tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30435671
Tiểu thuyết
25.07.2019
Hạ Bá Đoàn
Đi tìm hiện thực của những ước mơ


6. MỘT GIA ĐÌNH  BAO SỐ PHẬN KHÁC NHAU


Sau buổi đến thăm Quang Vũ về, Thu Ba xin được lá thư giới thiệu của Thủ trưởng bệnh viện Quân y gửi cho ông Hiệu trưởng trường Đào tạo cán bộ y tế Việt Bắc. Hà My xem xong lá thư, mừng rỡ ra mặt. Cô kế thừa những nét đẹp và giọng hát hay của mẹ và cơ thể phát triển cao lớn của bố. Cô đang ao ước sau này trở thành bác sĩ, được tin mẹ sẽ xin cho cô đi học lớp Y tế, thì mừng lắm. Cô luôn mồm giục mẹ đi xin học cho mình.


Theo thủ tục hành chính, chị Ba phải lập cho Hà My một bộ hồ sơ, gồm có đơn xin học, bản khai lý lịch có chứng thực của cơ quan hoặc Ủy ban hành chính kháng chiến xã, kèm theo thư giới thiệu của người có uy tín và chức vụ. Trong mẫu lý lịch, bao giờ cũng có mục họ tên mẹ, họ tên bố và nghề nghiệp. Về phần Thu Ba, thì quá dễ rồi, chỉ khai họ tên và nơi công tác sẽ được Trưởng đoàn Văn công dễ dàng xác nhận. Nhưng ác một nỗi là khai về thành phần và quá khứ của cha Hà My như thế nào, khó viết quá. Nếu khai ông Cò là địa chủ và chánh tổng thì chắc Hà My bị loại ngay, mà lờ đi không khai thì bị cho là giấu giếm. Cuối cùng Thu Ba để trống mục này, xin ý kiến ông Trưởng đoàn Văn công.


Ông Trưởng đoàn, sau khi xem xét lý lịch của Hà My và nghe Thu Ba trình bày, ông khuyên: Không thể không khai, cứ khai vào lý lịch Hà My ba điểm: nghề nghiệp hiện nay của ông Cò là làm ruộng (vì chưa xác định thành phần qua cải cách ruộng đất), quá khứ là chánh tổng, sau Cách mạng Tháng Tám là ủy viên Mặt trận Việt Minh huyện Việt Yên. Thu Ba đã viết như ông nói. Ông Trưởng đoàn Văn công đã ký tên đóng dấu xác nhận lý lịch của Hà My, trong đó có phần khai về Thu Ba và ông Cò.


Hôm ấy, Thu Ba mang bộ hồ sơ của Hà My kèm theo bức thư giới thiệu để xin phép được gặp ông Hiệu trưởng trường Đào tạo cán bộ Y tế Việt Bắc. Ông Hiệu trưởng là một cán bộ chính trị, tham gia cách mạng từ tiền khởi nghĩa, đã có quá trình làm bác sĩ thời cũ. Ông là một người có lối sống giản dị dễ gần, nhưng rất nguyên tắc. Sau khi đọc xong lá thư giới thiệu, ông gật gật đầu tỏ ý thuận. Khi ông xem đến lý lịch của Hà My thì ông lại lắc đầu, đặt hồ sơ xuống bàn nhìn Thu Ba rồi nói:


-  Thưa ca sĩ Thu Ba, rất tiếc tôi không thể giúp được việc này, vì cháu Hà My là con ruột một chánh tổng.


-  Thưa ông, ông xét cho, bố cháu sau Cách mạng Tháng Tám đã là ủy viên Mặt trận Việt Minh huyện Việt Yên.


-  Đúng thế, nhưng theo chỉ thị của cấp trên trong hoàn cảnh số lượng tuyển sinh có hạn phải ưu tiên cho cán bộ chiến sĩ hoặc con em cán bộ công nông. Trường hợp này phải để lại thôi. Nói đến đây, ông vỗ vỗ vào trán, như chợt nhớ ra điều gì và nói:


-  Hình như nhà trường cũng đã nhận vào học một trường hợp con trai của ông chánh Cò thì phải.


Thu Ba ngạc nhiên hỏi lại:


-  Có phải tên cháu là Nguyễn Văn Vàng (Cò Vàng) không ạ?


-  Đúng đúng, cậu ấy tên là Nguyễn Văn Vàng.


-  Vậy thì thưa ông, xin phép ông cho biết, tại sao cũng là con của ông chánh tổng Cò, mà một cháu được nhận học, một cháu khác lại không được nhận?


Ông Hiệu trưởng, ngập ngừng một lát rồi nói:


-  Chúng tôi nhận cậu Vàng vào học là do chúng tôi đã thỉnh thị xin ý kiến và được cấp trên đồng ý nhận. Cấp trên cho rằng cậu ấy đã được giáo dục rèn luyện tốt ở trường Thiếu sinh quân và được ông bác ruột là một chiến sĩ Cộng sản từng bị tù đày ở Côn Đảo giới thiệu.


-  Nếu thế thì thưa ông, người chiến sĩ Cộng sản ấy là anh ruột của tôi đấy và cũng là bác ruột của cả hai cháu Cò Vàng và Hà My -  Nói đến đây, Thu Ba chỉ cho ông mục khai lý lịch của Hà My có đoạn kê khai anh ruột của mẹ Hà My là Nguyễn Văn Nhẫn, chiến sĩ Cộng sản.


Lúc này thì ông Hiệu trưởng tỏ ra lúng túng chưa biết trả lời ra sao. Sau một hồi suy nghĩ ông nói lẩm bẩm một mình, nhưng Thu Ba nghe rất rõ:


-  Giá như chồng chị không phải là Chánh tổng thì dễ giải quyết bao nhiêu?


-  Thưa ông, có đứa trẻ nào có thể trước khi sinh ra nó đã biết chọn mình nên là con nhà cách mạng hay con chánh tổng, hở ông?


-  Đúng thế, nhưng đây là vấn đề đường lối giai cấp, tôi và chị đều là cán bộ Nhà nước, ta phải chấp hành.


-  Nhưng thưa ông, như ông nói, giá chồng tôi không phải là chánh tổng, thì ông giải quyết cho cháu Hà My vào học chứ ạ?


-  Đúng thế.


-  Vậy thì tôi có thể ly hôn ông ấy, ông tính sao?


Ông Hiệu trưởng ớ ra, chẳng lẽ vừa nói, lại thay đổi ý kiến, thì không ra thể thống gì. Ông đành gật gật đầu cho qua chuyện. Không ngờ Thu Ba chốt lý với ông:


-          Thưa ông, ông đã gật đầu đồng ý rồi đấy nhé. Vì tương lai của con gái tôi, tôi có thể làm tất cả để đem lại hạnh phúc cho nó -  Nói xong Thu Ba cúi chào ông Hiệu trưởng, ra về.


Ông nhìn theo Thu Ba, lẩm bẩm: “Thật là một người đàn bà mạnh mẽ và ghê gớm. Nhưng chắc cô ấy nói vậy thôi, chứ ai bao giờ lại đi ly hôn với chồng chỉ để làm một việc xin học cho con?”


Dọc đường về, Thu Ba ngẫm nghĩ: Vừa rồi mình nói với ông Hiệu trưởng sẽ ly hôn với ông Cò, như thế có vội quá không? Câu nói ấy bất chợt bật ra khỏi miệng khi chị muốn hy sinh vì con. Nhưng cũng cho thấy chị và tổng Cò cách sống không hòa hợp, một kẻ thì luôn dùng quyền thế để hạn chế quyền sống tự do của người khác, còn chị thì không thể sống thiếu tự do. Nhưng với chị mâu thuẫn đó của vợ chồng chưa đủ mức để chị quyết định ly hôn. Chị lẩm nhẩm: Hãy suy nghĩ thêm đã.


*


    Lại kể về Cò Vàng. Từ ngày cùng cu Tý vào học trường Thiếu sinh quân, thấm thoắt đến nay hai cậu đã tốt nghiệp và học xong chương trình văn hóa trung học, sơ cấp chính trị và quân sự. Lúc đầu Cò Vàng chậm thích nghi hơn cu Tý. Cậu chưa quen với cuộc sống vất vả, ăn đói mặc rét và suốt ngày lăn lộn trên thao trường hoặc ngồi liên tục ở lớp ngày này sang ngày khác để học những vấn đề chính trị phức tạp. Nhưng cậu sớm xác định được đã vào đây phải chấp nhận mọi thử thách và phải phấn đấu vượt lên đừng để thua kém bạn bè. Dần dần, qua thời gian, cậu tiến bộ rõ rệt: Học chính trị quân sự đạt điểm khá, học văn hóa đạt điểm giỏi và chấp hành nghiêm kỷ luật, không có sai phạm gì. Nếu cậu không có vấn đề thành phần của bố, chắc cậu sẽ nhận được quyết định phân công giống như anh Tý. Tức là cậu có thể được chọn đi học tiếp trường quân sự trung cấp để đào tạo cán bộ nòng cốt về quân sự cho tương lai. Sau khi cân nhắc lãnh đạo nhà Trường có nhận xét tốt về Vàng và quyết định giới thiệu cho cậu đi học trường Đào tạo cán bộ Y tế Việt Bắc. Trong khi chờ đợi ngày nhập học, cậu xin giấy phép của nhà trường cho về thăm nhà.


