằng làm riêng. Cán bộ xã thấy vậy, không chứng nhận cho con ông vào lá đơn xin đi học lớp thú y để chữa bệnh cho trâu bò, thiến chó và lợn… Ông lại làm thơ ngang. Mấy ông bà nông dân nghe đọc thơ ông đều bật cười. Còn cán bộ xã thì quy cho ông cái tội “chống phá chính sách hợp tác hóa”. Thấy vậy ông vẫn tỉnh bơ.


Đến khi Đội cải cách ruộng đất về xã, yêu cầu mọi người đều phải đi họp, ông cũng đi họp để biết. Ông Y thấy chính sách giảm tô và cải cách ruộng đất là nên làm, nông dân phải có ruộng cày, là đúng. Nhưng cái đận mấy người được Ðội chọn đứng ra tố khổ nói lung tung, nói không có thật; làm ãn thì lười nhác lại không biết cách tính toán, nghèo túng, đổ lỗi cho “ bị bóc lột”, thì ông không phục. Ông lại làm thơ ngang châm chọc. Ông định bụng bài thơ này, chỉ để người trong nhà đọc cho vui. Ai dè, đứa con trai út của ông, ngồi chè chén với bạn bè, rượu vào lời ra, đọc bài thơ của ông cho mọi người nghe. Cuối cùng đâm ra cả làng đều biết bài thơ của ông: châm chọc cốt cán lười nhác và tố khổ không có thật. Người ta truyền tai nhau nghe đọc bài thơ ấy và ôm bụng mà cười.


Ông Nguyễn Dậu là Đội trưởng đội cải cách ruộng đất nghe đọc bài thơ của Tường Y, thì nổi xung lên, cho là Y có tư tưởng thù địch, đánh vào cốt cán và chống lại cải cách ruộng đất. Đội trưởng ra lệnh cho dân quân bắt trói Tường Y, đưa lên xã xét hỏi. Trước khi đi, ông Y bảo vợ đưa cho ông chai rượu, ông nốc một hơi, còn lại đút chai vào túi áo thụng, rồi mới đưa tay cho trói và theo chân dân quân lên xã. Mọi người lo cho ông, còn ông thì cứ tưng tửng mà đi, mà nói.


Lên đến xã, Đội trưởng sai cởi trói cho ông và đưa giấy bút cho ông, bảo ông làm bản kiểm thảo. Ông Đội trưởng quay đi . Tường Y cầm chai rượu nốc tiếp, rồi chắp hai tay sau đít, một mình đi quanh phòng Ủy ban, đọc hết bài thơ ngông này đến bài thơ khác. Anh dân quân đứng gác bên ngoài, nhìn vào, chống súng dỏng tai nghe. Chốc chốc mồm anh ta lại há hốc ra cười, giơ cả hàm răng cải mả. Cuối cùng ông ngồi vào bàn, viết bốn chữ to tướng kín cả mặt giấy được phát. Ồng viết rằng “ nó là th… th…”. Viết xong, ông nằm ngay lên bàn, ngủ ngáy khò khò… Khi ông Đội trưởng quay lại, thấy vậy thì tức điên lên, nắm cổ áo, dựng ông Y dậy và hỏi: “Nó là th…th...” là có ý gì? Tường Y thủng thẳng hỏi lại:


-  Thế ông còn định để tôi phải nói rõ ra à? th…th…là thum thủm đấy.


Đội trưởng cười ngượng hạ giọng:


-  Ông thấy mình có khuyết điểm sai lầm gì không? Ông nói như thế có bôi nhọ cải cách ruộng đất không?


-  Tôi có sai là nói thẳng “ mất lòng ông Đội”. Tôi không bao giờ bôi nhọ chính sách cải cách ruộng đất. Tôi chỉ thương ông Đội từ trên cao về không biết mô tê răng rứa ra sao, vội vàng túm phải “cái rễ” nó thum thủm thối rữa.


Nghe đến đây, ông Dậu Đội trưởng không chịu nổi cái lão ngông này nữa. Ông phủi quần, đứng dậy, bước ra triệu tập cuộc họp các cốt cán để phát động tiếp đấu tranh với Tú Ngông. Cuối cùng Tường Y bị quy vào thành phần địa chủ chống phá chính sách hợp tác hóa và chống phá chính sách cải cách ruộng đất. Quy kết ấy, Đội trưởng viết thành báo cáo chính thức gửi lên cấp trên. Văn Cầu nhận được báo cáo, xem xong, gật gật đầu. Ông cho gọi Trần Vân đến, cử Vân về ngay làng Đồng chuẩn bị lôi cổ Văn Tường Y ra Tòa xét xử điển hình để động viên phong trào.