Ngày mai, Cò Vàng sẽ lên đường về quê. Thấm thoát đã ba năm nhập học. Cậu thấy thời gian đi rất nhanh. Là một Thiếu sinh quân, từ sáng sớm ngủ chưa kịp mở mắt, đã nghe tiếng kẻng, cậu cùng đồng đội bật dậy gập chăn màn gọn ghẽ, rồi ra tập hợp, chạy bộ, tập thể dục. Nửa tiếng sau, nghỉ giải lao làm vệ sinh, xong xuôi thì vừa hay kẻng gọi đi ăn sáng. Ăn sáng xong, chuẩn bị lên hội trường hoặc ra bãi tập. Hết giờ học tập buổi sáng, thì ăn trưa, nghỉ một tiếng, chiều lại tiếp tục học. Tối đến học viên lên hội trường nghe thời sự, hoặc sinh hoạt kiểm điểm hàng ngày hoặc tự học, tự tu dưỡng… Đến mười giờ đêm mọi người đi ngủ. Nhưng cũng có đêm, có khi mưa rét, tiếng kẻng báo động giả vang lên, các học viên nhanh chóng gấp chăn màn cùng quần áo cho vào ba lô, đeo lên vai chạy ra tập hợp. Có khi đang đêm cả lớp hành quân qua rừng, gần sáng lại về, đặt lưng ngủ chỉ một hai canh giờ lại phải dạy tiếp tục một ngày mới, giống như mọi ngày. Cuộc sống và học tập như thế, nên dường như các học viên không có thời gian để nghĩ đến việc gì khác.


Đêm nay trước khi về phép, Cò Vàng thao thức nghĩ về gia đình. Trước hết cậu nhớ đến mẹ. Ấn tượng sâu sắc nhất đối với cậu về mẹ là: Một người đàn bà cần cù đảm đang, làm việc luôn chân luôn tay; bà là người yêu thương cậu nhất, bà cũng đối xử tử tế với tất cả mọi người kể cả các gia nhân. Mỗi khi cha cậu làm việc gì thương tổn đến bà hoặc nặng lời với bà, chỉ thấy bà tìm một chỗ vắng ngồi một mình khóc. Từ nhỏ, chưa một lần nào Vàng bị mẹ đánh mắng. Bà nội bảo Vàng có đôi mắt đen và tình cảm lành hiền giống mẹ. Vàng từ bé không lần nào làm trái ý mẹ.


 Đối với cha, cứ mỗi khi thấy ông là cậu sợ và mọi người trong nhà cũng đều sợ ông, trừ bà nội. Nhưng có lần cậu thấy cha mắng mẹ việc gì đó, cậu nghĩ cha mắng oan cho mẹ, cậu thương mẹ. Lần ấy cũng là lần đầu tiên cậu dám bạo gan đứng nắm tay mẹ nhìn trân trân vào cha, khiến ông thôi không mắng bà.


Từ ngày cậu đi học trường Thiếu sinh quân, không nhận được lá thư nào của gia đình và cũng không biết tình hình gia đình hiện ra sao, nơi đó lại là vùng địch hay càn quét.


Cậu nhớ đến các em, khi cậu đi thì Cò Đỏ, Cò Xanh còn nhỏ. Cậu nhớ đến bé May con chú Cóc và cô Na, cậu và May cùng bú cô Na, hai đứa chơi với nhau từ bé và quý nhau lắm. Nay May chắc thành người lớn rồi.


Sáng hôm sau, Cò Vàng mặc bộ quân phục màu xanh lá cây, đầu đội chiếc mũ ca lô đồng màu, vai khoác ba lô, đi dép lốp lên đường về quê. Cậu đi đến sẩm tối thì về đến chân núi Neo. Đây là vùng tranh chấp giữa ta và địch. Cậu vào xóm Nam tìm gặp ông Thắng một cán bộ Mặt trận Việt Minh huyện Việt Yên, quen với cha cậu, để hỏi thăm nên về nhà như thế nào? Vào đến nơi, cậu không thấy ông Thắng. Cậu thấy một ông già gầy gò, tóc hoa râm, dáng quen quen. Nhìn kỹ cậu nhận ra chú Đồ Ba. Cậu lại gần hỏi:


-  Thưa chú, chú có phải là Đồ Ba không ạ?


-  Anh là ai?


-  Cháu là Cò Vàng đây mà, chú có nhớ cháu không? Cháu là con ông Cò ở làng Dưới đây.


Ông già ngước lên nhìn Vàng từ đầu đến chân.


-  Tưởng cậu đi học trường Thiếu sinh quân cơ mà?


-  Vâng thưa chú, cháu đã học xong, trước khi đi nhận nhiệm vụ mới, rẽ về thăm nhà. Chú có phải là Đồ Ba không ạ? Và ông Thắng có nhà không ạ?


-  Đúng rồi! Tôi là Đồ Ba đây. Cậu lớn quá tôi không nhận ra. Lần này cậu về gặp tôi là may đấy. Cứ đi thẳng về nhà thì bị Pháp và tề phản động bắt là chắc. Ông Thắng đi vắng tôi trông nhà hộ.


Nói xong, Đồ Ba bảo cậu cởi ba lô đi rửa ráy tay chân. Ông nổi lửa nấu bếp. Lát sau hai chú cháu ăn cơm. Ăn xong, hai chú cháu ngồi nói chuyện. Cò Vàng đưa cho Đồ Ba xem giấy phép của trường Thiếu sinh quân cấp cho cậu đi đường về thăm nhà.


Đồ Ba kể rằng: Cách đây hơn tháng, giặc Pháp cho một đơn vị ngụy về đóng chốt ở làng Dưới. Ông Cò công khai theo Pháp bắt tất cả trai làng từ mười lăm tuổi đến bốn mươi tuổi phải vào dân vệ, tập tành và phát súng, rào làng chống lại Việt Minh. Ông cho xây một cái bốt cao, sát ngay nhà có chín bậc thềm, ngày đêm có đội lính ngụy canh gác khống chế. Ở bốn góc làng chúng dựng tháp canh bằng tre, dân vệ thay nhau canh gác. Đêm chúng tuần tra nghiêm ngặt. Tổng Cò lâu nay vẫn nghi ngờ Đồ Ba là người của Việt Minh, đã cho tay chân bám sát theo dõi chặt chẽ. Thấy nguy cơ bị bắt, cấp trên đã cho phép Đồ Ba rút ra ngoài này. Nghe chú Ba kể, Vàng lạnh toát cả người. Cậu không ngờ sự tình cha cậu lại làm tay sai cho giặc. Nguy hiểm quá! Đầu óc cậu lúc này rối bời, bỏ đi thì cũng dở, mà về nhà thì không được. Cậu nhớ đến bà Hai, thương mẹ quá, chỉ muốn gặp mẹ trước khi đi là mãn nguyện rồi. Lát sau cậu nói:


-  Chú Ba, cháu hiểu những điều chú kể cho cháu. Cháu rất khổ tâm về việc cha cháu làm phản động chống lại cách mạng. Cháu quyết không nhìn mặt ông. Đây là lần cuối cùng cháu về nhà. Trước khi đi nhận nhiệm vụ mới, cháu có nguyện vọng được gặp mẹ cháu, dù chỉ một chốc lát. Xin chú hãy giúp đỡ cháu. Cháu xin cảm ơn chú.


Đồ Ba nghe giọng Vàng nói và nhìn mặt Vàng đầy xúc động. Ông cảm thông, nghĩ một lát rồi ông nói:


-  Bà Hai mẹ cậu là người rất tốt, chúng tôi những người ăn người làm trong nhà đều quý trọng bà. Tôi biết là bà rất nhớ cậu, chỉ hy vọng gặp cậu. Cậu muốn gặp bà, tôi sẽ giúp, nhưng tôi phải báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên đã. Nói xong, Đồ Ba bảo Vàng đưa giấy đi đường cho ông, ông ra khỏi nhà, biến vào bóng tối. Trước khi đi, ông dặn Vàng, mệt thì cứ nghỉ đi một lát, có thể đêm nay phải lên đường về nhà.


Cò Vàng ngả lưng nằm ngửa lên chiếc chiếu, hai tay chắp sau gáy, nhìn lên nóc nhà, cậu nghĩ mông lung: Cậu không ngờ, nay chua xót nhận ra rằng thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta đã tạo ra đường ranh giới giữa cha con cậu ở hai chiến tuyến đối lập nhau như thế này. Chỉ cách một con sông hẹp, vài mái chèo là sang đến nơi, cậu đã về đây nhìn qua sông thấy nhà mình mà không sao công khai về gặp mẹ được! Cậu thương mẹ vô cùng. Linh tính báo cho cậu biết đây là lần cuối cùng phải gặp bằng được bà, chắc khó có lần thứ hai!


*


    Kể về bà Hai, vợ cả của chánh Cò. Từ một cô gái nông thôn chân chất, làm nghề canh cửi và ruộng đồng, cô lấy cậu Cò, thành mợ chủ, rồi thành bà điền chủ và bà chánh tổng. Nhưng với cô Hai, thì vẫn tối ngày luôn chân luôn tay làm mọi việc: từ nuôi con, chăm sóc chồng, đến điều khiển gia nhân trồng dâu nuôi tằm, kéo tơ; để mắt tới nhà bếp lo cơm nước, nấu ăn hàng ngày cho hơn chục người cả chủ lẫn tớ… Tiếng là lấy chồng giàu, nhưng cô chưa bao giờ được cầm trong tay đồng tiền và tự ý tiêu xài. Cô là bà chủ, cũng chưa bao giờ quát nạt gia nhân; người nào ốm đau, hay gia cảnh khó khăn túng thiếu thì cô thăm nom giúp đỡ. Từ ngày lấy chồng, niềm vui lớn nhất của cô là sinh ra và nuôi nấng Cò Vàng. Tuy có Na là người giúp đỡ trông nom Cò Vàng, nhưng ngơi tay lúc nào là cô lại bế con, âu yếm, trò chuyện với con. Mới đây, cô lại sinh thêm Cò Trắng là con trai thứ tư. Cả bốn đứa con, cô đều yêu thương. Nhưng yêu nhất và thương nhất là Cò Vàng vì cậu đi kháng chiến vất vả. Ngược lại cũng từ khi lấy chồng, cô đã gặp bao nhiêu chuyện buồn về chồng: Khởi đầu là sự day dứt vì thương em gái, cô tự trách mình vô tình mà lấy mất người yêu của em; tiếp sau là bị chồng ruồng rẫy; rồi đến chuyện chồng cưỡng bức Na, mà sau này cô mới biết; đến khi chánh Cò cưới dì Ba làm lẽ, tình cảm vợ chồng bị chia sẻ, cô phải sống trong cảnh “chồng chung” với em gái mình. Tiếp đến từ ngày Cóc tóc đỏ đi xa, tổng Cò công khai hàng ngày cưỡng bức cô Na. Khiến Na luôn luôn phải khóc lóc cùng cô Hai. Nhiều đêm, cô Hai vùi đầu vào gối khóc tức tưởi. Cô lo không biết rồi đây chồng cô sẽ còn làm gì đem lại cho cô thêm những đau khổ mới nữa?!


Đến nay cô Hai trông như một bà già, ra đường ai cũng gọi là bà. Nhiều đêm bà lo nghĩ thức trắng, lâu dần thành bệnh mất ngủ triền miên. Tóc bà gần như bạc trắng. Mặt bà đã có nếp nhăn và lúc nào cũng như người u uất. Có lúc bà nghĩ đến cái chết! Bà tự nhủ: Sống mà lao tâm, khổ trí, thì thà chết sớm cho mát! Nhưng bà lại nhớ đến Cò Vàng không biết bây giờ Cò Vàng ra sao, nó có khỏe không? Bà ước ao ngày nào được trông thấy con, được sờ nắn vuốt ve nó, nghe nó nói những lời yêu thương với bà.


Cách đây hơn tháng, chồng bà đã đưa lính Tây về xây đồn, rào làng, lập đội dân vệ, bắt người, giết người! Việc làm của ông, bà nghĩ là đã cắt đứt con đường không cho Cò Vàng về gặp lại bà! Hy vọng cuối của bà và cũng là lý do cuối cùng để bà muốn sống là gặp được Cò Vàng, thì nay không còn hy vọng nữa. Từ ấy trông bà như người mất hồn, lúc nào cũng ngơ ngơ ngác ngác, luôn luôn lo âu sợ sệt. Suốt ngày bà nằm bẹp trong phòng kín, không muốn giao tiếp với ai!


Hôm ấy, trời mưa phùn gió bấc, gần đến nửa đêm, bà Hai chợt nghe thấy tiếng kẹt cửa. Bà nhìn ra hỏi ai đó? Một bóng người lướt nhanh vào, bà nhận ra cô May, con dì Na. May ra hiệu cho bà im lặng, và nói: Già phải thật bình tĩnh, đừng nói gì, cháu mang tin vui cho già đây! Bà Hai sửng sốt ngồi hẳn dậy, tim đập thình thịch, ghé tai vào tận miệng cô May, để nghe cô nói cho rõ. May nói tiếp:


-  Anh Cò Vàng đã về thăm già! -  Bà Hai há hốc mồm kinh ngạc. May nói tiếp: Hiện anh đang đợi già ngoài cánh đồng. Già hãy mặc ấm vào mưa phùn đấy, cháu ra ngoài xem sao, rồi quay lại đón già đi cùng cháu. Cháu nhắc lại là già phải thật bình tĩnh, đừng gây tiếng động, bọn dân vệ nó biết thì nó không cho già gặp anh Vàng đâu!


Bà Hai nghe May nói, ngỡ ngàng, tưởng như mơ, không tin nổi đây là sự thật. Bà phải cấu vào đùi mình và ôm lấy May để yên tâm đó là sự thật. Bà Hai như đang khổ đau muốn chết thì tìm thấy hạnh phúc, hạnh phúc đó là Cò Vàng. Bà muốn mau chóng gặp con trai mà bà yêu thương nhất. Bà nghĩ nó đi theo kháng chiến gian khổ đủ đường, cái gì cũng thiếu thốn. Bà muốn mang cho con tất cả những gì bà có. Nhưng bà không thể làm việc đó, thời gian và hoàn cảnh cũng không cho phép bà làm việc ấy. Bà chỉ kịp mở hòm lấy chiếc nhẫn vàng của cụ Tú, mẹ bà cho bà khi đi lấy chồng. Nay bà sẽ cho Cò Vàng để nó sau này lấy vợ thì cho vợ nó đeo!


Lát sau May quay lại, bà Hai trùm khăn cùng đi trong mưa phùn. Hai người lẻn ra sân sau, chui qua rặng tre bên bờ ao, rồi lặn lội trên cánh đồng đi tiếp. Cô May có biết đâu rằng, có một kẻ theo dõi đã nhìn thấy May đang nửa đêm lén lút vào nơi bà Hai nằm, rồi hai người đi ra ngoài. Kẻ đó như con mắt cú vọ. Nó vội báo cho tổng Cò biết. Tổng Cò lập tức cử gia nhân thân tín mang súng đi theo. Y nói khẽ vào tai chúng và ra lệnh cho chúng cứ thế mà làm.


 Trong khi đó, bên kia gò đống ở giữa cánh đồng, Đồ Ba cùng hai du kích mang súng hộ tống Vàng đang nằm trong bụi cây chờ bà Hai tới. May dẫn bà Hai ra đến nơi, từ trong bụi cây trước mặt có tiếng chim lợn kêu lên ám hiệu, May cũng giả tiếng chim kêu đáp lại. Cò Vàng bước ra. Bà Hai nhìn thấy một người đàn ông to lớn, bà nhận ngay ra đó là Cò Vàng con bà. Bà buột miệng kêu lên một tiếng trời ơi! Rồi bà nhào tới định ôm chầm lấy Vàng . Còn Vàng thì giơ hai tay lao về phía bà. Giữa lúc ấy một loạt đạn tiểu liên nổ chát chúa tạo thành những đốm đỏ rực bay vút về phía Cò Vàng. Cậu chỉ kịp kêu lên một tiếng ối rồi ngã xuống. Từ phía sau của bà Hai, ba bóng đen lao lên định tóm lấy người đang ngã. Nhưng ngay lúc đó, hai khẩu súng trường của du kích khạc lửa về phía chúng. Bọn này vội vã rút chạy. Cô May chạy ra đỡ Cò Vàng dậy. Đồ Ba bảo May quay lại tìm bà Hai, còn họ thì khênh Cò Vàng rút. Khi May quay lại tìm bà Hai thì thấy một số người cầm đuốc từ trang trại chạy ra la hét: Bắt lấy nó, bắt lấy nó! May sợ quá chạy ngược ra phía bờ sông, đến nơi thì vừa kịp gặp chiếc thuyền của Đồ Ba đang chuẩn bị chống sào đưa Cò Vàng sang sông. May nhảy xuống thuyền rồi cúi xuống thân hình máu me của Cò Vàng!