                                  


    Trần Vân, từ ngày bàn giao công việc Tòa án cho Trịnh Đông, ông đã xuống nông thôn “ba cùng” với nông dân và tham dự một số buổi đấu tố địa chủ. Ông hoàn toàn nhất trí với chủ trương cải cách ruộng đất, chia ruộng cho nông dân. Nhưng ông thấy cách làm này “sao sao ấy”. Có lần ông bộc lộ tâm sự với một người bạn cùng Đội. Ông ta giơ ngón tay lên che miệng, rồi suỵt một tiếng, có ý bảo nên giữ mồm giữ miệng.


Khi về đến làng Đồng, người Đội trưởng bàn giao cho ông “ hồ sơ tội trạng” của Văn Tường Y. Ông giở ngay ra nghiên cứu, thì chỉ thấy vẻn vẹn có mấy tờ giấy: một tờ giấy có bốn chữ to “nó là th…th…”, hai bài thơ châm biếm việc “ ép non” vào hợp tác xã và cười về việc ông Đội bắt phải rễ thối là mấy kẻ lười nhác và tố khổ không đúng sự thật, kèm theo một biên bản ghi chép dài dòng những ý kiến của cốt cán kể lể và quy kết “nhiều tội” cho Tường Y. Là một nhà luật, Trần Vân có thói quen nghiên cứu kỹ hồ sơ để tìm ra chứng cứ. Nhưng với hồ sơ này, ông chẳng thấy chứng cứ nào có cơ sở để quy tội cho Y. Ông nói với người Ðội trưởng cho ông thời gian để đi sâu vào nông dân xem sao đã. Nhưng càng đi sâu chuyện trò với nhiều người nông dân, thì ông lại thấy có cảm tình với Tường Y.


Ngược lại Văn Cầu chờ cả tháng trời không nhận được báo cáo tiến độ về vụ án ở làng Đồng thì sốt ruột lắm, ông trực tiếp về kiểm tra tại chỗ. Trần Vân báo cáo với ông là hồ sơ không đủ chứng cứ kết tội, mà có đưa ra Tòa thì Luật sư chất vấn, Công tố không buộc tội được, làm sao Tòa kết tội?


 Ông Đội trưởng thì nói: Chứng cứ hay không là ở mình, ông Chánh án mang tư tưởng bảo thủ chuyên môn đơn thuần, lại đi sâu chuỗi vào tầng lớp trung phú nông, không dựa vào bần cố nông thì làm sao có chứng cứ được.


Nghe hai người báo cáo vậy, Văn Cầu nói:


-  Đây nà cuộc đấu tranh giai cấp, không thể nừng chừng, phải tìm ra tội và đưa tên Y ra xét xử, đó nà chỉ thị của Đoàn ủy, các đồng chí phải thực hiện cho được. Tòa án của ta không giống Tòa án của Tư bản, lên không cần có Nuật sư, không cần Công tố, Chánh án cứ xét xử. Hãy nên danh sách những người hay đi nại chơi bời với Tường Y, cho gọi thẩm vấn.


-  Thưa anh -  Đội trưởng nói -  trong số này có tên lý trưởng Hội tề cũ chơi thân với tên Y, nhưng nó lại được cấp giấy chứng nhận của ông huyện Đội trưởng ngày xưa rằng khi làm lý trưởng là do ta cử vào để làm việc cho ta.


-  Tay huyện Đội trưởng lày bây giờ ở đâu?


-  Thưa anh, ông ấy bây giờ là cán bộ cấp cao trong quân đội.


-  Cấp cao lào thì cấp, lếu ai niên quan đến cuộc đấu tranh giai cấp lày, đều phải gọi về xét hỏi -  Nói đến đây, Văn Cầu liếc mắt sang người thư ký riêng đứng đó và dặn: Cậu nhớ nàm giấy, tôi ký gọi ngay tay lày về. Anh ta khúm núm vâng dạ. Cuối cùng, Văn Cầu kết luận:


-  Tiếp tục phát động quần chúng, dựa vào bần cố lông nà chính, tìm ra chứng cứ để xét xử Tường Y. Trước mắt từ ngày mai, đồng chí Trần Vân về trụ sở Đoàn uỷ để nàm bản tự kiểm thảo tư tưởng, xem vì sao việc thực thi nhiệm vụ được giao nại trì trệ?