Gần sáng, bà Hai chợt tỉnh, bà nhận ra đang nằm ở cái giường trong phòng kín của mình như mọi khi. Bà nhớ đến chuyện lúc nửa đêm cháu May đưa bà đi gặp Cò Vàng. Rõ ràng bà trông thấy Cò Vàng, bà kêu lên rồi nhào đến với con, và Cò Vàng cũng lao tới giơ hai tay… như muốn ôm lấy bà. Giữa lúc ấy bà nghe thấy tiếng súng nổ, Cò Vàng ngã xuống và bà cũng ngất đi. Sao bây giờ bà lại nằm đây? Bà tưởng mình vẫn mê man như mọi hôm chăng? Bà chợt chạm vào chiếc nhẫn đeo ở ngón tay. Bà nghĩ, đúng rồi chiếc nhẫn vàng lâu nay bà vẫn cất ở trong hòm, bà mới lấy ra mang đi định cho Cò Vàng. Bà sờ vào quần áo, thấy bị ướt. Lúc ấy bà mới tin chuyện đi gặp Cò Vàng là có thật, bà trông thấy Cò Vàng bị bọn dân vệ bắn ngã cũng là có thật, sau đấy bà không biết gì nữa. Đạn bắn như thế bà không tin là con trai bà sống nổi. Nó đã ngã, chắc là chết rồi! -  Bà nghĩ vậy. Bà khóc òa lên. Bà quằn quại vò xé tất cả những gì quanh bà. Bà gọi tên Cò Vàng và gào thét chửi bới kẻ đã bắn chết con bà. Bên ngoài, bọn dân vệ định đạp cửa xông vào bảo bà không được kêu khóc lúc đêm hôm. Tổng Cò ra hiệu cho họ cứ để mặc bà. Bà khóc mãi, khóc mãi đến sáng thì không nghe thấy tiếng khóc nữa. Mọi người nghĩ rằng bà đã khóc chán, mệt lăn ra ngủ.


Khi mặt trời lên đến ngọn tre, tổng Cò vẫn không thấy bà Hai ra cửa quét dọn như mọi ngày. Y cho người vào xem thế nào. Vừa vào đến nơi, tên gia nhân hớt hải chạy ra, mặt tái mét nói không ra hơi:


-  Bà… bà… Chánh… chết rồi!


Tổng Cò và mọi người đổ xô vào xem, thì thấy bà Hai thắt cổ chết treo trên chiếc dây thừng vắt qua xà, cái xác lơ lửng giữa nhà. Mặt bà đã phình to và xám ngắt! Cạnh đó chiếc ghế đẩu lăn lóc.


Tổng Cò sai gia nhân cắt dây thừng, đỡ xác bà Hai đặt xuống giường, đắp chiếc chiếu lại. Y lên nhà tìm cụ Mận.


Cụ Mận, vẫn như mọi khi, ngồi như tượng trên chiếc sập. Ngồi đây, mà cụ biết mọi chuyện. Nhìn gia nhân hốt hoảng chạy đi chạy lại, nghe chúng kháo nhau, cụ biết bà Hai đã tự tử chết. Lần đầu tiên cụ rớt nước mắt, không lau, cứ để nước mắt lăn dài trên hai má răn reo của cụ.


Tổng Cò rụt rè đến trước mặt cụ Mận:


-  Thưa mẹ, nhà con đã thắt cổ tự tử chết.


-  Ta biết rồi. Từ lâu ta đã linh cảm thấy tai họa này, nhưng nó đến sớm quá, tại sao vậy?


Tổng Cò buộc phải kể cho cụ nghe chuyện xảy ra đêm hôm qua…


Cụ Mận hỏi:


-  Ta nghe nói, trước khi chết, mẹ nó kêu khóc, đập phá la hét mắng chửi đứa bắn chết Cò Vàng. Vậy đêm qua Cò Vàng nó về à?


-  Thưa mẹ điều này con không biết. Trời thì tối, bọn nó thấy bóng người giơ hai tay chạy đến chỗ bà Hai, thì chúng nó bắn, người đó ngã xuống, được đồng bọn lôi đi, chẳng biết sống hay chết.


-  Thế là đã rõ, người đó là Cò Vàng con ông và là cháu yêu của ta! Chính ông đã giết vợ con ông rồi! Vô phúc quá, ới cụ Cai Phòng ơi -  Lần thứ hai kể từ ngày chồng chết, cụ Mận kêu khóc gọi tên chồng thảm thiết. Dường như những đau khổ tột cùng lâu nay bị dồn nén đã trút ra bằng tiếng khóc. Tiếng khóc nghe ai oán và vang to, không ai an ủi được. Lâu lâu sau cụ gọi tổng Cò đến và mắng:


-  Ta biết, từ ngày mày dính đến người Tây là tai họa mang đến cho nhà này, cho mọi người dân ở cái tổng này. Ta đã có lần bảo mày liệu mà ngừng lại đi, không thì chết lúc nào chưa biết! Ta biết là có ngày mày sẽ bị Việt Minh giết chết. Lúc này ta muốn chết để khỏi phải nhìn thấy ngày ấy. Nhưng ta chết, rồi mày bị giết, các con mày ai nuôi? Vì vậy tao đành phải sống tiếp! Chẳng biết cái nhà này rồi sẽ tan nát ra sao?!


Nói đến đây, mắt cụ Mận long lên sòng sọc, phát ra những tia máu tím đỏ, nhìn xoáy vào chánh Cò:


-  Mày hãy sám hối ngay đi, mang vũ khí về hàng Việt Minh đi, chưa muộn đâu con ạ!


Chánh Cò nghe mẹ nói xong, lủi thủi ôm đầu về nằm vật ra giường. Y nghĩ: Mẹ đã nói đúng, ta đã gây ra bao nhiêu tội ác rồi, nay đã sai người bắn chết đứa con ngoan nhất và là niềm hy vọng nhất! Chính ta đã đẩy vợ ta đến chết, cô Ba và Hà My cũng bỏ ta mà đi! Nhưng ta không thể mang súng về đầu hàng Việt Minh được, ta đã lún quá sâu rồi, không thể quay lại được nữa! Tổng Cò ngồi dậy, lấy chai rượu rót vào cốc, uống ừng ực, hết cốc này đến cốc khác, rồi gục đầu xuống bàn khóc nức nở. Lát sau y lịm đi, rồi ngủ và ngáy như tiếng bò rống.


                           


Lại kể tiếp về Cò Vàng. Sau khi bị bắn ngã, anh được chú Ba và hai du kích khênh chạy, đặt xuống chiếc thuyền đợi sẵn ở bờ sông. Họ xé áo băng vết thương cho anh. Qua sông, họ đưa anh lên cái cáng khênh vào hang núi, nơi đó là trạm y tế. Một người mặc áo khoác vải nâu, khám kỹ cho anh. Ông ta quay lại nói:


-  May quá, đường đạn chỉ lui vào một ly nữa thì cắt đứt ruột. May sao nó chỉ phá gãy một chiếc xương sườn -  Ông làm vệ sinh vết thương, xoa thuốc đỏ và rắc một ít bột trắng rồi băng bó cẩn thận cả vùng bụng lại. Làm xong ông bảo Đồ Ba cho cáng anh này lên bệnh viện vùng tự do để điều trị tiếp.


 Từ nãy giờ, cô May hồi hộp theo dõi diễn biến sự việc. Cô thấy thầy thuốc nói vậy thì tạm yên lòng. Cô khẩn khoản đề nghị chú Ba cho đi theo để săn sóc Cò Vàng. Chú Ba biết rằng nếu May quay lại làng, chắc sẽ bị bắt và bị tra tấn đánh đập, nên chú đành đồng ý để cho May đi theo săn sóc Cò Vàng.


Những ngày nằm điều trị ở bệnh viện dân y Bắc Giang, Cò Vàng được May săn sóc và chăm lo mọi việc. May vừa là hộ lý, vừa là người thân, luôn chuyện trò cùng cậu, an ủi cậu. Nếu không có May ở đây chắc cậu buồn khổ lắm vì những chuyện vừa qua.


Một hôm có người ở tổng Giang Cầu ra vùng tự do, họ kể rằng: Chánh Cò theo Tây, bà Hai buồn chán đã thắt cổ tự tử chết! Ai ai biết bà, đều thương tiếc bà và căm ghét chánh Cò.


Vàng buồn khổ tự trách mình, đi về thăm nhà lần này đã mang cái chết cho mẹ! Nghĩ kỹ lại cậu thấy mẹ chết có nguyên nhân sâu xa là giặc Pháp đã đến xâm lược, đưa bố cậu đi vào con đường phản dân tộc, gây ra thương tích cho cậu và đẩy mẹ cậu đến với cái chết. Cậu biết cha cậu sớm muộn rồi cũng phải đền tội, chỉ thương bà nội cậu già rồi mà khổ, các em cậu cũng chịu vạ lây. Lòng cậu buồn rười rượi!


Mẹ chết, bây giờ ở vùng tự do chỉ còn dì Ba và em Hà My là người thân nhất đối với Vàng. Cậu nhớ đến dì và em. Cậu định bụng kỳ này lên trường, dọc đường đi nếu tiện thì rẽ vào thăm dì Ba và Hà My. Nghe nói dì đang ở đoàn Văn công.


Sau gần một tháng điều trị, Cò Vàng sắp được xuất viện. Chắc chỉ nay mai cậu sẽ chia tay với em May. Lúc này May là người gần gũi yêu thương cậu nhất và cậu cũng rất biết ơn May và yêu quý May. Cậu lo không biết khi mình đi khỏi đây, May sẽ đi đâu và làm gì? Chắc là em không thể về làng, nguy hiểm sẽ đến với em.


Ngày hôm sau, bác sĩ điều trị khám kiểm tra vết thương của Vàng, ông cười nói:


-  Thế là vết thương của cậu đã lành. Sức khỏe của cậu đã bình phục. Cậu được ra viện.


Cò Vàng mừng rỡ, cảm ơn bác sĩ. Cậu cũng lên gặp cảm ơn thủ trưởng bệnh viện. Qua câu chuyện, cậu hỏi ông có thể cho phép May làm việc ở bệnh viện này không? Ông nói: Bây giờ ngày càng nhiều bệnh nhân và thương binh, hộ lý thì ít, nếu cô May muốn thì ở lại đây làm việc với chúng tôi. Ông cũng nhận xét là May khỏe mạnh, chăm sóc người bệnh chu đáo, tính nết lại nhu mì. Cò Vàng phấn khởi báo tin này cho bé May. May vừa buồn vừa vui, vui vì anh Vàng khỏi vết thương và mình được nhận vào làm việc tại đây, buồn vì sắp phải xa anh.


                                                    


Đã lâu lắm rồi, Vàng chưa đi đến vùng đồi trung du. Cậu nhìn những quả đồi nối nhau như bát úp chạy dọc theo con sông. Ven sông là những bãi dâu xanh ngút ngàn. Nhìn bãi dâu, cậu nhớ làng mình. Đột nhiên vừa đi, cậu vừa cất tiếng hát giọng buồn buồn: Quê em miền trung du / Giặc tràn lên đốt phá / Dâu bờ xanh thắm / Ôi giặc càn nát quê!


Trời về chiều, cậu dừng chân bên quán nước ven đường, thấy nhiều trẻ em và thanh niên đi qua cười cười nói nói. Cậu hỏi, bà hàng nước nói:


-  Tối nay có đoàn Văn công biểu diễn ở làng kia, họ kéo nhau đi xem đấy.


Nghe đến đây, Vàng mừng quá, vội móc túi trả tiền nước, đứng lên đi theo đám người kia.


Đến một khu rừng trồng gỗ lim, ở giữa có một khoảng trống, Vàng thấy trai tráng đang dựng sân khấu. Đám đông ngồi chiếm chỗ trước ở dưới sân khấu. Cậu hỏi thăm đoàn Văn công đang ở đâu? Họ chỉ tay vào một nhà trong xóm. Vàng đi vào một căn nhà lá rộng, chỗ này người chỉnh dây đàn, chỗ kia người luyện giọng, rồi những diễn viên soi gương trang điểm… Cậu đưa mắt nhìn một lượt, nhận ra ngay người cần tìm. Cậu reo lên:


-  Dì Ba! Dì Ba!


Thu Ba nghe tiếng gọi, quay nhìn, một chàng trai trẻ mặc quân phục màu xanh, đội mũ ca lô, tươi cười chạy đến như muốn ôm lấy mình, Thu Ba ngờ ngợ hỏi:


-  Cò Vàng đấy phải không con?


-  Vâng dì, cháu đây ạ!


Hai Dì cháu ôm nhau, cả hai đều rơm rớm nước mắt. Thu Ba rút khăn tay lau mắt cho Vàng và cho mình rồi nói:


-  Dì là phụ nữ khóc đã đành, còn Vàng là một thanh niên cao lớn mạnh mẽ thế này rồi, sao con lại khóc thế?


-  Dì ơi! -  Vàng lại rơi nước mắt giọng nức nở -  Mẹ cháu mất rồi!


Thu Ba, nghe Vàng nói, đứng không vững, ngồi thụp xuống chiếc ba lô bên cạnh. Chị cất tiếng khóc thảm thiết. Rồi kéo Vàng ra vườn Lim, tìm phiến đá rộng, hai dì cháu ngồi tâm sự. Vàng kể cho dì nghe đầu đuôi câu chuyện đã xảy ra vừa qua… Thu Ba ôm lấy Vàng, cả hai đều khóc nức nở. Cả hai đều có nỗi đau chung: Cò Vàng mất mẹ! Dì mất chị, một người chị có tấm lòng như người mẹ! Vàng có cha theo giặc, sai quân bắn con. Còn dì có chồng theo giặc, thế là vĩnh viễn cắt ngăn con đường trở lại của mẹ con Thu Ba với ông Cò!


Ngay sau đấy, Vàng phải xin phép dì Ba đi luôn, vì cậu nghỉ điều trị vết thương lâu ngày, đến nhập Trường Đào tạo cán bộ Y tế Việt Bắc lo sẽ quá muộn. Thu Ba đưa tiễn Vàng một đoạn đường dài. Dọc dường dì hỏi thăm về quá trình học tập của cậu, hỏi về việc cậu được nhận quyết định đi học Trường Y và hỏi về cu Tý… Vàng hỏi thăm em Hà My. Khi chia tay, hai dì cháu nghẹn ngào không nói lên lời, cả hai cùng đeo đẳng mang theo trong tâm khảm nỗi đau chung!


 


    Sau khi chia tay với Cò Vàng, Thu Ba lững thững quay lại, vừa đi chị vừa nghĩ: Mình với Tổng Cò duyên phận chẳng ra gì, không hợp nhau, ông ấy nay đã theo giặc. Điều này có nghĩa là ông ấy đã đoạn tuyệt với mình. Mình và Hà My không thể bỏ kháng chiến, bỏ làm diễn viên Văn công để trở lại với ông Cò. Còn Hà My nó càng không thể chấp nhận một người cha theo giặc cầm súng bắn lại nhân dân. Mình có chồng mà như góa bụa. Mà rồi, sẽ có thể bị góa bụa thật, vì Cách mạng đâu có để yên cho kẻ chống nhân dân là tổng Cò được sống?! Hôm trước Thu Ba bột phát nói với ông Hiệu trưởng Trường Đào tạo cán bộ Y tế Việt Bắc rằng: Chị sẽ ly hôn với ông Cò. Khi ấy chị thương Hà My thì nói vậy thôi. Nhưng chị chưa quyết định về việc ly hôn với chồng. Nay, Cò Vàng đến với dì, báo cho biết tin tức ông Cò đã theo giặc, dân vệ bắn Cò Vàng, bà Hai đã tự tử chết. Tin tức này như giọt nước tràn ly đã khiến Thu Ba mau chóng đi đến quyết định ngày mai sẽ đến Tòa án xin ly hôn với tổng Cò. Chỉ có thế mới mở đường cho Hà My được đi học và giải thoát cho chị.


    Tòa án kháng chiến của tỉnh Bắc Giang đóng trụ sở tại một xóm ven sông. Tại cơ quan này hiện biên chế chỉ có ba người, một Chánh án, một Thẩm phán kiêm trợ lý và một thư ký Tòa kiêm văn thư lưu trữ và “ anh nuôi”. Người ta kể rằng Tòa án ở vùng tự do có khi cả năm chẳng phải xử một vụ hình sự, dân sự nào; lâu lâu mới có phiên tòa xử bọn phản cách mạng đưa từ trong tề ra. Cuộc sống kháng chiến tuy gian khổ, mọi người sống thiếu thốn, nhưng tội phạm lại rất hiếm xảy ra. Trong xóm làng, nhà nhà đêm đêm vẫn mở toang cửa, nhà nọ để ý trông nom bảo vệ cho nhà kia. Mỗi khi có người lạ đến thì người dân thực hiện ba không (không nghe, không biết, không trông) để bịt tai bịt mắt do thám của địch. Nếu có ai đó lỡ tắt mắt trộm vặt thì lập tức dân làng xúm lại phân tích, giáo dục, rồi giám sát, đến khi người ấy bỏ thói tắt mắt mới thôi. Tòa án ít việc làm, ông chánh án thường đi xuống xã làm các việc tuyên truyền giáo dục chính sách pháp luật, có khi đi chỉ đạo xây dựng làng chiến đấu hoặc vận động đóng thóc thuế nuôi quân, v.v…


Hôm ấy Thu Ba tìm đến cơ quan Tòa án. Ông Chánh án đang có nhà. Khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông là chàng trai Hà Nội đang học năm thứ hai trường luật đã tham gia cuộc tổng khởi nghĩa tại thủ đô. Ngày toàn quốc kháng chiến, ông là một trong số những người cầm súng, trong đội tự vệ sao vuông chiến đấu đánh Pháp. Khi lực lượng quân đội rút khỏi thủ đô, ra chiến khu, ông được luật sư Phan giới thiệu về bộ Tư pháp làm công tác theo dõi các Tòa án địa phương. Tiếp đó ông được bổ nhiệm làm chánh án Tòa án tỉnh Bắc Giang. Ông làm nghề đòi hỏi ở ông tính pháp lý và nguyên tắc cao, lúc nào cũng tỏ ra nghiêm túc. Nhưng ông lại còn là con người hào hoa của chàng trai Hà Nội có tâm hồn bay bổng của một nghệ sĩ.