 


Từ ngày Trần Vân bị gọi về Đoàn ủy, đến nay đã hai tuần: Ông đã nộp lên trên đến ba bản kiểm thảo mà vẫn chưa được chấp nhận. Ông tự nhủ, cứ đà này khi về chắc khó giữ cái ghế Chánh án. Nhưng ông không biết làm cách nào. Theo ông Cầu  phải xét xử theo chier đạocủa Đuàn Uỷ, không xử theo pháp luật, thì nguy hiểm quá. Xét xử bừa thì ông không đang tâm làm liều. Cuối cùng ông quyết định bí mật viết thư phản ánh lên Trung ương. Ông tin là Bác Hồ và Trung ương thấy được sự tình này sẽ uốn nắn.


Hàng ngày, Trần Vân như người bị giam lỏng . Ông cứ quanh quẩn ở trong khuôn viên khu nhà số 1 của cơ quan Đoàn ủy, hết đứng lại ngồi, chẳng biết làm gì, xin nghỉ về thăm nhà thì không được phép. Có lần Vân ra nhà vệ sinh công cộng, nơi có hàng rào thép gai ngăn cách, bất chợt Vân gặp ông Thành vốn là bạn ông, đang là phó Chủ tịch tỉnh Bắc Giang. Dáng hình ông ta lúc này rất tiều tụy, Thành nhìn trước nhìn sau không thấy ai, vội nói: Tháng trước tao cũng bị kiểm điểm ở khu 1, ở đấy còn một ít tự do; dại quá, sốt ruột nhận bừa hi vọng được sớm về cơ quan, nhưng rồi bị đưa sang khu 2, có Cố vấn nước ngoài, bị thẩm vấn gắt gao lắm ; Mày chớ nhận bừa, chết đấy. Vân chưa kịp nói gì thì ông Thành đã đi khuất.


 Một hôm, Vân đang ngồi bên cửa sổ nhìn ra vườn, ngắm đôi chim bay tự do, lát sau gù nhau, chợt có ai đứng sau lưng đằng hắng. Ông giật mình quay lại, nhận ra và thốt lên:


-  Thu Ba?


-  Vâng, chào ông Chánh án, em đây!


-  Cơn gió nào đưa cô đến đây thế này?


-  Em đi theo ông đấy… Nói vui thôi, em đi “ba cùng” mãi chưa phát hiện ra địa chủ, Đội trưởng báo cáo lên, ông Văn Cầu bảo “ Vợ nẽ địa chủ nàm sao có thể tìm ra địa chủ?” rồi ông điều em về Đoàn để kiểm thảo. Ông Chánh án có thấy buồn cười không, em đã ly hôn từ lâu rồi, tổng Cò sau đó đã chết, ấy vậy mà cấp trên vẫn gọi em là “ vợ nẽ địa chủ”. Em đang buồn chán, gặp cái rủi ông ạ!


-  Đúng thế, tôi ở đây cũng đang buồn đến ốm người mất. Cô đến thật đúng lúc -  Nói đến đây, Trần Vân hỏi thăm tình hình hai mẹ con cô Ba.


Thu Ba kể cho ông nghe quá trình đi chiến dịch Điện Biên Phủ, hát cho bộ đội và dân công nghe. Khi chiến dịch toàn thắng, cô gặp được con gái đang là dược sĩ quân y, gặp cả Quang Vũ và hai đứa cháu; rồi tất cả rủ nhau đi thăm quang cảnh chiến trường… Cô nói: Vui lắm ông ạ!


Cô Ba hỏi thăm ông hơn hai năm qua có gì mới? Ông kể rằng cuộc sống cá nhân thì chưa có gì mới, còn công việc thì có nhiệm vụ mới là được điều đi cải cách ruộng đất, đến nay vẫn chưa làm được gì ra hồn. Ông kể lại cho cô Ba nghe lý do bị điều về đây…


-  Thế thì cả hai chúng ta phải cảm ơn ông Văn Cầu rồi -  Trần Vân nhìn Thu Ba, đôi mắt như đặt dấu hỏi.


-  Em nói phải cảm ơn ông ta, vì không có ông ta thì làm sao em và ông Chánh án có dịp hội ngộ như thế này? -  Cả hai đều cười vui vẻ. Đây là tiếng cười đầu tiên của cả hai người từ khi đi “ba cùng”.


Sau khi hai người chuyện trò ríu rít như đôi chim gặp nhau, Thu Ba bảo, bây giờ sắp đến giờ xuống nhà bếp ăn cơm tập thể rồi, ông chờ em tí nhé. Nói xong Ba chạy vụt đi. Khoảng nửa giờ sau, cô mượn đâu được cái mẹt bê hai suất cơm tập thể lên và một cái âu sành đậy kín. Cô nháy mắt nói:


-  Đố ông biết cái gì trong âu này? Nói đúng em thưởng đấy.