Mới nhìn thấy Thu Ba và xem thư giới thiệu ông đã thấy cảm tình với người diễn viên này. Ông nghe chị kể lý do đến Tòa án. Ông hỏi thêm về công việc, về cả vùng quê của chị. Như một bó tơ đang rối, chưa biết gỡ thế nào, nay có người giúp chị gỡ mối, thì cứ tuồn tuột cởi lòng cùng ông tất cả mọi chuyện. Lúc này ông Chánh án vừa là người tiếp đương sự vừa là một người đàn ông nghe kể về nỗi khổ của một người đàn bà. Ông không thể không giúp đỡ. Ông cho chị biết: Tòa án tỉnh của ông từ ngày kháng chiến chưa thụ lý xét xử một vụ ly hôn nào, vì chẳng ai đưa đơn . Nay chị đưa đơn xin ly hôn, là trường hợp đầu tiên, mà nguyên đơn xin ly hôn trong lúc không có mặt bị đơn. Theo nguyên tắc thì cũng khó. Nhưng may mắn cho chị, cấp trên mới có hướng dẫn cho phép xét xử những trường hợp chồng theo giặc, vợ được quyền ly hôn. Ông nói xong, gọi người Thẩm phán tên là Trịnh Văn Đông đến thụ lý đơn xin ly hôn của nguyên đơn Nguyễn Thị Ba và lấy lời khai của chị. Sau một buổi làm việc xong, ông Chánh án bảo chị có thể về được, ba ngày sau đến nghe Tòa xét xử.


Thu Ba cảm động cúi chào và ra về. Ông Chánh án vẫn đứng đó. Giữa lúc ấy Trịnh Văn Đông nói:


-  Thưa ông Chánh án, chị Thu Ba là một ca sĩ nổi tiếng hát hay. Rồi anh quay sang nói: Thưa ca sĩ Thu Ba, chị có thể trước khi về hát cho chúng tôi nghe một bài được không?


-  Thu Ba, nghe người Thẩm phán đề nghị, lại thấy ông Chánh án nhìn chị gật đầu, thì bỗng nhiên chất nghệ sĩ trong Thu Ba trỗi dậy. Chỉ trong giây lát từ nét mặt của một người đàn bà đầy đau khổ đến xin ly hôn, bỗng chốc nét mặt ấy bừng sáng, hiện lên vẻ tươi vui và duyên dáng của cô gái miền quan họ. Thu Ba quay lại, đặt chiếc ba lô xuống, sửa lại mái tóc. Chị hát bài Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi. Ông Chánh án dõi theo tiếng hát hào hùng và sâu lắng của nghệ sĩ. Ông vốn là chàng trai Hà Nội, thả hồn mình mơ tưởng và đắm chìm trong tiếng hát về Hà Nội. Ông như thấy lại năm Cửa Ô, Hồ Gươm, sông Hồng Hà, các phố Hàng Đào, Hàng Bạc, chợ Đồng Xuân… Ông lấy chiếc kính cận ra khỏi mắt, lau lau.


Sau khi Thu Ba hát xong bài “Người Hà Nội”, ông Chánh án đứng dậy, nói giọng xúc động:


-  Cám ơn ca sĩ Thu Ba, chị đã mang đến cho tôi một món quà sinh nhật vô giá, hôm nay là ngày sinh thứ ba mươi của tôi!


Thu Ba nhìn ông Chánh án đầy biết ơn với đôi mắt long lanh. Ông Chánh án giơ tay bắt tay chị và nói: Tôi là Trần Vân, tạm biệt chị.


Trịnh Đông đưa tiễn Thu Ba ra cổng và nói: Chánh án của tôi vẫn chưa có “bến đậu”, tôi chưa thấy với người phụ nữ nào khiến ông xúc động đến thế. Thu Ba cảm ơn và cúi đầu chào ra về.


Ba ngày sau, như thông báo của Tòa, Thu Ba có mặt tại hội trường của Tòa án tỉnh. Bước vào phòng xét xử, chị nhìn thấy ở giữa nhà một chiếc bàn dài phủ vải xanh, có miếng gỗ sơn bốn chữ Hội đồng xét xử. Trên tường treo lá quốc kỳ và ảnh Hồ Chủ tịch. Phía trái là chiếc bàn có miếng gỗ sơn hai chữ Công tố, bên phải có một chiếc bàn cũng có miếng gỗ đề Thư ký Tòa.


Viên thư ký Tòa công bố phiên Tòa bắt đầu. Chủ tọa phiên tòa, là Thẩm phán Trịnh Đông, ông bước ra ngồi ghế bàn giữa, tuyên bố lý do mở phiên tòa, mời thư ký Tòa đọc đơn xin ly hôn của nguyên đơn Nguyễn Thị Ba. Ông Chủ tọa phiên tòa đặt ra một số câu hỏi, thư ký Tòa ghi lời khai của chị. Rồi Tòa tạm giải lao ít phút. Sau đấy chủ tọa phiên Tòa ra tuyên án, thư ký và chị Ba đứng lên nghe. Chủ tọa phiên Tòa nhân danh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tuyên bố chấp nhận nguyên đơn NguyễnThị Ba được quyền ly hôn với bị đơn Nguyễn Văn Cò…


Tuyên án xong, Chủ tọa phiên tòa đi vào trong. Viên thư ký phiên tòa lại gần chị Ba nói: Vì thông cảm đường xa, chị nán đợi một lát, Chủ tọa phiên tòa cho đánh máy bản án, ký đóng dấu sẽ trao ngay cho chị. Thu Ba cảm ơn và hỏi thăm ông Chánh án. Viên thư ký Tòa cho biết hôm nay ông đi họp ở bên Ủy ban Hành chính kháng chiến tỉnh.


Ngay hôm sau Thu Ba mang bản án ly hôn đến gặp ông Hiệu trưởng Trường Đào tạo cán bộ Ytế Việt Bắc. Ông Hiệu trưởng nhìn chị bằng đôi mắt kinh ngạc. Sau khi xem xong bản án, ông giơ tay bắt tay chị và nói:


-  Tôi thật sự phục tính cách mạnh mẽ của chị và chúc mừng chị đã thoát khỏi sự ràng buộc pháp lý với một người đàn ông chống lại Tổ quốc.


Thu Ba cảm ơn ông và đề nghị ông chấp nhận cho Hà My được tuyển vào trường học. Ông nói:


-  Về phần tôi, thì ủng hộ đề nghị của chị, song về nguyên tắc tôi phải thỉnh thị Bộ đã.


Thu Ba lo lắng nói:


-  Nếu thế thì có muộn quá, lỡ khóa học không, thưa ông?


-  Chị yên tâm đi, đại diện của Bộ đang có mặt tại đây để dự khai giảng vào chiều mai. Sáng ngày mai chị cứ đưa cháu Hà My tới đây. Nếu được chấp nhận, Hà My sẽ vào nhập học lớp Dược tá, lớp này vẫn còn thiếu học viên.


Thu Ba vui vẻ ra về. Dọc đường chị nghĩ: Ngày xưa người dân có việc gì phải đến cửa quan thì hãi lắm, tốn kém và cơ cực không nói hết. Ngày nay, cuộc kháng chiến này đã làm cho bộ máy hành chính, và ngay cả Tòa án đối với dân như những người thân. Chính quyền và Tòa án đồng cảm với dân, tìm mọi cách giải quyết mau chóng những yêu cầu chính đáng, hợp pháp của dân mà không đòi hỏi gì.


Cuộc kháng chiến trường kỳ vẫn diễn ra quyết liệt ở khắp nơi nơi. Nhân dân ở vùng tự do đang sống trong môi trường tốt đẹp. Họ lạc quan tin tưởng vào ngày mai chiến thắng quân thù, cuộc sống độc lập tự do ngày ấy sẽ còn tốt đẹp hơn nhiều!


*  


    Cóc tóc đỏ đột ngột trở về làng.


   Vào thời điểm Tây đưa lính ngụy về hỗ trợ tổng Cò lập tề phản động. Cóc bây giờ đã khác xa anh chàng cố nông hiền lành vô tư lự của ngày xưa. Trên mặt anh ta nhằng nhịt những sẹo, dấu vết của dân “anh chị” khi còn ở Hương Cảng. Khi sang đến nước Tàu, An- be buộc Cóc phải đi đến Hương Cảng, nơi người Anh đang đóng quân ở đó. Tại đây Cóc lang thang vất vưởng sống đầu đường xó chợ. Một hôm, tên Tống Xì là đại ca băng đảng lưu manh bắt gặp Cóc. Y đưa Cóc về làm chân gác cổng một sòng bạc lớn. Từ đấy Cóc được đồng bọn dạy võ, đưa đi ăn cướp và đâm chém nhau với băng đảng khác. Khi An -  be trở lại Việt Nam lần thứ hai, hắn bảo Cóc đi cùng và dụ dỗ:


-  Mày về sẽ gặp vợ con. Tao cho mày đăng lính và sẽ phong cho mày chức hạ sĩ.


Sau hơn ba năm làm lính ngụy, theo Tây đi càn quét vùng đồng bằng sông Hồng, đến đâu Cóc cũng cùng đồng bọn bắn giết, đốt nhà không ghê tay. Khi An- be thực hiện thí điểm kế hoạch dùng chánh Cò tổ chức lực lượng dân vệ chốt chặn Việt Minh từ xa theo phương châm dùng người Việt đánh người Việt, hắn giao cho một tên trung úy người Pháp cùng một tên thiếu úy người Việt chỉ huy một đại đội lính ngụy thực hiện kế hoạch này. Hắn nhớ đến Cóc tóc đỏ, gọi đến phong y lên chức trung sĩ và đưa về làng Dưới làm tai mắt cho hắn, giám sát chánh Cò.


Từ ngày Cóc tóc đỏ về làng, đi đâu y cũng dẫn lính đi theo, vai khoác khẩu súng tiểu liên, thỉnh thoảng ngứa tay bắn đòm đòm, khiến người ta chết khiếp. Chánh Cò cũng thấy nể sợ Cóc. Cò thực hiện chiêu mua chuộc Cóc bằng cách: Cho gia đình Cóc một gian nhà xây và đồ đạc tiện nghi ở ngay trong trang trại; cho thằng Bần, con trai Cóc làm tiểu đội phó dân vệ chỉ huy một nhóm lau nhau cùng tuổi với nó, cho hưởng phụ cấp hàng tháng; và cũng từ hôm ấy hắn không công khai cưỡng bức cô Na như trước nữa.


Một hôm Cóc cao hứng, gọi mấy thằng bạn từ “thời để chỏm” đến uống rượu. Rượu vào lời ra, hắn huênh hoang khoe: Đã đi đây đi đó ở nước ngoài, đã đánh giết người như ngóe, đã được người Tây và quan trên trọng dụng cử về đây để giúp cho chánh Cò lập bốt, bây giờ hắn với chánh Cò là ngang nhau chứ không phải là đầy tớ như trước nữa. Nghe vậy, một người bạn cũ của hắn nói khích:


-  Thế trung sĩ có biết, khi đi vắng thì ai ở nhà thay trung sĩ vuốt ve cô Na không?


Hắn ớ ra một lúc. Cả bọn cười ồ. Hiểu ra, hắn trợn mắt hỏi:


-  Mày nói gì? -  Rồi Cóc túm ngực anh kia nhấc lên quát: Mày nói thật đi, không tao bắn bỏ.


Anh kia sợ quá nói ra: -  Thưa trung sĩ, những ngày trung sĩ đi vắng, chánh Cò đã đi lại ngủ với vợ trung sĩ đấy!


Cóc tóc đỏ buông tay đẩy anh ta ngã xuống, rồi quát:


-  Chúng mày tiếp tục uống rượu đi, tiền đây đi mua nữa. Đứa nào nói cho tao biết chánh Cò làm gì vợ tao khi tao đi vắng, thì tao sẽ thưởng -  Vừa nói, hắn vừa móc túi quăng ra những tờ giấy bạc Đông Dương tung tóe khắp mâm rượu.


Bọn kia tranh nhau cướp tiền, rồi tranh nhau nói tâng công:


-  Không ngày nào là ông Chánh không mò đến lều vợ trung sĩ.


-  Có lúc giữa ban ngày ông Chánh kéo vợ trung sĩ vào… phòng ngủ của ông ta.


-  Việc làm như thế của ông Chánh, nhiều người biết, con May và thằng Bần đều biết.


-  Người ta kháo nhau, con May là con của ông Chánh, chẳng thế mà nó béo trắng không gầy đen như trung sĩ.


Nghe đến đây, Cóc tóc đỏ không chịu nổi nữa, tóc hắn dựng ngược. Hắn cầm cả chai rượu nốc một hơi, đập vỡ tan chiếc chai, rồi vớ khẩu súng tiểu liên đứng dậy. Mặt Cóc hầm hầm bước ra cửa, bọn kia dạt ra. Hắn tìm chánh Cò để trả thù. Dọc đường đi, hắn nghĩ đến cô Na. Hắn chưa tin hẳn lời bọn kia nói là bé May con của chánh Cò và chánh Cò thường ngủ với vợ mình. Phải tìm Bần hỏi xem sao đã. Nghĩ vậy, hắn đi đến chân tháp canh của dân vệ, nhìn lên quát to:


-  Thằng Bần có đấy không?


Một người nhìn xuống nói:


-  Dạ con đây.


-  Mày xuống, tao hỏi.


Khi Bần xuống đến nơi, cậu ta thấy bố mình đang say xỉn, giọng nói lè nhè, định xốc nách đưa về, thì Cóc quát:


Mày phải nói thật, trong lúc tao đi xa, chánh Cò có “ấy” với mẹ mày không?


Bần ngần ngừ…


Cóc tóc đỏ sấn lại, trợn mắt, gí súng vào ngực thằng con và nói:


-  Mày không nói thật, tao bắn bỏ cả mày.


Bần sợ hãi, mồm lắp bắp:


-  Có… khi bố đi xa, ông Chánh… vẫn đến tìm mẹ con…


Cóc lấy nòng súng gạt Bần ra, đi về phía nhà chánh Cò.


Lát sau, Cóc tóc đỏ cầm súng xăm xăm đi thẳng vào nhà bốt gác. Y lấy báng súng thúc mạnh, cửa sắt bung ra, kêu đánh rầm một tiếng. Cái cầu thang lên nóc bốt hiện ra. Từ trên cầu thang, tổng Cò nhìn xuống thấy Cóc mặt hầm hầm, thì giật mình ngơ ngác và chưa kịp nói gì, Cóc đã lên đạn đánh rụp, giương súng lên và quát:


-  Chánh Cò, mày bắt tao sang Tàu, để ở nhà mày tằng tịu với vợ tao à? -  Cóc vừa nói dứt lời, một loạt tiếng nổ của khẩu súng tiểu liên vang lên. Mọi người nhốn nháo chạy đến, đã thấy chánh Cò nằm vật giữa cầu thang lên nóc bốt. Đầu ông ta cắm xuống, chân ở phía trên cầu thang, mồm còn đang há hốc, mắt vẫn mở trừng trừng. Một vũng máu chảy ra từ vết thương ở ngực và đầu, lát sau đã nhanh chóng đông lại.


Nghe cấp dưới điện về báo tin Cóc tóc đỏ đã bắn chết chánh Cò, An- be nổi xung lên. Y quát mắng cấp dưới thậm tệ, rồi chửi bới Cóc tóc đỏ đã phá vỡ kế hoạch thí điểm dùng chánh Cò tổ chức lực lượng dân vệ chốt chặn Việt Minh từ xa. Cuối cùng y ra lệnh hãy để cho Cóc tóc đỏ “đi theo” chánh Cò.


Nửa tiếng sau, viên trung úy người Pháp tập hợp đơn vị lính ngụy và trung đội dân vệ đứng xếp hàng tại sân trước nhà chánh Cò. Cóc tóc đỏ bị trói chặt cánh khuỷu hai tay ra phía sau, quỳ trước hàng quân, đầu cúi xuống. Viên trung úy người Pháp bằng tiếng Việt chưa sõi, hắn lên án hành động giết người của Cóc tóc đỏ là phá hoại kế hoạch lớn của người Pháp và quân đội quốc gia. Hắn tuyên bố tử hình Cóc tóc đỏ. Rồi hất hàm về phía viên thiếu úy người Việt. Tên này lững thững đi tới rút súng ngắn, từ từ lên đạn, chĩa nòng súng vào thái dương bên trái của Cóc.


Một tiếng nổ đanh gọn, Cóc tóc đỏ gục xuống, hai mắt y vẫn mở trừng trừng như ngạc nhiên không hiểu vì sao mình lại bị giết?!


Nhìn tận mắt thấy Cóc bị bắn chết, đám dân vệ phần lớn là trẻ con sợ quá, hò nhau bỏ súng, chạy tán loạn; cản lại cũng không kịp.


Từ ngày bọn Pháp đưa lính về giúp chánh Cò lập bốt tại làng dưới, cơ sở cách mạng bị bật ra ngoài. Cấp trên có lệnh cho đại đội địa phương quân huyện Việt Yên phải nghiên cứu lên kế hoạch nhổ bỏ bốt tề phản động này. Đột nhiên có tin báo chánh Cò bị lính bắn chết, dân vệ sợ bỏ trốn gần hết. Chớp thời cơ đang khi địch hoang mang, bộ đội huyện, ngay đêm ấy đột nhập vào làng Dưới tiêu diệt toàn bộ quân ngụy và tên trung úy Pháp.


   Chính quyền của nhân dân đã trở lại, bốn tháp canh bị phá dỡ. Các hàng rào tre vẫn giữ nguyên để bảo vệ làng, đề phòng địch trở lại. Chính quyền cách mạng ra lệnh tịch thu cái bốt và trưng thu ngôi nhà lớn để làm trụ sở Ủy ban hành chính kháng chiến xã và làm nơi cho dân quân du kích tập luyện.


Từ hôm ấy, các gia nhân làm trong nhà chánh Cò đều bỏ đi. Chỉ còn lại bốn bà cháu cụ Mận và hai mẹ con cô Na. Trang trại rộng mênh mông không còn ai quản lý và làm những gì như trước nữa. Cụ Mận thôi không ngồi trên sập điều khiển như trước. Bàn thờ tổ tiên được khênh xuống đặt tại nhà ngang và thêm một bài vị nữa của chánh Cò. Cụ Mận đặt chiếc chõng tre dưới nơi mới đặt bàn thờ. Hàng ngày ngồi đó, cụ suy nghĩ cuộc đời và chuyện trò với Na cùng các cháu. Hôm sau cụ bảo:


-  Phải nghĩ cách sống tiếp thôi mẹ Na -  Rồi cụ phân công: Bây giờ mẹ nó phải thay bà Hai trồng dâu nuôi tằm, kéo tơ bán lấy tiền tiêu hàng ngày; thằng Bần phải đưa đàn trâu đi chăn, để cần thì bán dần mua gạo ăn, bây giờ chắc chẳng còn ai mang thóc tô đến nộp nữa. Cò Đỏ hàng ngày cũng phải chăm sóc nuôi đàn gà và mấy con chó; Cò Xanh thì chăm cho hai con chim công; còn cụ Mận thì bế Cò Trắng và quét dọn nhà cửa, lo nấu cơm hàng ngày.


Sau khi nghe tin chánh Cò và Cóc tóc đỏ chết, hội tề phản động đã được phá xong, cô May xin bệnh viện cho về làng thăm nhà. May gặp lại mẹ cùng mọi người, mừng mừng tủi tủi, hai mẹ con ôm nhau khóc, cụ Mận cũng muốn khóc, nhưng nước mắt cứ lặn vào trong. May thương mẹ, thương cụ Mận và trẻ nhỏ, không muốn trở lại bệnh viện nữa mà ở luôn nhà.


Cụ Mận nhớ đến Cò Vàng, cụ bảo thằng Bần đẽo cho cụ một cái bài vị bằng tre, viết tên Cò Vàng vào đó để đưa lên bàn thờ cúng với cha nó. Cô May nghe thấy vậy nhìn cụ phá lên cười, cô nói:


-  Cháu chưa kịp kể với bà là anh Cò Vàng vẫn sống! Cháu đã chăm sóc anh và nhờ có bác sĩ chữa chạy, anh ấy đã khỏi thương tích, sau đó đến Trường Y tế học rồi. Cách đây một tháng anh ấy có thư gửi về cho cháu tại bệnh viện, anh ấy kể rằng: Ở trường học vui lắm, anh ấy học làm y tá, rồi sau này hy vọng học tiếp lên thành y sĩ và bác sĩ để chữa bệnh cho bà. Anh ấy kể cùng học với anh còn có cô Hà My con gái bác Ba, cô ấy học lớp Dược tá sau này lo việc thuốc men chữa chạy cho bệnh nhân.


Nghe May kể, cụ Mận cười khùng khục hở hai hàm lợi, răng đã bắt đầu rụng. Đây là tiếng cười của cụ Mận mà nhiều năm nay chưa thấy! Từ hôm ấy, Na gọi cụ Mận bằng mẹ, May gọi cụ Mận bằng bà. Hàng ngày May giúp bà và mẹ cày cấy ba sào ruộng, chăn tằm, kéo tơ, trồng rau và nuôi lợn để duy trì cuộc sống của từng ấy miệng ăn.                  


 


Gia đình Hai Nhẫn có ba người thì chia ba ngả. Từ ngày chồng vào Nam, cu Tý đi học trường Thiếu sinh quân, bà Nhẫn ở nhà một mình. Không đêm nào là bà không nghĩ đến chồng đến con. Làng Bình bấy giờ là vùng địch tạm chiếm. Cái đình to đẹp là thế đã bị giặc nổ mìn phá đi, thay vào đó chúng xây cái bốt cho lính ngụy canh giữ. Đêm đêm pháo địch từ Phủ Từ Sơn bắn cầm canh, chẳng mấy đêm là pháo không bắn vào làng, người dân chết và bị thương ngày càng nhiều! Bà phải đào một cái hầm ở ngay dưới gậm giường, mỗi khi pháo rít qua đầu là bà vội lăn xuống đất, chui vào nằm trong hầm. Ban ngày bà đi làm cỏ lúa hoặc trồng rau, để có cái ăn sống qua ngày. Bà mong chóng yên hàn, để ông Nhẫn chồng bà và cu Tý con bà về với bà!


Cu Tý, sau khi tốt nghiệp trường Thiếu sinh quân, cậu được nhà trường quyết định cho đi học tiếp lớp đào tạo cán bộ quân sự trung cấp. Sau khi hết khóa học, mọi người bạn cùng lớp với cậu đã được bổ sung đi chiến đấu ở các chiến trường. Riêng cậu đợi mãi vẫn chưa có tin tức gì.


Một hôm cậu được gọi lên phòng giám hiệu, Tý bước vào cửa thấy một người chừng hơn ba chục tuổi ngồi cạnh ông Hiệu trưởng. Cậu đứng nghiêm giơ tay lên mũ chào. Ông Hiệu trưởng chỉ ghế mời cậu ngồi và giới thiệu đây là đồng chí Trần Đình Tuấn, trưởng phòng tổ chức cán bộ của cục X Bộ Quốc phòng. Ông Tuấn bắt tay Tý, rồi nói: -  Chắc đồng chí nghe nói đến nhiệm vụ của cục X rồi chứ? -  Tý rụt rè nói: Đó là Cục tình báo. Ông Tuấn nói tiếp:


-  Sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất đất nước còn dang dở. Sớm muộn gì đế quốc Mỹ cùng tay sai cũng xua quân trở lại xâm lược miền Bắc nước ta. Chúng tôi có nghiên cứu lý lịch của đồng chí và theo dõi quá trình học tập của đồng chí, nhận thấy đồng chí có những tố chất có thể hoạt động độc lập trong lòng địch. Hôm nay tôi gặp hỏi, đồng chí có đồng ý về công tác tại cục X?


-  Thưa đồng chí trưởng phòng, tôi đã xác định tổ chức cần đâu tôi có mặt ở đó.


-  Thế là tốt. Tôi phải nói trước với đồng chí là nhiệm vụ này đầy khó khăn nguy hiểm. Mọi người trước khi được giao nhiệm vụ phải qua một đợt học tập, sau đó kiểm tra kỹ lưỡng rồi mới được tuyển chính thức. Đồng chí thấy sao?


-  Rõ, tôi xin chấp hành.


Ngay chiều hôm đó, Tý đi theo ông trưởng phòng của cục X. Từ ấy cậu được học ở một địa điểm bí mật trong rừng sâu, không được phép liên hệ với bất cứ ai, kể cả với gia đình.


Trước khi hòa bình ba năm, cậu đã được đưa về Hà Nội học. Với “vỏ bọc” là con trai duy nhất còn lại của quan kiểm lâm Bắc Giang tên là Trần Vãn Giá, “ bố mẹ” cậu đều đã chết, cậu là con nuôi của giáo sư Ngô Bửu Cung tại Hà Nội. Cậu có tên mới là Trần Văn Tùng. Do sự thông minh, cần mẫn, cậu được học bổng sang Pháp học. Cậu nhận được mật chỉ, sắp tới ngưng cuộc chiến, sẽ về nước nhận nhiệm vụ. Cậu được cả người Pháp và Mỹ đều muốn tuyển dụng. Cậu chưa vội, cần cân nhắc thêm .


 Rồi đây những biến động lớn của cả hai miền đất nước do Pháp quay lại xâm lược, rồi Mỹ kế chân sẽ tiếp tục tác động đến từng gia đình một cách ghê gớm, khiến cho những gia đình Việt Nam, trong đó có gia đình Hai Nhẫn và cụ Mận sẽ phân hóa tạo thành những số phận và nhân vật khác nhau như thế nào đây?


(còn tiếp)


Nguồn: Đi tìm hiện thực của những ước mơ. Tiểu thuyết, in trong Hạ Bá Đoàn Tổng tập. NXB Hội Nhà văn, 20919.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 02.12.2019
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 01.12.2019
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 01.12.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 29.11.2019
xem thêm »