-  Chắc là nước uống chứ gì? Ngoài suất cơm ra, có đĩa rau muống, mấy hạt lạc rang, một ít nước chấm, như mọi khi thế là đủ rồi.


-  Ú òa này! -  Nói xong cô Ba mở âu ra, phía trên cái âu là chiếc đĩa đựng hai con cá rô to, rán vàng rộm, bên dưới là canh cải nấu cá rô, bốc mùi thơm lừng. Trần Vân reo lên: “Ngon quá!”


Ngày đầu tiên họ gặp lại nhau như thế đấy!


Những ngày tiếp sau, Thu Ba săn sóc Trần Vân từ cái ăn, cái mặc, giặt giũ khâu vá cho ông. Sự săn sóc ấy, như người mẹ đối với con, như người vợ đối với chồng. Khi cao hứng cô hát cho ông nghe những bài về Hà Nội quê ông và dân ca quê mình. Ông kể cho Thu Ba nghe những câu chuyện văn học nước ngoài như truyện ngụ ngôn của La phông ten, truyện cổ tích Nghìn lẻ một đêm v.v… Cứ thế thời gian trôi đi rất nhanh. Trần Vân đã tự nhận thấy mình có cảm xúc yêu Thu Ba. Anh cũng thấy lạ lùng, một chàng trai chưa vợ như mình lại đi yêu một người tuy là ít tuổi hơn, nhưng đã là đàn bà có một đời chồng và có con. Nhưng mỗi khi nghe Thu Ba nói, cái mắt cũng nói, và câu chuyện diễn tả thật là dí dỏm, khuôn mặt bừng sáng rất duyên, là anh quên hết mọi thứ nhược điểm về quá khứ của Thu Ba.


Cho đến một hôm Văn Cầu nghe cấp dưới báo cáo: Trần Vân và Thu Ba hết thời hạn kiểm thảo ở khu 1, không khai báo được gì, suốt ngày vui chơi đàn đúm. Ông điên tiết, lập tức kỷ quyết định luật cách chức Trần Vân và cảnh cáo Thu Ba; Trả hai người này về cơ quan cũ, gửi kèm công văn nói rõ sai phạm của họ.


 Hôm chia tay, hai người bịn rịn. Cả hai đều cảm nhận những ngày qua, họ đã được sống một cuộc sống đầm ấm của gia đình và tri kỷ cởi mở như những người bạn rất thân. Nơi đây đã cho cả hai người những kỷ niệm đẹp suốt đời không quên được. Nhiều đêm Thu Ba ước mơ giá như mình có được người chồng như Trần Vân, nhưng rồi cô tự mắng mình là mơ mộng vớ vẩn, người ta trai tơ, còn mình là gái bỏ chồng có con lớn. Làm sao thế được?! Trước khi chia tay, Trần Vân đưa cho Thu Ba cuốn sổ tay của mình và bảo:


-  Em hãy viết vào đây vài dòng lưu niệm. Còn anh (lần đầu tiên Trần Vân xưng anh với Thu Ba) sẽ viết vào cuốn sổ tay của em -  Thu Ba đưa lại cho Vân cuốn sổ tay của mình.


Thu Ba viết: “Anh Trần Vân kính mến!


Lúc này, em chia tay anh, em thấy như mình đang bị giằng xé thành hai con người khác nhau: một người biết thân biết phận, từ xa nhìn ngắm anh “kính nhi viễn chi”; còn một người thì không thể quên và thiếu anh được. Anh hãy bảo em, bây giờ nên làm sao đây?! Nhớ anh. Thu Ba”.


Trần Vân viết:   “Thu Ba yêu quý!


Cảm ơn em đã cho anh những ngày, mà lần đầu tiên trong đời anh được tận hưởng những gì mà anh cảm nhận đó là tình yêu và gia đình. Nếu em đồng ý, thì hai ta sẽ giữ gìn những kỷ niệm đẹp này và cùng nhau vun đắp để nó thành hiện thực mãi mãi. Anh yêu em. Trần Vân”.


Thu Ba và Trần Vân trao cho nhau lời ghi lưu niệm, rồi cùng đọc đi đọc lại mãi không chán. Nỗi buồn chia tay giữa họ chỉ là tạm thời, thay thế vào đó là niềm vui và hy vọng về tương lai đôi lứa! Họ ôm nhau trước khi mỗi người đi một lối về cơ quan .


   Cả hai cùng cười. Trên má Thu Ba, lăn tròn giọt nước mắt sáng long lanh, khi nắng chiều chiếu qua.


(còn tiếp)


Nguồn: Đi tìm hiện thực của những ước mơ. Tiểu thuyết, in trong Hạ Bá Đoàn Tổng tập. NXB Hội Nhà văn, 20919.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »